1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát quy trình định lượng men G6PD trong máu khô của trẻ sơ sinh bằng phương pháp huỳnh quang

3 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát quy trình định lượng men G6PD trong máu khô của trẻ sơ sinh bằng phương pháp huỳnh quang
Tác giả Trần Khánh Hòa
Trường học Trường Đại học Thủy lợi
Chuyên ngành Sinh học y học
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 189,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Khảo sát quy trình định lượng men G6PD trong máu khô của trẻ sơ sinh bằng phương pháp huỳnh quang nghiên cứu tiến hành khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến cường độ huỳnh quang: nồng độ NADP và G6P, thời gian phản ứng, đồng thời đánh giá độ lặp, xây dựng đường chuẩn và tính toán giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ) men G6PD trên giọt máu khô được lấy ở gót chân của trẻ sơ sinh.

Trang 1

KHẢO SÁT QUY TRÌNH ĐỊNH LƯỢNG MEN G6PD

TRONG MÁU KHÔ CỦA TRẺ SƠ SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP HUỲNH QUANG

Trần Khánh Hòa

Trường Đại học Thủy lợi, email: hoatk@wru.vn

1 GIỚI THIỆU CHUNG

Thiếu men G6PD là rối loạn di truyền phổ

biến nhất ở trẻ sơ sinh do đột biến trên cánh

dài vùng 2 băng 8 của nhiễm sắc thể X

(Xq28) Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế

giới (WHO), 2,5% trẻ sơ sinh trên thế giới bị

thiếu men G6PD với các mức độ khác nhau

[3] Ở Việt Nam, theo báo cáo của Tổng c ục

Dân số, tỷ lệ trẻ sơ sinh bị thiếu men G6PD

khoảng 1,5 – 2,5% trẻ sinh sống và tỷ lệ

này thay đổi theo vùng địa lý và nhóm

dân tộc [1]

Trong chuỗi chuyển hóa pentose

phosphate, men G6PD xúc tác phản ứng

chuyển hóa nicotinamide adenine

dinucleotide phosphate (NADP) thành dạng

rút gọn NADPH*, một coenzyme rất quan

trọng giúp bảo vệ hồng cầu chống lại c ác tác

nhân oxy hóa Khi trẻ bị thiếu men G6PD,

hồng cầu dễ bị phá hủy do tiếp xúc với c ác

chất oxy hóa mạnh như băng phiến (long

não), đậu tằm (đặc biệt khi chưa nấu c hín)

hoặc sử dụng một số dược phẩm gây thiếu

máu do tán huyết (vỡ hồng cầu) Tình trạng

này sẽ làm tăng lượng bilirubin trong máu

gây thiếu máu kèm theo vàng da, vàng mắt,

mệt mỏi Nếu bị vàng da nặng, nhất là trong

2 tuần đầu sau sinh, trẻ có thể bị tổn thương

não gây bại não, chậm phát triển tinh thần và

vận động Tuy nhiên, nếu được phát hiện

sớm qua sàng lọc (48 đến 72 giờ sau sinh),

được theo dõi tình trạng vàng da sơ sinh và

được khuyến cáo không tiếp xúc hoặc sử

dụng các loại thức ăn có chứa chất oxy hóa

mạnh, trẻ vẫn có thể có cuộc sống hoàn toàn

bình thường Do đó, định lượng men G6PD trên giọt máu khô được lấy ở gót chân của trẻ

sơ sinh một cách c hủ động với c hi phí thấp giúp phát hiện sớm để phòng ngừa những biến chứng ở trẻ sơ sinh là việc rất cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng dân số

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Định lượng men G6PD trong mẫu máu khô của trẻ sơ sinh bằng phương pháp huỳnh quang dựa trên phản ứng oxi hóa glucose-6-phosphate (G6P) thành 6-phosphogluconate (6PG) nhờ men G6PD trong mẫu máu khô làm xúc tác, đồng thời NADP sẽ chuyển hóa thành chất phát huỳnh quang NADPH*, tỷ lệ với nồng độ men G6PD trong mẫu Đồng sunphat được thêm vào hỗn hợp để làm chậm phản ứng Huỳnh quang được đo với bước sóng kích thích 340 nm, bước sóng phát xạ

460 nm [4, 5]

G6P + NADP G  6 PD 6PG + NADPH* + H+ Các phản ứng trong nghiên cứu được thực hiện trong dung dịch đệm Tris-HCl 0,5M, [CuSO4] = 0,1mM [5] Men G6PD được lấy

từ mẫu máu khô trên giấy thấm của trẻ sơ sinh không bị thiếu men G6PD Quy trình định lượng G6PD được tóm tắt như sau [4] (1) – Đục lỗ máu khô trên giấy thấm để thêm G6PD vào các giếng polystyren (2) – Thêm hỗn hợp dung dịch G6P và NADP theo tỷ lệ nồng độ: 1: 1,5

(3) – Ủ mẫu để oxi hóa G6P, tạo chất phát huỳnh quang NADPH*

(4) – Thêm CuSO4 để dập tắt phản ứng do

Cu2+ ức c hế men G6PD

Trang 2

(5) – Đo cường độ huỳnh quang trên máy

Victor 2D, Perkin Elmer

Nghiên cứu tiến hành khảo sát các yếu tố

ảnh hưởng đến cường độ huỳnh quang: nồng

độ NADP và G6P, thời gian phản ứng, đồng

thời đánh giá độ lặp, xây dựng đường c huẩn

và tính toán giới hạn phát hiện (LOD), giới

hạn định lượng (LOQ) men G6PD trên giọt

máu khô được lấy ở gót chân của trẻ sơ sinh

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Ảnh hưởng của nồng độ NADP

và G6P

Nồng độ G6P và NADP được pha với tỷ

lệ: 1: 1,5 Để tối ưu hóa nồng độ của NADP

và G6P, nghiên cứu đã khảo sát các nồng độ

NADP (mM) khác nhau: 0,5; 1,0; 1,5; 2,0;

2,5 Thời gian phản ứng là 30 phút [5] Mỗi

mẫu đo lặp lại 3 lần và cường độ huỳnh

quang trung bình được trình bày trong Bảng

1 và Hình 1

Bảng 1 Sự phụ thuộc cường độ

huỳnh quang vào nồng độ NADP (mM)

NADP Cường độ NADP Cường độ

1,5 5440

Hình 1 Sự phụ thuộc cường độ huỳnh quang

vào nồng độ NADP

Kết quả cho thấy, giếng polystyren với

[NADP] = 1,5 mM; [G6P] = 1 mM cho tín

hiệu huỳnh quang cao nhất

3.2 Ảnh hưởng của thời gian phản ứng

Nghiên cứu đã tiến hành thí nghiệm với 6

khoảng thời gian (phút) khác nhau: 5; 10; 20;

30; 40; 45 khi cố định [NADP] = 1,5 mM và

G6P = 1,0 mM Cường độ huỳnh quang thu được trình bày trong Bảng 2 và Hình 2

Bảng 2 Sự phụ thuộc cường độ huỳnh quang vào thời gian phản ứng (phút)

t (phút) Cường độ t (phút) Cường độ

Hình 2 Sự phụ thuộc cường độ huỳnh quang

vào thời gian phản ứng (phút)

Thời gian phản ứng tăng từ 5 phút đến 30 phút, cường độ huỳnh quang tăng lên Tuy nhiên, tăng thời gian phản ứng lên đến 40, 45 phút thì cường độ huỳnh quang tăng không đáng kể Do đó, 30 phút là khoảng thời gian phù hợp c ho việc định lượng men G6PD 3.3 Khảo sát độ lặp của phép phân tích Nghiên cứu đã khảo sát cường độ huỳnh quang của 10 giếng với các điều kiện tối ưu

đã khảo sát ở trên: [G6P] = 1 mM; [NADP] = 1,5 mM; thời gian phản ứng 30 phút; [CuSO4] = 0,1 mM Men G6PD được lấy trên cùng một mẫu máu khô trên giấy thấm của trẻ sơ sinh không bị thiếu G6PD Cường độ huỳnh quang được trình bày ở Bảng 3

Bảng 3 Cường độ huỳnh quang của 10 giếng chuẩn ở điều kiện tối ưu Giếng Cường độ Giếng Cường độ

Trang 3

Sử dụng Exel 2013, nghiên cứu tính được:

Hệ số biến thiên (CV) = 7,3%, nhỏ hơn

CV của kit IVD cho G6PD [4]

3.4 Xây dựng đường chuẩn

Đường chuẩn để định lượng G6PD được

xây dựng dựa trên các điều kiện tối ưu Nồng

độ men G6PD ở trẻ không mắc thiếu men

G6PD lớn hơn 2,6 (U/g Hb), do đó nghiên

cứu xây dựng đường chuẩn trong khoảng

nồng độ G6PD từ 0,77-10,5 (U/g Hb) Cường

độ huỳnh quang ứng với các nồng độ G6PD

được đưa ra trong Bảng 4 và Hình 3

Bảng 4 Sự phụ thuộc cường độ

huỳnh quang vào nồng độ G6PD

Giếng G6PD (U/g Hb) Huỳnh quang

Hình 3 Sự phụ thuộc cường độ huỳnh quang

vào nồng độ G6PD

Từ đồ thị, phương trình đường chuẩn

tuyến tính trong khoảng nồng độ G6PD từ

0,77 10,5 U/g Hb, có hệ số tương quan

R2 = 0,9977 thỏa mãn tiêu chuẩn 0,99  R2

 1 và thu được phương trình đường c huẩn

có dạng: y = a + bx là: y = 1094x + 546,91

3.5 Tính giới hạn phát hiện (LOD) và

giới hạn định lượng (LOQ)

Nghiên cứu đã tiến hành thực nghiệm với

6 mẫu trắng (không men G6PD làm xúc tác

phản ứng) như quy trình phần 3.4 Cường độ

huỳnh quang được trình bày trong Bảng 5

Bảng 5 Cường độ huỳnh quang

của các mẫu trắng Giếng Cường độ Giếng Cường độ

Sử dụng Exel 2013, nghiên cứu tính được: LOD = 1066,4

LOQ = 1445,8

4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Nghiên cứu bước đầu đã khảo sát quy trình định lượng G6PD trên giọt máu khô được lấy

ở gót chân của trẻ sơ sinh bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang với c ác điều kiện tối ưu: [G6P] = 1 mM; [NADP] = 1,5 mM; Thời gian phản ứng = 30 phút; [CuSO4] = 0,1 mM Xây dựng được đường chuẩn định lượng men G6PD trên giọt máu khô được lấy ở gót chân của trẻ sơ sinh: y = 1094x + 546,91 Với trẻ sơ sinh, việc lấy mẫu máu (huyết thanh) để định lượng men G6PD cũng như bảo quản và vận chuyển mẫu là việc rất khó khăn, đặc biệt ở những vùng xa trung tâm

Do đó, kết quả của nghiên cứu là c ơ sở cho những nghiên cứu toàn diện hơn để định lượng men G6PD trên giọt máu khô được lấy

ở gót chân của trẻ sơ sinh một cách chủ động (không phụ thuộc vào các bộ kit nhập khẩu) giúp nhiều trẻ sơ sinh hơn nữa được sàng lọc thiếu men G6PD, đặc biệt trẻ sơ sinh ở xa trung tâm, nơi có khó khăn trong việc bảo quản và vận c huyển mẫu

5 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Kết quả thực hiện sàng lọc trước sinh và sơ sinh đến năm 2010 và kế hoạch triển khai năm 2011, Số 6 (123), 2011, Tạp chí Dân số

và Phát triển

[2] Nguyễn Viết Nhân, 2010, Tài liệu hướng dẫn sàng lọc sơ sinh, Trường Đại học Y Dược Huế

[3] Perkin Elmer, 2012, Complete solutions for screening newborns, 1244-1216-12

[4] Perkin Elmer, 2016, Neonatal G6PD, ND-1000

[5] Pointe Scientific, 2009, Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase Reagent Set, Rev 12/09 P803-G7583-01

Ngày đăng: 27/10/2022, 15:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm