1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

76 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, môi trường được định nghĩa là “toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trang 4

Chính phủ ngày 31/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch

Chính phủ ngày 13/5/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường

Chính phủ ngày 21/5/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

sở lưu trú du lịch tại Việt Nam

Trang 5

của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch ngày 25/12/2020 ban hành Quy tắc ứng xử về bảo vệ môi trường trong hoạt động văn hóa, thể thao và

du lịch

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 09/3/2021 về việc ban hành

Kế hoạch xây dựng Nghị định về mô hình quản lý khu du lịch quốc gia Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-

BVHTTDL-BTNMT

Thông tư liên tịch số BVHTTDL-BTNMT của Bộ trưởng

19/2013/TTLT-Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và 19/2013/TTLT-Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 30/12/2013 về Hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị

di tích

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 6

1.1 Tổng quan về du lịch 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của du lịch 6

1.1.2 Tình hình du lịch tại Việt Nam 8

1.2 Tổng quan về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 10

1.2.1 Khái niệm về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 10

1.2.2 Đặc điểm bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 12

1.2.3 Vai trò của bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 13

1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và bảo vệ môi trường 14

1.3.1 Tác động của hoạt động bảo vệ môi trường đối với du lịch 14

1.3.2 Tác động của du lịch đối với hoạt động bảo vệ môi trường 18

1.4 Tổng quan pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 24

1.4.1 Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 24

1.4.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 25

1.4.3 Vai trò của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 28

1.5 Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch tại một số quốc gia 29

1.5.1 Trung Quốc 29

1.5.2 Nhật Bản 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2 BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 36

2.1 Bất cập và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 36

2.1.1 Bất cập trong quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 37

2.1.2 Một số giải pháp hoàn thiện 45

2.2 Bất cập và giải pháp hoàn thiện trong thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 49

2.2.1 Bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 49

Trang 7

2.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58 KẾT LUẬN CHUNG 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch thường được ví von như ngành công nghiệp “không khói” bởi tác động của du lịch đến môi trường so với các ngành công nghiệp khác có thể nói là ít tiêu cực và nghiêm trọng hơn Tuy nhiên, với sự phát triển như hiện nay cũng như ý thức chưa cao của một số cá nhân, tổ chức hoạt động du lịch, ngành du lịch đã có những tác động tiêu cực đến môi trường Vì thế, giờ đây, việc bảo vệ môi trường (BVMT) trong hoạt động du lịch đang ngày càng được quan tâm Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra nhiều mục tiêu chiến lược BVMT trong hoạt động du lịch, qua đó góp phần nâng cao công tác quản lý và kiểm soát BVMT trong hoạt động du lịch Nghị quyết 41-NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã nhấn

mạnh đến vấn đề BVMT trong hoạt động du lịch theo hướng “Quan tâm bảo vệ, giữ gìn và tôn tạo cảnh quan môi trường Thực hiện các biện pháp nghiêm ngặt để bảo vệ môi trường các khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái” Đây được coi là cơ sở quan trọng để xây dựng các văn bản quy

phạm pháp luật (QPPL) quy định về vấn đề BVMT trong hoạt động du lịch tại Việt Nam

Hiện nay, Nhà nước ta cũng đã xây dựng và ban hành một số văn bản pháp luật điều chỉnh về vấn đề BVMT trong hoạt động du lịch, tiêu biểu như Luật Bảo vệ môi trường 2014 (Luật BVMT), Luật BVMT 2020, Luật Du lịch 2017 (Luật DL), Nghị định số 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT (Nghị định số 19/2015/NĐ-CP), Nghị định số 168/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch (Nghị định số 168/2017/NĐ-CP), Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 30/12/2013 hướng dẫn BVMT trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích (Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT),… Các văn bản này về

cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu phục vụ công tác BVMT trong hoạt động du lịch trong khoảng thời gian qua Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, các quy định pháp luật về BVMT trong du lịch vẫn còn thiếu tính thống nhất, rời rạc, chế tài vẫn chưa thật sự tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi, điều này đã dẫn đến sự thiếu hiệu quả khi áp dụng trên thực tế Hơn nữa, do một số văn bản đã ra đời cách đây khá lâu nên không còn phù hợp với điều kiện hiện tại của đất

Trang 9

nước Bên cạnh đó, mặc dù việc việc thực thi pháp luật BVMT trong du lịch đã được quan tâm, tuân thủ thực hiện, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập.1

Từ thực tiễn trên, với mong muốn tìm hiểu, phân tích, bình luận, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về BVMT trong hoạt động du lịch, làm rõ những bất cập trong quy định hiện hành, từ đó kiến nghị, đưa ra một số giải pháp để góp phần hoàn thiện pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch Tác giả lựa chọn đề tài

“Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch” để làm khóa luận tốt

nghiệp cử nhân luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tại Việt Nam, pháp luật BVMT trong hoạt động du lịch là một lĩnh vực tương đối mới mẻ Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động BVMT trong du lịch, cụ thể như:

Trần Phong Bình (2009), Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong luận văn này, tác giả đã tập trung phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận về pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch, đánh giá thực trạng và tình hình thực hiện pháp luật BVMT trong hoạt động du lịch, từ đó nêu ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch Các phân tích của tác giả có giá trị tham khảo nhưng do thời điểm ra đời của luận văn khá lâu nên luận văn chủ yếu dựa vào các văn bản QPPL hiện nay đã hết hiệu lực (Luật BVMT 2005, Luật DL

2005, Quyết định 02/2003/QĐ-BTNMT ban hành Quy chế BVMT trong lĩnh vực

du lịch do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, ), một số quan điểm không còn phù hợp nữa Các phân tích của tác giả sẽ được tham khảo có chọn lọc trong khóa luận

Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Môi trường, Nhà xuất

bản Công an nhân dân Giáo trình đã nghiên cứu và phân tích vai trò của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường (ÔNMT) trong hoạt động du lịch; nghĩa vụ của Nhà nước, cá nhân, tổ chức trong việc kiểm soát ÔNMT trong hoạt động du lịch và xử lý

vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động du lịch Tuy nhiên, giáo trình chỉ mới nghiên cứu ở mức độ khái quát và chưa đi sâu vào phân tích các quy định pháp luật

1

Theo thống kê của Ban quản lý Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, mỗi ngày có khoảng 10 tấn rác thải từ hoạt động du lịch; tại Vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai), việc ồ ạt đưa du khách lên khám phá Phan xi păng trong khi công tác quản lý còn bất cập đã tác động tiêu cực đến hệ sinh thái; tại Vườn quốc gia Cúc Phương, việc khách du lịch tụ tập đốt lửa trại dẫn đến nguy cơ dẫn đến cháy rừng (xem thêm tại Trần Tân,

“Ngành du lịch bị đẩy lùi vì ô nhiễm môi trường”, du-l%E1%BB%8Bch-b%E1%BB%8B-%C4%91%E1%BA%A9y-l%C3%B9i-v%C3%AC-%C3%B4- nhi%E1%BB%85m-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-14804 , truy cập ngày 27/6/2021)

Trang 10

http://tapchimoitruong.vn/chuyen-muc-3/Ng%C3%A0nh-hiện hành cũng như chưa chỉ ra những bất cập, đề xuất sửa đổi những bất cập đó Một số quan điểm trong giáo trình sẽ được tham khảo có chọn lọc trong khóa luận

Souliphon Khampanya (2016), Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động

du lịch ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà

Nội Trong luận văn, tác giả đã phân tích các vấn đề lý luận về pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch, thực trạng pháp luật và đề ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch Các phân tích và kiến nghị của tác giả

có giá trị tham khảo nhất định nhưng một số văn bản được sử dụng trong khóa luận

đã hết hiệu lực ở thời điểm hiện tại như Luật DL 2005, Nghị định số

92/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

Thùy Vân (2019), “Nghiên cứu mô hình bảo vệ môi trường tại các khu, điểm

du lịch trên thế giới”, cac-khu-diem-du-lich/ Bài viết đã phân tích một số mô hình nổi bật trên thế giới, từ

http://itdr.org.vn/nghien-cuu-mo-hinh-bao-ve-moi-truong-tai-đó đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Tuy nhiên, bài viết trên không phân tích dưới góc độ pháp lý mà chỉ thiên về hướng đề xuất, kiến nghị mô hình phù hợp cho Việt Nam

Qua việc sơ lược nội dung các công trình nghiên cứu trên, nhìn chung các công trình trên đã phân tích và trình bày có khoa học về các vấn đề cơ bản của pháp luật BVMT trong hoạt động du lịch cũng như nêu ra một số bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, một số công trình chỉ nghiên cứu dưới góc độ kinh

tế, một số công trình khác nghiên cứu dưới góc độ pháp lý nhưng đã ra đời khá lâu nên không còn phù hợp với thực tiễn cũng như pháp luật hiện hành, một số công trình lại nghiên cứu thực tiễn ở một địa phương nhất định mà chưa thể hiện được sự khái quát trong cả nước Tình hình thực tế xã hội biến động từng ngày nên cần có những công trình nghiên cứu có tính khái quát dựa trên những quy định hiện hành

Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch” để nghiên cứu, phân tích, đánh giá những quy định pháp luật hiện hành, từ đó

Trang 11

đưa ra một số giải pháp góp phần vào việc BVMT trong hoạt động du lịch một cách hiệu quả trên cơ sở kế thừa, tham khảo những quan điểm có giá trị từ các đề tài, công trình nghiên cứu trước đây

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về BVMT trong du lịch, phân tích các quy định hiện hành, chỉ ra những bất cập và hạn chế trong pháp luật của Việt Nam về vấn đề này, từ đó đưa ra một số định hướng hoàn thiện dưới khía cạnh pháp lý

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Khóa luận được thực hiện dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích - chứng minh: Được sử dụng để phân tích các khái niệm, số liệu, quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch để chứng minh những quan điểm và kiến nghị của tác giả về thực trạng pháp luật, chứng minh tính đúng đắn và khả thi của các kiến nghị Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của khóa luận

Phương pháp thống kê: Được sử dụng để cung cấp các thông tin, số liệu liên quan đến tình hình du lịch ở Việt Nam, thực trạng BVMT trong hoạt động du lịch

để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của khóa luận

Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh giữa các QPPL có liên quan, giữa QPPL hiện hành với QPPL trước đây, giữa QPPL hiện hành và QPPL sắp có hiệu lực thi hành Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 2 của khóa luận

Phương pháp tổng hợp: Dùng để phân tích các kết quả phân tích, đánh giá để

từ đó đưa ra kết luận Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của khóa luận

Trang 12

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm hai chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch Chương 2 Bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 1.1 Tổng quan về du lịch

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của du lịch

Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch và lữ hành (International Conference on Travel and Tourism Statistics) tổ chức ở Ottawa năm 1991 đã đưa ra một khái niệm

về du lịch; theo đó, du lịch được xem là“hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm

vi vùng tới thăm”.2

Thêm vào đó, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) định nghĩa

du lịch là “một hiện tượng kinh tế, xã hội, văn hóa thể hiện sự di chuyển của con người đến các quốc gia hoặc địa điểm bên ngoài khu vực sinh sống thông thường

Bên cạnh đó, theo

Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, du lịch được định nghĩa là “Đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở”4

Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ du lịch đã được định nghĩa tại Luật DL 2005

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,

Tuy nhiên, thuật ngữ này còn khá trừu tượng, khó hiểu, cũng như có một số cụm từ mang tính định tính, khó xác định cụ thể nội hàm như “một khoảng thời gian nhất định” Tiếp thu và khắc phục

những hạn chế trên, Luật DL 2017 đã định nghĩa về du lịch như sau “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích

của hoạt động du lịch Theo quan điểm của tác giả, định nghĩa về du lịch được nêu

ra trong Luật DL 2017 là hoàn thiện và tương đối đầy đủ

Từ cách định nghĩa trên, có thể rút ra du lịch có những đặc điểm cơ bản như sau:

Trang 14

Một là, về bản chất, du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con

người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình Con người thực hiện hoạt động du lịch khi di chuyển từ nơi cư trú thường xuyên của mình sang một địa điểm khác Sự dịch chuyển về mặt không gian là một trong những đặc điểm của du lịch Tuy nhiên, hành vi dịch chuyển này lại có mục đích rất phong phú, đa dạng và mang tính đặc trưng Con người thực hiện hoạt động du lịch với nhiều mục đích khác nhau như để tham quan những địa điểm mà mình chưa đến, nghỉ dưỡng sau thời gian làm việc căng thẳng, giải trí, tìm hiểu, khám phá những vùng đất mới, những nơi mà bản thân yêu thích Sự đa dạng trong mục đích của hoạt động du lịch xuất phát từ nhu cầu của mỗi người là khác nhau, dẫn đến sự đa dạng trong lý do thúc đẩy họ thực hiện hoạt động du lịch Những mục đích tuy đa dạng nhưng mang đặc trưng riêng của hoạt động du lịch: đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác Đó là đặc điểm phân biệt hoạt động du lịch với các hoạt động di chuyển thông thường khác Bên cạnh đó, xuất phát từ mục đích của hoạt động du lịch nên hoạt động du lịch diễn ra phổ biến vào một số thời điểm trong năm, thường là lúc khách du lịch không phải làm việc, học hành như cuối tuần, lễ, tết, nghỉ hè Theo số liệu từ công cụ Destination Insights7 của Google, nhu cầu tìm kiếm thông tin về du lịch tăng mạnh vào dịp nghỉ lễ như 30/5 – 01/5 hay dịp nghỉ hè, lượng tìm kiếm thông tin về du lịch trong những ngày cuối của tháng 3/2021 đã tăng lên gần gấp 4 lần so với cùng kỳ năm trước.8

Hai là, thời gian của hoạt động du lịch là không quá 01 năm liên tục Việc giới

hạn thời gian du lịch là không quá 01 năm liên tục có ý nghĩa lớn trong việc quản lý công dân Không ít những trường hợp khách du lịch lợi dụng hoạt động du lịch để

cư trú trái phép cũng như thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật Theo thống

kê tại Hội nghị tổng kết 5 năm triển khai thực hiện Quy chế phối hợp đảm bảo an ninh trật tự trong hoạt động du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn

2016 - 2020 giữa Sở Du lịch và Công an Thành phố, tình hình người nước ngoài tạm trú và lợi dụng du lịch vi phạm pháp luật trên địa bàn thành phố gia tăng Năm

2016, xử lý vi phạm hành chính, buộc trục xuất 58 đối tượng với hành vi phổ biến

là quá hạn thị thực du lịch; 2017 là 148 vụ; năm 2018 là 98 vụ; năm 2019 bắt giữ,

xử lý 315 đối tượng người Đài Loan (Trung Quốc), 133 đối tượng có quốc tịch các

7

Destination Insights là một trong ba công cụ chính của Travel Insights - website do Google phát triển, cung cấp dữ liệu và thông tin thị hiếu về ngành du lịch Destination Insights cung cấp thông tin chi tiết những địa điểm du lịch trong nước mà khách du lịch quan tâm nhất

8

Đào Trang, Tiến Thọ, “Bài 1: Du lịch nội địa nóng dịp nghỉ lễ và chào hè”, dulich/bai-1-du-lich-noi-dia-nong-dip-nghi-le-va-chao-he 643450/ , truy cập ngày 27/6/2021

Trang 15

https://nhandan.vn/dien-dan-nước châu Phi, 93 đối tượng Hàn Quốc và 140 đối tượng các quốc tịch khác.9

Công

an thành phố đã kiểm tra và phát hiện 226 lượt cơ sở vi phạm với các hành vi phổ biến như: Không thông báo lưu trú, thiếu tinh thần trách nhiệm để các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, hoạt động mại dâm tại cơ sở lưu trú, phát hiện rất nhiều trường hợp sử dụng thị thực du lịch sai mục đích, thậm chí lao động chui, tổ chức đánh bạc trực tuyến, hoạt động lừa đảo 10

Vì thế Luật DL quy định như trên nhằm hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh từ hoạt động du lịch

Ba là, hoạt động du lịch thường diễn ra ở những địa điểm có tài nguyên du lịch Khoản 4 Điều 3 Luật DL 2017 quy định “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên

du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa.” Tài

nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.11

Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.12

Những nơi có tài nguyên du lịch đặc sắc, đa dạng thường sẽ thu hút một lượng lớn khách du lịch, từ đó khiến ngành

du lịch ở những địa điểm này phát triển

1.1.2 Tình hình du lịch tại Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có nhiều lợi thế để phát triển về du lịch với đường

bờ biển kéo dài 3.260 km, 8 di tích được Ủy ban di sản thế giới thuộc UNESCO công nhận là Di sản thế giới, 13 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào các danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại, 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận, 3 Di sản tư liệu thế giới, 4 Di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương cùng nhiều những tiềm năng to lớn khác về mặt du lịch.13

Tài nguyên thiên nhiên để phát triển du lịch của Việt Nam đứng thứ 35/140 trên toàn cầu, tài nguyên văn hóa đứng thứ 29 theo xếp hạng của Tổ chức Du lịch Thế giới; Việt Nam có 400 nguồn

9 N Cảnh, “Công an TP Hồ Chí Minh tăng cường đảm bảo an ninh du lịch”, LL-CAND/Cong-an-TP-Ho-Chi-Minh-tang-cuong-dam-bao-an-ninh-du-lich-627102/ , truy cập ngày 15/4/2021

Khoản 2 Điều 15 Luật Du lịch 2017

https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_hi%E1%BB%87u_UNESCO_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam , truy cập ngày 18/5/2021

Trang 16

quan điểm “Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; đảm bảo hài hòa tương tác giữa khai thác phát triển du lịch với bảo vệ giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn.” Thực hiện theo

đường lối trên, trong những năm gần đây, ngành du lịch ở nước ta đã có những bước tăng trưởng vượt bậc Theo thống kê từ Tổng cục Du lịch15

, về khách du lịch quốc tế, nếu như năm 1990 mới chỉ có 250 nghìn lượt khách quốc tế đến Việt Nam thì vào vào năm 2019 đã đạt hơn 18 triệu lượt – tăng 72 lần so với năm 199016, khách nội địa tăng 85 lần từ 1 triệu lượt lên 85 triệu lượt.17

Tốc độ tăng trưởng hàng năm thường đạt mức 2 con số, đặc biệt là giai đoạn 2015-2019 đạt 22,7% mỗi năm - được Tổ chức Du lịch thế giới xếp vào hàng cao nhất trên thế giới.18

Năm 1990, tổng thu từ du lịch mới đạt 1.340 tỷ đồng thì đến năm 2019, con số đó là 755.000 tỷ đồng (tương đương 32,8 tỷ USD)19

; tỷ lệ đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP cũng có xu hướng tăng dần theo mỗi năm.20

Lượng khách du lịch quốc tế và nội địa tăng dần đều qua các năm, đặc biệt lượng khách du lịch quốc tế vào năm 2019 có sự tăng trưởng mạnh mẽ (tăng 10.065 nghìn lượt so với năm 2015) Nếu lượng khách

du lịch quốc tế năm 2015 tăng gần 1,6 lần so với năm 2010 thì lượng khách du lịch quốc tế năm 2019 đã tăng gần 2,3 lần so với năm 2015 Điều này chứng tỏ sự tăng trưởng lớn dần theo từng năm của ngành du lịch Việt Nam, phần nào thể hiện sự hiệu quả trong đường lối phát triển du lịch của nhà nước Bên cạnh đó, tổng thu và

tỷ lệ đóng góp trực tiếp vào GDP của hoạt động du lịch cũng có xu hướng tăng dần

14

Thảo Thảo, “Phát triển du lịch bền vững: Rừng vàng, biển bạc cũng bởi tay người”,

https://laodong.vn/kinh-te/phat-trien-du-lich-ben-vung-rung-vang-bien-bac-cung-boi-tay-nguoi-768878.ldo , truy cập ngày 18/5/2021

15

Theo Điều 1 Quyết định số 17/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 30/3/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì Tổng cục Du lịch là tổ chức trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về du lịch trên phạm vi cả nước, quản lý các dịch vụ công về du lịch theo quy định của pháp luật

Trung tâm Thông tin du lịch, “Tốc độ tăng trưởng khách cao, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế -

xã hội”, https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/32527 , truy cập ngày 18/5/2021

Trang 17

qua từng năm Tổng thu từ khách du lịch năm 2019 tăng 399.500 tỷ đồng, tức tăng gấp 2,1 lần so với năm 2015 Tỷ lệ đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP năm

2019 cũng tăng 0,9% so với năm 2018 Sự tăng trưởng trên thể hiện vai trò ngày càng mạnh mẽ của hoạt động du lịch đối với nền kinh tế nước ta Du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu ngành công nghiệp của Việt Nam và ngày càng được cơ quan nhà nước quan tâm, định hướng phát triển Nhà nước đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực để thúc đẩy du lịch phát triển như tổ chức hoạt động Năm du lịch quốc gia Đây là sự kiện quan trọng hàng năm của ngành du lịch nhằm giới thiệu, quảng bá đến nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế những giá trị, vẻ đẹp, tiềm năng phát triển du lịch của các vùng miền nói riêng và Việt Nam nói chung Năm Du lịch quốc gia 2021 với chủ đề “Hoa Lư - Cố đô ngàn năm” được tổ chức tại Ninh Bình được xem như cơ hội để “kích hoạt ngành du lịch phục hồi và bứt phá sau đại dịch Covid-19”.21

Năm 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phát động chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” nhằm khắc phục hậu quả do dịch Covid-19 gây ra, kích cầu du lịch nội địa Những hoạt động trên đã phần nào giúp cho ngành du lịch Việt Nam phục hồi trong bối cảnh đại dịch vẫn còn diễn ra phức tạp

1.2 Tổng quan về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

1.2.1 Khái niệm về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, môi trường được định nghĩa

là “toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy”.22

Một định

nghĩa khác về môi trường được nêu ra trong Từ điển Di sản Hoa Kỳ “Môi trường là

sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”.23

Theo Giáo trình Luật Môi trường Đại

học Luật Hà Nội, môi trường là “mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao

Dưới góc độ pháp lý, hiện nay, kế thừa và khắc phục những điểm chưa hợp lý của Luật BVMT 200525

, khái niệm môi trường được giải thích tại khoản 1 Điều 3

21

T Linh, “Năm Du lịch quốc gia 2021 - Hoa Lư, Ninh Bình góp phần phục hồi du lịch Việt Nam”,

viet-nam 641085/ , truy cập ngày 2/7/2021

Luật BVMT 2005 định nghĩa “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh

con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.” Việc sử

dụng từ “bao gồm” không thể hiện được mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau so với từ “hệ thống” như Luật

Trang 18

Luật BVMT 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” Như

vậy, từ định nghĩa trên, có thể thấy môi trường là sự kết hợp của hai yếu tố gồm tự nhiên (các yếu tố tồn tại khách quan, ngoài ý muốn của con người) và nhân tạo (các yếu tố do con người tạo nên, chịu sự chi phối của con người) Hai yếu tố này tác động qua lại, tương tác lẫn nhau và ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của con người cũng như các sinh vật khác Tuy nhiên, định nghĩa này có hạn chế khi chưa thể hiện được mối quan hệ biện chứng giữa con người và môi trường, chỉ thấy sự tác động một chiều từ môi trường đến con người mà chưa thấy con người cũng có thể tác động đến môi trường.26

Bên cạnh đó, khoản 18 Điều 3 Luật DL 2017 cũng

nêu ra khái niệm về môi trường du lịch“Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội nơi diễn ra các hoạt động du lịch”

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người góp phần cải tạo môi trường nhưng đồng thời cũng gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường Vì thế vấn đề BVMT được đặt ra BVMT là những hoạt động gìn giữ môi trường trong lành, sạch đẹp; phục hồi, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái; ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học.27

Khoản 3 Điều 3 Luật BVMT 2014 cũng đã nêu ra định nghĩa về

hoạt động BVMT “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.” Định nghĩa trên đã xác định

tương đối đầy đủ nội hàm của hoạt động bảo vệ môi trường

Môi trường và du lịch tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, nếu hoạt động du lịch không được định hướng phát triển hợp lý, bền vững sẽ dẫn đến suy thoái, ô nhiễm môi trường và gây ảnh hưởng lại chính hoạt động du lịch Những tác động tiêu cực trên của hoạt động du lịch đòi hỏi Nhà nước phải đưa ra những giải pháp kịp thời và hiệu quả để hạn chế tối đa những tác động đó

Tham khảo tinh thần khoản 2 Điều 2 Quyết định 02/2003/QĐ-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 29/7/2003 về việc ban hành Quy chế

BVMT 2014 Đồng thời Luật BVMT 2014 sử dụng từ ngữ “yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo” thay cho

“yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo” Sự thay đổi này phần nào nhấn mạnh và làm rõ hơn về việc giới hạn chỉ những yếu tố vật chất mới là môi trường theo Luật BVMT 2014

26

Bùi Đức Hiền (2017), Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay, Nhà

xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, tr 6

27

Nguyễn Thị Tố Uyên (2019), Cơ chế pháp lý về sự tham gia của các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi

trường ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, tr 20

Trang 19

BVMT trong lĩnh vực du lịch, BVMT trong hoạt động du lịch được định nghĩa

là“các hoạt động cải thiện và tôn tạo môi trường du lịch; phòng ngừa, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường xảy ra trong lĩnh vực du lịch” BVMT trong hoạt động du lịch có nội hàm hẹp hơn BVMT nói chung

Từ tinh thần của khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu BVMT trong hoạt động du lịch là hoạt động của các chủ thể nhằm cải thiện môi trường, hạn chế và khắc phục những tác động tiêu cực mà hoạt động du lịch gây ra, phòng ngừa và khắc phục sự

cố môi trường, ÔNMT trong hoạt động du lịch

1.2.2 Đặc điểm bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Từ khái niệm trên, có thể thấy BVMT trong hoạt động du lịch có những đặc điểm sau:

Một là, BVMT trong hoạt động du lịch là hoạt động của nhiều chủ thể khác

nhau Như đã phân tích ở trên, BVMT trong hoạt động du lịch tuy là một lĩnh vực riêng biệt nhưng đồng thời cũng mang những nét đặc trưng chung của hoạt động BVMT Hiến pháp 2013 đã đề cập đến nghĩa vụ BVMT nói chung, bao gồm cả

nghĩa vụ BVMT trong du lịch của các cá nhân, tổ chức tại Điều 43 “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 4 Luật BVMT 2014 thì “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân” và

BVMT trong hoạt động du lịch cũng mang đặc điểm trên Đây là hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau, điển hình như các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch; các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; khách du lịch BVMT trong hoạt động du lịch cũng đồng thời là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân

Hai là, BVMT trong hoạt động du lịch là hoạt động mang tính liên ngành, liên

vùng Tính liên ngành, liên vùng xuất phát từ nguyên tắc môi trường là một thể thống nhất Tính thống nhất được thể hiện ở hai khía cạnh gồm sự thống nhất về mặt không gian và sự thống nhất giữa các yếu tố cấu thành môi trường.28

Theo nguyên tắc này, việc BVMT không bị chia cắt bởi biên giới quốc gia cũng như địa giới hành chính Trong phạm vi quốc gia, việc BVMT trong hoạt động du lịch phải đặt dưới sự quản lý thống nhất của trung ương theo hướng hình thành cơ chế mang tính liên vùng, bảo đảm sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương; đồng thời bảo đảm có mối quan hệ tương tác giữa các ngành Hoạt động BVMT trong du lịch chỉ

28

Trần Thị Thảo Giang (2011), Nguyên tắc coi môi trường là một thể thống nhất và vấn đề phân công trách

nhiệm quản lý nhà nước về môi trường, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí

Minh, tr 4

Trang 20

diễn ra thực sự hiệu quả khi giữa các địa phương, các ngành có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, thống nhất trong công tác quản lý

Ba là, mục đích BVMT trong hoạt động du lịch là giữ gìn và phát triển môi

trường du lịch đi đôi với hạn chế và khắc phục những tác động tiêu cực mà hoạt động du lịch gây ra đối với môi trường Mặc dù luôn được ví von như “ngành công nghiệp không khói” nhưng du lịch đã và đang gây ra những ảnh hưởng xấu đối với môi trường Vì thế, việc BVMT được đặt ra với mục đích ngăn ngừa và khắc phục những tác động xấu đối với môi trường, phòng ngừa các sự cố môi trường, ngăn ngừa suy thoái môi trường cũng như bảo vệ và phát triển môi trường du lịch, hướng tới phát triển du lịch bền vững

1.2.3 Vai trò của bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới (trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh du lịch toàn cầu năm 2017), nhiều chỉ số liên quan môi trường của Việt Nam được xếp thấp như: mức độ bền vững về môi trường; các quy định lỏng lẻo về môi trường; mức độ chất thải; nạn phá rừng; hạn chế về xử lý nước…29

Thực tế, những tác động tiêu cực từ việc phát triển du lịch không bền vững, không đi đôi với BVMT đang ngày càng thể hiện rõ Chất thải rắn sinh hoạt chưa được thu gom, xử

lý đúng quy định, dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là tại một số bãi tắm ven bờ, gần khu dân cư, nhà hàng, khách sạn trong khi ý thức BVMT của người dân

và khách du lịch còn hạn chế, thường xuyên xảy ra tình trạng vứt chất thải, thực phẩm thừa bừa bãi trên các bãi tắm, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm năng khai thác du lịch.30

Ô nhiễm khiến cho khách du lịch đã một lần đến làng nghề sẽ không muốn quay trở lại dù có tìm thấy ở đấy những điều thú vị.31

Việc xây dựng các cơ sở lưu trú du lịch, các công trình nhằm thu hút khách du lịch đang gây ra những tổn hại đối với các di tích lịch sử - văn hóa; rừng nguyên sinh, hang động, các rạn san hô,… có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng bởi hoạt động du lịch

Với những ảnh hưởng như trên, nếu các cơ quan quản lý, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khách du lịch cũng như các chủ thể khác không có ý thức bảo

vệ môi trường du lịch; khắc phục những hệ quả xấu mà hoạt động du lịch gây ra thì việc môi trường bị phá hủy, những cảnh quan thiên nhiên không còn nữa chắc chắn

sẽ xảy ra Hoạt động du lịch đã và đang có những tác động sâu sắc đến môi trường

Bộ Tài nguyên và Môi trường (2019), Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2019 Chuyên đề Chất thải

rắn sinh hoạt, Hà Nội, tr 57

31

Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia Giai đoạn 2010 - 2015, Hà

Nội, tr 179

Trang 21

Các thành phần của môi trường như cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động du lịch Ngược lại, hoạt động du lịch cũng có những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với môi trường Nếu các tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch cũng như các cơ quan quản lý nhà nước vẫn thờ ơ, không đưa ra được biện pháp phù hợp sẽ dẫn đến sự suy giảm lượng khách du lịch cũng như giảm hiệu quả, lợi ích thu được từ hoạt động du lịch

Những lợi ích từ mà hoạt động du lịch đem đến cho con người là không thể phủ nhận Tuy nhiên, tài nguyên du lịch không phải lúc nào cũng vô hạn Nó chịu

sự tác động vô cùng mạnh mẽ bởi hoạt động của các cá nhân, tổ chức và dễ dàng sụt giảm theo thời gian nếu không được gìn giữ và bảo vệ Du lịch nếu không đi đôi với việc BVMT, tôn tạo các tài nguyên du lịch thì đó sẽ là một nền du lịch phát triển không bền vững Chính vì lẽ đó, việc BVMT trong hoạt động du lịch là vô cùng cần thiết để hướng đến một nền du lịch phát triển bền vững BVMT là một giải pháp hiệu quả để hạn chế những tác động tiêu cực, khắc phục những ảnh hưởng xấu từ hoạt động du lịch

1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và bảo vệ môi trường

1.3.1 Tác động của hoạt động bảo vệ môi trường đối với du lịch

Bảo vệ môi trường có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch ở các quốc gia, thể hiện ở những khía cạnh sau:

Một là, bảo vệ môi trường là cơ sở để phát triển ngành du lịch

Các thành phần của môi trường như cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa là yếu tố quyết định đến sự phát triển ngành du lịch của quốc gia Tài nguyên du lịch là yếu tố cốt lõi đem đến sự phát triển cho ngành du lịch của một đất nước Những quốc gia có tài nguyên du lịch dồi dào, sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch càng đặc sắc thì càng hấp dẫn khách du lịch khiến ngành du lịch ở nơi đó ngày càng phát triển Các điểm du lịch, khu du lịch có môi trường sạch sẽ, phù hợp cùng cảnh quan đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch thì sẽ càng thu hút và hấp dẫn khách du lịch

Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng được thiên nhiên ưu đãi, tự nhiên luôn tồn tại những hiện tượng khắc nghiệt, ảnh hưởng đến hoạt động du lịch Việt Nam tuy là một quốc gia có điều kiện tự nhiên phù hợp để phát triển du lịch nhưng vẫn phải đối mặt với những rủi ro từ thiên nhiên Các vấn đề thiên tai như bão, lũ lụt,… khiến cho hoạt động vận tải khách du lịch gặp khó khăn32, khó thu hút được khách du lịch do thời tiết không thuận lợi Nước ta tuy là một quốc gia ít xảy ra

32

Những năm gần đây có rất nhiều trường hợp phải hủy bỏ chuyến bay vì thiên tai như tạm dừng khai thác 5 sân bay do ảnh hưởng bão số 12, Vietnam Airlines hủy hàng chục chuyến bay vì bão số 13,… Điều đó khiến cho hoạt động du lịch cũng khó khăn và đình trệ

Trang 22

động đất nhưng trên thực tế, nước ta đã từng ghi nhận một số trận động đất, gần đây nhất là ngày 28/7/2020 tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã xảy ra tám trận động đất tại khu vực, trận lớn nhất có cường độ 5,3 richter, cấp độ rủi ro thiên tai cấp 433

; tình trạng sạt lở đất diễn ra ngày càng nhiều, gây thiệt hại nghiêm trọng cho các địa phương Những hiện tượng tự nhiên này gây ra những khó khăn nhất định cho hoạt động du lịch, ảnh hưởng đến việc đi lại cũng như trải nghiệm của khách du lịch Trong quá trình thực hiện hoạt động du lịch, du lịch đã có những tác động đến hoạt động BVMT nhưng ở chiều ngược lại thì hoạt động BVMT cũng tác động trở lại, ảnh hưởng đến du lịch Sự ô nhiễm môi trường nước, không khí, sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút khách du lịch Sự cố môi trường34

ảnh hưởng đến sự an toàn của khách du lịch và khả năng tổ chức hoạt động du lịch Theo Ngân hàng thế giới, ước tính mỗi năm Việt Nam đang mất đi ít nhất 69 triệu USD thu nhập từ ngành du lịch

do hệ thống xử lý vệ sinh nghèo nàn và ô nhiễm môi trường.35

Sự suy giảm đa dạng sinh học cũng như sự gia tăng của các sự cố môi trường khiến cho khách du lịch e

dè hơn khi quyết định đến một địa điểm Hiệu quả cũng như chất lượng của hoạt động du lịch phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động BVMT Vì thế, có thể nói rằng BVMT là cơ sở, là nền tảng của một nền du lịch phát triển Nếu chỉ quan tâm đến hoạt động du lịch mà xem nhẹ vấn đề BVMT thì những nguồn tài nguyên du lịch sẽ

bị ảnh hưởng nặng nề, không thu hút được khách du lịch, dẫn đến toàn bộ nền du lịch bị ảnh hưởng

Bên cạnh đó, bảo vệ môi trường còn là yếu tố quan trọng để phát triển du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là một trong những hình thức du lịch gắn liền và thân

thiện với môi trường Khoản 16 Điều 3 Luật DL 2017 có quy định“Du lịch sinh thái

là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường” Một trong

những đặc điểm quan trọng được đề cập trong định nghĩa trên chính là việc du lịch sinh thái là loại hình du lịch kết hợp với giáo dục BVMT Du lịch sinh thái có sự kết hợp hài hòa giữa phát triển du lịch và BVMT; vừa chú trọng vào lợi ích kinh tế vừa bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa, được nhiều quốc gia áp dụng trong chính sách phát triển du lịch, tiêu biểu như Công ty Aretic Edge Tour ở Brazil Công ty này đã áp dụng một số biện pháp để phát triển du lịch sinh thái nhưng vẫn

Theo khoản 10 Điều 3 Luật BVMT 2014 “Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của

con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng”

35

Dư Văn Toán, Nguyễn Thùy Vân, “Tác động của du lịch đến vườn quốc gia và khu bảo tồn miền Trung - Tây Nguyên”, http://www.vtr.org.vn/tac-dong-cua-du-lich-den-vuon-quoc-gia-va-khu-bao-ton-mien-trung- tay-nguyen.html , truy cập ngày 08/5/2021

Trang 23

tích cực bảo vệ thiên nhiên như đặt ra các nguyên tắc tổ chức gồm: giới hạn số lượng khách của mỗi nhóm tham quan là dưới 10 người; không sử dụng động, thực vật tại điểm du lịch làm thực phẩm; nước thải của khách du lịch phải đổ xa nguồn nước sạch; rác thải phải xử lý tại chỗ hoặc mang đi…36

Việt Nam đã và đang xây dựng, phát triển các vườn quốc gia, các khu bảo tồn

đa dạng sinh học để tận dụng và phát triển du lịch sinh thái Nước ta được đánh giá

là quốc gia giàu tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái với 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới được Ủy ban Sinh quyển và Con người thuộc UNESCO công nhận,

33 vườn quốc gia, 69 khu bảo tồn thiên nhiên37 Ngoài ra, nước ta còn có 8 khu Ramsar, 5 khu vườn di sản ASEAN, 63 vùng chim quan trọng được tổ chức Bảo tồn chim thế giới công bố trên toàn cầu tính đến tháng 01/2018; theo Cục Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, Việt Nam được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới với 14.624 loài thực vật thuộc gần 300 họ; 11.217 loài và phân loài động vật.38 Những tiềm năng trên là cơ hội để Việt Nam phát triển hơn nữa lĩnh vực du lịch sinh thái Những yếu tố cấu thành môi trường chính là điều kiện tiên quyết để Việt Nam cũng như các quốc gia khác phát triển loại hình du lịch này

Tuy nhiên, hiện nay, tại Việt Nam, hoạt động du lịch sinh thái vẫn chưa được phát triển theo đúng bản chất của nó Những hạn chế của công tác quản lý cũng như

ý thức của khách du lịch cùng với sự non trẻ và thiếu sự đầu tư về kết cấu hạ tầng,

cơ sở vật chất kỹ thuật đặc thù cho phát triển du lịch sinh thái cũng như xây dựng không tuân thủ các nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái, đã gây phá vỡ cảnh quan môi trường.39

Vấn đề kết hợp với giáo dục BVMT vốn là một đặc trưng của hoạt động này nhưng lại chưa được quan tâm đúng mức BVMT là một yếu tố để phát triển du lịch sinh thái và phát triển du lịch sinh thái vẫn phải song hành với BVMT, chú trọng giáo dục về BVMT sao cho tác động tiêu cực được hạn chế ở mức thấp nhất Đây là hai nội dung không thể tách rời trong việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch sinh thái

36

Admin Itdr, “Kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường du lịch”,

http://itdr.org.vn/nghien_cuu/kinh-nghiem-quoc-te-trong-linh-vuc-quan-ly-va-bao-ve-moi-truong-du-lich/ , truy cập ngày 28/4/2021

Đỗ Thị Thanh Hoa, “Những vấn đề đặt ra trong phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam”,

http://itdr.org.vn/nhung-van-de-dat-ra-trong-phat-trien-du-lich-sinh-thai-o-viet-nam/ , truy cập ngày 24/4/2021

Trang 24

Hai là, bảo vệ môi trường là một trong ba yếu tố của sự phát triển du lịch bền vững

Phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng được đề cập trong các văn bản QPPL về BVMT trong hoạt động du lịch và là một trong các

nguyên tắc cơ bản của LMT Khoản 4 Điều 3 Luật BVMT 2014 quy định“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Bên cạnh đó, khoản 14 Điều 3 Luật DL 2017 cũng có quy định “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai.” Yêu cầu của nguyên tắc phát triển bền vững chính là kết hợp hài

hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT; hoạt động trong sức chịu đựng của trái đất Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển du lịch bền vững là đường lối định hướng phát triển ngành du lịch Cụ thể Quyết định 2473/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/12/2011 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định

quan điểm hướng phát triển của du lịch bền vững ở Việt Nam đó là “Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội” Bên cạnh đó, Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 16/01/2017 về

phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã xác định quan điểm về phát

triển du lịch: “Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa

và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ môi trường và thiên nhiên; giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.” Gần đây, Quyết định 147/QĐ-TTg của Thủ tướng

Chính phủ ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 cũng xác định quan điểm và giải pháp cho ngành du lịch Việt Nam theo

hướng “Phát triển du lịch bền vững và bao trùm, trên nền tảng tăng trưởng xanh, tối đa hóa sự đóng góp của du lịch cho các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và

đa dạng sinh học, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh.”, “Bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai” Những quan điểm trên phần nào thể hiện nhận thức đúng đắn trong đường lối

chỉ đạo của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp về phát triển du lịch

Trang 25

BVMT có những tác động đến việc phát triển du lịch bền vững, là một trong

ba yếu tố của sự phát triển du lịch bền vững Hoạt động BVMT là cơ sở để phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng Những địa điểm du lịch có môi trường, cảnh quan thiên nhiên được bảo vệ và tôn tạo, công tác BVMT được chú trọng và đầu tư sẽ thu hút khách du lịch hơn so với những địa điểm không được quan tâm và bảo vệ Một trong những mục đích của hoạt động du lịch chính là nghỉ ngơi, thư giãn Chính vì mục đích này mà khách du lịch thường có xu hướng chọn lựa những địa điểm có môi trường trong lành; cảnh quan thiên nhiên được giữ gìn và tôn tạo; các điều kiện tự nhiên như nước, không khí được đảm bảo Vì thế, hoạt động BVMT là yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch, là cơ sở để phát triển

du lịch bền vững

Tóm lại, BVMT là một trong ba yếu tố của sự phát triển du lịch bền vững, là mục tiêu của phát triển du lịch bền vững Như khoản 14 Điều 3 Luật DL 2017 quy định, phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường Một trong những điều kiện để đáp ứng được yêu cầu về môi trường là hoạt động BVMT phải được quan tâm và triển khai thực hiện một cách sâu sát, có hiệu quả Một nền du lịch bền vững, đáp ứng nhu cầu hiện tại và cả tương lai thì môi trường phải được gìn giữ và phát triển; các nguồn tài nguyên thiên nhiên được khai thác hợp lý trong giới hạn cho phép; tài nguyên du lịch được khai thác đi đôi với duy trì và tôn tạo; môi trường nước, không khí, được bảo vệ Sự phát triển bền vững bao gồm bền vững về mặt kinh tế, xã hội cũng như thân thiện với môi trường Phát triển du lịch bền vững sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, tiến hành các hoạt động du lịch trong khả năng tự phục hồi của môi trường, qua đó sẽ giúp cho hoạt động BVMT đạt được hiệu quả Để phát triển du lịch bền vững, yêu cầu về BVMT là yêu cầu cấp thiết Chỉ khi môi trường được bảo vệ và gìn giữ thì mới có thể hướng đến việc phát triển du lịch bền vững

Do đó, phát triển du lịch bền vững đang ngày càng được quan tâm và được các cơ quan quản lý nhà nước triển khai thực hiện ở Việt Nam

1.3.2 Tác động của du lịch đối với hoạt động bảo vệ môi trường

Hoạt động bảo vệ môi trường và du lịch có sự tác động qua lại lẫn nhau Hoạt động bảo vệ môi trường có những tác động to lớn đối với du lịch Mặt khác, du lịch cũng có những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với môi trường, từ đó có những ảnh hưởng đến hoạt động BVMT

Thứ nhất, về tác động tích cực

Hoạt động du lịch có những tác động tương đối tích cực đối với hoạt động BVMT, điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Trang 26

Một là, du lịch đem lại nguồn thu ngân sách Nhà nước thông qua các khoản

thu như thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp,… Nguồn thu này sau đó sẽ được sử dụng lại cho các công tác BVMT Nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành thu thuế du lịch (tourist tax) đối với khách du lịch Theo báo The Insider, tính đến thời điểm tháng 02/2019, các nước áp dụng thuế du lịch đã lên tới con số 41.40

Nhật

Bản có "thuế sayonara” với khoản phí 1.000 yên (9,25 USD) áp dụng với cả khách

du lịch nước ngoài lẫn người Nhật Bản khi rời nơi đây bằng máy bay hoặc tàu biển

Tổ chức Du lịch Quốc gia Nhật Bản (JNTO) cho biết chính phủ có kế hoạch sử dụng tiền thuế trên để nâng cao cơ sở hạ tầng du lịch của Nhật Bản trước Thế vận hội Tokyo 2020, bổ sung thêm nhiều cổng nhận dạng khuôn mặt tại các sân bay và cảng biển để đẩy nhanh quá trình kiểm soát hộ chiếu, phát triển thêm tài nguyên du lịch.41

TạiPháp, thuế du lịch (taxe de séjour) khác nhau tùy thuộc địa điểm Những

nơi được coi là "thị trấn du lịch" hoặc "khu nghỉ mát" sẽ thu thuế và sử dụng nó để duy trì cơ sở hạ tầng du lịch.42

Ở một số tiểu bang của Hoa Kỳ như Texas, khách du lịch phải trả thuế lưu trú khi đặt chỗ.43

Hiện nay, nước ta vẫn chưa tiến hành thu thuế du lịch Theo phân tích của PGS TS Lê Vương Long - giảng viên Trường Đại

học Luật Hà Nội, lý do của việc chưa áp thuế du lịch chính là “Từ góc độ quản lý nhà nước, trong điều kiện du lịch hiện nay của đất nước ta, việc áp thuế du lịch là chưa cần thiết, bởi ưu tiên trước mắt là phải cải thiện khâu tổ chức, quản trị du lịch”.44

Tại Việt Nam, các địa điểm du lịch còn nhiều bất cập như cơ sở hạ tầng kém phát triển, công tác quản lý tại các điểm du lịch, khu du lịch vẫn chưa thật sự hiệu quả thì việc áp dụng thuế du lịch sẽ gây hiệu ứng ngược Áp dụng thuế du lịch chỉ nên được thực hiện trong bối cảnh phù hợp với tình hình của quốc gia đó cũng như phải có một phương án và mức thu thuế hợp lý, có cơ sở Khách du lịch không thỏa mãn được nhu cầu của bản thân mà lại phải mất thêm một khoản tiền sẽ khiến

họ suy nghĩ cẩn trọng khi thực hiện hoạt động du lịch, chính điều này sẽ tạo hiệu ứng ngược làm cho hoạt động du lịch kém phát triển Vì thế, với điều kiện hiện nay, Việt Nam vẫn chưa tiến hành thu thuế du lịch như xu hướng của một số quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, nước ta vẫn có các khoản thu trong hoạt động du lịch Ví

40 Theresa Christine, “41 countries around the world that charge a tourist tax”,

https://www.insider.com/countries-that-require-a-tourist-tax-2019-2 , truy cập ngày 24/4/2021

41 Lyndsey Matthews, “Japan Implements New “Sayonara” Tax on Travelers”,

https://www.afar.com/magazine/japan-implements-new-sayonara-tax-on-travelers , truy cập ngày 27/5/2021

42

Hà Anh, “Áp thuế du khách: Phía sau một xu hướng”, thue-du-khach-Phia-sau-mot-xu-huong , truy cập ngày 20/5/2021

http://baotnvn.vn/tin-tuc/Ho-so-tu-lieu/4308/Ap-43

Gerard MacCrossan, Joyce Jauer, “The Hotel Occupancy Tax: A Short History of a Complex Levy”,

https://comptroller.texas.gov/economy/fiscal-notes/2016/june-july/hotel-tax.php , truy cập ngày 20/5/2021

44

Đỗ Trang, “Được - mất khi thu thuế du lịch”, 435284.html , truy cập ngày 24/4/2021

Trang 27

https://baophapluat.vn/movie/duoc-mat-khi-thu-thue-du-lich-dụ như một tổ chức kinh doanh dịch vụ du lịch đi kèm cung cấp dịch vụ nước nóng thiên nhiên cho khách du lịch sẽ phải chịu thuế tài nguyên, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên,… Những khoản tiền này sau đó sẽ được phân bổ, cung cấp nguồn tài chính cho các hoạt động quản lý nhà nước, trong đó có cả BVMT trong

du lịch

Hai là, du lịch đem lại việc làm cũng như nguồn thu nhập cho người dân, nâng

cao đời sống vật chất, tinh thần, từ đó khiến họ có ý thức và động lực trong việc BVMT để tiếp tục thu hút khách du lịch.45

Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), du lịch là ngành tạo ra nhiều việc làm nhất trên thế giới, với 207 triệu việc làm trực tiếp hoặc gián tiếp; du lịch toàn cầu mỗi năm mang lại thu nhập hơn

514 tỷ USD; tại 83% nước trên thế giới, du lịch là 1 trong 5 nguồn thu ngoại tệ lớn nhất.46

Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 1,3 triệu lao động phục vụ trong ngành

du lịch (chiếm 2,5% tổng số lao động cả nước) Theo Tổng cục Du lịch Việt Nam, mỗi năm toàn ngành cần khoảng 40.000 lao động.47

Khi vấn đề việc làm được giải quyết, tài chính được đảm bảo thì người dân sẽ có ý thức BVMT nhằm đảm bảo cơ

sở vững chắc cho công việc của mình Khách du lịch sẽ dành sự quan tâm và đến du lịch ở những địa điểm có môi trường trong lành, cảnh quan thiên nhiên phong phú, tài nguyên du lịch đa dạng Vì vậy, để thu hút khách du lịch, đem lại thu nhập cho bản thân thì chính các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch phải

tự nâng cao ý thức của bản thân trong việc BVMT, dùng một phần doanh thu cho việc cải thiện chất lượng môi trường để hướng đến phát triển du lịch bền vững

Thứ hai, về tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch cũng mang đến nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến công tác BVMT.Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Một là, hoạt động du lịch tạo ra nguồn chất thải lớn gây ô nhiễm môi trường

Trong quá trình thực hiện hoạt động du lịch, khách du lịch cũng như các tổ chức, cá nhân khác tạo ra một lượng lớn chất thải tại các điểm du lịch, khu du lịch Một lượng lớn các chai nhựa, hộp xốp, mà khách du lịch sử dụng để phục vụ cho

45

Theo quan điểm của triết học Mác Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng trong đó vật chất quyết định ý thức còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất Nguồn thu từ hoạt động du lịch sẽ nâng cao ý thức BVMT của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, từ việc có ý thức trong việc BVMT sẽ khiến cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động hiệu quả, thu hút nhiều khách du lịch và đem lại nhiều giá trị vật chất hơn

46

Thông tấn xã Việt Nam, “Du lịch - ngành công nghiệp tạo nhiều công ăn việc làm nhất”,

https://tuoitre.vn/du-lich -nganh-cong-nghiep-tao-nhieu-cong-an-viec-lam-nhat-176065.htm , truy cập ngày 25/4/2021

47

Thanh Trà, “Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch - Bài 1: Yếu tố quan trọng quyết định thành công”, https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/31292, truy cập ngày 22/6/2021

Trang 28

nhu cầu ăn uống bị vứt bừa bãi, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh48

, lượng rác thải này đến từ khách du lịch nội địa lẫn quốc tế.49

Thực tế, vào dịp Tết âm lịch

2019, vùng di sản Tràng An, bãi đỗ xe động Am Tiên, đường Tràng An, khu Tràng

An cổ, dọc đường Bái Đính - Kim Sơn (Ninh Bình), nhiều túi rác lớn được chất đống hai bên, rác thải vứt bừa bãi, tồn đọng; mỗi ngày trên Khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Đảo phát sinh thêm khoảng 20 tấn rác thải, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động du lịch; đảo Bình Ba (Khánh Hòa) cũng từng nhiễm rác nặng do rác từ các cơ

sở nuôi tôm hùm, kinh doanh du lịch, nhà hàng và khu dân cư.50

Không chỉ nước ta

mà các quốc gia trên thế giới cũng phải giải quyết bài toán khó về việc xử lý nguồn chất thải lớn phát sinh từ hoạt động du lịch Đơn cử tại Lễ hội âm nhạc Glastonbury, đây là lễ hội âm nhạc lớn được tổ chức tại Vương quốc Anh, thu hút một lượng lớn khách du lịch Theo thống kê của đơn vị tổ chức, lễ hội Glastonbury đã thải ra 1,3 triệu chai nhựa trong suốt khoảng thời gian diễn ra sự kiện vào năm 2017; đầu năm

2019, sau khi áp dụng nhiều biện pháp khắc phục cũng như kêu gọi nhưng vẫn không thể hạn chế được lượng rác thải, đơn vị tổ chức quyết định đưa ra lệnh cấm đối với các loại chai nhựa dùng một lần tại lễ hội của mình.51

Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) dự báo rằng đến năm 2030 sẽ có thêm 104 triệu tấn nhựa có khả năng gây ô nhiễm các hệ sinh thái của trái đất.52

Hoạt động du lịch là một trong những nguồn chủ yếu phát sinh chất thải, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động BVMT

Hai là, tác động tiêu cực và gây ô nhiễm nguồn nước

Nhu cầu sử dụng nước trong hoạt động du lịch có mối quan hệ tỷ lệ thuận với lượng khách du lịch Nhu cầu tại địa điểm thực hiện hoạt động thường cao hơn các khu vực khác do nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi, vệ sinh cá nhân của khách du lịch Các bãi tắm thường có nhu cầu sử dụng nước ngọt để tắm rửa sau khi tắm biển Nhà hàng, quán ăn cũng cần nguồn nước lớn để chế biến các món ăn cho khách du lịch

48

Có rất nhiều trường hợp sinh vật biển chết vì nuốt phải rác thải nhựa phát sinh từ hoạt động du lịch Năm

2018, một con cá voi dạt vào bờ biển Thái Lan và chết ngay sau đó với hơn 80 chiếc túi nilon, nặng khoảng 8kg được tìm thấy trong dạ dày Cục Ngư nghiệp bang Sabah, Malaysia từng công bố một số hình ảnh cho thấy xác một con cá nhám voi được tìm thấy trên bờ biển Tanjung Aru đã chết đói sau khi nuốt phải một lượng lớn túi nilon Những bãi biển thường đi kèm với các dịch vụ ăn uống, vui chơi và các dịch vụ này thường có sử dụng nhựa trong quá trình hoạt động Nếu không có ý thức tập trung rác thải đúng quy định thì một lượng lớn rác sẽ bị thải bỏ xuống biển gây ô nhiễm

49

Theo điều tra của Tổng cục thống kê về khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và tính toán của Viện nghiên cứu phát triển du lịch, mỗi khách du lịch có lượng rác thải trung bình là 0,8kg/ ngày đêm, tổng lượng rác thải của khách du lịch quốc tế là khoảng 98.040 tấn, tương tự lượng rác thải của khách du lịch nội địa là khoảng 186.880 tấn, tổng lượng rác thải khoảng 284.920 tấn/năm (xem thêm tại: Bộ Tài nguyên và Môi trường

(2017), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017 - Chuyên đề Quản lý chất thải, Hà Nội, tr 38)

Trang 29

https://nhandan.com.vn/tin-tuc-the-gioi/bai-toan-xu-ly-Các khu vực vườn hoa, thảm cỏ, hồ bơi, sân gôn tại các cơ sở lưu trú du lịch cũng

sử dụng một lượng nước rất lớn Đặc biệt, vào các dịp Lễ, Tết, nhu cầu du lịch tăng đồng nghĩa với việc áp lực trong việc cung cấp nguồn nước cũng tăng mạnh dẫn đến những hệ lụy như khai thác quá mức mạch nước ngầm gây lún đất Nhu cầu sử dụng nước của Việt Nam đến năm 2030 sẽ là 87 - 90 tỉ m3/năm, nếu không quản lý tốt nguồn tài nguyên này thì chỉ trong tương lai gần, nước ta sẽ rơi vào tình trạng khan hiếm nước.53

Hiện tượng những dòng thác, sông ngòi đem lại nguồn lợi lớn bị ô nhiễm nặng

nề hay thậm chí biến mất đang trở thành một vấn đề nhức nhối Thác Liên Khương hay thác Liên Khang (Lâm Đồng) được xếp hạng di tích quốc gia nhưng do không được quan tâm bảo trì đúng mức nên thác đã cạn nước, cơ sở quản lý đã đóng cửa khai thác Thác Dray K‟nao (Đắk Lắk) là một trong những điểm du lịch sinh thái nổi tiếng của tỉnh Đắk Lắk, được công nhận là di tích danh lam thắng cảnh cấp quốc gia nhưng hiện nay đã bị bỏ mặc, cảnh quan môi trường đang bị tàn phá nặng nề Hoạt động du lịch diễn ra tại các bãi biển, khu du lịch biển tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước biển, ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển Những hình ảnh về rác thải ngổn ngang tại các bãi biển hay số lượng sinh vật biển suy giảm nhanh chóng do khai thác, đánh bắt quá mức để phục vụ khách du lịch là những biểu hiện rõ ràng cho nhận định trên Những tác động tiêu cực trên đã gây không ít khó khăn cho việc BVMT

Ba là, tác động xấu đến không khí, gây ra ô nhiễm không khí

Mặc dù du lịch thường được ví von như “ngành công nghiệp không khói” nhưng có thể thấy du lịch cũng làm tăng lượng khí thải CO2 bắt nguồn từ hoạt động giao thông vận tải Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature Climate Change54

, lượng khí thải nhà kính của ngành du lịch đang tăng nhanh chóng với khoảng 8% tổng lượng khí thải nhà kính toàn cầu, chủ yếu do nhu cầu đi lại tiêu hao nhiều năng lượng và thải ra nhiều khí CO2 Du lịch quốc tế với các chuyến bay đường dài là phân khúc tăng trưởng mạnh nhất và chiếm khoảng 25% tổng lượng khí thải CO2

của ngành du lịch.55

Những dịp lễ, Tết, các kỳ nghỉ dài ngày, lượng khách du lịch tăng nhanh, phương tiện di chuyển nhiều kéo theo lượng khí thải CO2 tăng.56 Mặt

53

Nguyễn Thắng, “Nước và Du lịch: Kỳ II: Những nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn nước”,

Nhung-nguyen-nhan-lam-can-kiet-nguon-nuoc-3414 , truy cập ngày 26/4/2021

Trang 30

khác, khách du lịch tham gia các hoạt động du lịch gắn liền với tôn giáo, tín ngưỡng thường sẽ có hoạt động thắp hương, đèn cầy, vàng mã; việc này cũng góp phần làm gia tăng lượng khí thải CO2, gây ô nhiễm không khí Lượng khí thải đang tăng nhanh chóng tạo nên gánh nặng lớn cho hoạt động BVMT

Bốn là, tác động tiêu cực đến rừng, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, giảm

đa dạng sinh học

Để thu hút khách du lịch, các cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch thực hiện các hoạt động khai thác khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch như nước nóng thiên thiên, rừng,…Các hoạt động khai thác gỗ để làm lều cho khách du lịch, đốt lửa cắm trại, phá rừng để xây dựng các cơ sở lưu trú du lịch đang làm mất

đi số lượng lớn cây cối - môi trường sống của các loài động vật, ngoài ra còn là nguyên nhân gây nên hiện tượng xói mòn đất, lũ quét Việc khai thác khoáng sản như nước nóng thiên nhiên để thực hiện du lịch cũng gây ảnh hưởng nhiều đến nguồn tài nguyên nếu không được khai thác một cách có hiệu quả và hợp lý Việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành giao thông vận tải nhằm thuận tiện cho hoạt động

du lịch nhưng cũng có thể đồng thời gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường như phá núi để xây dựng đường hầm, khu du lịch, phá rừng để mở rộng đường đi.57

Các tàu neo đậu, khách du lịch giẫm đạp lên san hô để chụp ảnh đã khiến các rạn san hô bị ảnh hưởng Theo khảo sát của Viện Hải dương học Nha Trang, tình trạng khai thác theo kiểu tận diệt san hô sống làm quà lưu niệm của khách du lịch, neo đậu tàu du lịch, bố trí các bè nổi ngay sát vùng rạn san hô cho khách du lịch nghỉ ngơi, thư giãn và ăn uống cũng góp phần gây nên tình trạng ô nhiễm cục bộ do chất thải, gây suy thoái và sụt giảm nhanh chóng số lượng rạn san

hô.58 Việc đánh bắt quá mức hải sản phục vụ cho nhu cầu ăn uống của khách du lịch cũng dẫn đến sự sụt giảm nhanh chóng của một số loài Những sinh vật biển bị bắt lên bờ để khách du lịch chụp ảnh cũng gặp nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng.59

57

Một số vụ việc gần đây như Công ty Ban Mai (Binh Định) tự ý phá núi mở đường Khu du lịch nghỉ dưỡng

Vũ Nam khiến người dân cắm cọc phản đối dự án, sau đó công ty đã bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 20 triệu đồng; Doanh nghiệp Hồng Ngọc (Thanh Hóa) ngang nhiên phá núi làm đường dù chưa được cấp phép, dù đã bị xử phạt 5 triệu đồng nhưng sau hơn 1 năm công trình trên vẫn tồn tại,… Những vụ việc trên không chỉ gây ra những tác động đến đời sống của người dân mà còn ảnh hưởng đến môi trường Mặt khác, cũng có những hoạt động được thực hiện nhằm thuận tiện cho việc đi lại của người dân nhưng đồng thời những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường là không thể phủ nhận

58

Nguyên Vũ, “Gắn hoạt động du lịch với bảo vệ rạn san hô”,

https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/printer/26718 , truy cập ngày 28/4/2021

59

Lê Chiến, Trưởng Trung tâm cứu hộ sinh vật biển Sasa, cho biết việc sờ nắn, cầm, chạm, bắt sinh vật biển lên bờ đang bị lên án mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới Khi con người chạm vào các sinh vật biển, vi khuẩn và hóa chất từ kem chống nắng, xà phòng trên tay có thể tấn công trực tiếp vào mô mềm của chúng

Trang 31

ảnh sao biển bị xếp trên bãi biển Phú Quốc đến chết khô để phục vụ khách du lịch chụp ảnh đã gây ra rất nhiều phẫn nộ.60

Theo pháp luật Thái Lan, Philippines, khách

du lịch chỉ cần chạm tay vào san hô chụp một bức ảnh cũng có thể bị phạt từ 600 USD - 2000 USD61 nhưng tại Việt Nam, các ban quản lý điểm du lịch, khu du lịch hiếm khi áp dụng chế tài xử phạt đối với hành vi này dù nội quy, quy định về BVMT được niêm yết của điểm du lịch, khu du lịch đa phần quy định khá rõ ràng

về việc nghiêm cấm hành vi trên Không chỉ sinh vật biển mà cả sinh vật trên cạn vẫn bị tác động bởi hoạt động du lịch Nhiều khách du lịch vẫn ngang nhiên cho động vật ở các sở thú ăn những thức ăn lạ dù đã có biển báo cấm Hoạt động xây dựng, phát triển hạ tầng điểm du lịch, khu du lịch dẫn tới việc phá hủy cảnh quan thiên nhiên, làm thay đổi cấu trúc địa chất của khu vực, làm giảm chất lượng môi trường sống của nhiều loài sinh vật, thu hẹp diện tích khu vực sinh sống của nhiều loài động vật quý hiếm dẫn tới tác động tiêu cực tới công tác bảo tồn đa dạng sinh học Tóm lại, hoạt động du lịch đã và đang gây nên những trở ngại to lớn cho hoạt động BVMT

1.4 Tổng quan pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 1.4.1 Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Môi trường là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả và sự phát triển của ngành du lịch Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hoạt động du lịch, các

cá nhân, tổ chức đã có những ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực đối với môi trường Những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch như đã phân tích đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải thực hiện hoạt động BVMT nhằm khắc phục những tác động tiêu cực ấy Như đã đề cập ở mục 1.2.1, BVMT trong hoạt động du lịch là hoạt động của các chủ thể nhằm hạn chế và khắc phục những tác động tiêu cực mà hoạt động du lịch gây ra đối với môi trường, phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường, ÔNMT trong hoạt động du lịch Để thực hiện việc BVMT trong du lịch, Nhà nước đề ra các biện pháp như biện pháp chính trị, biện pháp tuyên truyền – giáo dục, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học – công nghệ và biện pháp pháp lý Trong các biện pháp trên, biện pháp pháp lý là biện pháp bảo đảm thực hiện các biện pháp BVMT còn lại Các biện pháp khác chỉ thật sự hiệu quả nếu dựa trên một cơ sở pháp lý vững

Trang 32

https://dantri.com.vn/du-lich/sao-bien-o-phu-quoc-chet-kho-do-du-khach-mang-len-bo-chup-anh-song-ao-chắc Một trong những biểu hiện cụ thể của biện pháp pháp lý chính là việc Nhà nước ban hành các văn bản QPPL về BVMT trong hoạt động du lịch

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội theo những định hướng nhất định.62

Như định nghĩa nêu trên, pháp luật là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội,

có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, bao gồm cả quan

hệ xã hội phát sinh trong hoạt động BVMT trong du lịch Pháp luật có những thuộc tính cơ bản là tính quy phạm phổ biến, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức và tính được đảm bảo bằng nhà nước Với các thuộc tính trên, pháp luật có vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi của các chủ thể trong xã hội, góp phần giúp hoạt động BVMT trong du lịch diễn ra hiệu quả, bảo vệ được quyền lợi của các chủ thể có liên quan

Từ các phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về pháp luật BVMT trong hoạt

động du lịch như sau: “Pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch là hệ thống các QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch và tổ chức, cá nhân khác có liên quan, quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch” Qua định nghĩa trên, có thể thấy pháp luật về BVMT trong hoạt

động du lịch có một số đặc điểm sau:

Một là, pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch là bộ phận cấu thành của

pháp luật BVMT, bao gồm các văn bản QPPL điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể có liên quan, định hướng hành vi của các chủ thể, tạo khung pháp lý giúp hoạt động BVMT trong du lịch diễn ra hiệu quả hơn

Hai là, đối tượng điều chỉnh của pháp luật BVMT trong hoạt động môi trường

có phạm vi rộng, bao gồm các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động du lịch, trách nhiệm của các chủ thể đối với hoạt động BVMT trong du lịch, thanh tra, kiểm tra và

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2017), Tập bài giảng Lý luận về pháp luật, Nhà xuất bản Hồng

Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 16

Trang 33

Một là, nhóm các quy định chung về BVMT trong hoạt động du lịch (Điều 4

Luật BVMT 2014; Điều 4, Điều 8 Luật DL 2017) Các nguyên tắc được quy định tại Điều 4 Luật BVMT là các nguyên tắc BVMT nói chung, bao gồm cả BVMT trong hoạt động du lịch Điều 4 Luật DL 2017 đã nêu ra một nguyên tắc mang tính chất nền tảng là việc phát triển du lịch bền vững, Điều 8 Luật DL 2017 đã đề ra những nguyên tắc chung của việc BVMT du lịch cũng như những trách nhiệm cơ bản của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khách du lịch, cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân khác Các quy định này đề ra các nguyên tắc chung, mang tính nền tảng của hoạt động BVMT trong hoạt động du lịch

Hai là, nhóm các quy định về BVMT trong quy hoạch phát triển du lịch (Điều

20 đến Điều 22 Luật DL 2017), khai thác tài nguyên du lịch (Điều 17 Luật DL 2017), phát triển sản phẩm du lịch (Điều 18 Luật DL 2017) Ngoài ra, các quy định trong việc công nhận các khu du lịch, điểm du lịch tại Điều 23, Điều 24, Điều 26, Điều 27, Điều 28 Luật DL 2017; Điều 11 đến Điều 13 Nghị định số 168/2017/NĐ-

CP cũng đề cập đến các yêu cầu về BVMT như có biện pháp thu gom rác thải, bố trí nhân lực làm vệ sinh môi trường,… Bằng các quy định này, Nhà nước có thể quản

lý, kiểm soát và định hướng phát triển một cách hợp lý, có chiến lược trong việc phát triển du lịch, khai thác tài nguyên du lịch, phát triển sản phẩm, tránh được tình trạng xây dựng không theo quy hoạch Bên cạnh đó, các quy định về BVMT trong việc công nhận điểm du lịch, khu du lịch cũng góp phần đảm bảo được tính khả thi trong việc các cơ sở này thực hiện trách nhiệm BVMT Mặt khác, các quy định về trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, đăng ký kế hoạch BVMT tại Mục 9, Mục 10 Cột 3, Cột 5 Phụ lục II Nghị định số 40/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/5/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật BVMT (Nghị định số 40/2019/NĐ-CP) giúp dự liệu những rủi ro có thể gây ra đối với môi trường khi thực hiện hoạt động du lịch, góp phần thực hiện nguyên tắc phòng ngừa và nguyên tắc phát triển bền vững

Ba là, nhóm các quy định về trách nhiệm BVMT của các tổ chức, cá nhân

kinh doanh du lịch Nhóm quy định này quy định trách nhiệm BVMT của cá nhân,

tổ chức quản lý điểm du lịch, khu du lịch (khoản 1 Điều 77, khoản 2 Điều 81 Luật BVMT 2014; Điều 25, Điều 29 Luật DL 2017; Điều 5 Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT); trách nhiệm BVMT của cơ sở lưu trú du lịch (khoản 1 Điều 77 Luật BVMT 2014; Điều 49, Điều 53 Luật DL 2017; Điều 8 Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT); trách nhiệm BVMT của doanh nghiệp lữ hành (Điều 37 Luật DL 2017; Điều 9 Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT); trách nhiệm BVMT của tổ chức, cá nhân

Trang 34

kinh doanh vận tải khách du lịch (Điều 45 đến Điều 47 Luật DL 2017; Điều 17, Điều 20 Nghị định số 168/2017/NĐ-CP; Điều 10 Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT); trách nhiệm BVMT của cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác (Điều 57 Luật DL 2017) Các chủ thể này thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch nhằm tìm kiếm lợi nhuận, là chủ thể có thể thực hiện các hoạt động gây nên tình trạng ÔNMT trong du lịch Vì thế, pháp luật quy định về trách nhiệm BVMT của các chủ thể này nhằm giúp họ có cơ sở để điều chỉnh hành vi của mình Quy định về vấn đề BVMT được lồng ghép vào trong các điều kiện hoạt động của các chủ thể, ví dụ như đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải khách

du lịch thì phải đáp ứng các điều kiện BVMT của phương tiện vận tải (khoản 2 Điều

45 Luật DL 2017), phải có bản sao giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và BVMT trong hồ sơ đề nghị cấp biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch (điểm c khoản 1 Điều 17 Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ) Bên cạnh đó, pháp luật cũng có quy định về các chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm của các chủ thể nhằm đảm bảo tính răn đe, tác động đến ý thức của họ

Bốn là, nhóm quy định về trách nhiệm của khách du lịch (khoản 2 Điều 77

Luật BVMT 2014, Điều 12 Luật DL 2017, Điều 6 Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT), cộng đồng dân cư (Điều 146 Luật BVMT

2014, Điều 6 Luật DL 2017, Điều 50 đến Điều 54 Nghị định số 19/2015/NĐ-CP) về BVMT trong hoạt động du lịch Các chủ thể này khi thực hiện hoạt động du lịch sẽ

có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường Việc quy định trách nhiệm của các chủ thể này giúp họ định hướng hành vi, nâng cao nhận thức của bản thân Nếu các chủ thể này có ý thức cao trong việc BVMT thì các chủ thể kinh doanh du lịch sẽ phải tự điều chỉnh theo hướng ngày càng thân thiện với môi trường hơn.Bên cạnh đó, pháp luật cũng có quy định về các chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm của các chủ thể nhằm đảm bảo tính răn đe, tác động đến ý thức của họ

Năm là, nhóm quy định về trách nhiệm BVMT của cơ quan quản lý nhà nước

(Điều 139 đến Điều 143 Luật BVMT 2014), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 144 Luật BVMT 2014), tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (Điều

145 Luật BVMT 2014) Cơ quan quản lý nhà nước là chủ thể đảm bảo cho các quy định pháp luật được thực thi có hiệu quả Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có trách nhiệm tham gia BVMT và một số trách nhiệm khác như tham vấn, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình Việc quy định trách nhiệm của các chủ thể này nhằm đảm bảo hoạt động quản lý Nhà nước về BVMT trong hoạt động du lịch được diễn ra thông suốt, đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật

Trang 35

Sáu là, nhóm quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về

BVMT trong hoạt động du lịch (Điều 139 đến Điều 143, Điều 159, Điều 160 Luật BVMT 2014) Nhà nước đảm bảo cho sự phát triển du lịch đi đôi với BVMT bằng những quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật Hoạt động thanh tra, kiểm tra giúp Nhà nước có thể kiểm soát hoạt động của các chủ thể kinh doanh

du lịch, cộng đồng dân cư, khách du lịch, cơ quan quản lý Nhà nước,…để phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm, xử lý nghiêm khắc để răn đe và giáo dục các chủ thể khác trong xã hội

1.4.3 Vai trò của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch có vai trò quan trọng Điều này được thể hiện ở những phương diện sau:

Một là, tạo hành lang pháp lý cho việc BVMT trong hoạt động du lịch, là cơ

sở vững chắc để bảo vệ hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch Theo đó, pháp luật về BVMT trong hoạt động du lịch đã quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động du lịch; từ đó định hướng hành vi của các chủ thể, tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên du lịch cũng như góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động BVMT Pháp luật về BVMT cũng quy định những hậu quả pháp lý bất lợi mà các chủ thể phải gánh chịu khi thực hiện các hành vi trái với quy định pháp luật, tạo cơ sở để nâng cao ý thức, thay đổi nhận thức của cá nhân, tổ chức và các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch Ngoài ra, pháp luật còn quy định về các nguồn tài chính dùng để BVMT trong du lịch, giúp cho hoạt động BVMT có đủ điều kiện tài chính để thực hiện, bảo vệ có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch Hệ thống pháp luật về BVMT trong du lịch càng cụ thể và hoàn

thiện thì ngành du lịch càng có cơ sở vững chắc để phát triển bền vững

Hai là, pháp luật về BVMT tạo điều kiện đảm bảo sự ổn định cho phát triển du

lịch Như đã phân tích, các thành phần của môi trường là yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển ngành du lịch của một quốc gia Nhà nước BVMT nhằm đảm bảo cho sự phát triển du lịch bằng các biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp pháp lý mà cụ thể là ban hành các văn bản QPPL Các QPPL quy định về các vấn

đề BVMT, ngăn ngừa ÔNMT, suy thoái môi trường, khắc phục sự cố môi trường sẽ

là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch bền vững Môi trường và du lịch tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, du lịch chỉ có thể phát triển ổn định dựa trên những điều kiện tự nhiên bền vững và sự bền vững ấy được củng cố nhờ pháp luật về BVMT

Trang 36

Ba là, pháp luật BVMT góp phần đảm bảo các điều kiện cho việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác quốc tế và phát triển du lịch Mối quan hệ hợp tác phát triển

phải dựa trên nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội ổn định Pháp luật BVMT có chứa các quy phạm về quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức cần tuân thủ; các chế tài mà tổ chức cá nhân phải chịu trách nhiệm Từ đó, các cá nhân sẽ có ý thức thực hiện BVMT trong hoạt động du lịch và từ ý thức của mỗi cá nhân sẽ tạo nên một xã hội có ý thức cao Một quốc gia có tiềm năng về du lịch và người dân có tinh thần trách nhiệm cao sẽ hấp dẫn đầu từ nước ngoài, qua đó giúp tăng cường sự hợp tác quốc tế Quan hệ hợp tác quốc tế càng rộng rãi thì hiệu quả của công tác phát triển

Bằng các QPPL, pháp luật môi trường định hướng hành vi của các chủ thể hoạt động du lịch để họ không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sự bền

vững của tài nguyên thiên nhiên

Năm là, xác định trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước và sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc BVMT trong hoạt động du lịch BVMT trong hoạt động

du lịch chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước khác nhau như cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Pháp luật sẽ xác định cụ thể trách nhiệm, lĩnh vực của từng cơ quan, tránh tình trạng “cha chung không ai khóc”, các cơ quan đùn đẩy trách nhiệm cho nhau lúc xảy ra sai phạm; đồng thời cũng quy định về cơ chế phối hợp quản lý để nâng cao hiệu quả trong

du lịch quốc tế và đứng thứ 3 trong số các quốc gia Đông Bắc Á về doanh thu từ hoạt động du lịch theo thống kê năm 2019.64

Trung Quốc cũng đứng thứ 13 thế giới

Trang 37

về Chỉ số Cạnh tranh Du lịch & Lữ hành với số điểm 4.9.65

Tuy nhiên, song hành với sự phát triển trên, Trung Quốc cũng chịu những tác động tiêu cực từ hoạt động

du lịch Sự gia tăng quy mô thị trường của ngành du lịch tự lái (năm 2011 chỉ ở mức

4680 tỷ nhân dân tệ thì đến năm 2016 đã tăng lên mức 22440 tỷ nhân dân tệ) dẫn đến mức tiêu thụ năng lượng và khí thải gia tăng; hằng năm các khách sạn ở Trung Quốc chi hơn 50 triệu nhân dân tệ cho chi phí đồ dùng 1 lần, các sản phẩm này thường được làm bằng nhựa và vứt bỏ sau 1 lần sử dụng, tạo nên lượng rác thải nhựa lớn, lượng khách du lịch tăng vượt quá sức chịu tải của môi trường.66

Hiến pháp chỉ quy định khái quát về vấn đề BVMT còn những quy định về BVMT trong hoạt động du lịch được cụ thể hóa tại Luật DL được ban hành ngày 25/4/2013, sửa đổi, bổ sung năm 2016 và 2018 Quy định chung về vấn đề BVMT trong du lịch

được nhắc đến ở Điều 5 Luật DL “Nhà nước chủ trương du lịch lành mạnh, văn minh, thân thiện với môi trường, ủng hộ và khuyến khích các tổ chức xã hội thực hiện công tác du lịch công ích, khen thưởng các đơn vị, cá nhân có đóng góp xuất sắc trong việc quảng bá du lịch” Trách nhiệm của khách du lịch đối với vấn đề BVMT được quy định chi tiết tại Điều 13 Luật DL “Khách du lịch phải tuân thủ trật tự công cộng xã hội, đạo đức xã hội trong hoạt động du lịch, tôn trọng phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo của địa phương, quan tâm đến tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái và tuân thủ các chuẩn mực ứng

xử văn minh du lịch” Bên cạnh đó, vấn đề BVMT trong quy hoạch phát triển du lịch cũng được nhắc đến ở Điều 19 Luật DL “Quy hoạch phát triển du lịch phải gắn với quy hoạch tổng thể sử dụng đất, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch bảo

vệ môi trường và các tài nguyên thiên nhiên, di tích văn hóa và các quy hoạch bảo

vệ và sử dụng tài nguyên nhân văn khác” và Điều 20 Luật DL “…Việc quy hoạch

và xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình dịch vụ công cộng như giao thông, thông tin liên lạc, cấp nước, cấp điện, bảo vệ môi trường, phải tính đến nhu cầu phát triển du lịch” Mặt khác, một trong các điều kiện để mở danh lam thắng cảnh cho khách du lịch tham quan quy định tại Điều 42 luật này chính là “Có các công trình bảo vệ môi trường và các biện pháp bảo vệ sinh thái cần thiết”

65

World Economic Forum (2019), The Travel & Tourism Competitiveness Report 2019, tr 81

66

Jing Zhao, Shu-Min Li (2018), “The Impact of Tourism Development On The Environment In China”,

Acta Scientifica Malaysia, Số 2, tr 2

Trang 38

Ngoài ra, các địa phương cũng ban hành những quy chế như Quy chế quản lý

du lịch Tứ Xuyên, Quy chế quản lý du lịch Vân Nam, Quy chế quản lý du lịch Hải Nam nhằm hướng dẫn cụ thể và rõ ràng hơn công tác BVMT trong du lịch để pháp luật được thực hiện có hiệu quả hơn.Hầu hết các quy chế của địa phương có phạm

vi điều chỉnh đối với một loại tài nguyên du lịch hoặc một khu du lịch cụ thể.67

Mặt khác, Trung Quốc cũng ban hành một loạt những quy định nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, hủy hoại môi trường du lịch như Kế hoạch ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước cho vùng trung lưu và hạ lưu sông Dương Tử (năm 2011 - 2015) vào năm 2011; kế hoạch hành động ngăn ngừa ô nhiễm nước vào năm 2015; các biện pháp tạm thời về quản hành vi thiếu văn minh của khách du lịch được ban hành năm 2016 nhằm xử phạt các hành vi vi phạm môi trường trong ngành du lịch Ngày 01/01/2017, Trung Quốc đã ban hành

và thực hiện 5 tiêu chuẩn khí thải phương tiện cơ giới Đồng thời, Trung Quốc cũng chú trọng sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, thủy điện, năng lượng gió, ), áp dụng thiết bị và công nghệ tiết kiệm năng lượng, đơn giản hóa việc đóng gói hàng hóa, chọn nguyên liệu tự nhiên để đóng gói, thiết kế tuyến du lịch phù hợp với hệ thống sinh thái tự nhiên.68

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã thực hiện chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy sự phát triển của các phương tiện sử dụng năng lượng mới thân thiện với môi trường Các chính sách này được quy định chi tiết tại các văn bản như Chương trình trợ cấp khuyến khích phương tiện sử dụng năng lượng mới và Yêu cầu kỹ thuật sản phẩm năm 2020;chính sách thi hành phương tiện sử dụng năng lượng mới của Trung Quốc Chương trình trợ cấp khuyến khích phương tiện sử dụng năng lượng mới và Yêu cầu kỹ thuật sản phẩm năm 2020 quy định về tiêu chuẩn trợ giá

và cách tính số tiền trợ giá đối với từng phương tiện như phương tiện vận tải hành khách sử dụng năng lượng mới, xe buýt năng lượng mới.69 Ngoài ra, Trung Quốc đã khởi xướng chương trình Hàng nghìn phương tiện, Hàng chục thành phố (Thousands of Vehicles, Tens of Cities - TVTC) Chương trình này đã hỗ trợ tài chính cho chính quyền địa phương một phần chi phí để mua thêm của phương tiện

sử dụng năng lượng mới và tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng và bảo trì phương

67

Jian-gang Quan, Zhi-guo Zhang, “The Study on Legal Issues Concerning China‟s Tourism Environmental

Protection”, Advances in Engineering, Số 100, tr 668 – 669

Ngày đăng: 27/10/2022, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Phong Bình (2009), Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Trần Phong Bình
Năm: 2009
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia Giai đoạn 2010 - 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia Giai đoạn 2010 - 2015
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017 - Chuyên đề Quản lý chất thải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017 - Chuyên đề Quản lý chất thải
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2017
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2019), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2019 - Chuyên đề Quản lý chất thải rắn đô thị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2019 - Chuyên đề Quản lý chất thải rắn đô thị
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2019
5. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hoà (2006), Giáo trình Kinh tế du lịch, Nhà xuất bản Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hoà
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
Năm: 2006
6. Hà Thị Mỹ Hạnh (2011), Cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế pháp lý thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện
Tác giả: Hà Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2011
7. Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2017), “Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững ở Nhật bản và một số gợi ý cho ngành du lịch Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 22/2017, tr. 97 – 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững ở Nhật bản và một số gợi ý cho ngành du lịch Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu văn hóa
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Năm: 2017
8. Bùi Đức Hiền (2017), Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bùi Đức Hiền
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2017
9. Bùi Kim Hiếu (2016), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bùi Kim Hiếu
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2016
10. Trần Linh Huân, (2018), Pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại
Tác giả: Trần Linh Huân
Năm: 2018
12. Souliphon Khampanya (2016), Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Souliphon Khampanya
Năm: 2016
13. Nguyễn Thị Tố Uyên (2019), Cơ chế pháp lý về sự tham gia của các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế pháp lý về sự tham gia của các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Tố Uyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2019
14. Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Môi trường, Nhà xuất bản Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Môi trường
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2015
15. Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Kỹ thuật soạn thảo văn bản, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kỹ thuật soạn thảo văn bản
Tác giả: Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2017
16. Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2017), Tập bài giảng Lý luận về pháp luật, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Lý luận về pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2017
17. Ngô Long Vương (2018), Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, qua thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật – Đại học Huế.Tài liệu từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, qua thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà Nẵng", Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật – Đại học Huế
Tác giả: Ngô Long Vương
Năm: 2018
1. Admin Itdr, “Kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường du lịch”, http://itdr.org.vn/nghien_cuu/kinh-nghiem-quoc-te-trong-linh-vuc-quan-ly-va-bao-ve-moi-truong-du-lich/, truy cập ngày 28/4/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường du lịch
2. Hà Anh, “Áp thuế du khách: Phía sau một xu hướng”, http://baotnvn.vn/tin- tuc/Ho-so-tu-lieu/4308/Ap-thue-du-khach-Phia-sau-mot-xu-huong, truy cập ngày 20/5/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp thuế du khách: Phía sau một xu hướng
1. Luật Xúc tiến du lịch sinh thái Nhật Bản , https://elaws.e- gov.go.jp/document?lawid=419AC1000000105 Link
2. Luật Cơ bản về Xúc tiến du lịch quốc gia Nhật Bản, https://elaws.e- gov.go.jp/document?lawid=418AC1000000117.3. Hiến pháp Trung Quốc,http://www.npc.gov.cn/zgrdw/englishnpc/Constitution/node_2825.htm.4. Luật Du lịch Trung Quốc,http://www.npc.gov.cn/npc/c12435/201811/0c84f02fb5b84a648fa0b801bd88d8cb.shtml Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w