1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

97 52 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả Lý Sinh Đại
Người hướng dẫn TS. Lê Huỳnh Tấn Duy
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẤY LỜI KHAI BỊ HẠI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (16)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự (16)
      • 1.1.1. Khái niệm lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi (16)
      • 1.1.2. Đặc điểm của lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi (21)
      • 1.1.3. Ý nghĩa của lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi (24)
    • 1.2. Cơ sở của việc quy định về lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự (25)
      • 1.2.1. Cơ sở lý luận (26)
      • 1.2.2. Cơ sở thực tiễn (29)
    • 1.3. Nguyên tắc lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự (32)
      • 1.3.1. Những nguyên tắc chung (32)
      • 1.3.2. Những nguyên tắc đặc thù (34)
  • CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ LẤY LỜI KHAI BỊ HẠI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN (39)
    • 2.1. Sơ lược lịch sử các quy định về lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi (39)
    • 2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi (43)
      • 2.2.1. Quy định về triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi để lấy lời khai (43)
      • 2.2.2. Quy định về trình tự, thủ tục lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi (46)
    • 2.3. Thực tiễn lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi (54)
  • CHƯƠNG 3 NHU CẦU, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ LẤY LỜI KHAI BỊ HẠI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN (75)
    • 3.1. Nhu cầu hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về lấy lời (75)
    • 3.2. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về lấy lời (77)
    • 3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi (84)

Nội dung

Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm lấy lời khai của bị hại là người dưới 18 tuổi như sau: “Lấy lời khai của bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự là hoạt động

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẤY LỜI KHAI BỊ HẠI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi

Trong quá trình nghiên cứu hoạt động lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi, tác giả nhận thấy hiện nay vẫn còn thiếu sự thống nhất về nhiều thuật ngữ pháp lý liên quan đến nhóm bị hại này Vì vậy, để phục vụ cho nghiên cứu và luận văn, bài viết trình bày và phân tích một số khái niệm chủ chốt nhằm làm rõ hoạt động lấy lời khai của bị hại dưới 18 tuổi, từ đó tăng cường tính nhất quán trong hiểu biết và áp dụng thực tiễn Việc làm rõ các khái niệm này giúp định hình rõ ràng phạm vi, mục tiêu và yêu cầu của quá trình tố tụng, đồng thời gợi ý các tiêu chí đánh giá độ tin cậy, an toàn và quyền lợi của bị hại dưới 18 tuổi khi tham gia lấy lời khai Những khái niệm được tiếp cận từ góc độ pháp lý và thực tiễn, nhằm cung cấp cơ sở phân tích cho luận văn và đóng góp cho nghiên cứu khoa học về bảo vệ người dưới 18 tuổi trong hoạt động lấy lời khai.

Khái niệm bị hại trong khoa học pháp lý về TTHS mang tính tương đối và phụ thuộc vào quan điểm của các nhà làm luật qua từng thời kỳ; do đó, các quy định về bị hại có thể khác nhau theo thời gian Bị hại là một trong số các chủ thể bị thiệt hại do tội phạm gây ra, bởi tội phạm có thể gây thiệt hại vật chất lẫn phi vật chất cho nhiều chủ thể Đồng thời, khái niệm bị hại cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau: có ý kiến cho rằng bị hại chỉ là cá nhân, nhưng cũng có ý kiến cho rằng bị hại có thể gồm cả tổ chức, pháp nhân.

Người bị hại là thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ cá nhân bị thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản do một tội phạm gây ra Theo từ điển Tiếng Việt, người bị hại được giải thích là người bị thiệt hại về thể chất, vật chất hoặc tinh thần do tội phạm gây ra; theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học, người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra Người bị hại chỉ có thể là thể nhân và không thể là pháp nhân khi bị thiệt hại bởi hành vi phạm tội.

Thuật ngữ "bị hại" dùng để chỉ sự thiệt hại, mất mát có thể gặp phải ở nhiều dạng: thiệt hại về thể chất như tính mạng, sức khỏe; thiệt hại về tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng hoặc định đoạt của cá nhân hay tổ chức; và thiệt hại về tinh thần hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật Việc dùng từ "bị" thể hiện các tác động gây ra thiệt hại phải được xem xét và xử lý theo quy định pháp luật nhằm bảo vệ nạn nhân.

1 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng năm 2004, tr.698

Trường Đại học Hà Nội (1999) trong Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, trang 198, mô tả tính tiêu cực từ các tác nhân bên ngoài mà cá nhân hoặc tổ chức không mong muốn tiếp nhận.

Trong khoa học pháp lý hình sự trước đây chỉ đề cập bị hại là con người cụ thể, là người bị thiệt hại trực tiếp từ hành vi phạm tội của tội phạm Điều 51 BLTTHS năm 2003 quy định “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” 3 Quy định này chưa làm rõ những vấn đề quan trọng như: thiệt hại do tội phạm gây ra có bao hàm những thiệt hại gián tiếp? Có được xem là người bị hại trong những trường hợp phạm tội chưa đạt? Vấn đề này cần căn cứ vào các loại cấu thành tội phạm cũng như tính chất của sự thiệt hại để xác định người bị hại Trong khoa học luật hình sự: Đối với các loại tội phạm có cấu thành vật chất bắt buộc phải có hậu quả xảy ra và hậu quả đó thường là thiệt hại về thể chất và vật chất Trong trường hợp này sự thiệt hại gây ra cho người bị hại phải là thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra, những thiệt hại cụ thể và xác định, thiệt hại đó có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội Đối với các tội có cấu thành hình thức thì thiệt hại gây ra cho người bị hại thường là thiệt hại về tinh thần, vì vậy thiệt hại đó có thể không cụ thể, khó định lượng Ở nội dung này Ts Lê Nguyên Thanh trong luận án tiến s luật học của mình với đề tài “Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong TTHS Việt Nam” 4 phân tích rất cụ thể đã nêu ra các quan điểm khác nhau xác định người bị hại trong trường hợp người đã bị tội phạm đe dọa gây ra thiệt hại nhưng thiệt hại chưa xảy ra Tác giả đồng tình với TS Lê Nguyên Thanh khi cho rằng dấu hiệu “đã thực tế bị thiệt hại” không phải là dấu hiệu bắt buộc của người bị hại Chỉ cần có hành vi phạm tội đe dọa gây ra thiệt hại cho một người được xác định thì người đó là người bị hại mà không nhất thiết đã bị thiệt hại hay chưa và tội phạm đó có cấu thành vật chất hay cấu thành hình thức 5

BLTTHS năm 2015 ra đời là một bước tiến mới trong công tác lập pháp, đã có những quy định hợp lý, toàn diện và phù hợp với pháp luật quốc tế về quyền con người Đặc biệt đối với bị hại, BLTTHS năm 2015 quy định không chỉ bao gồm cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản như quy định tại BLTTHS năm 2003 mà còn bao gồm cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra Điều này giúp khắc phục hạn chế của BLTTHS

Trong luận án tiến sĩ luật học tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2012), Lê Nguyên Thanh trình bày về người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam, từ trang 28 đến 31.

Việc lấy lời khai của bị hại là một bước quan trọng trong tố tụng hình sự Việt Nam, được đề cập và phân tích trong các công trình nghiên cứu và luận văn Ví dụ, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thế Thắng (2019) tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã phân tích việc lấy lời khai của bị hại theo luật tố tụng hình sự Việt Nam Trong bối cảnh pháp luật năm 2003, hệ thống pháp lý đã tạo sự công bằng về địa vị pháp lý cho cá nhân, cơ quan và tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra Khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 quy định: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.” Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả đề cập đến thuật ngữ “bị hại” dưới góc độ là cá nhân (người bị hại).

Sau khi nghiên cứu các quan điểm và nhận thức về bị hại theo quy định của pháp luật hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm về bị hại: bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra Trong trường hợp bị hại dưới 18 tuổi hoặc có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, cha mẹ hoặc người giám hộ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại Khi bị hại chết, cha mẹ, vợ/chồng và con cái của bị hại tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp và có các quyền của bị hại.

Cùng với khái niệm bị hại, tác giả đi sâu vào tìm hiểu thuật ngữ “người dưới

“18 tuổi” được dùng để làm rõ chủ thể nghiên cứu về trẻ em và người chưa thành niên Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 quy định: trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp áp dụng có quy định tuổi thành niên sớm hơn Quy tắc Havana năm 1990 định nghĩa ngắn gọn: “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” Ủy ban Quyền con người nhấn mạnh trong ICCPR rằng giới hạn độ tuổi chưa thành niên được xác định bởi từng quốc gia tùy theo yếu tố xã hội, văn hóa và các điều kiện khác, nhưng quan điểm của cơ quan này là tất cả những người dưới 18 tuổi nên được đối xử như trẻ em ít nhất trong các vấn đề liên quan đến tư pháp hình sự Vì vậy, từ đầu, khung pháp lý của Liên Hợp Quốc có thể bao gồm một số nhóm trên 18 tuổi tùy theo văn bản và thời điểm áp dụng, nhưng về sau các quy định và thực tiễn về tuổi thành niên vẫn chủ yếu xác định là dưới 18 tuổi trong phạm vi trẻ em và tư pháp liên quan.

Trong bài viết của Lê Huỳnh Tấn Duy, một số nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản được nêu ở phần I – Những quy định chung – của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nhằm làm rõ những thay đổi then chốt trong hệ thống quy định chung của luật Đây là một phần trong tập sách do Võ Thị Kim Oanh làm chủ biên (2016) với tiêu đề Bình luận những điểm mới cơ bản của Bộ luật TTHS năm 2015, Nxb Hồng Đức, trang 17 Tác phẩm nhấn mạnh các điểm mới được coi là căn bản, có tác động đến cách hiểu và áp dụng các quy định chung trong tố tụng hình sự hiện hành.

8 The UN Rules for the Protection of Juveniles Deprived of their Liberty (“Havana Rules”), adopted by the

General Assembly resolution 45/113 of 14 December 1990, A/RES/45/113, Article 11.a

The UN Human Rights Committee's CCPR General Comment No 21, adopted on 10 April 1992, paragraph 13, replaces General Comment No 9 on humane treatment of persons deprived of liberty (Article 10) On the concept of the child in the Convention on the Rights of the Child, UN bodies have used the term “child” more commonly in their documents, a usage that is broadly equivalent to the term “minor” found in other UN texts.

Ở Việt Nam, khái niệm người chưa thành niên được quy định khác nhau tùy lĩnh vực; theo khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, trong khi pháp luật hình sự quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự từ 14 đến dưới 18 tuổi (trừ trường hợp mất năng lực trách nhiệm hình sự do mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức) Như vậy, pháp luật hình sự Việt Nam ghi nhận người chưa thành niên từ 14 đến dưới 18 tuổi, còn pháp luật dân sự dựa vào độ tuổi để xác định tư cách chủ thể tham gia quan hệ pháp luật Các văn bản pháp lý quốc tế và Việt Nam, gồm Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động và một số văn bản khác, đều ghi nhận độ tuổi dưới 18 là mốc xác định người chưa thành niên và quy định các chế định pháp lý riêng biệt đối với từng lĩnh vực Tuy nhiên, theo quy định pháp luật Việt Nam, Trẻ em được thừa nhận là người dưới 16 tuổi.

Trong nghiên cứu pháp luật Việt Nam, khái niệm "trẻ em" được dùng để chỉ những người dưới 16 tuổi, còn khái niệm "người chưa thành niên" được dùng để chỉ những người dưới 18 tuổi và bao gồm cả trẻ em; theo xu hướng chung của thế giới, cả hai danh xưng này đều được sử dụng để gọi những người dưới 18 tuổi.

Cơ sở của việc quy định về lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự

Việc ban hành, sửa đổi và bổ sung một đạo luật, một chế định pháp lý hay một quy phạm pháp luật phát sinh từ nhận thức lý luận và nhu cầu thực tiễn khách quan của xã hội Pháp luật đóng vai trò là công cụ để nhà nước điều chỉnh và quản lý xã hội, đảm bảo trật tự, công bằng và ổn định trong đời sống cộng đồng Mỗi lĩnh vực của đời sống xã hội có những đặc thù riêng, do đó ý chí của nhà nước và các biện pháp lập pháp phải thấu hiểu và phù hợp với những đặc thù ấy để quy định được hiệu quả và khả thi.

27 Võ Thị Kim Oanh, Trịnh Duy Thuyên (2015), "Một số vấn đề về lấy lời khai bị hại", Kỷ yếu tọa đàm Nạn nhân của tội phạm trong hệ thống tư pháp hình sự, Đại học Luật TP.HCM, tr 66, cho thấy việc lấy lời khai bị hại được diễn đạt và điều chỉnh khác nhau qua các văn bản pháp luật liên quan lĩnh vực này Pháp luật tố tụng hình sự nói chung, và chế định về lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi nói riêng, ra đời và phát triển theo đúng các quy luật pháp lý chung nêu trên.

Quy định về lấy lời khai của bị hại là người dưới 18 tuổi được xây dựng dựa trên yêu cầu tuân thủ quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế về tư pháp người chưa thành niên, đồng thời cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về bảo vệ quyền con người và quyền công dân Việc này nhằm bảo đảm quá trình lấy lời khai được tiến hành một cách nhạy cảm, bảo mật và an toàn cho trẻ vị thành niên, hạn chế tối đa tác động tâm lý đồng thời bảo vệ lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên Các quy định cũng nêu rõ trình tự, điều kiện và biện pháp hỗ trợ như sự tham gia của người bảo vệ và cơ chế giám sát nhằm đảm bảo tính khách quan và công bằng của quá trình điều tra Nội dung này phản ánh sự phù hợp giữa quy định trong nước và chuẩn mực quốc tế, đồng thời cụ thể hóa quyền con người và quyền công dân được Hiến pháp và các văn bản pháp lý liên quan bảo đảm.

Trong tư pháp hình sự hiện đại, phương pháp tiếp cận lấy bị hại làm trung tâm ngày càng phổ biến và quan trọng, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người bị hại được tôn trọng xuyên suốt quá trình tố tụng và xử lý vụ án Việc hoàn thiện chế định pháp lý đối với bị hại cũng được đẩy mạnh, giúp tăng cường sự tham gia, hỗ trợ và bảo vệ họ trước, trong và sau khi xảy ra vụ việc Đáng chú ý, bị hại dưới 18 tuổi luôn được đặc biệt quan tâm và có vị trí đặc thù trong pháp luật hình sự của quốc gia lẫn trong các chuẩn mực quốc tế, xuất phát từ cam kết bảo vệ quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế các quyền con người và các văn kiện liên quan Từ các nguyên tắc này, hệ thống tư pháp hình sự hướng tới một khuôn khổ công bằng, nhân văn và có trách nhiệm, nhằm tăng cường niềm tin của công chúng và hiệu quả bảo vệ bị hại.

Điều 8 trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 nêu rõ mọi người có quyền được các tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn và khắc phục các vi phạm quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật liên quan Công ước về quyền trẻ em nhấn mạnh trẻ em là nhóm dễ bị tổn thương về thể chất và trí tuệ, do đó cần được bảo vệ, chăm sóc và quan tâm đặc biệt Hướng dẫn năm 1997 về làm việc với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự cho rằng cần có một quy trình tư pháp toàn diện đối với người chưa thành niên, trong đó trẻ em được đặt ở vị trí trung tâm.

Mục tiêu của Công ước là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, thúc đẩy các quyền của chúng và trao cho trẻ em các quyền tố tụng, đồng thời tạo điều kiện cho việc thực hiện những quyền này bằng cách bảo đảm rằng trẻ em, tự mình hoặc thông qua người đại diện hoặc các cơ quan có thẩm quyền, được thông báo và tham gia vào các quá trình tố tụng có tác động đến mình trước cơ quan tư pháp Để bảo vệ bị hại là người dưới 18 tuổi, Liên Hợp Quốc đã ban hành một số văn bản tài liệu quy định.

28 Gudmundur Alfredsson & Asbjỉrn Eide (2011), Tuyờn ngụn quốc tế nhõn quyền 1948 mục tiờu chung của nhân loại, NXB Lao động – Xã hội, tr 208

Other instruments, such as the European Convention on the Exercise of Children's Rights (Art 1.2), General Comment 17 on the Right of the Child, and General Comment 32 on the Right to Equality Before Courts and Tribunals, articulate this framework In general, compared to the accused, victims under 18 have historically received less attention from the United Nations However, the current trend toward a victim-centered criminal justice system across many legal systems, along with the practice of taking testimonies from child victims under 18, has attracted increasing scholarly attention.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tôn trọng quyền con người luôn là kim chỉ nam cho hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, được thể hiện rõ qua các quy định của từng ngành luật và xem là một phần của nguyên tắc Hiến định 30 Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 quy định các nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, và nguyên tắc bảo vệ người dưới 18 tuổi Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi cho thấy chế định bị hại là người dưới 18 tuổi và các hoạt động tố tụng liên quan như lấy lời khai là một biểu hiện pháp lý tiến bộ của sự tôn trọng quyền con người Chế định này thiết lập cơ chế pháp lý vững chắc nhằm bảo vệ hữu hiệu quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi bị xâm hại bởi hành vi phạm tội.

Quy định về lấy lời khai của bị hại là người dưới 18 tuổi được xây dựng trên đặc điểm chung của bị hại

Người bị hại tham gia tố tụng hình sự với địa vị pháp lý đặc biệt, vừa cung cấp thông tin cho các chủ thể tiến hành tố tụng nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, vừa được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại bởi hành vi phạm tội Vai trò của người bị hại trong tố tụng hình sự là yếu tố pháp lý quan trọng giúp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Người bị hại là nạn nhân của tội phạm, là người trực tiếp bị thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do tội phạm gây ra; họ là đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp từ tội phạm.

Điều 414 BLTTHS năm 2015 nhấn mạnh rằng nạn nhân là nguồn thông tin quan trọng để xác định tội phạm, vì họ nắm giữ lượng lớn dữ liệu về các hành vi phạm pháp Để đưa tội phạm ra ánh sáng, cần có sự chủ động và tinh thần chống tội phạm từ phía nạn nhân để họ có thể khai báo những tội phạm chưa được phát hiện hoặc chưa được thụ lý Việc điều tra tội phạm thông qua nạn nhân đóng vai trò then chốt trong công tác dự báo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đồng thời nâng cao hiệu quả các biện pháp phòng ngừa và xử lý tội phạm.

Người bị hại, do chịu ảnh hưởng từ hành vi phạm tội, có thể nắm được những thông tin quan trọng về vụ án, người phạm tội và diễn biến của hành vi phạm tội Vì vậy, khi tham gia tố tụng, người bị hại sẽ cung cấp cho cơ quan điều tra và cơ quan tố tụng những thông tin họ biết về vụ án, người phạm tội và hành vi phạm tội Lời khai của người bị hại là chứng cứ rất quan trọng, giúp các cơ quan tố tụng làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án và hỗ trợ quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Người bị hại là người chịu thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và tham gia tố tụng với vị thế được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại Do đó, khi tham gia tố tụng, họ được trao các quyền năng pháp lý nhất định nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của mình bị xâm hại Thông qua việc thực thi các quyền này, người bị hại có thể cung cấp thông tin, lý lẽ và yêu cầu phù hợp để bảo vệ lợi ích hợp pháp trước các cơ quan tố tụng.

Quy định về lấy lời khai của bị hại dưới 18 tuổi được xây dựng dựa trên các đặc điểm riêng biệt của nhóm bị hại này, nhằm đảm bảo sự phù hợp với độ tuổi và khả năng nhận thức của họ Do đó, quá trình thu thập lời khai cho trẻ em và thanh thiếu niên yêu cầu phương pháp tiếp cận nhẹ nhàng, an toàn và bảo vệ tối đa quyền lợi của người bị hại, đảm bảo tính trung thực của lời khai mà vẫn giảm thiểu tổn thương tâm lý cho nạn nhân trong quá trình điều tra.

Pháp luật quy định trình tự, thủ tục tố tụng riêng biệt cho bị hại dưới 18 tuổi tham gia lấy lời khai bởi người tiến hành tố tụng nhằm tạo điều kiện cho họ thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng và bảo vệ họ trước những thiệt hại tâm lý, thể chất do tội phạm gây ra; trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bị hại là người có nguy cơ bị tổn thương kép vì phải đối mặt với thiệt hại trực tiếp và những hậu quả ngoài ý muốn, đặc biệt ở lứa tuổi chưa thành niên khi các ảnh hưởng này càng sâu sắc do hạn chế về thể chất và tinh thần; vì thế, lứa tuổi này cần được chăm sóc, bảo vệ và Nhà nước nên dành sự ưu ái nhằm bảo đảm và tôn trọng quyền cơ bản của trẻ em, đóng góp cho một xã hội phát triển với mục tiêu cao hơn; bảo vệ bị hại dưới 18 tuổi là một mục tiêu và nhiệm vụ của pháp luật, tuy nhiên để đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật, cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành lấy lời khai của bị hại dưới 18 tuổi một cách bảo đảm đầy đủ quyền lợi hợp pháp của người trực tiếp gánh chịu thiệt hại do tội phạm gây ra, đồng thời đây là cơ sở để hoàn thiện chế định lấy lời khai bị hại dưới 18 tuổi; nghiên cứu chế định này nhằm giảm thiểu mức độ tổn thương cho bị hại dưới 18 tuổi và giúp họ trở lại cuộc sống bình thường, hòa nhập với cộng đồng.

Nguyên tắc lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự

Nguyên tắc trong TTHS được xem là những tư tưởng tồn tại xuyên suốt trong quá trình thực hiện các hoạt động TTHS, là căn cứ để bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi nói riêng, vì những tư tưởng này phản ánh nhu cầu thực tế và sự cần được quan tâm, bảo vệ đặc biệt của bị hại là người dưới 18 tuổi Việc quy định các tư tưởng này thành các nguyên tắc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và cho thấy họ nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền con người của bị hại, cụ thể là người dưới 18 tuổi.

Trong tố tụng hình sự, 18 tuổi được xem là mốc pháp lý để thể chế hoá các quyền của các chủ thể tham gia bằng các quy định của pháp luật có tính bắt buộc thi hành Các quy định này đảm bảo sự nhất quán và xuyên suốt của các nguyên tắc tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là người dưới 18 tuổi phụ thuộc vào việc thực thi đầy đủ những nguyên tắc này, góp phần tăng hiệu quả bảo vệ và giảm thiểu rủi ro vi phạm quyền.

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS 36 thể hiện qua việc mọi công dân tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật; từ đó, người tham gia tố tụng như thẩm phán và các cơ quan tố tụng thực hiện đầy đủ nhiệm vụ được nhà nước và nhân dân giao phó, tìm ra sự thật khách quan của vụ án và mang lại công lý cho bị hại là người dưới 18 tuổi Đồng thời, người tham gia tố tụng có quyền hợp pháp và phải tuân thủ các nghĩa vụ khi lấy lời khai của bị hại dưới 18 tuổi, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ và không xâm phạm đến quyền lợi của bị hại.

Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân nhằm xác định trách nhiệm của người THTT khi lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi: họ phải luôn tôn trọng và bảo vệ các quyền mà bị hại dưới 18 tuổi được hưởng, đồng thời tránh mọi hành vi trái pháp luật gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Bạn có thể cung cấp nội dung bài viết hoặc ít nhất là các ý chính bạn muốn tóm tắt không? Hiện tại mình chỉ có tham khảo duy nhất, nên cần nội dung cụ thể để viết một đoạn văn đúng ý và chuẩn SEO Nếu bạn không có全文, bạn có thể cho mình danh sách từ khóa mục tiêu, độ dài mong muốn cho đoạn văn (ví dụ 150–200 từ) và phong cách (trang trọng, kỹ thuật, ngôn từ thân thiện) Mình sẽ tạo một đoạn văn SEO-friendly dựa trên các yếu tố đó.

Điều 8 BLTTHS năm 2015 quy định rằng các biện pháp cưỡng chế được áp dụng trong tố tụng hình sự chỉ khi thật sự cần thiết, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên, đặc biệt quyền của bị hại Đồng thời, người THTT phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp của các biện pháp này và kịp thời hủy bỏ khi không còn phù hợp, đảm bảo cho quyền của bị hại được bảo vệ tối đa và quá trình tố tụng diễn ra công bằng.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể 38 và nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản cá nhân 39 :

Bị hại là người dưới 18 tuổi là người chịu thiệt hại về mặt thể chất, tinh thần và tài sản do tội phạm gây ra; xét về bản chất, họ là nhóm chịu nhiều tổn thương nhất trong hệ thống bảo vệ quyền và lợi ích Dù ở vai trò công dân, bị hại dưới 18 tuổi cũng như các chủ thể khác cần được bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản khi tham gia vào các quan hệ xã hội Việc bảo đảm quyền này giúp bị hại dưới 18 tuổi không sợ bị tác động bởi các hành vi trái pháp luật khi tham gia vào hoạt động lấy lời khai trước cơ quan THTT Khi họ hoặc người thân của họ bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản, các cơ quan THTT phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ họ.

Nguyên tắc xác định sự thật trong vụ án không chỉ là một nguyên tắc của tòa án hình sự mà còn là mục tiêu cuối cùng khi giải quyết vụ án Việc xác định ai là người phạm tội và hành vi gây thiệt hại cho bị hại dưới 18 tuổi cũng như cho xã hội là nhiệm vụ vô cùng quan trọng Cơ quan điều tra và viện kiểm sát có trách nhiệm cung cấp chứng cứ và làm rõ sự thật vụ án Nếu một hành vi phạm tội được thực hiện mà sự thật không được làm rõ sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy đáng tiếc: người phạm tội có thể thoát khỏi vòng pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là người dưới 18 tuổi không được bảo đảm, pháp chế bị lung lay, và quan trọng nhất là niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội công bằng do dân, vì dân có thể bị mất đi Chính vì vậy, việc xác định sự thật của vụ án không chỉ bảo vệ bị hại là người dưới 18 tuổi mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, củng cố pháp chế và tăng cường niềm tin của nhân dân vào một hệ thống xã hội chủ nghĩa công bằng.

18 tuổi mà còn bảo vệ cho cả hệ thống pháp luật xã hội chủ ngh a

Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự (THTT 41) đòi hỏi sự minh bạch, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi quyết định và hành động liên quan đến quá trình điều tra, truy tố và xét xử Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự (THTT 42) đảm bảo việc khởi tố, truy tố và xử lý vụ án được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị tố giác và xã hội Bên cạnh đó, nguyên tắc tuân thủ nhấn mạnh sự tôn trọng các quy định của pháp luật, chuẩn mực nghề nghiệp và cơ chế kiểm tra, giám sát nhằm duy trì công bằng, minh bạch và hiệu quả của quá trình tố tụng.

42 Điều 18 BLTTHS năm 2015 pháp luật trong hoạt động điều tra 43 : Để quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng được đảm bảo, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan THTT và người THTT trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự, pháp luật TTHS yêu cầu họ phải chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật Họ là những người nắm trong tay quyền lực nhà nước, sử dụng sức mạnh này để đưa pháp luật vào thực tế nên thông qua những hoạt động của mình họ phải đảm bảo cho vụ án hình sự được phát hiện một cách chính xác, mọi hành vi phạm tội phải được xử lý nghiêm minh và kịp thời Không để lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội

Thông qua việc khởi tố và xử lý vụ án hình sự, sự thật khách quan được làm rõ, người phạm tội phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì những hành vi sai trái của mình Đồng thời, họ phải đền bù cho những tổn thương và mất mát mà bị hại là người dưới 18 tuổi phải gánh chịu Chính vì vậy, đảm bảo nguyên tắc này khi lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi là một trong những hình thức đảm bảo quyền con người của bị hại là người dưới 18 tuổi

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tham gia tố tụng là nền tảng để bảo vệ quyền lợi của bị hại Đối với bị hại là người dưới 18 tuổi, nguyên tắc này cho phép họ thực hiện đầy đủ các quyền mà pháp luật đã dành cho họ mà không sợ bị người có thẩm quyền hạn chế khi tham gia hoạt động lấy lời khai.

1.3.2 Những nguyên tắc đặc thù

Nguyên tắc bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa và quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi Các thủ tục tố tụng đối với bị hại là người dưới 18 tuổi chỉ đạt yêu cầu khi được áp dụng một cách chắc chắn để tạo sự thân thiện, gần gũi, không gây áp lực tâm lý, sợ hãi hay quá khó hiểu đối với họ Khi thực hiện, phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi được bảo vệ như đối với người đã thành niên Ngoài ra, trong những trường hợp có sự tùy nghi lựa chọn các hành vi tố tụng, cần hướng dẫn người tiến hành các hành vi ấy theo hướng bảo vệ quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi.

46 Khoản 5 Điều 414 BLTTHS năm 2015 quy định rằng khi bị hại là người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng, cần có sự giám hộ và trợ giúp pháp lý phù hợp; khi tiến hành điều tra các vụ án liên quan đến bị hại là người dưới 18 tuổi, cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) phải phân công điều tra viên và kiểm sát viên được đào tạo hoặc có kinh nghiệm về điều tra cho người dưới 18 tuổi, hoặc có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục, có kỹ năng giao tiếp và thái độ tôn trọng đối với người dưới 18 tuổi Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các quy trình, thủ tục tố tụng, đội ngũ THTT và các cơ sở - vật chất, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động tố tụng cũng phải phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của người dưới 18 tuổi; đồng thời nhằm đảm bảo quyền được trợ giúp pháp lý cho bị hại là người dưới 18 tuổi và xuất phát từ quyền được xét xử công bằng, từ nguyên tắc bảo đảm tranh tụng và từ chính sách của Nhà nước đối với nhóm người dễ tổn thương và chưa có đủ khả năng để tự bảo vệ về mặt pháp lý so với các nhóm tuổi khác Thêm vào đó, nguyên tắc này còn đặt ra yêu cầu hạn chế đến mức thấp nhất số lần tiếp xúc giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo; và áp dụng các biện pháp phù hợp, cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo đảm bị hại dưới 18 tuổi khi tham gia hoạt động lấy lời khai của cơ quan THTT cũng như người thân thích của họ được an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác khi các quyền ấy bị đe dọa hoặc bị xâm hại.

Nguyên tắc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân của người dưới 18 tuổi được áp dụng nghiêm ngặt trong quá trình điều tra và lấy lời khai Khi tiến hành lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi, cơ quan tiến hành tố tụng và các cán bộ tham gia không được tiết lộ hay để lọt bất cứ thông tin cá nhân nào của bị hại Các thông tin nhạy cảm như danh tính, địa chỉ, số điện thoại hay dữ liệu liên quan khác phải được bảo vệ tuyệt đối và chỉ xử lý theo đúng quy định của pháp luật Mục tiêu của nguyên tắc này là bảo vệ quyền riêng tư và an toàn cho trẻ em, giảm thiểu rủi ro bị xâm phạm tâm lý đồng thời đảm bảo quá trình điều tra diễn ra minh bạch và có cơ sở pháp lý.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ LẤY LỜI KHAI BỊ HẠI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

NHU CẦU, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ LẤY LỜI KHAI BỊ HẠI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN

Ngày đăng: 27/10/2022, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2015 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2015 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội;B. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
16. Bộ Công an (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Nhà xuất bản CAND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Nhà xuất bản CAND
Năm: 2018
17. Trần Văn Biên và Định Thế Hưng (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Trần Văn Biên và Định Thế Hưng
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2016
18. Nguyễn Ngọc Anh và Phan Trung Hoài (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, NXB Chính trị quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh và Phan Trung Hoài
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2018
19. Nguyễn Cao Cường (2018), “Lấy lời khai và kiểm sát lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, Số (06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lấy lời khai và kiểm sát lấy lời khai bị hại là người dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Cao Cường
Năm: 2018
20. Bùi Hữu Danh (2013), “Hoạt động lấy lời khai người làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc s học, Trường Đại học Luật Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động lấy lời khai người làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Bùi Hữu Danh
Năm: 2013
21. Đinh Văn Đoàn (2016), “Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và những người tham gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 21. Đinh Văn Đoàn (2016), “Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và những người tham gia
Tác giả: Đinh Văn Đoàn
Năm: 2016
5. Bộ luật Hình sự năm 1999 (Luật số 15/1999/QH10) ngày 21/12/1999 Khác
6. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 (Luật số 12/2017/QH14) ngày 20/6/2017 Khác
7. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 (Luật số 7-LCT/HĐNN8) ngày 28/6/1988 Khác
8. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (Luật số 19/2003/QH11) ngày 26/11/2003 Khác
9. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Luật số 101/2015/QH13) ngày 27/11/2015 Khác
10. Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 (Luật số 99/2015/QH13) ngày 26/11/2015 Khác
11. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình Khác
13. Thông tư số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi Khác
14. Thông tư số 01/2006/TT-BCA (C11), ngày 12/01/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35 BLTTHS năm 2003 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w