1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn pháp luật về định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện

52 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 875 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN (12)
    • 1.1 Một số vấn đề lý luận chung về quyền định đoạt phần vốn góp trong công (12)
      • 1.1.1 Phần vốn góp của thành viên trong vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (12)
      • 1.1.2 Cơ sở pháp lý về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (15)
    • 1.2 Quy định của pháp luật về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (17)
      • 1.2.1 Chủ thể và đối tượng của quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (17)
      • 1.2.2 Quy định của pháp luật về quyền chuyển nhượng phần vốn góp trong công (20)
      • 1.2.3 Quy định của pháp luật về quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp (25)
      • 1.2.4 Quy định của pháp luật về quyền để lại thừa kế và tặng cho phần vốn góp (28)
      • 1.2.5 Quy định của pháp luật về quyền trả nợ bằng phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (30)
  • CHƯƠNG 2. CÁC BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHO CÁC (33)
    • 2.1 Bất cập và kiến nghị đối với các quy định liên quan đến phạm vi quyền của các chủ thể và đối tượng chuyển nhượng (33)
    • 2.2 Bất cập và kiến nghị đối với các quy định về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (37)
      • 2.2.2 Bất cập và kiến nghị đối với các quy định về quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (43)
      • 2.2.3 Bất cập và kiến nghị đối với các quy định về quyền tặng cho, để thừa kế, trả nợ bằng phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (46)
  • KẾT LUẬN (32)

Nội dung

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN .... 11 1.2.1 Chủ thể và đối tượng của quyền định đoạt phần v

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN

Một số vấn đề lý luận chung về quyền định đoạt phần vốn góp trong công

1.1.1 Phần vốn góp của thành viên trong vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Khác với đa số các loại hình công ty khác, công ty TNHH hai thành viên trở lên hoàn toàn là sản phẩm của quá trình lập pháp Nhiều người cho rằng: “Mô hình công ty cổ phần không thích hợp với các nhà đầu tư vừa và nhỏ Các quy định quá phức tạp trong luật công ty cổ phần không cần thiết cho loại công ty vừa và nhỏ, có ít thành viên và thường là họ quen biết nhau Còn chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không thích hợp với tất cả các nhà đầu tư” 7 Có lẽ là từ những quan niệm trên,

“loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên được xây dựng với sự kế thừa từ các ưu điểm kết hợp của công ty cổ phần và công ty hợp danh” 8 Căn cứ theo khoản 2 Điều 46 LDN 2020 thì công ty TNHH hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Do là loại hình công ty có tư cách pháp nhân nên công ty TNHH hai thành viên trở lên mang đặc tính pháp lý “tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình” 9 Lúc mới thành lập, tài sản của doanh nghiệp về cơ bản chỉ bao gồm nguồn vốn từ các nhà đầu tư Do đó, “tại thời điểm thành lập, tài sản trong doanh nghiệp chính là vốn điều lệ của doanh nghiệp” 10 và doanh nghiệp phải chịu các trách nhiệm tài chính bằng phần vốn này tại thời điểm thành lập công ty Trên phương diện pháp lý, vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là tổng giá trị tài sản do các thành viên công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty

TNHH hai thành viên trở lên 11 Ngoại trừ một số ngành nghề kinh doanh đặc thù có yêu cầu về vốn pháp định - số vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp, LDN 2020 không quy định mức tối thiểu về vốn điều lệ Như vậy, tuỳ vào nhu cầu, mong muốn của các thành viên,

7Bùi Ngọc Cường, Giáo trình Luật Thương mại, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, Tập

8Nguyễn Vinh Hưng, tlđd (2), tr 40

9Điểm c khoản 1 Điều 74 Bộ luật dân sự 2015

10 Phạm Hoài Huấn (chủ biên) (2015), Luật Doanh nghiệp Việt Nam - Tình huống - Dẫn giải -

Bình luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr 24

11 khoản 34 Điều 4 LDN 2020 vốn điều lệ công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể là một con số “cực khủng” hoặc thậm chí có thể là số tiền “bé tí”. Để hình thành vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên thì thành viên công ty phải thực hiện việc góp vốn Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam thì có thể góp vốn để thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên 12 Khi xác định thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên để kinh doanh và đã thực hiện việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, thành viên công ty phải thực hiện các nghĩa vụ về vốn để đảm bảo hoạt động công ty Thời hạn để các thành viên thực hiện nghĩa vụ góp vốn là 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thời hạn này không bao gồm thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản 13 Trong trường hợp một hoặc một số thành viên đã cam kết góp vốn và loại tài sản dùng để góp vốn nhưng không thực hiện hoặc góp không đủ thì thành viên đó phải chịu các nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên. Đồng thời khi thực hiện góp tài sản để thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, các thành viên công ty phải thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty. Người góp vốn sẽ trở thành thành viên của công ty kể từ thời điểm đã thanh toán phần vốn góp và những thông tin về người góp vốn ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên, trừ trường hợp cam kết góp vốn khi thành lập công ty Lúc này thành viên sẽ không còn quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn mà thứ họ nhận lại được chính là phần vốn góp tương ứng với tổng giá trị tài sản của họ đã góp hoặc cam kết góp vào công ty Kết thúc của quá trình góp vốn là mỗi thành viên góp vốn sẽ được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho thành viên tương ứng với giá trị phần vốn đã góp. Phần vốn góp của các thành viên cũng chính là tài sản mà thành viên có thể định đoạt trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Không giống với đa số loại tài sản khác, phần vốn góp không chỉ là một loại tài sản có thể trị giá được bằng tiền mà nó còn thể hiện tư cách thành viên, các quyền và nghĩa vụ của thành viên tương ứng với số vốn góp 14 Cá nhân, tổ chức khi thực

14 Bùi Thị Thanh Thảo (2014), “Góp ý hoàn thiện các quy định về quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2

(81)/2014, tr 20 hiện việc góp vốn để thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên sẽ trở thành thành viên công ty và dĩ nhiên họ sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty Khi sở hữu phần vốn góp, thành viên công ty sẽ được hưởng các quyền về tài sản cũng như các quyền về quản trị tương ứng với phần vốn góp của mình Các quyền về tài sản có thể kể đến như: quyền được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật, được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản, được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ Bên cạnh các quyền về tài sản, chủ sở hữu phần vốn góp còn được hưởng các quyền về quản trị như: tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên 15 Phần vốn góp đóng vai trò quan trọng trong công ty TNHH hai thành viên trở lên bởi lẽ các quyết định của Hội đồng thành viên chủ yếu dựa vào tỷ lệ biểu quyết của thành viên, trong đó số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp Có thể hiểu đơn giản là thành viên sở hữu phần vốn góp càng nhiều thì càng có quyền chi phối đến các quyết định của công ty Về nghĩa vụ, thành viên công ty có nghĩa vụ tuân thủ các nghĩa vụ của thành viên Hội đồng thành viên như: Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 47 của LDN 2020, không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp quy định tại các điều 51, 52, 53 và 68 của LDN 2020, tuân thủ Điều lệ công ty, chấp hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên,… 16 Đối với các nghĩa vụ về tài chính, thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp - đây là một đặc điểm quan trọng của loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên Khi cá nhân, tổ chức hoàn tất việc góp vốn của mình thì họ không còn quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn, thứ họ nhận lại là phần vốn góp tương ứng với giá trị tài sản góp vốn Tổng giá trị phần vốn góp của thành viên sẽ trở thành tài sản công ty, công ty sẽ dùng khối tài sản này để hoạt động, kinh doanh và tự dùng khối tài sản đó để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của công ty Trường hợp tài sản của công ty không đủ để thực hiện các nghĩa vụ tài chính thì thành viên công ty không có nghĩa vụ dùng tài sản cá nhân của mình để thực hiện thay nghĩa vụ của công ty.

Như vậy, khi thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, các thành viên sẽ thực hiện góp hay cam kết góp vốn để tạo thành tài sản công ty, tổng giá trị tài sản

16 Điều 50 LDN 2020 góp vốn sẽ hợp thành vốn điều lệ của công ty Thành viên góp vốn sẽ trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên, qua đó được hưởng các quyền về tài sản và quản trị của thành viên công ty.

1.1.2 Cơ sở pháp lý về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

“Xét về mặt pháp lý, một nội dung quan trọng thể hiện đặc tính pháp lý của quyền sở hữu, biểu trưng cho đặc quyền của chủ sở hữu, đó là quyền định đoạt đối với tài sản” 17 Theo Điều 192 BLDS 2015 quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.” “Hiểu nôm na, quyền định đoạt là quyền quyết định “số phận” thực tế và “số phận” pháp lý của tài sản” 18 Tuy nhiên, phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được xác định là “một loại tài sản vô hình, hay nói cách khác chính là quyền tài sản của chủ sở hữu” 19 nên không thể thực hiện định đoạt về mặt thực tế được 20 Do đó, việc định đoạt tài sản là phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là việc định đoạt số phận pháp lý của tài sản này Việc định đoạt pháp lý này sẽ được chủ sở hữu thực hiện thông qua các giao dịch phù hợp với ý chí của chủ sở hữu như bán, trao đổi, tặng cho, thừa kế,… Theo điểm e khoản 1 Điều 49 LDN 2020 quy định “Định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty” LDN 2020 có cách quy định theo hướng mở, theo đó chủ sở hữu có quyền định đoạt phần vốn góp của mình bằng các hình thức phù hợp với các quy định của pháp luật và Điều lệ công ty Như vậy, ngoài các hình thức được quy định trong LDN 2020, các thành viên có thể định đoạt bằng các hình thức khác như: dùng phần vốn góp làm tài sản thế chấp, trao đổi phần vốn góp, dùng phần vốn để góp vốn vào doanh nghiệp khác,… Đây là một quy định phù hợp, đảm bảo được quyền lợi của chủ sở hữu vốn 21

Một trong các căn cứ để LDN 2020 quy định về định đoạt phần vốn góp của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên xuất phát từ quyền của thành viên. Khi góp vốn để thành lập công ty, các thành viên đã bỏ tài sản, thời gian, công sức

17 Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (3), tr 172

18 Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (3), tr 173

19 Nguyễn Văn Hùng (2014) “Thủ tục chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn”, tài liệu phục vụ hội thảo: Luật Doanh nghiệp và những vướng mắc trong thực thi, tr.52

20 “Định đoạt thực tế là việc chủ thể bằng hành vi của mình quyết định sự tồn tại thực tế của tài sản. Việc định đoạt thực tế thường được thực hiện bằng hành vi vật chất tác động tới bản thể của tài sản, làm cho tài sản không còn tồn tại trên thực tế hoặc không còn nằm trong tay của chủ thể.” Xem thêm tại Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (3), tr 173

21 Bùi Thị Thanh Thảo, tlđd (14), tr 21 cũng như chịu những rủi ro nhất định từ công việc kinh doanh, do đó, họ xứng đáng được hưởng các quyền của thành viên công ty, và hiển nhiên có các quyền về tài sản, trong đó có quyền định đoạt phần vốn góp thuộc sở hữu của mình “Về nguyên tắc, quyền định đoạt là một quyền “tối thượng” của chủ sở hữu” 22 Tuy nhiên, quyền định đoạt đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp cũng có những hạn chế nhất định Theo khoản 1 Điều 196 BLDS 2015 thì “quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật quy định” LDN 2020 tại các Điều 51, Điều 52 và Điều 53 quy định trong một số trường hợp, chủ sở hữu phần vốn góp chỉ có thể định đoạt dưới một số hình thức nhất định như: người thừa kế không muốn làm thành viên công ty có thể chuyển nhượng hoặc yêu cầu công ty mua lại, người nhận nợ bằng phần vốn góp không được Hội đồng thành viên chấp thuận làm thành viên công ty có thể chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó, Trong những trường hợp đó, chủ sở hữu phần vốn góp chỉ được thực hiện quyền định đoạt dưới những hình thức luật định, không thể định đoạt dưới hình thức khác Quy định này của LDN 2020 về định đoạt phần vốn góp của thành viên là phù hợp Công ty TNHH hai thành viên trở lên mang đặc tính của một loại hình “công ty đóng”, có sự hạn chế sự thâm nhập của người bên ngoài công ty nên cần có những quy định để hạn chế định đoạt và một số điều kiện để thực hiện quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên Đồng thời, thành lập công ty là nhằm đầu tư, kinh doanh sinh lời Nếu không quy định về việc hạn chế việc chuyển nhượng thì rất có thể làm mất đi tính ổn định của công ty - trong một số trường hợp định đoạt có thể dẫn đến việc thay đổi thành viên, thay đổi cơ cấu hay thậm chí là làm giảm vốn điều lệ của công ty, khiến cho mục đích thành lập công ty không được thực hiện.

Bên cạnh các thành viên công ty, trong một số trường hợp người không phải là thành viên công ty cũng được định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Cơ sở phát sinh quyền định đoạt phần vốn góp của những người không phải thành viên công ty xuất phát từ quyền của chủ sở hữu phần vốn góp Quyền của chủ sở hữu phần vốn góp không chỉ giúp thành viên công ty được định đoạt phần vốn góp của mình mà còn giúp những người không phải thành viên công ty được định đoạt phần vốn góp trong công ty khi họ sở hữu phần vốn góp này một cách hợp pháp Thông qua nhiều hình thức khác nhau như: nhận thừa kế, được tặng cho, nhận trả nợ bằng phần vốn góp,… những chủ thể không là thành viên công ty có được quyền sở hữu đối với phần vốn góp Tuy nhiên có thể vì lý do không muốn hay không được Hội đồng thành viên chấp thuận trở thành thành viên công ty mà họ không trở thành thành viên công ty Lúc này nếu pháp luật không quy định cho những người sở hữu phần vốn góp này được quyền định đoạt phần vốn góp của mình thì họ

Quy định của pháp luật về quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.2.1 Chủ thể và đối tượng của quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Về nguyên tắc, chủ sở hữu phần vốn góp có thể thực hiện việc định đoạt thông qua hình thức chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty Tuy nhiên, các cá nhân, tổ chức nhận chuyển nhượng, được tặng cho hay nhận phần vốn góp theo các hình thức khác trong nhiều trường hợp không trở thành thành viên công ty Cụ thể trong một số trường hợp như: người thừa kế phần vốn góp không muốn trở thành thành viên công ty, người được tặng cho không thuộc đối tượng thừa kế theo pháp luật và không được Hội đồng thành viên chấp thuận trở thành thành viên công ty Như vậy, đối với các chủ thể chưa phải là thành viên công ty hoặc không thể làm thành viên công ty thì họ có quyền được định đoạt phần vốn góp ra sao Bên cạnh đó phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty TNHH hai thành viên trở lên Vấn đề được đặt ra là các chủ thể có quyền định đoạt phần vốn góp trong thời hạn cam kết không Trong phần này tác giả sẽ làm rõ hai vấn đề chính: Thứ nhất, chủ thể nào được quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Thứ hai, phần vốn góp nào là đối tượng của quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

1.2.1.1 Chủ thể có quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Quyền của chủ sở hữu và quyền của thành viên công ty đã tạo điều kiện cho các chủ thể được quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Các chủ thể đó bao gồm:

Thứ nhất, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Cá nhân, tổ chức có thể thông qua nhiều cách thức để trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên như: góp vốn thành lập công ty, nhận chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của thành viên công ty, nhận thừa kế, nhận tặng cho,… Khi đã trở thành thành viên công ty và sở hữu một phần vốn góp nhất định, cá nhân, tổ chức đó sẽ có các quyền của thành viên, bao gồm cả các quyền về tài sản, trong đó có quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên So với các chủ thể chưa phải là thành viên công ty, thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên có phạm vi quyền định đoạt cao hơn Nếu là thành viên công ty thì họ được định đoạt bằng hình thức chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty 23 Đối với những chủ thể không trở thành thành viên công ty thì họ chỉ được định đoạt dưới hình thức chuyển nhượng hoặc yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình 24 Điểm khác biệt về phạm vi quyền định đoạt của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên so với các chủ thể chưa phải là thành viên công ty là do thành viên công ty ngoài là chủ sở hữu đối với phần vốn góp còn mang tư cách là thành viên Tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên đã tạo nên sự khác biệt về phạm vi quyền định đoạt này Khi cá nhân, tổ chức hình thành ý tưởng kinh doanh và muốn cụ thể hoá ý tưởng ra thực tế thì cần thành lập doanh nghiệp để thực hiện Doanh nghiệp suy cho cùng là sản phẩm từ ý chí của chủ sở hữu Chủ sở hữu doanh nghiệp đã bỏ ra ý tưởng, tài sản, thời gian và sức lực của mình để cụ thể ý tưởng kinh doanh và hướng tới mục tiêu lợi nhuận thì dĩ nhiên họ phải có quyền lợi cao hơn các chủ thể chưa là chủ sở hữu công ty (chủ sở hữu trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là các thành viên công ty) Trong khi đó, tuy cũng là chủ sở hữu phần vốn góp nhưng các cá nhân, tổ chức không là thành viên công ty đã không có đóng góp, cống hiến cho công ty Do đó, pháp luật đã quy định phạm vi quyền định đoạt của những chủ thể này hẹp hơn so với thành viên công ty Thiết nghĩ, việc quy định sự khác biệt về phạm vi định đoạt phần vốn góp như vậy là phù hợp, góp phần nâng cao vị thế của thành viên công ty.

Thứ hai, các chủ thể khác sở hữu phần vốn góp nhưng chưa phải hoặc không trở thành thành viên công ty Trường hợp chủ thể sở hữu phần vốn góp nhưng chưa phải là thành viên công ty đó là: người nhận chuyển nhượng đã hoàn thành thủ tục chuyển giao quyền sở hữu nhưng chưa hoàn thành thủ tục xác nhận tư cách thành viên, người hưởng thừa kế, người được tặng cho phần vốn góp đang trong quá trình hoàn thành thủ tục gia nhập thành viên, người nhận thanh toán phần vốn góp do thành viên công ty dùng phần vốn góp để trả nợ đang làm thủ tục gia nhập thành viên Trường hợp chủ sở hữu phần vốn góp không trở thành thành viên công ty đó là: người được hưởng thừa kế nhưng không muốn trở thành thành viên công ty, người được

24 khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 53 LDN 2020 tặng cho không thuộc đối tượng thừa kế theo pháp luật và không được Hội đồng thành viên chấp thuận trở thành thành viên công ty, người nhận thanh toán do thành viên dùng phần vốn góp để trả nợ không được Hội đồng thành viên chấp thuận. Thành viên công ty bằng hành vi pháp lý đơn phương hay thông qua các giao dịch đã chuyển quyền sở hữu phần vốn góp của mình cho các chủ thể kể trên Tuy nhiên, vì lý do họ chưa được xác nhận tư cách thành viên hay không là thành viên công ty nên quyền định đoạt đối với phần vốn góp của họ sẽ có những hạn chế nhất định. Đối với các chủ thể không trở thành thành viên công ty thì họ có thể định đoạt phần vốn góp của mình thông qua hình thức yêu cầu công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo quy định của pháp luật Các trường hợp chủ sở hữu chưa phải là thành viên công ty sẽ được tác giả phân tích tại Chương 2.

1.2.1.2 Đối tượng của quyền định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được xác định là tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty TNHH hai thành viên trở lên Thành viên phải góp vốn cho công ty đủ và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản Như vậy, phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên sẽ bao gồm phần vốn đã thực góp và phần vốn cam kết góp Vấn đề đặt ra là thành viên công ty có quyền định đoạt đối với phần vốn cam kết góp hay không.

Theo quy định của BLDS 2015 về tài sản hình thành trong tương lai thì tài sản chưa hình thành là một loại của tài sản hình thành trong tương lai 25 Phần vốn cam kết góp có thể được xem là tài sản hình thành trong tương lai không Theo tác giả thì phần vốn cam kết góp có thể được xem là tài sản hình thành trong tương lai bởi những lý do như sau: Thứ nhất, phần vốn góp là một loại tài sản, cụ thể nó là quyền tài sản Thứ hai, phần vốn cam kết góp chưa được hình thành tại thời điểm cam kết góp Tại thời điểm cam kết, thành viên chỉ thoả thuận về nghĩa vụ góp vốn của mình, thời hạn góp vốn, tài sản sẽ dùng để thực hiện nghĩa vụ góp vốn và số vốn góp tương ứng với tài sản cam kết góp,… Tài sản góp vốn có thể tài sản cam kết đã hiện hữu trên thực tế như: bất động sản, động sản có sẵn của thành viên, tiền thuộc sở hữu của thành viên,… hoặc tài sản cam kết này chưa hiện hữu như: các khoản nợ chưa thu hồi, số tiền có thể vay ngân hàng, tiền mượn từ các chủ thể khác,… Tuy nhiên xét đến cùng

25 Điểm a khoản 2 Điều 108 BLDS 2015 thì dù là dùng tài sản đã hiện hữu hay chưa để cam kết góp vốn vào doanh nghiệp thì phần vốn góp đó vẫn chưa được chuyển vào doanh nghiệp Phần vốn cam kết góp sẽ được thành viên thực hiện trong khoảng thời gian 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đã đảm bảo tính “hình thành trong tương lai” Như vậy, hoàn toàn có cơ sở để xác định phần vốn cam kết góp vào công ty TNHH hai thành viên trở lên là một loại tài sản hình thành trong tương lai Do đó thành viên công ty hoàn toàn có quyền định đoạt với loại tài sản này Bên cạnh đó tại khoản 2 Điều 47 LDN 2020 quy định trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ góp vốn thì thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết Quyền định đoạt phần vốn góp là một trong những quyền của thành viên công ty Như vậy, trong thời hạn cam kết góp vốn, thành viên công ty hoàn toàn có thể định đoạt phần vốn góp của mình, bao gồm phần vốn đã góp và phần vốn cam kết góp theo quy định của pháp luật.

1.2.2 Quy định của pháp luật về quyền chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên không chỉ đơn thuần là hợp đồng chuyển giao giá trị tài sản, mà còn liên quan đến việc chuyển giao tư cách thành viên Với đặc điểm là một loại hình công ty “đóng”, hình thành trên cơ sở quen biết, tin cậy của các thành viên và có sự hạn chế sự thâm nhập của người ngoài vào công ty ở một mức độ nhất định, các quy định của LDN đã cho thấy quyền định đoạt của thành viên đối với phần vốn góp trong một số trường hợp không chỉ phụ thuộc vào ý chí của riêng họ và không đương nhiên được tự định đoạt tư cách thành viên gắn với phần vốn góp 26

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “chuyển nhượng là chuyển quyền sở hữu” 27 Theo cách định nghĩa này thì chuyển nhượng phần vốn góp có thể bao gồm thừa kế, tặng cho, trả nợ bằng phần vốn góp 28 Tuy nhiên theo quy định của LDN 2020 tại điểm e khoản 1 Điều 49 “định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty”, Điều 52 về chuyển nhượng phần vốn góp và Điều 53 về xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt cho thấy cách hiểu trên là chưa hợp lý “Bên cạnh đó mục đích của các bên trong hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp là nhằm vào lợi nhuận, bên chuyển nhượng nhận được bồi hoàn giá trị phần vốn góp còn bên

26 Bùi Thị Thanh Thảo, tlđd (14), tr 21

27 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 188

28 Bùi Thị Mỹ Khanh (2012), Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr 13 nhận chuyển nhượng mong muốn có lợi khi đầu tư vào công ty thông qua hình thức mua phần vốn góp” 29 Đối với các giao dịch để lại thừa kế, tặng cho hay trả nợ bằng phần vốn góp không thể hiện được mục đích lợi nhuận của các bên Như vậy có thể hiểu “chuyển nhượng phần vốn góp là việc chuyển quyền sở hữu phần vốn góp của chủ sở hữu một phần hoặc toàn bộ cho tổ chức, cá nhân khác và chủ sở hữu nhận lại giá trị phần vốn góp như các bên đã thoả thuận” 30

Chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên có bản chất là một giao dịch dân sự, qua đó bên chuyển nhượng sẽ nhận thanh toán tương đương giá trị phần vốn góp còn bên nhận chuyển nhượng sẽ nhận lại phần vốn góp của bên chuyển nhượng cùng với tư cách thành viên công ty Bên chuyển nhượng là chủ sở hữu hợp pháp đối với phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, bao gồm thành viên công ty và các chủ thể không là thành viên công ty Đối với bên nhận chuyển nhượng khi thông qua giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp sẽ trở thành thành viên công ty, là chủ sở hữu của công ty do đó họ phải thuộc đối tượng được nhận chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Căn cứ khoản 3 Điều 17 LDN 2020 thì “a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; b) Đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng.” không được nhận chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Như vậy cá nhân, tổ chức không thuộc các trường hợp đã nêu có thể nhận chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Quy định về hoạt động chuyển nhượng của công ty TNHH hai thành viên trở lên là một trong các quy định thể hiện rõ nét nhất về tính “đóng” của loại hình công ty này. LDN 2020 đã dành riêng Điều 52 để nói về hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Theo đó trừ trường hợp quy định tại khoản

4 Điều 51, khoản 6 và khoản 7 Điều 53 của LDN 2020, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo nguyên tắc sau: Trước tiên phải chào bán phần vốn góp cần chuyển nhượng cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện chào bán Quy định về việc ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên còn lại của công ty là một quy định phù hợp bởi lẽ công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng mang đặc tính của một công ty đối nhân.

“Thông thường, giữa các thành viên của công ty đã có mối quan hệ

29 Bùi Thị Mỹ Khanh (2012), tlđd (28), tr 12

30 Nguyễn Văn Hùng (2014), tlđd (19), tr 52 gần gũi, tin cậy Bản thân các thành viên luôn giữ vai trò rất quan trọng trong việc thành lập công ty này” 31 Nếu việc chuyển nhượng vốn góp không được ưu tiên cho các thành viên còn lại của công ty trước thì có thể dẫn đến việc thay đổi cơ cấu công ty, gia nhập thêm thành viên mới và việc này sẽ làm ảnh hưởng đến sự tin tưởng giữa các thành viên Đồng thời việc ưu tiên chuyển nhượng vốn cho các thành viên còn lại phải căn cứ trên tỷ lệ tương ứng phần vốn góp của họ trong công ty và phải cùng một điều kiện chào bán Việc pháp luật quy định như trên cũng dễ hiểu bởi quyền của các thành viên sẽ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty, do đó quyền ưu tiên mua phần vốn góp của thành viên khác cũng cần phải dựa vào tỷ lệ sở hữu phần vốn góp của các thành viên Bên cạnh đó, khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn việc phân chia phần vốn góp một phần dựa vào số vốn mỗi người góp đồng thời có tính đến vai trò quản lý của mỗi người trong công ty Cơ cấu vốn góp trong công ty là một vấn đề hết sức quan trọng vì cơ cấu vốn góp quyết định đến vấn đề quản trị, chính sách, điều hành và việc sử dụng vốn Phần vốn góp ngoài mang tính chất là một tài sản nó còn thể hiện quyền lực của chủ sở hữu trong công ty Nếu việc chủ sở hữu phần vốn góp chỉ chào bán cho một hoặc một số thành viên còn lại sẽ làm ảnh hưởng đến tỷ lệ phần vốn góp trong công ty và việc này kéo theo cơ cấu quyền lực trong công ty thay đổi Việc thay đổi cơ cấu công ty sẽ làm mất đi tính ổn định của công ty, ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh và lợi ích của chủ sở hữu cũng như khách hàng Do đó việc quy định chào bán phần vốn góp cần chuyển nhượng cho tất cả các thành viên còn lại là một quy định hợp lý Việc chào bán cho các thành viên còn lại này phải cùng một điều kiện Điều kiện có thể hiểu là các điều khoản của hợp đồng chuyển nhượng: về giá, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán, 32 Sau khi đã chào bán cho các thành viên còn lại theo quy định, nếu các thành viên này không mua hoặc mua không hết phần vốn góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán thì chủ sở hữu phần vốn góp có thể chuyển nhượng cho người không phải thành viên công ty với cùng điều kiện chào bán Quy định này của LDN 2020 kế thừa quy định tại khoản 1 Điều 53 LDN 2014, đã khắc phục được điểm bất cập về điều kiện chuyển nhượng cho thành viên công ty với người khác của LDN 2005 trước đó Tại khoản 2 Điều 44 LDN 2005 không quy định về việc thành viên công ty khi chuyển nhượng cho người không phải thành viên công ty phải thực hiện trên các điều kiện đã chào bán cho thành viên công ty Việc quy định như thế đã tạo ra khả năng thực tế là thành viên không muốn bán cho thành viên khác trong công ty nên chào bán với giá quá cao để các thành viên đó không mua được từ đó có thể dễ dàng bán cho người mình

31 Nguyễn Vinh Hưng, tlđd (2), tr 41

CÁC BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHO CÁC

Ngày đăng: 27/10/2022, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Vinh Hưng (2016), “Công ty TNHH hai thành viên trở lên trong môi trường kinh doanh hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 16 (320)/2016, tr. 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty TNHH hai thành viên trở lên trong môi trường kinh doanh hiện nay
Tác giả: Nguyễn Vinh Hưng
Năm: 2016
10. Bùi Thị Thanh Thảo (2014), “Góp ý hoàn thiện các quy định về quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2 (81)/2014, tr. 20 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý hoàn thiện các quy định về quyền địnhđoạt phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viêntrở lên
Tác giả: Bùi Thị Thanh Thảo
Năm: 2014
11. Nguyễn Văn Hùng (2014) “Thủ tục chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn”, tài liệu phục vụ hội thảo: Luật Doanh nghiệp và những vướng mắc trong thực thi, tr.51 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục chuyển nhượng vốn trong công ty tráchnhiệm hữu hạn
7. Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam Khác
8. Bùi Ngọc Cường, Giáo trình Luật Thương mại, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, Tập I Khác
9. Phạm Hoài Huấn (chủ biên) (2015), Luật Doanh nghiệp Việt Nam - Tình huống - Dẫn giải - Bình luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Khác
13. Bùi Thị Mỹ Khanh (2012), Chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Khác
18. Hoàng Anh Tuấn (2009), Một vài suy nghĩ về hợp đồng chuyển đổi hình thức công ty vô hiệu, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, số 25/2009, tr.265 - 268 Khác
19. Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt NamBản án, quyết định của Toà án Khác
20. Bản án số 22/2018/KDTM-PT ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân Thành phố Hải Phòng về việc Tranh chấp chuyển nhượng vốn góp giữa Thành viên công ty với nhau Khác
21. Bản án số 1002/2019/KDTM-ST ngày 19/08/2019 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc Tranh chấp giữa các thành viên với nhau liên quan đến hoạt động của công ty về hợp đồng chuyển nhượng vốn góp Khác
22. Bản án số 22/2018/KDTM-PT ngày 30/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc Tranh chấp chuyển nhượng vốn góp giữa thành viên công ty với nhau Khác
23. Bản án số 08/2021/KDTM-PT ngày 10/02/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà NẵngTài liệu internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w