1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

104 45 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Các khái niệm liên quan (13)
    • 1.1.1. Thương mại điện tử (13)
    • 1.1.2. Người tiêu dùng (16)
    • 1.1.3. Thông tin cá nhân của người tiêu dùng (18)
  • 1.2. Đặc điểm thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử (21)
  • 1.3. Sự cần thiết phải bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử (25)
  • 1.4. Các yếu tố chi phối hoạt động bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng (31)
  • 1.5. Khuynh hướng điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử (34)
  • Chương 2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử (13)
    • 2.1. Quyền được bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử (41)
    • 2.2. Thông tin cá nhân của người tiêu dùng cần được bảo vệ (43)
    • 2.3. Trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng (45)
      • 2.3.1. Trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng (45)
      • 2.3.2. Trách nhiệm của người bán, người cung cấp dịch vụ (47)
      • 2.3.3. Trách nhiệm của cá nhân người tiêu dùng (49)
    • 2.4. Thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng (50)
    • 2.5. Chính sách về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử (53)
      • 2.5.1. Chính sách bảo vệ thông tin trong thương mại điện tử (54)
      • 2.5.2. Hoạt động đánh giá và chứng nhận chính sách bảo vệ thông tin trong thương mại điện tử (56)
    • 2.6. Giải quyết tranh chấp, khiếu nại liên quan đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử (58)
      • 2.7.2. Trách nhiệm hành chính (65)
      • 2.7.3. Trách nhiệm dân sự (68)
      • 2.7.4. Trách nhiệm hình sự (69)
    • 2.8. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử (72)
      • 2.8.1. Kiến nghị về trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng của người bán trên website thương mại điện tử (72)
      • 2.8.2. Kiến nghị xử lý hành vi mua, nhận chuyển nhượng thông tin cá nhân của người tiêu dùng (73)
      • 2.8.3. Kiến nghị hoàn thiện quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán, chuyển nhượng trái phép thông tin cá nhân của người tiêu dùng (74)
      • 2.8.4. Quy định rõ ràng và chi tiết hơn một số nội dung liên quan đến chính sách bảo vệ thông tin của người tiêu dùng trong thương mại điện tử (75)
      • 2.8.5. Bổ sung quy định về thông tin bị công bố đối với website thương mại điện tử bị phản ánh (77)
      • 2.8.6. Kiến nghị về hoạt động đánh giá tín nhiệm website thương mại điện tử. 72 Kết luận Chương 2 (78)
  • Kết luận (39)

Nội dung

Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD trong TMĐT”, tác giả hướng tới các mục đích quan trọng sau: Thứ nhất, giải mã những vấn đề mang tính lý luận về bảo vệ

Các khái niệm liên quan

Thương mại điện tử

Sau hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, Internet đã trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống hiện đại Cùng với sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin và Internet, hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói riêng dần chuyển mình sang “số hóa”, “điện tử hóa”, từ đó TMĐT cũng được hình thành và ứng dụng rộng rãi Với sự phát minh ra hình thức mua sắm trực tuyến (online shopping) mà sau này được biết đến với tên gọi TMĐT của Michael Aldrich vào năm

1979, TMĐT đã ngày càng phát triển hơn và trở thành đòn bẩy cho sự tăng trưởng đối với hầu hết các nền kinh tế trên toàn cầu 1

TMĐT (e-commerce) là một thuật ngữ được biết đến với nhiều tên gọi khác như thị trường điện tử (e-market), kinh doanh điện tử (e-bussiness), thương mại trực tuyến (online trade), thương mại không giấy tờ (paperless commerce) hay thương mại số hóa (digital commerce)… Dù được sử dụng với tên gọi nào thì về cơ bản đều chỉ việc ứng dụng các phương tiện điện tử có kết nối mạng vào việc triển khai hoạt động kinh doanh, thương mại Trong số đó, có thể thấy TMĐT là thuật ngữ phổ biến, được sử dụng thống nhất trong đời sống cũng như trong hệ thống pháp luật và khoa học pháp lý của nhiều quốc gia 2 TMĐT “bắt đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các doanh nghiệp tiến tới ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của mình, từ bán hàng, marketing, thanh toán đến mua sắm, sản xuất, đào tạo, phối hợp hoạt động với nhà cung cấp, đối tác, khách hàng… khi đó, TMĐT có thể phát triển thành kinh doanh điện tử, và ứng dụng TMĐT ở mức cao được gọi là doanh nghiệp điện tử” 3

TMĐT thường được sử dụng rộng rãi để mô tả hoạt động mua sắm trên Internet và đã được phát triển nhanh chóng để phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ mạng Tuy nhiên, so với khái niệm mua sắm trên Internet, rõ ràng

1 Xem thêm: Michael Aldrich (2011), “Online Shopping in the 1980s”, Annals of the History of Computing, Vol 33, No 4, p57-61 ISSN: 1058-6180

2 Nhiều nghiên cứu cho rằng, từ thời điểm Chính phủ Hoa Kỳ công bố “Khung TMĐT toàn cầu” (The Framework for Global Electronic Commerce) vào năm 1997, thuật ngữ TMĐT bắt đầu được sử dụng rộng rãi

3 Trường Đại học Ngoại thương (2013), Giáo trình TMĐT, Nguyễn Văn Hồng - Nguyễn Văn Thoan, Nxb

Bách khoa - Hà Nội, tr 18

TMĐT là một khái niệm rộng hơn, bao gồm tất cả các giao dịch thương mại dựa trên việc xử lý điện tử và truyền tải dữ liệu, văn bản, âm thanh và hình ảnh 4 Hiện nay, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về TMĐT nhưng tựu trung lại, thuật ngữ TMĐT có thể được nhìn nhận một cách tổng quan với hai khuynh hướng cơ bản: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng Cụ thể:

Theo nghĩa hẹp, TMĐT là hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, chủ yếu là máy tính và Internet 5 Điển hình như định nghĩa về TMĐT của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD), theo đó: TMĐT là việc bán hoặc mua hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện thông qua Internet của các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ và các tổ chức công cộng hoặc tư nhân khác Các hàng hóa và dịch vụ được đặt hàng qua mạng nhưng thanh toán và giao hàng có thể được tiến hành trực tiếp 6 Cách tiếp cận theo nghĩa hẹp cho rằng TMĐT bắt đầu bằng việc các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua bán hàng hóa và dịch vụ, các giao dịch có thể giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), hoặc giữa doanh nghiệp với khách hàng cá nhân (B2C), hoặc giữa các cá nhân với nhau (C2C) 7 TMĐT theo nghĩa hẹp đề cập đến hoạt động thương mại được thực hiện “phi giấy tờ”, gắn liền với Internet và máy tính Tuy nhiên, cách định nghĩa này chỉ phù hợp với giai đoạn đầu của TMĐT, sự hình thành và phát triển của TMĐT được xuất phát từ chính Internet, đồng thời trình độ về khoa học công nghệ của nhân loại trong thời kỳ này còn hạn chế Có thể đưa ra nhận định rằng, Internet và máy tính chính là khởi nguồn để hình thành và thúc đẩy hoạt động TMĐT Tuy nhiên, khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp đến thời điểm hiện tại đã không còn phù hợp, chưa bao quát được hết các hình thức và đặc thù của TMĐT trong bối cảnh tri thức và khoa học công nghệ đã và đang phát triển vượt bậc

Theo nghĩa rộng, TMĐT có thể được áp dụng với tất cả các hoạt động thương mại thông qua việc truyền dẫn dữ liệu bằng phương tiện điện tử, chẳng hạn:

4 Meirong Guo (2012), “A Comparative Study on Consumer Right to Privacy in E-Commerce”, Modern Economy, Vol 3, No 4, tr 402

5 Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (TCP/IP) để trao đổi thông tin giữa các máy tính với nhau Nguồn: Robert E Kahn - Vinton G Cerf (1999), “What Is The Internet (And What Makes It Work)”, https://www.cnri.reston.va.us/what_is_internet.html#Introduction, truy cập ngày 24/2/2018

6 “Annex 4 the OECD definitions of internet and e-commerce transactions”, https://www.oecd.org/internet/ieconomy/2771174.pdf, truy cập ngày 26/2/2018

7 Trường Đại học Ngoại thương (2013), tlđd (3), tr 18 Đại hội đồng (General Council) của WTO khi thông qua Chương trình làm việc về TMĐT vào tháng 9/1998 (the Work Programme on Electronic Commerce) đã định nghĩa TMĐT là việc “sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hoặc chuyển giao hàng hóa và dịch vụ bằng phương tiện điện tử” Phương tiện điện tử được hiểu là các công cụ truyền tin như điện thoại, fax, telex, điện tín, truyền hình, thư điện tử và các phương tiện điện tử khác 8

Theo Ủy ban châu Âu (European Commission - EC), TMĐT là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến) Bao gồm việc đặt hàng và dịch vụ thông qua mạng máy tính, nhưng việc thanh toán và giao hàng cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc ngoại tuyến 9

Cũng tiếp cận theo nghĩa rộng, Luật mẫu về TMĐT 1996 của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce 1996) đã xác định TMĐT là việc sử dụng “thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại” (Điều 1) và “thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học hoặc tương tự bao gồm, nhưng không giới hạn, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, telex hoặc fax” (Điều 2) Thuật ngữ “thương mại” theo Luật mẫu được diễn giải rất rộng, bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng 10 Có thể thấy rằng phạm vi của TMĐT hiểu theo UNCITRAL là rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế Việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong nhiều lĩnh vực áp dụng của TMĐT

Luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL được xem là một chuẩn mực được nhiều quốc gia tham khảo khi xây dựng pháp luật về TMĐT Pháp luật TMĐT của Việt Nam cũng đã học hỏi Luật mẫu khi xây dựng khái niệm TMĐT Theo đó, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP đưa ra định nghĩa hoạt động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối

8 Xem: Marc Bacchetta, - Patrick Low - Mattoo Aaditya - Ludger Schuknecht, Hannu Wager - Madelon Wehrens (1998), Electronic commerce and the role of the WTO, WTO Special Studies, No 2 https://www.wto.org/english/res_e/publications_e/special_studies2_e.htm, truy cập ngày 1/3/2018

9 “Glossary: E-Commerce”, http://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php/Glossary:E-commerce, truy cập ngày 1/3/2018

10 Điều 1 Luật mẫu về TMĐT, https://www.uncitral.org/pdf/english/texts/electcom/05-89450_Ebook.pdf, truy cập ngày 6/3/2018 với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác 11 Luật GDĐT

2005 (khoản 10 Điều 4) xác định phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự 12 Thuật ngữ “mạng” cũng được xác định rất rộng và đa dạng, cụ thể: là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua mạng viễn thông và mạng máy tính 13 Về cơ bản, nội hàm TMĐT theo pháp luật Việt Nam khá tương đồng với Luật mẫu ở cách tiếp cận theo hướng mở, với việc xác định TMĐT không chỉ được triển khai trong môi trường Internet, mà còn có thể tiến hành ở môi trường mạng khác và được đi kèm với một phương tiện điện tử bất kì

Người tiêu dùng

Theo từ điển tiếng Việt, tiêu dùng là việc sử dụng của cải, vật chất để thỏa mãn các nhu cầu của sản xuất và đời sống 14 Ở góc độ kinh tế, NTD đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế của các quốc gia, họ là người trả tiền để tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Nếu không có nhu cầu tiêu dùng, các nhà sản xuất sẽ thiếu đi động lực quan trọng để sản xuất, hay nói cách khác NTD chính là một phần của chuỗi phân phối sản phẩm 15 Tuy nhiên, NTD là người mua nhưng khác với người mua nguyên

11 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP

14 Hoàng Phê (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 176

15 Robert G Cross (1997), Revenue management: hard - core tactics for market domination, Nxb Broadway Books, tr 66-71 liệu hoặc mua hàng để bán lại, họ là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó 16

Nhận diện “NTD” là một vấn đề quan trọng trong chính sách và pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD Hiện nay, quan niệm về NTD trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới có sự đồng nhất trong việc xác định về hành vi, cụ thể: NTD là những chủ thể có hành vi “tiêu dùng” sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ) Tuy nhiên, về đối tượng thì pháp luật các nước lại phân hóa thành hai xu hướng:

Thứ nhất, NTD chỉ là cá nhân: đây là cách nhận diện phổ biến của nhiều quốc gia và khu vực lãnh thổ trên thế giới Khái niệm NTD chỉ giới hạn đối với cá nhân, mà không bao gồm các doanh nghiệp hay tổ chức và còn loại trừ cả trường hợp “người dùng” vì mục đích thương mại 17 Chẳng hạn: theo pháp luật Hoa Kỳ, NTD là cá nhân tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình; 18 theo pháp luật Nhật Bản, NTD là cá nhân nhưng không bao gồm cá nhân tham gia hợp đồng với mục đích kinh doanh; 19 theo pháp luật Philippines, NTD là cá nhân mua, thuê, nhận, có tiềm năng mua, thuê, nhận hàng hóa, dịch vụ, tín dụng tiêu dùng Hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng phải là hàng hóa, dịch vụ sử dụng chủ yếu cho mục đích sinh hoạt cá nhân, sinh hoạt gia đình, hoặc cho hoạt động nông nghiệp 20

Rõ ràng, cách nhận diện như trên thể hiện rõ vấn đề bảo vệ NTD chỉ hướng tới đối tượng cá nhân, còn tổ chức do có vị thế và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nhà kinh doanh nên luật bảo vệ NTD không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng có điểm hạn chế, bởi lẽ tổ chức có nhiều loại, bao gồm cả doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác trong xã hội Các đối tượng này cũng có thể tồn tại quan hệ mua bán nhằm phục vụ hoạt động tiêu dùng thông thường, mà không dừng lại ở mục đích phục vụ hoạt động kinh doanh Do đó, trong quan hệ tiêu dùng, trong nhiều trường hợp, các tổ chức cũng không hoàn toàn chuyên nghiệp và có sẵn nguồn lực để đối phó với những hành vi vi phạm từ phía nhà kinh doanh

Thứ hai, NTD bao gồm cá nhân và pháp nhân: đây là cách tiếp cận của một số quốc gia như Ấn độ, Đài Loan… Chẳng hạn, Luật Bảo vệ NTD của Ấn Độ năm 1986

16 Xem thêm: Nguyễn Thị Vân Anh - Nguyễn Văn Cương (2014), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi NTD, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 13

17 Xem thêm: Lauren Krohn, (1995), Consumer protection and the law: A dictionary, Nxb ABC-CLIO Ltd

18 Michael L Rustad (2007), Everyday Law for Consumers, Paradigm Publishers, tr 2

19 Điều 2 Luật Hợp đồng tiêu dùng năm 2000 (The Consumer Contract Act)

20 Điều 4 Luật Bảo vệ NTD của Philippines năm 1992 (Consumer Act of the Philippines)

(Điều 2) có quy định: NTD là bất cứ người nào mua hàng hóa mà không có mục đích để bán lại hoặc vì mục đích thương mại khác NTD bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội Có thể thấy, cách xác định phạm vi NTD bao gồm cả pháp nhân là khá rộng, có thể tạo ra nhiều áp lực trong quá trình thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Tuy nhiên, với cách thức tiếp cận này, có thể khắc phục được hạn chế của trường hợp xác định NTD chỉ bao gồm cá nhân Ở Việt Nam, NTD được định nghĩa là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức (khoản 4 Điều 3 Luật BVQLNTD 2010) Về cơ bản, NTD thuộc đối tượng được bảo vệ quyền lợi khi thỏa mãn ba yếu tố sau: (i) Về chủ thể, có thể là cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức; (ii) Mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ: được sử dụng cho tiêu dùng, sinh hoạt mà không sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi; (iii) Cơ sở xác lập quan hệ tiêu dùng: thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc phát sinh trên cơ sở sử dụng hàng hóa, dịch vụ

Trong phạm vi luận văn này, NTD được hiểu là cá nhân (không bao gồm tổ chức) và là một bên chủ thể của giao dịch TMĐT, thuộc mô hình giữa doanh nghiệp với NTD (Business to Customer - B2C) 21 Xét về phương diện lợi ích, NTD lựa chọn giao dịch TMĐT xuất phát từ các lợi ích đa chiều: cho phép NTD mua sắm mọi nơi, mọi lúc, vượt qua các giới hạn về không gian và thời gian; có nhiều lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ vì khả năng tiếp cận với vô số nhà kinh doanh; dễ dàng so sánh giá cả để lựa chọn sản phẩm phù hợp với thu nhập… Hiện nay, quan hệ tiêu dùng phát sinh giữa NTD với nhà kinh doanh qua giao dịch B2C khá đa dạng, thường diễn ra ở nhiều hình thức như mua hàng hóa, dịch vụ thông qua website TMĐT bán hàng, mạng xã hội, sàn giao dịch TMĐT, nền tảng di động… 22

Thông tin cá nhân của người tiêu dùng

Vấn đề bảo vệ TTCN đặt ra từ việc các thông tin của cá nhân bị xâm phạm bất hợp pháp, ảnh hưởng đến đời sống riêng tư và quyền lợi của chủ thể sở hữu thông tin Năm 1971, bang Hessen (Đức) đã thông qua luật bảo vệ dữ liệu đầu tiên trên thế giới Tiếp theo đó là các sáng kiến của các khu vực và quốc tế như OECD, Hội đồng Châu Âu và Liên minh châu Âu Đến nay, đã có hơn 100 quốc gia ban hành luật về bảo vệ dữ liệu trên thế giới, điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc tạo lập, thu thập, xuất

21 Là hình thức TMĐT mà doanh nghiệp sử dụng phương tiện điện tử để bán hàng hóa và dịch vụ tới NTD, NTD thông qua phương tiện điện tử để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng

22 Xem thêm: Hiệp hội TMĐT Việt Nam (2018), Chỉ số TMĐT Việt Nam 2018, tr 29-34 bản, lưu trữ hoặc phân tích dữ liệu 23 Đặc biệt, trong bối cảnh bảo vệ TTCN đang là một vấn đề thời sự, liên quan đến quyền riêng tư thuộc khía cạnh “quyền con người”, được nhiều quốc gia và tổ chức nhân quyền chú trọng như hiện nay, hệ quả tất yếu là sự hiểu biết của con người về quyền riêng tư, bao gồm cả quyền được bảo vệ TTCN đã được mở rộng Chính vì vậy, việc xác định nội hàm khái niệm TTCN rất quan trọng cho việc xây dựng và thực thi các chính sách và pháp luật về bảo vệ TTCN

Trên thế giới, cùng với thuật ngữ TTCN (personal information), “dữ liệu cá nhân” (personal data) cũng là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến Theo Hướng dẫn Bảo vệ quyền riêng tư và luồng dữ liệu cá nhân xuyên biên giới năm 1980 của OECD thì dữ liệu cá nhân là bất kỳ thông tin nào liên quan đến cá nhân để xác định hoặc nhận dạng cá nhân đó 24 Định nghĩa này gắn với mục đích làm hài hòa các quy định về bảo vệ dữ liệu của các nước thành viên OECD, khuyến khích trao đổi thông tin tự do, tránh cản trở thương mại vô lý

Quy định bảo vệ dữ liệu chung 2016 (The General Data Protection Regulation

- GDPR) của Liên minh châu Âu cũng đưa ra định nghĩa tương tự OECD, theo đó, dữ liệu cá nhân là bất kỳ thông tin nào liên quan đến cá nhân để xác định hoặc nhận dạng cá nhân đó Các thông tin khác nhau được thu thập có thể xác định một người cụ thể, cấu thành dữ liệu cá nhân của người đó Những dữ liệu cá nhân đã được xác định, mã hóa hoặc là bí danh nhưng có thể được sử dụng để xác định một người thì cũng vẫn xem là dữ liệu cá nhân và nằm trong phạm vi của pháp luật Một số dữ liệu được xem là dữ liệu cá nhân quan trọng như: địa chỉ nhà riêng, địa chỉ email, số thẻ căn cước, dữ liệu vị trí, địa chỉ IP, dữ liệu được nắm giữ bởi một bệnh viện hoặc bác sĩ… 25 Như vậy, có thể nhận định, dữ liệu cá nhân là tất cả những thông tin gắn với một cá nhân, nhằm mục đích nhận dạng hay xác định cá nhân đó

Theo “Những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong TMĐT” của Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (Asia Pacific Economic Cooperation - APEC) thì TTCN là bất kỳ thông tin nào để xác định được hay có thể xác định được danh tính của một cá nhân cụ thể Tuy nhiên, những nguyên tắc này

23 Carly Nyst (2017), Privacy, protection of personal information and reputation right, Discussion paper series: children’s rights and business in a digital world, tr 8

24 “OECD Guidelines on the Protection of Privacy and Transborder Flows of Personal Data”, http://www.oecd.org/sti/ieconomy/oecdguidelinesontheprotectionofprivacyandtransborderflowsofpersonaldat a.htm#part1, truy cập ngày 15/3/2018.

25 “What is personal data?”, https://ec.europa.eu/info/law/law-topic/data-protection/reform/what-personal- data_en, truy cập ngày 15/3/2018 không áp dụng đối với: (i) Thông tin mà cá nhân thu thập, lưu trữ và sử dụng cho mục đích riêng của bản thân hay của gia đình, họ tộc Ví dụ, mỗi người thường có sổ ghi địa chỉ và số điện thoại hay những thông tin nội bộ gia đình; (ii) Những thông tin công khai là TTCN về một con người cụ thể mà người đó đã chủ động hay cho phép công bố công khai, hoặc có thể thu thập hay tiếp cận được từ: hồ sơ, tài liệu công khai của nhà nước; báo chí công khai; thông tin công khai theo quy định của pháp luật 26

Luật bảo mật của Australia (the Privacy Act 1988 – được sửa đổi năm 2017) lại xác định TTCN rất rộng, cụ thể: là thông tin hoặc ý kiến về cá nhân (bao gồm thông tin hoặc ý kiến tạo thành một phần của cơ sở dữ liệu), cho dù có đúng hay không và liệu có được ghi lại dưới dạng tài liệu hay không, để nhận dạng rõ ràng hoặc xác định cá nhân đó (Điều 6) Như vậy, bất kì thông tin nào liên quan đến cuộc sống (cá nhân hoặc gia đình), hoạt động kinh doanh hoặc công việc, có thể là nhạy cảm và bí mật hoặc công khai, thì đều được nhìn nhận là TTCN TTCN theo đạo luật này được phân chia thành nhiều loại khác nhau: (i) Thông tin nhạy cảm: bao gồm thông tin hoặc ý kiến về nguồn gốc chủng tộc hoặc dân tộc, ý kiến chính trị, tín ngưỡng tôn giáo, khuynh hướng tình dục hoặc hồ sơ tội phạm…; (ii) Thông tin về sức khỏe; (iii) Thông tin tín dụng; (iv) Thông tin hồ sơ nhân viên; (v) Thông tin về hồ sơ thuế Những thông tin không thể sử dụng để xác định hoặc nhận dạng cá nhân và những thông tin không phải về cá nhân thì không được xem là TTCN thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo mật 27

Pháp luật Việt Nam dựa trên mục đích và phạm vi điều chỉnh cũng đưa ra một số định nghĩa về khái niệm TTCN, cụ thể: Luật ATTTM 2015 (khoản 15 Điều 3) định nghĩa TTCN là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể Nghị định số 52/2013/NĐ-CP (khoản 13 Điều 4) đưa ra định nghĩa TTCN trong hoạt động TMĐT, theo đó: TTCN là các thông tin góp phần định danh một cá nhân cụ thể, bao gồm tên, tuổi, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, thông tin y tế, số tài khoản, thông tin về các giao dịch thanh toán cá nhân và những thông tin khác mà cá nhân mong muốn giữ bí mật TTCN không bao gồm thông tin liên hệ công việc và những thông tin mà cá nhân đã tự công bố trên các phương tiện truyền thông Cách xác định TTCN theo Nghị định số 52/2013/NĐ-CP gắn với hoạt động TMĐT, hướng tới các thông tin mà

26 Bộ Công thương (dịch), “APEC Những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong TMĐT” http://www.vecom.vn/wp-content/uploads/2013/05/APEC-nhung-nguyen-tac-co-ban-ve-bao-ve-du-lieu-ca- nhan-trong-thuong-mai-dien-tu.pdf, truy cập ngày 18/3/2018

27 Xem thêm: “What is personal information?”, https://www.oaic.gov.au/agencies-and- organisations/guides/what-is-personal-information, truy cập ngày 24/3/2018 một cá nhân cung cấp khi tham gia một giao dịch điện tử bất kì Định nghĩa này loại trừ các thông tin liên hệ công việc và thông tin mà cá nhân đã tự công bố trên các phương tiện truyền thông Điều này cũng đồng nghĩa với việc đưa các loại thông tin này ra khỏi trách nhiệm bảo mật của cá nhân, tổ chức liên quan đến hoạt động TMĐT Chẳng hạn, những thông tin về họ tên, địa chỉ email, số điện thoại… của NTD được bên thứ ba đăng tải trên website cơ quan, tổ chức mà NTD làm việc hoặc những TTCN của mình do NTD tự đăng tải lên tài khoản mạng xã hội sẽ không thuộc phạm trù TTCN theo Nghị định số 52/2013/NĐ-CP

Rõ ràng, thông tin của NTD trong thời kỳ “kỹ thuật số” không chỉ giới hạn ở những nội dung truyền thống như thông tin định danh NTD, thông tin tài chính của NTD, mà còn bao gồm những thông tin mô tả hành vi, cách thức suy nghĩ và giao dịch của chính bản thân NTD 28 Các thông tin này sẽ có ý nghĩa trong chiến lược kinh doanh, nắm bắt xu hướng tiêu dùng, từ đó đưa ra định hướng kinh doanh phù hợp hay thực hiện các chiến dịch quảng bá sản phẩm tới đối tượng khách hàng tiềm năng Trong quan hệ tiêu dùng thông qua giao dịch TMĐT, là một bên tham gia giao dịch nên việc cung cấp TTCN của NTD là một việc làm không thể thiếu để xác lập quan hệ Chính vì vậy, TTCN của NTD trong luận văn này được tác giả giới hạn trong hai yếu tố: trong quan hệ tiêu dùng và hoạt động TMĐT Như vậy, TTCN của NTD có thể được định nghĩa như sau: TTCN của NTD trong TMĐT là những thông tin gắn với việc xác định danh tính, nhân thân của một NTD cụ thể, không bao gồm các TTCN do NTD hoặc bên thứ ba công bố công khai.

Đặc điểm thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Giải mã những đặc điểm cơ bản của “TTCN của NTD trong TMĐT” cần thiết đặt trong mối liên hệ với hoạt động TMĐT và quan hệ tiêu dùng Có thể xác định TTCN của NTD trong TMĐT có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, TTCN của NTD xác định danh tính một người cụ thể

Cá nhân nhằm chỉ một con người cụ thể, là chủ thể phổ biến trong các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng Việc xác định một con người cụ thể có thể dựa trên nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến những thông tin tồn tại trong xã

28 Cục Cạnh tranh và Bảo vệ NTD (2017), “Bảo vệ thông tin NTD trong thời kỳ kinh tế số”, http://moit.gov.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/bao-ve-thong-tin-nguoi-tieu-dung-trong-thoi-ky-kinh-te-so-6150-502.html, truy cập ngày 10/4/2018 hội về người đó, đáng kể nhất là TTCN Dựa vào những TTCN nhất định, có thể định danh một con người cụ thể (xác định chủ thể của TTCN)

Với đặc thù thực hiện một phần hoặc toàn bộ quy trình trên môi trường mạng, khi thực hiện giao dịch TMĐT, NTD phải cung cấp các thông tin để bên bán xác nhận được khách hàng cụ thể, qua đó xác lập và thực hiện giao dịch Ngược lại, về phía NTD, các TTCN mà họ cung cấp cho người bán là một loại tài sản đặc biệt, thuộc

“sở hữu” của cá nhân đó, buộc người bán và các bên liên quan có trách nhiệm với TTCN đó, và tất nhiên trong đó cũng đi kèm với trách nhiệm bảo mật

Các TTCN định danh NTD có thể chia thành nhiều nhóm thông tin khác nhau như: (i) Thông tin liên lạc: là những thông tin được sử dụng cho mục đích liên lạc với NTD như họ tên, địa chỉ, số điện thoại, địa chỉ email…; (ii) Thông tin nhận dạng: cho phép xác định trực tiếp một cá nhân NTD cụ thể như số chứng minh nhân dân, số bảo hiểm y tế, số sổ bảo hiểm xã hội… (iii) Thông tin riêng tư: là những thông tin liên quan đến cá nhân mang tính chất riêng tư, thường được NTD bảo mật như hồ sơ tín dụng, thu nhập, hồ sơ bệnh án… và những thông tin khác mà cá nhân muốn giữ bí mật Trong một xã hội dân sự rộng lớn, các giao dịch được xác lập thường nhật, một cá nhân bất kì cần xác định mình là ai thông qua việc chứng minh tư cách tham gia giao dịch của mình, đặc biệt là phải cung cấp các TTCN cần thiết Trong quan hệ tiêu dùng, đó chính là việc minh thị cá nhân đó là NTD, là một bên của giao dịch TMĐT

Thứ hai, TTCN của NTD gắn với phạm trù “quyền riêng tư”

Quyền riêng tư là quyền của các cá nhân được phép giữ kín những thông tin, tư liệu, dữ liệu gắn liền với cuộc sống riêng tư của mình, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nơi ở, về thư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tử khác mà không một chủ thể nào có quyền tiếp cận, công khai trừ trường hợp được chính người này đồng ý hoặc bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 29 Sự riêng tư về TTCN là một nội dung của quyền riêng tư, được hiểu là “khả năng kiểm soát của con người khi TTCN của họ được thu thập và sử dụng” 30 Khi “xã hội công nghiệp” chuyển sang “xã hội công nghệ”, đặc biệt là đối với TMĐT, quyền riêng tư của NTD cũng được quan tâm nhiều hơn Giao dịch trong TMĐT đòi hỏi sự chia sẻ một lượng lớn TTCN cần thiết cho giao dịch hoặc nhiều trường hợp thông tin bị thu thập bởi

29 Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia, Nxb Đại học Quốc gia Tp HCM, tr 115

30 Kyung Han Sohn (2016), “Privacy and security protection under Korean ecommerce law and proposals for its improvements”, Arizona Journal of International and Comparative Law, Vol 33, No 1, tr 237 doanh nghiệp nhằm phân tích, tìm hiểu các xu hướng tiêu dùng, từ đó quyết định chiến lược kinh doanh NTD trong nhiều trường hợp thường ít quan tâm đến mục đích đối với TTCN của chủ thể thu thập thông tin hay bên thứ ba, cho nên cũng không có ý thức về sự vi phạm quyền riêng tư Chính vì sự bất cân xứng của các bên trong quan hệ tiêu dùng, mà việc nhìn nhận về quyền riêng tư của NTD và bên bán cũng thường khác nhau Đối với NTD, quyền riêng tư là khả năng kiểm soát TTCN của họ bằng việc sử dụng hoặc cho đi khi họ thấy phù hợp Còn đối với bên bán, quyền riêng tư của NTD là sự tương tác mang tính hai chiều giữa bên bán với NTD Nếu NTD càng ít quan tâm đến quyền riêng tư thì bên bán càng có cơ hội để khai thác thông tin nhằm phát triển các giao dịch TMĐT của mình 31

Như vậy, nếu NTD cung cấp TTCN của mình cho bên bán thì bên bán có quyền sử dụng thông tin để phục vụ cho việc xác lập và thực hiện giao dịch TMĐT, hay có thể gọi là quyền tiếp cận thông tin Tuy nhiên, khi bỏ qua khía cạnh giao dịch, bên bán cũng có nghĩa vụ bảo đảm quyền riêng tư cho NTD thông qua việc bảo đảm an toàn cho TTCN của NTD Và trong trường hợp quyền riêng tư đối với TTCN của NTD bị xâm phạm thì các chế tài do vi phạm quyền riêng tư của con người trong pháp luật về quyền riêng tư có thể được áp dụng đối với các bên liên quan

Thứ ba, TTCN của NTD là yếu tố không thể thiếu trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử

Trong TMĐT, hợp đồng được xác lập giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh là hợp đồng điện tử không mang tính thương mại, bởi NTD xác lập hợp đồng để thỏa mãn nhu cầu của họ, mà không nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh Việc thiết lập hợp đồng điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu bằng các phương tiện điện tử dẫn đến những yêu cầu về xác định chủ thể của hợp đồng

Tính phi biên giới, tính vô hình và phi vật chất của hợp đồng điện tử thường khiến bên bán khó khăn để xác định nhân thân của bên mua (NTD) 32 Để xác định bên mua cụ thể, bên bán thường yêu cầu bên mua cung cấp các TTCN cần thiết, qua đó xác định được một bên chủ thể của hợp đồng là ai Chẳng hạn, khi mua hàng trên sàn TMĐT, NTD bắt buộc phải tiến hành gửi đơn hàng điện tử, các mẫu đơn hàng này luôn có các yêu cầu cung cấp một số TTCN cần thiết để xác lập giao dịch như họ tên, địa chỉ nhà riêng hoặc nơi làm việc, số điện thoại, địa chỉ email, ngày sinh, thông

31 Rhys Smith - Jianhua Shao (2007), “Privacy and e-commerce: a consumer-centric perspective”, Electronic

Commerce Research, Volume 7, Issue 2, tr 101-102

32 Nguyễn Thị Mơ (2006), Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử, Nxb Lao động Xã hội, tr 60 tin thẻ tín dụng Ngoài ra, việc cung cấp các loại thông tin liên lạc như địa chỉ, số điện thoại cũng có ý nghĩa rất quan trọng với việc thực hiện nghĩa vụ giao, nhận hàng của các bên trong hợp đồng Xét từ nguyên tắc giao kết hợp đồng, việc cung cấp và sử dụng TTCN của NTD trong TMĐT cũng là một khía cạnh của nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng trong giao kết hợp đồng, tạo nên tính cân bằng cho hợp đồng điện tử

Thứ tư, TTCN của NTD trong TMĐT thường được lưu trữ dưới dạng “dữ liệu điện tử”

Dữ liệu điện tử là tất cả các mục thông tin, văn bản, hình ảnh, âm thanh hoặc sự kết hợp giữa chúng được lưu trữ bằng các phương tiện điện tử Hiện nay, các TTCN của NTD thường được các doanh nghiệp lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử số trên máy tính, gọi là cơ sở dữ liệu (database) Với việc lưu trữ các thông tin dưới dạng dữ liệu điện tử, chủ thể thu thập thông tin có thể quản lý và sử dụng có hiệu quả lượng thông tin “đồ sộ” từ các khách hàng khác nhau, từ các thông tin liên lạc cơ bản đến thông tin về thói quen tiêu dùng, lịch sử giao dịch, lịch sử truy cập… mà không bị giới hạn cả về thời gian và không gian

Trong quản trị tiếp thị, các TTCN của NTD được doanh nghiệp thu thập, lưu trữ và sử dụng được gọi là “cơ sở dữ liệu khách hàng” Đây là các dữ liệu về khách hàng, bao gồm khách hàng tương lai được sử dụng cho mục đích marketing, như: tăng khả năng, doanh số bán hàng hoặc duy trì quan hệ khách hàng Marketing bằng việc sử dụng cơ sở dữ liệu là quá trình xây dựng, duy trì dữ liệu khách hàng cho mục đích giao dịch và trao đổi 33

Thứ năm, bảo đảm an toàn TTCN của NTD là một yêu cầu quan trọng trong hoạt động TMĐT

An ninh thông tin là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin 34 Trong bối cảnh giao dịch TMĐT trở nên phổ biến và phát triển nhanh chóng, yêu cầu bảo mật và bảm đảm an toàn thông tin trong TMĐT cũng ngày càng được các bên giao dịch quan tâm

Sự cần thiết phải bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Trong bối cảnh giao dịch TMĐT ở Việt Nam ngày càng gia tăng, cùng với diễn biến phức tạp của hành vi xâm phạm TTCN, yêu cầu bảo vệ TTCN của NTD đặt ra quan trọng hơn bao giờ hết, đồng thời cũng trở thành một cấu thành quan trọng của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD Nghiên cứu các cơ sở chứng minh nhu cầu bảo

35 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2015), Giáo trình TMĐT căn bản, Trần Văn Hòe, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, tr 30

36 Nguyễn Văn Hùng (2014), tlđd (33), tr 250-253 vệ TTCN của NTD trong TMĐT là thực sự cần thiết, làm nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách và pháp luật của các quốc gia, bao gồm:

Thứ nhất, bảo đảm quyền được tự quyết định về TTCN và quyền riêng tư của NTD Ở khía cạnh quyền con người, quyền tự quyết về TTCN là một quyền quan trọng Lý thuyết về quyền tự quyết định thông tin (informational sefl determination) ra đời từ năm 1983 tại Đức thông qua một phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang trong một vụ kiện của người dân liên quan tới Đạo luật điều tra dân số 37 Đây là một quyền giới hạn của cá nhân đối với thông tin của họ để xác định cho mình khi nào, làm thế nào và ở mức độ nào thông tin được truyền đạt cho người khác 38

Xét trong mối quan hệ giữa bên bán với NTD, giữa hai bên thường tồn tại một quan hệ hợp đồng, kèm theo các yêu cầu về cung cấp TTCN Trong TMĐT, để đặt mua hàng hoặc dịch vụ trên các website, NTD phải tiến hành gửi đơn hàng điện tử đi kèm với các yêu cầu cung cấp TTCN để xác lập giao dịch với bên bán Việc chia sẻ các TTCN cần phải được gắn với yêu cầu bảo đảm quyền riêng tư cho NTD Bởi vì, khi bỏ qua yếu tố giao dịch tiêu dùng, NTD được pháp luật bảo vệ quyền riêng tư thuộc về phạm trù quyền cơ bản của con người Vì vậy, NTD phải có quyền tự quyết định các thông tin của mình, trong đó nhấn mạnh tới cách thức chia sẻ, bảo vệ và sử dụng thông tin như thế nào cho phù hợp Ở khía cạnh quản trị kinh doanh, dữ liệu khách hàng được các doanh nghiệp coi là một loại tài sản đặc biệt Không thể phủ nhận những lợi ích mà doanh nghiệp có thể đạt được từ dữ liệu của khách hàng, tuy nhiên, sự xung đột đã phát sinh khi mà các doanh nghiệp càng thu thập nhiều thông tin hơn thì họ càng làm suy yếu đi quyền được bảo đảm về riêng tư thông tin của khách hàng 39 Với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, mọi nhà nước đều có trách nhiệm bảo vệ quyền riêng tư cho người dân Đặc biệt, trong xu thế phát triển nhanh chóng của công nghệ và TMĐT hiện đại, quyền riêng tư của NTD cần được chú trọng nhiều hơn thông qua xây dựng và hoàn thiện pháp luật Như vậy, khi TMĐT đang mở rộng phạm vi ảnh hưởng, trong công tác lập

37 Xem: Serge Gutwirth - Yves Poullet - Paul de Hert - Cécile de Terwangne - Sjaak Nouwt (2009), Reinventing

Data Protection?, Nxb Springer, tr 45-76

Gerrit Hornung - Christoph Schnabel (2009), “Data protection in Germany I: The population census decision and the right to informational self-determination”, Computer Law & Security Report, Volume 25, Issue 1, tr

38 Alan Westin (1970), Privacy and freedom, New York, Atheneum

39 Sarah Spiekermann - Bettina Berendt - Jens Grossklags (2001), “E-Privacy in 2nd Generation E-Commerce: Privacy Preferences versus Actual Behavior”, Communications of the ACM, Vol 48, No 3, tr 44 pháp và giải quyết tranh chấp, lý thuyết về quyền tự quyết định thông tin và quyền riêng tư cần thiết được cân nhắc như là một yếu tố chi phối việc bảo vệ TTCN nói chung và TTCN của NTD trong TMĐT nói riêng

Thứ hai, bảo vệ TTCN của NTD là một khía cạnh của bảo vệ quyền lợi NTD

Trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh, NTD thường rơi vào tình trạng bất cân xứng về thông tin, hiểu biết, trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng, khả năng chịu rủi ro và sự am tường pháp luật cũng như tiềm lực tài chính, cho nên NTD luôn ở vị thế yếu hơn 40 Sự bất cân xứng này càng thể hiện rõ nét hơn khi quan hệ tiêu dùng được xác lập thông qua giao dịch TMĐT, chịu sự chi phối của môi trường mạng và yếu tố công nghệ

Lý thuyết về bảo vệ NTD thường dựa trên ba mục tiêu lớn là tạo ra thị trường hiệu quả cho hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, thúc đẩy đạo đức kinh doanh và bảo vệ những người theo chủ nghĩa tiêu dùng 41 Vì vậy, bảo vệ TTCN của NTD cũng hướng tới các mục tiêu quan trọng này Trong TMĐT, TTCN của NTD là một dữ liệu được thu thập thường xuyên và sử dụng không chỉ bởi các nhà bán lẻ, nhà sản xuất mà còn bởi nhà cung cấp dịch vụ, các tổ chức phi lợi nhuận hay thậm chí là các hacker (tin tặc) Ngày càng nhiều TTCN của NTD được thu thập, lưu trữ và sử dụng bất hợp pháp Trong nhiều trường hợp, vì nhiều lý do, bản thân NTD cũng không quan tâm về vấn đề bảo mật thông tin của họ, cũng như giá trị kinh tế của thông tin Cho nên, sự bất cân xứng trong quan hệ tiêu dùng không chỉ từ phía nhà kinh doanh, mà còn nảy sinh từ các ý chí chủ quan của NTD

Mục đích của việc bảo vệ TTCN là để bảo vệ từng cá nhân không bị thiệt thòi trong quyền tự quyết định về thông tin của chính mình thông qua việc sử dụng dữ liệu liên quan đến cá nhân của họ Xuất phát từ nguyên tắc TTCN thuộc sở hữu riêng của cá nhân, cho nên mỗi cá nhân đều có thể tự quyết định là người nào, khi nào hay TTCN nào của mình được tiếp cận và sử dụng Cho nên, bảo vệ thông tin và bí mật cá nhân được xem là một quyền hiến định, được thể chế hóa trong nhiều văn bản pháp luật của nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới Theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, NTD được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch hoặc

40 Nguyễn Thị Thư (2011), “Về một số quyền của NTD theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, tr 57

41 A Brooke Overby (2001), “An Institutional Analysis of Consumer Law”, Vanderbilt Journal of Transnational Law, Vol 34, tr 1222 sử dụng hàng hóa, dịch vụ Hay nói cách khác, bảo vệ TTCN của NTD là cấu thành quan trọng của hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD hiện đại

Thứ ba, các hành vi xâm phạm TTCN của NTD trong TMĐT ngày càng phổ biến

Trong nền kinh tế thị trường, thông tin khách hàng đã trở thành một loại “tài sản” đặc biệt được nhiều tổ chức, cá nhân thu thập, lưu trữ và sử dụng để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như tiếp thị sản phẩm, nghiên cứu thị trường, thậm chí là bán cho bên thứ ba… Hiện nay, các hành vi xâm phạm trái phép các TTCN trong TMĐT ngày càng trở nên phổ biến và tinh vi, phổ biến như các hành vi:

Một là, thu thập và sử dụng trái phép TTCN của NTD

Với các công nghệ lớn và ngày càng phổ biến như công nghệ IoT (Internet of Thing - Internet vạn vật), AI (Artificial Intelligence - Trí tuệ nhân tạo), VR (Virtual Reality - Thực tế ảo), AR (Augmented Reality - Tương tác ảo), Cloud (Điện toán đám mây), Big Data (Dữ liệu lớn) doanh nghiệp có thể dễ dàng thu thập, lưu trữ, phân tích và truyền tải dữ liệu của cá nhân 42 Trong những trường hợp như vậy, số lượng người bị thu thập và sử dụng thông tin bất hợp pháp có thể lên tới hàng ngàn thậm chí là hàng triệu người Tính phức tạp về mặt công nghệ đã khiến cho việc xác định và xử lý hành vi vi phạm trở nên khó khăn, vượt ra khỏi tầm kiểm soát của pháp luật Tháng 8/2014, từ những bằng chứng rất rõ ràng, hãng điện thoại Trung Quốc Xiaomi đã thừa nhận hành vi thu thập dữ liệu trái phép từ điện thoại của người dùng Việt Nam về máy chủ tại Trung Quốc Theo đó, sau khi kiểm tra, các chuyên gia Công ty an ninh mạng Bkav khẳng định mẫu điện thoại Redmi Note có thu thập thông tin người sử dụng Cụ thể, khi người dùng mua Redmi về, chỉ mới đơn giản lắp SIM vào máy, kết nối mạng, thêm số liên lạc, thực hiện vài cuộc điện thoại và trao đổi tin nhắn là các thông tin như tên nhà mạng, số liên lạc, tin nhắn SMS đều được chuyển tiếp đến máy chủ của Xiaomi có địa chỉ api.account.xiaomi.com 43

Hai là, đánh cắp TTCN của NTD: TTCN của NTD trong TMĐT thường được lưu trữ dưới dạng “dữ liệu điện tử”, cho nên trong trường hợp doanh nghiệp không có các biện pháp đảm bảo an toàn hiệu quả thì có thể bị tin tặc tấn công website TMĐT bất cứ khi nào Hiện nay, việc chiếm đoạt để bán TTCN của NTD trên mạng

42 Xem thêm: Nguyễn Thị Thu Vân (2017), “Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10, tr 3

43 Cao Xuân Quảng (2014), Bảo vệ thông tin cá nhân trong các giao dịch tiêu dùng, Bản tin Cạnh tranh và Người tiêu dùng số 47, tr 15

Internet ngày càng trở nên phổ biến Chỉ cần một vài thao tác gõ những cụm từ “Data khách hàng” thông qua công cụ tìm kiếm Google, vô số những lời chào mời mua bán dữ liệu thông tin doanh nghiệp, danh sách các khách hàng với các thông tin chi tiết kèm theo: vị trí địa lý, điện thoại, email, chức vụ, thậm chí là lịch sử giao dịch của NTD trong các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, mua bán hàng hóa Theo Báo cáo chỉ số TMĐT Việt Nam (E-Business Index-EBI) năm 2017, có 17% website trong khảo sát mắc rủi ro nghiêm trọng là để dữ liệu của khách hàng có thể bị xem trái phép bởi người dùng khác Một khách hàng khi sử dụng dịch vụ TMĐT tại các website này có khả năng mất: tên, email, mật khẩu (dạng mã hóa) hoặc thông tin ngân hàng Các website TMĐT bán lẻ thường có số lượng lớn khách hàng nên các dữ liệu khách hàng rất có giá trị với tội phạm công nghệ 44

Ba là, hành vi làm phiền, lừa đảo chiếm đoạt tài sản NTD: đây là hệ quả của các hành vi trên Hàng ngày, nhiều người cảm thấy bị làm phiền và khó chịu khi thường xuyên nhận được hàng loạt lời mời chào sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhiều cá nhân, tổ chức thông qua thư điện tử hoặc điện thoại di động (nhắn tin hoặc gọi điện) Trong những trường hợp như vậy, phần lớn các thông tin họ có được hầu như là bất hợp pháp, bởi về nguyên tắc, việc thu thập và sử dụng các TTCN chỉ được thực hiện khi chủ thể thông tin đồng ý Đây được xem là một hệ quả của các hành vi thu thập thông tin bất hợp pháp, phản ánh một lối tiếp thị, quảng bá sản phẩm kém văn minh của nhiều doanh nghiệp hiện nay

Ngoài ra, khi có được thông tin NTD, đặc biệt là các thông tin về thẻ tín dụng, tội phạm có thể sử dụng các thông tin này làm giả thẻ tín dụng để rút tiền trong tài khoản hoặc thực hiện các chi tiêu mua sắm Hoặc các thông tin về nhân thân khách hàng cũng có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như: tiếp thị hàng hóa, dịch vụ; làm giấy tờ giả; bán cho bên thứ ba…

Thứ tư, bảo vệ TTCN của NTD tạo động lực cho sự phát triển của TMĐT

Các yếu tố chi phối hoạt động bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng

Bảo vệ TTCN của NTD là một yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm quyền nhân thân của con người, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của TMĐT Tuy nhiên, do đặc thù của hoạt động TMĐT, mức độ và hiệu quả bảo vệ TTCN của NTD thường bị chi phối, tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau Về cơ bản, các yếu tố có thể chi phối hiệu quả của hoạt động bảo vệ TTCN của NTD bao gồm:

Thứ nhất, yếu tố không gian mạng và nền tảng công nghệ

Quan hệ tiêu dùng thông qua TMĐT sẽ chịu sự chi phối của yếu tố không gian mạng - nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian Hệ quả tất yếu là TTCN của NTD cũng được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi qua môi trường mạng Chính vì vậy, các rủi ro và sự cố về bảo mật, an toàn TTCN của NTD do hành vi truy nhập, sử dụng, tiết lộ trái phép thông tin là điều khó tránh khỏi

Hiện nay, nhân loại đã bước sang cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (Industry 4.0), nhờ sự kết hợp giữa các công nghệ lại với nhau, xóa đi ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật và sinh học 49 Nếu không bắt kịp nhịp độ phát triển của thế giới và khu vực, Việt Nam sẽ phải đối mặt những thách thức, tác động tiêu cực, trong đó có hệ quả đe dọa về an toàn, an ninh thông tin 50 Một trong những nhân tố quan trọng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là nền tảng công nghệ, đây sẽ là nhân tố chủ đạo chi phối mạnh mẽ các hình thức và mức độ phát triển của TMĐT Hiện tại, TMĐT tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn ba - giai đoạn TMĐT phát triển nhanh Trong giai đoạn này, các giao dịch điện tử đã thâm nhập tới mọi lĩnh vực kinh tế xã hội Nhiều loại hình kinh doanh mới xuất hiện trên nền tảng điện toán đám mây (cloud computing), công nghệ di động (mobile technology), dữ liệu lớn (big data), mạng xã hội (social media) 51 Có thể nói, các công nghệ mới ra đời hỗ trợ các hình thức kinh

49 Tham khảo: Mario Hermann - Tobias Pentek - Boris Otto (2015), Design Principles for Industrie 4.0 Scenarios: A Literature Review, Working Paper No 01

50 Xem thêm: Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04 tháng 05 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ Về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

51 Hiệp hội TMĐT Việt Nam (2018), tlđd (22), tr 9 doanh mới của doanh nghiệp, thường vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của pháp luật hiện hành, đặc biệt cũng đặt ra những thách thức mới trong việc bảo đảm an toàn thông tin NTD Trên thực tế, pháp luật cũng khó bắt kịp sự phát triển nhanh chóng của các thành tựu trong khoa học công nghệ ngày nay Cho nên, việc kiểm soát hành vi xâm phạm hoặc lạm dụng TTCN của NTD sẽ trở nên khó khăn hơn

Thứ hai, yếu tố chủ thể tham gia hoạt động TMĐT

Chủ thể tham gia hoạt động TMĐT không dừng lại ở các chủ thể của giao dịch, hợp đồng truyền thống (như bên bán và bên mua trong hợp đồng mua bán, bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ trong hợp đồng cung ứng dịch vụ…), mà còn liên quan đến nhiều chủ thể khác Mỗi chủ thể đều có vai trò riêng trong quan hệ TMĐT Cho nên, trách nhiệm của từng chủ thể trong vấn đề bảo vệ TTCN của NTD cũng khác nhau

Xét từ phương diện quyền riêng tư trong TMĐT, một nghiên cứu cho thấy, có bốn nhóm chủ thể liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền riêng tư: (i) những người muốn kiểm soát việc phát tán TTCN của người thu thập; (ii) những người muốn thu thập TTCN cho mục đích kinh doanh; (iii) những người có hành vi mua, bán, lưu trữ, hoặc sử dụng TTCN trái phép; (iv) người bảo vệ quyền riêng tư, có nghĩa vụ bảo vệ quyền của chủ thể bằng cách ngăn chặn người vi phạm và hướng dẫn thiết lập cho người thu thập thông tin 52 Trên thực tế, tham gia vào hoạt động TMĐT có thể liên quan đến các chủ thể như người bán; người mua; tổ chức cung cấp dịch vụ mạng; chủ sở hữu website TMĐT… 53 Dưới sự chi phối của môi trường mạng, việc bảo vệ TTCN của NTD càng trở nên khó khăn và phức tạp hơn Chẳng hạn, tháng 6/2018, tác giả thực hiện giao dịch mua vé máy bay từ một đại lý bán vé của Vietjet và đặt phòng khách sạn qua một nhà cung cấp dịch vụ du lịch trực tuyến (trang http://www.agoda.com) cho chuyến đi từ Tp Hồ chí Minh đến Tp Đà Nẵng vào tháng 8/2018 Tuy nhiên, thời điểm có mặt tại khách sạn thì điện thoại cá nhân của tác giả liên tục nhận được những tin nhắn với mục đích quảng cáo sản phẩm, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân kinh doanh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Như vậy, rõ ràng, các TTCN và lịch trình của tác giả có thể đã bị tiết lộ khi thực hiện giao dịch điện tử Trong trường hợp này, để xác định được chủ thể tiết lộ, chia sẻ thông tin là điều không dễ dàng, bởi các

52 Head, M., Yuan, Y (2001) “Privacy Protection in Electronic Commerce: A Theoretical Framework”,

53 Xem thêm: các chủ thể hiện đang tham gia hoạt động TMĐT tại: Tào Thị Quyên - Lương Tuấn Nghĩa (2016),

Hoàn thiện pháp luật về TMĐT ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, tr.14-15 giao dịch được xác lập hoàn toàn qua môi trường mạng thông qua phương tiện điện tử, với nhiều chủ thể có liên quan

Thứ ba, yếu tố trình độ công nghệ thông tin và nhận thức của NTD Đối với NTD, tham gia mua sắm hàng hóa và dịch vụ qua TMĐT đòi hỏi họ phải có một trình độ công nghệ thông tin nhất định Khi có nền tảng công nghệ tốt, khả năng bảo mật thông tin sẽ cao hơn thông qua việc áp dụng các biện pháp tự bảo vệ thông tin, chẳng hạn, bật tính năng “không theo dõi” trên trình duyệt web, không lưu thông tin tài khoản và mật khẩu khi đăng nhập mua hàng tại các máy tính công cộng hay từ chối mua hàng khi chính sách bảo mật của người bán không rõ ràng…

Trong TMĐT, khả năng lưu trữ và truy xuất thông tin của các công nghệ truyền thông mới có thể tạo thuận lợi cho việc thu thập và trao đổi thông tin khách hàng, những người thường không có kiến thức về các công nghệ này Mặt khác, các điều khoản về quyền riêng tư thường được đặt ở vị trí bất tiện (cuối trang), thường “tẻ nhạt” và phức tạp đối với người dùng website do ngôn ngữ mang tính pháp lý 54 Trên thực tế, nhiều NTD cũng không quan tâm nhiều đến vấn đề bảo vệ TTCN, bởi họ cho rằng, thông tin của mình không có giá trị gì; hoặc khi bị phát tán thông tin, nếu xác định được chủ thể để lộ thông tin thì họ cũng “e ngại” việc khiếu nại, có thể dẫn đến mất thời gian mà không đạt được mục đích mong muốn Vì vậy, để tránh việc lộ TTCN, trước hết, NTD cũng cần nhận thức về giá trị TTCN và tầm quan trọng của việc bảo mật các TTCN khi tham gia vào giao dịch TMĐT

Thứ tư, yếu tố chính sách và pháp luật về bảo vệ TTCN

Các giao dịch điện tử ngày càng phát triển nhanh đã tạo ra nhiều cơ hội mới cho phát triển kinh tế và xúc tiến thương mại toàn cầu Để bảo đảm cho hoạt động TMĐT, các quốc gia đều ra sức xây dựng và thực thi các chính sách và pháp luật phù hợp Trong đó, vấn đề bảo đảm an toàn thông tin nói chung và an toàn TTCN nói riêng đang trở thành vấn đề thách thức đối với các nhà lập pháp, bởi cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi cơ bản các mặt của đời sống nhân loại, kể cả TMĐT Mặt khác, quyền riêng tư và yêu cầu được bảo vệ về TTCN của con người đang được đề cao và tôn trọng với tư cách là “quyền cơ bản” của con người Dĩ nhiên, chính sách và pháp luật của bất kì nhà nước nào cũng phải thay đổi và hoàn thiện để bắt kịp đòi hỏi này

54 Zizi Papacharissi - Jan Fernback (2005), “Online Privacy and Consumer Protection: An Analysis of Portal Privacy Statements”, Journal of Broadcasting and Electronic Media, tr 260

Hiện nay, liên quan đến vấn đề bảo vệ TTCN của NTD ở Việt Nam, tác giả có vài nhận xét sau:

Một là, Việt Nam không ban hành một luật chung về bảo vệ dữ liệu/TTCN như nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới, mà điều chỉnh thông qua pháp luật chuyên ngành Bảo vệ TTCN của NTD được giới hạn trong hai yếu tố quan trọng: quan hệ tiêu dùng và giao dịch TMĐT Cho nên trước hết, các văn bản liên quan đến cả hai yếu tố này sẽ được vận dụng để giúp NTD bảo vệ các TTCN của họ Ngoài ra, trước những thách thức của vấn đề an ninh mạng và an toàn thông tin của các đạo luật liên quan cũng được nhà lập pháp ban hành trong thời gian gần đây như Luật ATTTM 2015, Luật An ninh mạng 2018

Hai là, pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD chưa bảo đảm tốt quyền riêng tư về TTCN cho NTD Việt Nam là quốc gia khá non trẻ trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD Luật Bảo vệ quyền lợi NTD đến năm 2010 mới được ban hành (trước đó có Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD 1999) Các quy định về bảo vệ quyền riêng tư về TTCN cũng nằm rải rác trong nhiều văn bản nhưng hiệu quả điều chỉnh chưa cao

Ba là, các hành vi xâm phạm, vi phạm an toàn TTCN của NTD ngày càng phổ biến ở Việt Nam Thực trạng này đe dọa đến quyền riêng tư về TTCN và đời sống của NTD Nhìn rộng hơn, nó có tác động trực tiếp đến thị phần TMĐT và có thể là nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước Nền tảng công nghệ vận động theo quy luật của nó, luôn thay đổi liên tục và trở thành động lực giúp TMĐT phát triển Tuy nhiên, mặt trái của nó là tạo ra nhiều thách thức hơn cho pháp luật, đặc biệt là vấn đề bảo vệ TTCN nói chung và TTCN của NTD nói riêng

Như vậy, chính sách và pháp luật là những công cụ quan trọng chi phối hoạt động bảo vệ TTCN của NTD trong TMĐT Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ TTCN của NTD đang là vấn đề trọng tâm của các quốc gia khi có mong muốn huy tối đa lợi thế của TMĐT.

Thực trạng pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Ngày đăng: 27/10/2022, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
40. Nguyễn Văn Hùng (2014), Cẩm nang TMĐT, Nxb. Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, tr. 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang TMĐT
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Nhà XB: Nxb. Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2014
44. Cao Xuân Quảng (2014), Bảo vệ thông tin cá nhân trong các giao dịch tiêu dùng, Bản tin Cạnh tranh và Người tiêu dùng số 47, tr. 15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ thông tin cá nhân trong các giao dịch tiêu dùng
Tác giả: Cao Xuân Quảng
Năm: 2014
45. Tào Thị Quyên - Lương Tuấn Nghĩa (2016), Hoàn thiện pháp luật về TMĐT ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về TMĐT ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Tào Thị Quyên - Lương Tuấn Nghĩa
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2016
46. Nguyễn Thị Thư (2011), “Về một số quyền của NTD theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, tr. 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số quyền của NTD theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Thư
Năm: 2011
47. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2015), Giáo trình TMĐT căn bản, Trần Văn Hòe, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, tr. 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình TMĐT căn bản
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2015
48. Trường Đại học Ngoại thương (2013), Giáo trình TMĐT, Nguyễn Văn Hồng - Nguyễn Văn Thoan, Nxb. Bách khoa - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình TMĐT
Tác giả: Trường Đại học Ngoại thương
Nhà XB: Nxb. Bách khoa - Hà Nội
Năm: 2013
50. Nguyễn Thị Thu Vân (2017), “Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10, tr. 3-7Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật", số 10, tr. 3-7
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Vân
Năm: 2017
51. Michael Aldrich (2011), “Online Shopping in the 1980s”, Annals of the History of Computing, Vol. 33, No. 4, tr. 57-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Online Shopping in the 1980s”, "Annals of the History of Computing
Tác giả: Michael Aldrich
Năm: 2011
52. Marc Bacchetta, Patrick Low - Mattoo Aaditya - Ludger Schuknecht, Hannu Wager - Madelon Wehrens (1998), Electronic commerce and the role of the WTO, WTO Special Studies, No. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic commerce and the role of the WTO
Tác giả: Marc Bacchetta, Patrick Low - Mattoo Aaditya - Ludger Schuknecht, Hannu Wager - Madelon Wehrens
Năm: 1998
53. Li Chen and Hong-wei Liu (2015), “A Review of Privacy Protection in E- commerce”, Journal of Advanced Management Science Vol. 3, No. 1, tr. 50- 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Review of Privacy Protection in E-commerce
Tác giả: Li Chen and Hong-wei Liu
Năm: 2015
55. Robert G. Cross (1997), Revenue management: hard - core tactics for market domination, Nxb. Broadway Books, tr. 66-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Revenue management: hard - core tactics for market domination
Tác giả: Robert G. Cross
Nhà XB: Nxb. Broadway Books
Năm: 1997
56. Graham Greenleaf (2017), Global Data Privacy Laws 2017: 120 National Data Privacy Laws, Including Indonesia and Turkey, Privacy Laws &Business International Report Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Data Privacy Laws 2017: 120 National Data Privacy Laws, Including Indonesia and Turkey
Tác giả: Graham Greenleaf
Năm: 2017
57. Meirong Guo (2012), “A Comparative Study on Consumer Right to Privacy in E-Commerce”, Modern Economy, Vol. 3, tr. 402-407 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Comparative Study on Consumer Right to Privacy in E-Commerce”, "Modern Economy
Tác giả: Meirong Guo
Năm: 2012
58. Serge Gutwirth - Yves Poullet - Paul de Hert - Cécile de Terwangne - Sjaak Nouwt (2009), Reinventing Data Protection?, Nxb. Springer, tr. 45-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reinventing Data Protection
Tác giả: Serge Gutwirth - Yves Poullet - Paul de Hert - Cécile de Terwangne - Sjaak Nouwt
Nhà XB: Nxb. Springer
Năm: 2009
59. Mario Hermann - Tobias Pentek - Boris Otto (2015), Design Principles for Industrie 4.0 Scenarios: A Literature Review, Working Paper No. 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Design Principles for Industrie 4.0 Scenarios: A Literature Review
Tác giả: Mario Hermann - Tobias Pentek - Boris Otto
Năm: 2015
61. Lauren Krohn, (1995), Consumer protection and the law: A dictionary, Nxb. ABC-CLIO Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consumer protection and the law: A dictionary
Tác giả: Lauren Krohn
Nhà XB: Nxb. ABC-CLIO Ltd
Năm: 1995
63. Miriam J. Metzger (2007), “Communication Privacy Management in Electronic Commerce”, Journal of Computer-Mediated Communication, International Communication Association, Vol. 12, tr. 335-361 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Communication Privacy Management in Electronic Commerce”," Journal of Computer-Mediated Communication
Tác giả: Miriam J. Metzger
Năm: 2007
64. Ghadeer Neama - Rana Alaskar - Mohammad Alkandari (2016), Privacy, security, risk, and trust concerns in e-commerce, the 17th International Conference on Distributed Computing and Networking, No. 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Privacy, security, risk, and trust concerns in e-commerce
Tác giả: Ghadeer Neama - Rana Alaskar - Mohammad Alkandari
Năm: 2016
65. Carly Nyst (2017), Privacy, protection of personal information and reputation right, Discussion paper series: children’s rights and business in a digital world 66. OECD Guidelines on the Protection of Privacy and Transborder Flowsof Personal Data (1980) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Privacy, protection of personal information and reputation right", Discussion paper series: children’s rights and business in a digital world 66. "OECD Guidelines" on the Protection of Privacy and Transborder Flows of "Personal Data (1980
Tác giả: Carly Nyst
Năm: 2017
67. A. Brooke Overby (2001), “An Institutional Analysis of Consumer Law”, Vanderbilt Journal of Transnational Law, Vol. 34, tr. 1219-1231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Institutional Analysis of Consumer Law”, "Vanderbilt Journal of Transnational Law
Tác giả: A. Brooke Overby
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w