1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp đối với cầu công nghệ từ nước ngoài: Nhân chứng từ các doanh nghiệp ngành chế tác Việt Nam

3 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 167,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Vai trò của nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp đối với cầu công nghệ từ nước ngoài: Nhân chứng từ các doanh nghiệp ngành chế tác Việt Nam trình bày việc xem xét vai trò của nghiên cứu và phát triển và một số nhân tố khác đến cầu công nghệ từ nước ngoài trong ngành chế tác Việt Nam.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CẦU CÔNG NGHỆ

TỪ NƯỚC NGOÀI: NHÂN CHỨNG TỪ CÁC DOANH NGHIỆP

NGÀNH CHẾ TÁC VIỆT NAM

Nguyễn Khắc Minh1, Đặng Thu Hương2, Phùng Mai Lan3

1

Trường Đại học Thăng Long, email: khacminh@gmail.com

2

Trường Đại học Kinh tế quốc dân, email: huongtb2020@gmail.com

3

Trường Đại học Thuỷ lợi, email: lanpm@tlu.edu.vn

1 GIỚI THIỆU

Các lý thuyết của Solow đã giúp làm rõ

vai trò của tích luỹ tư bản hiện vật và nhấn

mạnh tầm quan trọng của tiến bộ công nghệ

như lực đẩy quan trọng đằng sau tăng trưởng

kinh tế bền vững Nhưng một vấn đề đặt ra

là “làm sao có được công nghệ tiên tiến“ khi

nền kinh tế đã nghèo không những về tiền

của mà còn cả tri thức để tạo ra công nghệ

mới Câu hỏi đặt ra cho các doanh nghiệp

của các nền kinh tế này là phải lựa chọn giữa

"làm và mua công nghệ" để sao cho các

doanh nghiệp c ó thể tồn tại trong cạnh tranh

và phát triển và cũng góp phần vào sự phát

triển của đất nước Đây là sự lựa chọn có vai

trò quyết định đến sự thành bại và phát triển

của doanh nghiệp Lựa chọn giữa làm (tự

nghiên cứu và phát triển công nghệ) và mua

công nghệ (từ các doanh nghiệp khác trong

nước hoặc nước ngoài) đều có phục vụ mục

đích tồn tại và phát triển của công ty trên cơ

sở khả năng của nó Làm công nghệ (tự

nghiên cứu và phát triển) sẽ gặp khó về cơ

sở vật chất đặc biệt đối với các doanh nghiệp

mới ra nhập hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ

thì nguồn vốn để đáp ứng cho nghiên cứu

phát triển có thể rất lớn, vượt quá khả năng

của họ, thêm vào đó đội ngũ cán bộ có

chuyên môn giỏi cũng như mặt bằng công

nghệ chung của cả nước c òn thấp và đầu tư

vào nghiên cứu phát triển sẽ gặp rủi ro rất

cao, do đó việc tự đầu tư để nghiên cứu toàn

bộ dường như là vấn đề không thể thực hiện được Mua cũng có thể gặp khó là mua công nghệ nào, từ nước nào để sao cho doanh nghiệp có khả năng thanh toán và phát triển, mua cũng có thể gặp rủi ro do hợp đồng chuyển giao, do năng lực công nghệ hoặc trình độ công nghệ của doanh nghiệp còn thấp Đó chính là sự lựa chọn giữa làm và mua công nghệ của doanh nghiệp Có rất nhiều doanh nghiệp tự đi lên bằng cách chọn chiến lược mua công nghệ chủ yếu và tự nghiên cứu những mảng c ông nghệ bổ sung

để đảm bảo chi phí có thể tồn tại và phát triển Có rất nhiều c ác nghiên cứu c ho thấy vai trò và đặc điểm của cầu trong các việc mua công nghệ là để phát triển c ông nghệ (Arora & cộng sự, 2001; Rigby &Zook, 2002; Gans & Stern, 2003), để xây dựng năng lực hấp thụ cần thiết nhằm tạo ra sản lượng kỹ thuật mới (Cassiman &Veugelers, 2006) Nghiên cứu này nhằm mục tiêu là xem xét vai trò của nghiên cứu và phát triển

và một số nhân tố khác đến cầu công nghệ từ nước ngoài trong ngành chế tác Việt Nam Tuy xem xét các điều kiện phía cầu nhưng giả thuyết của nghiên cứu dựa vào phát hiện của Ceccagnoli và Higgins (2008) rằng việc mua công nghệ là những chiến lược bổ sung cho các công ty lớn vì sự hợp tác c ủa họ có

xu hướng làm tăng năng suất cận biên của nghiên cứu nội bộ

Trang 2

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mô hình lựa chọn hecman

Vì giả thiết của nghiên cứu là công ty phải

lựa chọn giữa cầu “công nghệ" là hàng hóa

bổ sung hay thay thế cho nghiên cứu và sáng

chế của công ty, nên mô hình lựa chọn thích

hợp sẽ là mô hình Heckman (1979) Ý tưởng

này được mô hình hóa bằng 2 phương trình

dưới đây:

Quyết định lựa chọn giữa mua công nghệ

từ nước ngoài hoặc không mua:

yf x x x x x x  (1)

Quyết định tỷ lệ chi tiêu giành mua công

nghệ từ nước ngoài:

zg x x x x x x  (2)

Trong đó yịjt là biến lưỡng phân lấy giá trị

bằng 1 nếu doanh nghiệp i ngành j năm t

quyết định mua công nghệ nước ngoài và

bằng không trong trường hợp ngược lại

Zij t là chi tiêu mua công nghệ nước ngoài

trên tổng chi tiêu cho mua công nghệ của

doanh nghiệp i ngành j năm t

ij t và ij t là các biến ngẫu nhiên mà nắm

bắt ảnh hưởng của mất biến

(KL ij t) ; tỷ lệ vốn trên đầu người tính theo

triệu đồng của công ty i , ngành j ở thời gian t

X2j t (Age ijt) đo tuổi của công ty i, ngành j ở

thời gian t X3i jt (quymo ijt) đo quy mô của của

công ty i, ngành j ở thời gian t theo vốn X4i jt

(tongsangche ij t) bao gồm tổng số bằng sáng

chế cấp quốc gia và quốc tế của doanh

nghiệp- biến này được lấy làm xấp xỉ cho R

&D c ủa doanh nghiệp

đo sự mở rộng nhiều loại sản phẩm như sản

phẩm mới của doanh nghiệp i, ngành j năm t

chỉ ra rằng công ty phải đối mặt với những

khó khăn về cơ sở hạ tầng cơ bản như đất đai,

điện, năng lượng… X7ij t (hatang2 ijt): biến chỉ

ra rằng công ty phải đối mặt với những khó

khăn về cơ sở hạ tầng giao thông như đường

xá, sân bay những khó khăn này làm cho

môi trường đầu tư không thuận lợi do đó c ầu

công nghệ nói chung và đặc biệt cầu công nghệ nước ngoài sẽ giảm khi khó khăn này tăng lên

Chuyển giao công nghệ từ nhà cung cấp nước ngoài cho doanh nghiệp mà mọi điều khoản ghi rõ trong hợp đồng

bằng chỉ số tập trung - chỉ số Herfindahl Mức tập trung của ngành công nghiệp j

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Kết quả ước lượng cho thấy hệ số của biến

tongsangche bằng 0,0021 và có ý nghĩa

thống kê ở mức 5% Như vậy kết quả thực nghiệm này đã ủng hộ giả thuyết của nghiên cứu, tổng các bằng sáng chế có tác động dương lên cầu c ông nghệ từ nước ngoài Bảng 1 Kết quả ước lượng mô hình

Mô hình

ra quyết định

Mô hình cầu nhập khẩu

KL

-0,0002*

(0,0001) KL

0,0004** (0,0002) Age

0,016***

(0,0042) Age

-0,011** (0,005) quymo

-0,17***

(0,034) quymo

0,157*** (0,045) ttruong

-0,16***

(0,055) ttruong

0,106* (0,059) hatang1

-0,03***

(0.010) hatang1

0,0061 (0,011) hatang2

0,041***

(0.011) hatang2

-0,009 (0.011) Herf

-0,39***

(0,1211) Herf

-0,95*** (0,349) cgiaonn

0,234 (0,151) cgiaonn

-0,067 (0.155) tong

sangche

0,002**

(0,0009)

tong sangche

-0,0005 (0,0009) _cons

(0,109)

_cons

2,018*** (0,263)

Ghi chú: *, **, *** mức ý nghĩa 10%, 5%, 1%

Nguồn: Tính toán của tác giả

Trang 3

Các mô hình cũng trình bày các kết quả

đáng chú ý khác liên quan đến ảnh hưởng của

việc cầu công nghệ từ nước ngoài, thỏa thuận

công nghệ chuyển giao công nghệ (cgiaonn),

quy mô doanh nghiệp (quymo)… hầu hết đều

có dấu như mong muốn và có ý nghĩa

thống kê

Nhìn vào kết quả ước lượng từ mô hình

lựa chọn và cầu công nghệ nước ngoài Kết

quả của hai mô hình không hoàn toàn trùng

khớp là có thể hiểu được Mặc dù các biến

độc lập của cả hai mô hình là như nhau

nhưng hành vi ra quyết định cầu là hành vi

mong muốn còn hành vi cầu lại là thực tế nên

kết quả có sự khác biệt nhau Ví dụ tuổi của

doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp quy mô nhỏ

hơn, doanh nghiệp càng có kinh nghiệm

trong tổ chức và quản lý thì càng có mong

muốn mua công nghệ nước ngoài do khó có

đủ kinh phí đầu tư hoạt động R&D trong khi

thực tế thì các doanh nghiệp có tuổi đời ít

hơn, quy mô lớn hơn lại thường dành nhiều

chi phí nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại

nhằm nhanh chóng tăng khả năng cạnh tranh

trên thị trường Kết quả nghiên cứu c ho thấy

rằng các phát minh sáng chế của các công ty

trong ngành chế tác nói chung là các phát

minh sáng chế phục vụ cho công nghệ thực tế

đã được cầu

3 KẾT LUẬN

Bài viết này sử dụng dữ liệu về điều tra

doanh nghiệp và điều tra công nghệ của các

doanh nghiệp ngành chế tác từ 2012-2016 để

kiểm định giả thuyết “Các phát minh sáng

chế về công nghệ của các doanh nghiệp thuộc

ngành chế tác Việt Nam là bổ sung cho c ầu

công nghệ từ nước ngoài” Đây là đóng góp

của chúng tôi cho nghiên cứu về giao dịch

công nghệ Để thực hiện mục tiêu kiểm định

giả thiết này, chúng tôi đã xây dựng mô hình

lựa chọn kiểu Heckman, nhằm phân biệt hai

hành vi của công ty: một là hành vi quyết

định cầu c ông nghệ từ nước ngoài (cầu hay

không) và sau đó là hành vi quyết định phần

chi tiêu cho công nghệ, nghĩa là dành bao

nhiêu phần trăm trong tổng c hi tiêu về mua

công nghệ cho cầu công nghệ từ nước ngoài trên cơ sở tập hợp các điều kiện như đặc trưng công ty, ngành, thị trường sản phẩm, thị trường công nghệ… Những phát hiện của chúng tôi c ho thấy rằng c ác phát minh sáng chế của các công ty trong ngành chế tác nói chung là các phát minh sáng chế phục vụ cho công nghệ thực tế đã được c ầu Cuối c ùng, nghiên cứu của chúng tôi đặt ra câu hỏi về việc liệu sự vận động của các công ty sang thị trường công nghệ bên ngoài c ó phải là c hỉ là ngắn hạn hay “khởi động” có thể giúp cải thiện năng suất nghiên cứu và phát triển trong nội bộ công ty sẽ diễn ra khi nào thì công ty có thể có nghiên cứu có khả năng thay thế cầu c ông nghệ từ nước ngoài

4 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Arora, A., M Ceccagnoli and W Cohen (2007), ‘Trading knowledge: the determinants of transactions in technology and R&D in the U.S manufacturing sector,’

in N R Lamoreaux and K L Sokoloff (eds ), Financing Innovation in the United States, 1870 to the Present MIT Press: Cambridge, MA, pp 365–403

[2] Cassiman, B and R Veugelers (2006), ‘In search of complementarity in innovation strategy: internal R&D and external knowledge acquisition,’ Management Science, 52(1), 68–82

[3] Ceccagnoli, M and M J Higgins (2008),

‘Enhancing research productivity through the market for technology,’ Unpublished working paper, College of Management, Georgia Institute of Technology

[4] Heckman, J (1979) “ Sample selection bias

as a specification error,” Econometrica, 47,153-161

[5] Nicholls-Nixon, C L and C Y Woo (2003),

‘Technol ogy sourcing and output of established firms in a regime of encompassing technological change,’ Strategic Management Journal,24(7), 651–666

Ngày đăng: 27/10/2022, 14:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w