1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế môi trường - kinh nghiệm giảng dạy để hướng tới phát triển bền vững ở thế kỷ 21

3 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 162,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Kinh tế môi trường - kinh nghiệm giảng dạy để hướng tới phát triển bền vững ở thế kỷ 21 trình bày sự khác biệt giữa kinh tế môi trường tân cổ điển, kinh tế sinh thái và kinh tế học bền vững.

Trang 1

KINH TẾ MÔI TRƯỜNG - KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY

ĐỂ HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở THẾ KỶ 21

Nguyễn Trung Dũng

Trường Đại học Thủy lợi, email dzung_nguyen_ktcs@tlu.edu.vn

1 GIỚI THIỆU CHUNG

Trong một lần trao đổi kinh nghiệm giảng

dạy môn Kinh tế môi trường với hai đồng

nghiệp của một trường đại học phía nam

Theo các thày cô, môn học này chỉ toàn cung

cấp những kiến thức mà không còn thích hợp

với thực trạng về ô nhiễm môi trường và cạn

kiệt tài nguyên hiện đang diễn ra (theo kiểu:

cung nặng hàn lâm trong khi cầu cần thứ

khác để giải quyết vấn đề) Đúng vậy, những

kiến thức của "Kinh tế môi trường tân cổ

điển" mà họ đang giảng dạy, dù có dùng giáo

trình mới của Anh Quốc, Úc hay Hoa Kỳ, thì

chỉ phù hợp cho giai đoạn "khai sáng" của

những năm 1970, 1980 và đầu 1990 Theo

Rogall (2018) thì trong vài năm gần đây các

cuốn sách Kinh tế môi trường có dành một

hoặc hai chương nói về tăng trưởng kinh tế

và phát triển bền vững theo trào lưu chung,

nhưng không đi vào bản c hất của vấn đề và

có tính bền vững yếu Chẳng riêng gì các

thày cô, mà nhiều đồng nghiệp khác ở trong

và ngoài nước có cùng ý kiến Hệ quả là khi

học, sinh viên vẫn loanh quanh giải những

bài tập kinh tế vi mô liên quan với ngoại ứng

môi trường, đàm phán khi ô nhiễm môi

trường xảy ra dựa vào quyền tài sản (được

phép phát thải hay phải mua quyền phát

thải/thuộc về bên chịu ô nhiễm), xác định

mức ô nhiễm tối ưu và đánh giá thiệt hại môi

trường Thậm chí còn yêu c ầu sinh viên phải

giải những bài toán kinh tế vi mô phức tạp,

tối ưu ô nhiễm… với kết quả phải chính xác

sau dấu phẩy Với những kiến thức này,

người học không thể lý giải nổi những vấn đề

ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên

hiện nay, và đề ra chính sách giải quyết Trong bài này, tác giả – dựa vào kiến thức và kinh nghiệm của bản thân trong 10 năm giảng dạy cao học và đại học môn học này ở Đại học Thủy lợi (TLU) cũng như trong vai trò của một thành viên tích c ực trong mạng

lưới "Kinh tế học bền vững" (Sustainable

Economics) theo sáng kiến c ủa Đại học kinh

tế và luật Berlin (Đức) – giải thích vì sao cần phải lựa chọn nội dung giảng dạy thích hợp

để hướng tới nhu cầu thực tiễn trong phát triển bền vững của thế kỷ 21

2 KHÁC BIỆT GIỮA KINH TẾ MÔI TRƯỜNG TÂN CỔ ĐIỂN, KINH TẾ SINH THÁI VÀ KINH TẾ HỌC BỀN VỮNG

Trước hết có 3 nhóm nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên (Rogall, 2018) là:

(1) Những yếu tố kinh tế - xã hội: như

ngoại ứng, đối xử môi trường như hàng hóa công cộng, chiết khấu thiệt hại trong tương lai, tình trạng tiến thoái lưỡng nan của người

tù, vấn đề "ăn không";

(2) Những yếu tố do hệ thống phát triển:

như gia tăng dân số, tăng trưởng kinh tế theo hàm mũ, tối đa hóa lợi nhuận và tích lũy vốn, thất bại về chính sách, phát triển công nghệ, ô nhiễm môi trường do nghèo đói (đặc biệt ở các nước đang phát triển)

(3) Tâm lý môi trường: làm rõ sự khác biệt

giữa kiến thức/nhận thức và hành vi (thực hành) môi trường Mục tiêu của tâm lý môi trường là đưa ra các biện pháp nhằm tác động đến hành vi của người tiêu dùng và khuyến khích các hành động vì môi trường

Trang 2

Trên cơ sở đó chúng ta phân biệt những

trường phái môn học với trọng tâm về kinh tế

môi trường như sau:

a) Kinh tế môi trường tân cổ điển, hiện

đang được giảng dạy ở nhiều trường đại học

Nó dựa vào những giả thiết chính của Kinh tế

học tân cổ điển là: (1) Con người kinh tế

(Homo Eonomiscus) luôn lấy mục tiêu kinh

tế để xem xét các hành vi, (2) Tính độc lập/

thượng tôn của người tiêu dùng (consumer

sovereignty), (3) Nhu cầu vô hạn của con

người, trong khi các yếu tố sản xuất, tài

nguyên thiên nhiên thì hữu hạn, (4) Các hoạt

động diễn ra trên thị trường bao giờ cũng dẫn

đến tối ưu cho tất cả cá nhân tham gia, và (5)

Phúc lợi xã hội là tổng phúc lợi cá nhân

Cuối những năm 1960, Kinh tế môi trường

tân cổ điển sơ khai hình thành như một phần

của Kinh tế học ở một vài trường đại học lớn

trên thế giới Sang những năm 1970 thì môn

học đã có hình hài rõ hơn, được coi là môn

học độc lập Thất bại thị trường (do phân bổ

sai) được giải thích là do ngoại ứng (vấn đề

chuyển sang chi phí xã hội), vấn đề hàng hóa

công cộng và các yếu tố kinh tế - xã hội khác

Do vậy, việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

được coi là một vấn đề kinh tế thuần túy Nội

dung chính của môn học là tính toán "ô

nhiễm môi trường tối ưu", lượng hóa bằng

tiền các chi phí thiệt hại môi trường và chi

phí tránh xả / phát thải ra môi trường làm cơ

sở để nội hóa chi phí ngoại ứng, thuế môi

trường Pigou Trong khuôn khổ của Kinh tế

tài nguyên thì tính toán để đảm bảo phân bổ

tối ưu (sử dụng và tiêu thụ) tài nguyên thiên

nhiên trong khoảng thời gian nhất định Các

tác giả quan trọng đầu tiên có thể kể đến: ở

Đức là Frey, B.S (1972), Kneese, A (1977),

Siebert, H (1978), Wicke, L (1993); Endres,

A (2007); ở Hoa Kỳ và Anh là Pearce, W.D

& Turner, R.K (1990), Field, B.C & Field,

K.M (1996) và nhiều tác giả khác Đến nay

thì các học trò của trường phái này khá đông

Đầu những năm 2000, các tác giả nêu trên đã

tái bản mở rộng phần lý thuyết với tăng

trưởng kinh tế, kinh tế chính trị, c hính sách

và phát triển bền vững

b) Kinh tế sinh thái xuất hiện từ giữa

những năm 1980 khi Kinh tế môi trường tân

cổ điển bị chỉ trích quá nhiều Đầu tiên ở Hoa

Kỳ và năm 1987 thì Hiệp hội Kinh tế sinh thái quốc tế (ISEE) được thành lập Từ năm

1989 thì nhiều ấn phẩm và tạp c hí về Kinh tế sinh thái được xuất bản Những nhà tiền bối quan trọng nhất trong cách tiếp c ận Kinh tế sinh thái là: Boulding, K (1966), Ehrlich, P (1970), Georgescu-Roegen, N (1971), Meadows, D (1972), Herman, D (1973,

1991, 1999), Costanza, R (1987, 2001), Barbier, E (1989), Pearce, D (1989) và Faber, M et al (1998), Bartmann, H (1996), Binswanger, H.C (1979, 1981) nhiều tác giả khác Bốn yếu tố cốt lõi của Kinh tế sinh thái là: (1) Đại diện cho quan điểm Trái đất là một hệ thống nhiệt động học đóng, vật chất không tăng, trong đó nền kinh tế là một hệ thống con; (2) Phải phấn đấu để đạt được mẫu hình chủ đạo về hệ thống xã hội bền vững với chất lượng cuộc sống cao cho tất cả mọi người, song phải trong khuôn khổ giới hạn thiên nhiên; (3) Kinh tế sinh thái thừa nhận việc phân tích hệ thống rất phức tạp và mang tính bất an toàn cao Do vậy yêu cầu phòng ngừa cao; (4) Cần có thể chế và chính sách c hỉ đạo tốt hơn là việc ứng phó

c) Kinh tế học bền vững đang trong giai

đoạn phát triển Từ cuối những năm 1990, trường Đại học khoa học ứng dụng về kinh tế

và luật Berlin (trước đây là FHW, nay là HWR Berlin) đã nghiên cứu cơ sở nền tảng cho Kinh tế học bền vững (trước đây còn gọi

là Kinh tế môi trường mới) Năm 2009 thì xuất bản ấn phẩm đầu tiên là cuốn sách

"Kinh tế học bền vững" Cuốn sách tóm tắt những điều kiện cơ bản của trường phái kinh

tế mới (Rogall 2009) và sau đó đã được dịch

ra nhiều thứ tiếng Kinh tế học bền vững (một

số tác giả còn gọi là Lý thuyết kinh tế bền vững hoặc Kinh tế học cho phát triển bền

vững) được định nghĩa là "Lý thuyết kinh tế

cho phát triển bền vững, trong đó có tính đến những cơ sở liên ngành" (Rogall 2012: 124)

Trường phái kinh tế mới này đã được phát triển từ kinh tế học (ví dụ Kinh tế học cổ điển, c hủ nghĩa Keynes và Kinh tế học hành vi) và kết hợp với c ác bộ môn của khoa học bền vững (đặc biệt là Kinh tế sinh thái) Trong đó Kinh tế học bền vững vượt ra ngoài

Trang 3

những chủ đề nghiên cứu của Kinh tế sinh

thái Để gìn giữ các điều kiện liên ngành (cơ

sở về kinh tế, chính trị / chính sách, đạo đức,

kỹ thuật) của một quản lý kinh tế bền vững

với c ác nguyên tắc cơ bản của nó (công bằng

nội và ngoại thế hệ, trách nhiệm/nghĩa vụ,

bền vững), thì Kinh tế học bền vững nghiên

cứu không chỉ các vấn đề môi trường sinh

thái mà được xem như một lý thuyết kinh tế

bền vững toàn diện Về mặt này, Kinh tế học

bền vững có thể được coi là một phát triển

nhất quán tiếp theo của Kinh tế sinh thái

Trọng tâm ở đây là những câu hỏi về các

chuẩn mực kinh tế, sinh thái và v ăn hóa - xã

hội đủ cao để có thể đạt được nằm trong

những giới hạn về khả năng chịu tải của

thiên nhiên cũng như thực thi nguyên tắc

công bằng nội và ngoại thế hệ (định nghĩa về

quản lý kinh tế bền vững) Một yếu tố thiết

yếu ở đây là xây dựng các điều kiện c ho một

nền kinh tế theo các nguyên tắc c ủa một sự

phát triển bền vững, cũng như xây dựng c ác

mục tiêu và công cụ thực thi Song song với

việc viết sách giáo khoa nói trên thì mạng

lưới Kinh tế học bền vững được hình thành

để cải tổ Kinh tế học truyền thống theo

hướng của Kinh tế học bền vững Hiện nay,

mạng lưới có khoảng 400 thành viên, trong

đó có 200 giảng viên và các nhà khoa học nổi

tiếng Hợp tác với Hiệp hội Bền vững của

Đức (GfN) hình thành một ban biên tập với

sự hỗ trợ của ban cố vấn khoa học và hàng

năm xuất bản tạp chí năm về Kinh tế học bền

vững Ở các một số đại học như Berlin,

Münster, Bochum, Constance đã thành lập bộ

môn Kinh tế học bền vững Cuốn sách Kinh

tế học bền vững tái in lần thứ 1 đã được dịch

sang tiếng Việt Tái bản lần thứ 3 gồm 2 tập,

mỗi tập 600-700 trang, chuẩn bị xuất bản

Cuốn sách đã được gửi tặng Bộ Tài nguyên

và Môi trường (MONRE), các thư viện lớn

của các trường đại học trong toàn quốc Từ

năm 2011 nó được dùng làm tài liệu giảng

dạy cho môn "Kinh tế môi trường và chính

sách" ở TLU với 3 tín chỉ cho các lớp của

ngành kỹ thuật môi trường (khoa Môi

trường) và cho các lớp c ao học c ủa chuyên

ngành "Kinh tế/ Quản lý tài nguyên thiên

nhiên và môi trường" Cuốn sách này được

ông Trần Hồng Hà, khi đó là thứ trưởng MONRE, đánh giá c ao vì đến nay chưa có cuốn sách nào viết một cách khoa học và tổng hợp như vậy Bên cạnh việc giải thích

kỹ lưỡng thì đưa ra nhiều kinh nghiệm và ý tưởng giải quyết các vấn đề trong thực tế Ông mong rằng có nhiều cán bộ của MONRE đọc để có những quyết sách thích hợp (phát biểu năm 2011) Học viên c ao học đang làm việc với môi trường và tài nguyên thì cho rằng cuốn sách là cẩm nang tốt, qua nghiên cứu thì rút ra nhiều hướng giải quyết

3 KẾT LUẬN

Trong 10 năm giảng dạy môn học - Ban đầu với sự hỗ trợ chuyên môn của dự án DANIDA (Tăng cường năng lực đào tạo c ho TLU của chính phủ Đan Mạch 2000-06), sau

đó đã tham khảo thêm gần 10 cuốn sách c ủa Anh, Hoa Kỳ và Đức, và bài giảng của các trường cũng như liên hệ trực tiếp với các giảng viên để xin tài liệu – thì đến nay có thể khẳng định, nội dung giảng dạy môn học này

ở TLU có màu sắc riêng, tương đồng với nội dung giảng dạy ở Đại học kinh tế và luật Berlin (Đức) và một vài trường khác ở Đức

và có hiệu quả so với một số trường khác: 50% kiến thức chung của môn học bắt buộc (theo Kinh tế môi trường tân cổ điển), còn lại

là kiến thức mở rộng của Kinh tế học bền vững cũng như những ví dụ thực tế sinh động Nếu Kinh tế môi trường tân cổ điển đi

từ thế "bị động" mang tính khắc phục ô nhiễm môi trường, thì Kinh tế học bền vững

đi ngược lại, nghĩa là xuất phát từ thế "chủ động", phòng xa ngăn ngừa để giải quyết vấn

đề ô nhiễm và chất thải Nó là lát cắt tốt giữa Kinh tế, xã hội, chính trị/ chính sách, hệ sinh thái môi trường và kỹ thuật môi trường

4 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Rogall, H (2011 & 2018): Kinh tế học bền vững (Sus tainable Economics), dịch từ tiếng Đức, NXB KHTN và công nghệ

[2] Nhiều tài liệu khác

Ngày đăng: 27/10/2022, 15:00

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm