CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Thuế và vai trò của thuế 1.1.1 Khái niệm và phân loại thuế 1.1.1.1 Khái niệm về thuế Thu
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quảnghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ mộtnguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã đượcthực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lưu Thị Mai
Trang 2Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sựhướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các quý thầy cô, các anh chị trong tập thể lớp Vớilòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:Ban Giám hiệu Trường Đại học Thủy Lợi, và các thầy cô giáo đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn;
PGS.TS.Nguyễn Bá Uân, Thầy đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, truyền đạt những kinhnghiệm thực tế quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận vănnày;
Xin gửi lời cảm ơn tới những ý kiến đóng góp, động viên của gia đình, bạn bè, cácanh/chị lớp cao học 24QLKT12 trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn;Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn, phòng Thanhtra thuế, Kiểm tra thuế đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tác giả nguồn tài liệutham khảo quý báu, cảm ơn tất cả các tác giả của những cuốn sách, bài viết, công trìnhnghiên cứu và website hữu ích được đề cập trong danh mục tài liệu tham khảo củaluận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lưu Thị Mai
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TĂT viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 3
1.1 Thuế và vai trò của thuế 3
1.1.1 Khái niệm và phân loại thuế 3
1.1.2 Vai trò của thuế 5
1.2 Cơ sở lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế 7
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế 7
1.2.2 Mục tiêu của thanh tra, kiểm tra thuế 11
1.2.3 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế 11
1.2.4 Yêu cầu đối với thanh tra, kiểm tra thuế 13
1.2.5 Phân loại thanh tra, kiểm tra thuế 14
1.3 Nội dung, phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế 15
1.3.1 Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 15
1.3.2 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế 17
1.4 Chỉ tiêu đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra thuế 20
1.4.1 Kết quả thực thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế 20
1.4.2 Mức độ hoàn thành kế hoạch 21
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp 21
1.5.1 Các nhân tố khách quan 21
1.5.2 Các nhân tố chủ quan 22
1.6 Căn cứ pháp lý về công tác thanh tra, kiểm tra thuế 24
1.6.1 Đối với hoạt động kiểm tra thuế 24
1.6.2 Đối với hoạt động thanh tra thuế 25
Trang 41.6.3 Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động
thanh tra, kiểm tra thuế 26
1.7 Kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra thuế 27
1.7.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới 27
1.7.2 Tổng hợp bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới về công tác thanh tra và kiểm tra thuế 30
1.7.3 Kinh nghiệm về kiểm tra sổ sách kế toán và các giao dịch điện tử của người nộp thuế 32
1.8 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 33
Kết luận chương 1 36
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CỤC THUẾ TỈNH LẠNG SƠN 37
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn 37
2.2 Tổ chức bộ máy Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 38
2.2.1 Tổ chức bộ máy Cục thuế tỉnh Lạng Sơn 38
2.2.2 Tổ chức bộ máy công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 41
2.3 Thực trạng công tác thanh tra thuế, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Lạng Sơn 45
2.3.1 Công tác lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 45
2.3.2 Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 50
2.3.3 Công tác thanh tra, kiểm tra tại trụ sở NNT 54
2.3.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến tác thanh tra thuế, kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp tại Cục thuế tỉnh Lạng Sơn 56
2.4 Đánh giá chung về công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Lạng Sơn thời gian qua 60
2.4.1 Những kết quả đạt được 60
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 61
Kết luận chương 2 70
Trang 5CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
TỈNH LẠNG SƠN 71
3 1 Quan điểm đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế71 3.1.1 Ph hợp với chiến lược cải cách thuế 72
3.1.2 Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của quản lý thuế 72
3.1.3 Ph hợp với điều kiện thực tế khách quan 73
3.1.4 Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp 73
3.2 Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Lạng Sơn 74
3.2.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 74
3.2.2 Nhóm các giải pháp về chuyên môn – nghiệp vụ 77
3.2.3 Nhóm giải pháp khác 88
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tổ chức bộ máy Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 40
Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn 41
Hình 2.3 Tỷ lệ kiểm tra hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp từ 2014-2016 47
Hình 2.4: Các bước lập kế hoạch thanh tra thuế 48
Hình 2.5 Các bước tổ chức thực hiện kế hoạch 51
Hình 2.6 Các bước tổ chức thực hiện kế hoạch 52
Hình 2.7: Tỷ lệ kê khai điều chỉnh sau kiểm tra hồ sơ khai thuế giai đoạn 2014 –
2016 54
Hình 2.8: Các bước kiểm tra đối chiếu số liệu 55
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả thực hiện kiểm tra hồ sơ khai thuế giai đoạn 2014-2016 47
Bảng 2.2: Kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế giai đoạn 2014 – 2016 50
Bảng 2.3: Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế giai đoạn 2014 – 2016 53
Bảng 2.4 Kết quả thanh tra, kiểm tra thuế giải đoạn 2014-2016 56 Bảng 2.5 Kết quả tổ chức triển khai công tác thanh tra, kiểm tra tại trụ sở NNT61
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TĂT
DIF: Discriminant Function/ Chức năng phân biệt
RC: Risk Control/ Kiểm soát rủi ro
RD: Risk Detection/ Phát hiện rủi ro
RI Risk of inspection/ Rủi ro thanh tra
TTr: Thanh tra
XNK: Xuất nhập khẩu
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng nhất trong công tácquản lý thuế, vì thanh tra, kiểm tra thuế là cách thức cơ bản để cơ quan thuế cảnh báo,ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những gian lận, sai phạm về thuế Thanh tra, kiểm trathuế cũng giúp phát hiện những bất hợp lý trong chính sách thuế và pháp luật thuế đểnghiên cứu bổ sung, sửa đổi kịp thời nhằm phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong việcđảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Vì vậy, muốnnâng cao hiệu quả quản lý thuế, cơ quan thuế các cấp cần phải thường xuyên hoànthiện và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trong những năm qua, Ngành Thuế tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ thungân sách, tỷ lệ thu năm sau luôn cao hơn năm trước Trong kết quả chung của NgànhThuế tỉnh Lạng Sơn có phần đóng góp không nhỏ của công tác thanh tra, kiểm trathuế Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách nghiêm túc, công tác thanh tra, kiểm tra thuếtại Cục thuế tỉnh Lạng Sơn vẫn còn những hạn chế nhất định, cần nghiên cứu hoànthiện để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế hơn nữa Mặc dù tại Cục thuế tỉnhLạng Sơn, nơi quản lý số thu của các doanh nghiệp vừa và lớn của Tỉnh, công tácthanh tra, kiểm tra thuế tuy đã có nhiều cố gắng song vẫn chưa đáp ứng đòi hỏi củathực tiễn
Vận dụng những kiến thức đã được học tập trong Nhà trường kết hợp với thực tế sảnxuất, sự giúp đỡ của đồng nghiệp và thầy cô, xuất phát từ yêu cầu thực tế trong quá
trình công tác, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Lạng Sơn” với hy vọng việc thực hiện đề
tài nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thành tốt hơn nữa của Ngành Thuế tỉnh Lạng Sơn
1.2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanhnghiệp tại Cục thuế tỉnh Lạng Sơn hiện nay, trên cơ sở đó sẽ đề xuất một số giải phápnhằm hoàn thiện công tác trên góp phần nâng cao hiệu quả công việc cho Cục thuế
Trang 101.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận chung về công tác thanh tra, kiểm tra; hệ thống các văn bản, chế độ,chính sách hiện hành về công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý thuế và tình hình thựchiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra của Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn trong những năm vừaqua Trong luận văn, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu chung của khoahọc kinh tế như:
- Phương pháp hệ thống hóa: Trên cơ sở hệ thống và rà soát các công tác, thanh tra,kiểm tra, cũng như hệ thống hóa các quy định văn bản chính sách hiện hành có liênquan
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các nghiên cứu có liên quan đến hoạt động thanh tra,kiểm tra trong lĩnh vực thuế
- Phương pháp thu thập sử lý số liệu: Thu thập các số liệu thứ cấp và sơ cấp có liênquan đến nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở so sánh đối chiếu các công tác thanh tra
và kiểm tra để tìm ra những vấn đề chung và những hạn chế còn tồn tại
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã thực hiện phân tích định tính và địnhlượng, thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau
1.4 Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: Là công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh
nghiệp của Cục thuế tỉnh Lạng Sơn và các nhân tố ảnh hưởng đến thành quả và chấtlượng của công tác này
b Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung và không gian: Công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các
doanh nghiệp do Cục thuế tỉnh Lạng Sơn quản lý
- Phạm vi về thời gian: Sử dụng các số liệu trong giai đoạn 2014– 2016 để phân tích
đánh giá thực trạng Các giải pháp được đề xuất cho giai đoạn 2017-2021
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THANH
TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1.1 Thuế và vai trò của thuế
1.1.1 Khái niệm và phân loại thuế
1.1.1.1 Khái niệm về thuế
Thuế là khoản trích nộp bằng tiền, mang tính bắt buộc, thể hiện tính quyền lực nhànước…do các tổ chức cá nhân nộp cho nhà nước khi đủ điều kiện nhất định nhằm đápứng việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
1.1.1.2 Phân lại các sắc thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế thành những nhóm theo những tiêu thứcnhất định nhằm đáp ứng yêu cầu về nghiên cứu, phân tích kinh tế, xây dựng và quản lý
hệ thống thuế Phân loại thuế có ý nghĩa quan trọng trong quản lý thu thuế từ khâu xâydựng chính sách thuế đến triển khai thực hiện Tùy theo yêu cầu quản lý mà hệthống thuế được phân theo các loại thuế khác nhau, dưới đây là một số cách phân loạichủ yếu:
- Theo mục đích điều tiết: Các sắc thuế được phân thành hai loại là thuế trựcthu và thuế gián thu
Thuế trực thu: là thuế mà người, hoạt động, đồ vật chịu thuế và nộp thuế là một Ví Dụ
như một người nhập hàng hóa từ nước ngoài về và tiêu d ng luôn, hay như thuế thunhập doanh nghiệp hay thuế thu nhập cá nhân, tài sản Thuế đánh lên thu nhập hoặctài sản với kỳ vọng rằng người bị thu thuế sẽ thực sự là người bị mất sức mua
Thuế gián thu: là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế (NNT) không cùng là
một Chẳng hạn, chính quyền đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lạichuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịuthuế là người tiêu dùng cuối cùng Ví dụ: thuế giá trị gia tăng (GTGT) ,thuế xuất nhậpkhẩu (XNK), thuế tiêu thụ đặc biệt được thu từ nhà sản xuất, người bán hàng với kỳvọng chúng sẽ được chuyển sang cho người tiêu dùng Thuế này chuyển sức mua khỏi
Trang 12người tiêu dùng cuối cùng bằng cách tạo khoảng chênh lệch giữa số tiền chi trả chonhà sản xuất và giá bán.
- Theo đối tượng tính thuế: Với cách phân loại này, hệ thống thuế được chia thành 3loại: thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ; thuế đánh vào thu nhập và thuế đánh vào tàisản
Thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ: là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là các loại hàng
hóa, dịch vụ Các loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ được tính vào giá bán nên vềthực chất là loại thuế do người tiêu dùng gánh chịu, loại thuế này cho phép mọi người
tự do lựa chọn hàng hóa, quyết định tiêu d ng để chịu thuế cao hay thấp tùy ý thích vàtúi tiền của mình Các loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ được thể hiện dưới các sắcthuế như: thuế Giá trị gia tăng, thuế Tiêu thụ đặc biệt…
Thuế đánh vào thu nhập: là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập kiếm
được Thu nhập được hình thành từ nhiều nguồn như: tiền lương, tiền công, hoạt độngsản xuất kinh doanh… do thu nhập được thể hiện ở nhiều dạng nên thuế thu nhập cũng
có nhiều loại: thuế Thu nhập cá nhân, thuế Thu nhập doanh nghiệp
Thuế đánh vào tài sản: là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản của người
chịu thuế như: nhà cửa, đất đai, chứng khoán
- Theo cơ chế phân cấp quản lý ngân sách: Dựa vào tiêu thức này, thuế được phânthành thuế trung ương và thuế địa phương
Thuế trung ương: là những loại thuế ngân sách trung ương được hưởng 100% Ví dụ:
thuế XNK , thuế Giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu, thuế Tiêu thụ đặc biệt khâu nhậpkhẩu…
Thuế địa phương: Là những loại thuế ngân sách địa phương được hưởng 100% Ví dụ:
thuế Nhà đất, thuế Tài nguyên, Phí bảo vệ môi trường…v.v
Căn cứ quy định của luật ngân sách nhà nước còn có thuế điều tiết giữa ngân sáchtrung ương và ngân sách địa phương, đây là các loại thuế được phân phối giữa các cấpngân sách theo tỷ lệ nhất định nhằm góp phần đảm bảo cân đối một cách linh hoạt giữa
Trang 13ngân sách trung ương và địa phương trong hệ thống ngân sách nhà nước.Những loạithuế phân chia giữa ngân sách trung ương và địa phương như: thuế Giá trị gia tăngtrong nước, thuế Tiêu thụ đặc biệt trong nước, thuếThu nhập đối với người có thu nhậpcao
1.1.2 Vai trò của thuế
Thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xãhội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức canthiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối vớiqúa trình phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnhsau đây:
-Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
-Là công cụ giúp nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
-Là công cụ điều tiết thu nhập và thực hiện công bằng xã hội
Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vậtchất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngânsách Nhà nước, Thuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nềnkinh tế Ðiều 26 Hiến pháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tếquốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách Thuế là một bộ phận của hệ thốngpháp luật Việt Nam, Thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Thôngqua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hoá và thực hiệnchính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội
Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhậpquốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Hiện nay nguồn thunước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển thành có vay có trả Trước tiên,thuế là một công cụ quan trọng để góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện
và tiền đề cho việc phát triển lâu dài
Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thốngnhất giữa các thành phần kinh tế Thuế đã điều chỉnh được hầu hết các hoạt động sản
Trang 14xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng xã hội Ðây là nguồn thu chínhcủa ngân sách Nhà nước.
Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống
xã hội Ðiều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của Nhànước trong điều kiện nền kinh tế thị trường Thông qua các quy định của pháp luậtthuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảmthuế Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế Vai trò này củapháp luật thuế được thể hiện ở chổ pháp luật thuế là công cụ tác động đến tư duy đầu
tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viêntrong xã hội Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu
tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế thịtrường Thông qua các quy định của pháp luật thuê,ỳ Nhà nước tác động đến các quan
hệ tiêu dùng của xã hội Nhằm hạn chế việc tiêu d ng đối với một số hàng hóa, dịch
vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế XNK đối với việc sản xuấtkinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó
Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
và công bằng xã hội
Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, cácthành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xãhội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân và pháp nhân
Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhaugiữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt độnggiống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng
Trang 15Vai trò điều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác động của pháp luật thuếđối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội.
1.2 Cơ sở lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế
Theo từ điển tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địaphương, cơ quan xí nghiệp” thanh tra là “Loại hình đặc biệt của kiểm tra”
Theo Luật thanh tra số 56/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chínhsách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhànước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật,nhiệm vụ, quyền hạn được giao Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơquan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhântrong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quytắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó
Thanh tra thuế là “hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra
của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lýnhững hành vi trái pháp luật “
Theo các quan niệm trên có thể hiểu thanh tra thuế là thanh tra chuyên ngành, Thanh
tra thuế là hoạt động thanh tra của cơ quan thuế các cấp đối với các cơ quan, tổ chức
và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận đúng,sai, đánh giáưu, khuyết điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, phòng ngừa,phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế chống thất thu cho Ngân sách Nhànước
Trang 16Về khái niệm kiểm tra, theo từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, kiểmtra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” Theo từ điển Luật học, kiểmtra là “xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nóichung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét…”.
Theo Giáo trình Quản lý thuế, “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc
xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm
vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá”
Kiểm tra, theo giáo sư Michel Bouvier, là “hoạt động nhằm xem xét tính trung thực,tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai” (Nguồn: Nhập môn
về Luật thuế đại cương và lý thuyết thuế - tác giả: GS Michel Bouvier- Nhà xuất bảnChính trị Quốc gia 2005)
Tổng hợp các quan điểm và khái niêm trên thì hiểu Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ
quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếuvới chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhậnxét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra
Thanh tra thuế và kiểm tra thuế có những điểm giống nhau sau:
- Về mục đích: Thanh tra, kiểm tra thuế đều là nội dung quan trọng của quản lý thuế.Đều có cùng mụcđích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, gópphần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luậtthuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
- Về chủ thể: Chủ thể thanh tra thuế, kiểm tra thuế là cơ quan nhà nước có thẩm quyềntheo quy định của pháp luật, thường là cơ quan thuế
- Về đối tượng: Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân cónghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước
- Về nội dung: Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế củangười nộp thuế
Trang 17- Về phương pháp: Thanh tra, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động thực tế củađối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng một cách chính xác,khách quan, làm rõđúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý viphạm.
Ngoài ra, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạntrong hoạt động quản lý thuế mà nóđược thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lýthuế
Sự khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra thuế:
- Thứ nhất, chủ thể của thanh tra thuế không đồng nhất với đối tượng thanh tra thuếnhưng chủ thể kiểm tra thuế có thể không đồng nhất hoặc đồng nhất với đối tượngkiểm tra, chẳng hạn tự kiểm tra nội bộ thì chủ thể vàđối tượng kiểm tra đồng nhất
- Thứ hai, tính chất của thanh tra thuế là một hoạt động dựa vào quyền lực của cơ quanquản lý Nhà nước Kiểm tra thuế là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lựccủa cơ quan quản lý Nhà nước có thể chỉ là hoạt động quản lýđơn thuần
-Thứ ba, nội dung hoạt động thanh tra thuế thường là kiểm tra ở giai đoạn sau, khi cácnghiệp vụ kinh tế đã phát sinh Nội dung thanh tra thuế thường là những vấn đề phứctạp, bản chất vấn đề thường được che giấu có chủ ý nên khó nhận biết Nội dung kiểmtra thuế thường là những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết Tất nhiên, nội dung kiểm trathuế bao gồm cả những nội dung cụ thể của kiểm tra trước, kiểm tra trong và kiểm trasau khi các hoạt động kinh tế phát sinh
- Thứ tư, do mức độ nghiêm trọng của sự việc cần thanh tra, nên thời gian để tiến hànhmột cuộc thanh tra thuế thường dài hơn một cuộc kiểm tra thuế
Từ những phân tích trên, có thể rút ra nhận xét sau: Thanh tra thuế và kiểm tra thuếmặc dù có những điểm khác nhau nhưng đều là hoạt động không thể thiếu trong côngtác quản lý thuế Việc phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế không chỉ cóý nghĩa vềmặt lý luận mà còn cóý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành
để tránh chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho các tổ chức, cá nhânlàđối tượng thanh tra, kiểm tra thuế.Doanh nghiệp là một đối tượng, đơn vị tổ chức có
Trang 18các hoạt động sản xuất kinh doanh, liên quan đến nghĩa vụ phải đóng thuế do đó cũngchịu sự kiểm tra thanh tra của các cơ quan thuế.
1.2.1.2 Đặc điểm của thanh tra, kiểm tra
Thanh tra, kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế có phạm vi rộng Đối tượng thanh tra, kiểm tra là
các tổ chức, cá nhân trong ngành Thuế, là đối tượng nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và
cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó đụng chạm
trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế Để che giấu các hành vi trốn thuếnhằm bảo vệ lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biệnpháp cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn
và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này Để xác định đúngđắn nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắmchắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đốitượng thanh tra, tức là người cán bộ thanh tra còn phải có sự am hiểu sâu rộng về kinh
tế, giỏi kế toán, sâu sắc trong tư duy lô gíc Đồng thời, người cán bộ thanh tra thuếcần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việctrong môi trường có sự cám dỗ về vật chất
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan đến lợi íchkinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội Do đó, công tác thanh tra, kiểmtra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, xử
lý đúng người đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được thanh tra,kiểm tra Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của thanh tra, kiểm tra thuế vì chỉ khiđảm bảo những yêu cầu này mới đạt được mục đích của công tác thanh tra, kiểm trathuế, mới làm cho thanh tra, kiểm tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới cóđược sự tin tưởng của quần chúng nhân dân
Trang 19Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều
kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến Đảm bảo công khai, dân chủ làyêu cầu quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế vì thông qua đó phát huyđược sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủpháp luật Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằmkhắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước; ngăn chặn đúng lúc cáchành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa,
loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác thanh tra,kiểm tra thuế; đạt được yêu cầu này thì công tác thanh tra, kiểm tra thuế mới làm trònchức năng và nhiệm vụ của mình
1.2.2 Mục tiêu của thanh tra, kiểm tra thuế
Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nhằm giúp người nộp thuế và cơ quan thuếthực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảmbảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành thuế
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luậtthuế của người nộp thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lýnhững mặt tiêu cực
Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế các cấp cóthể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảmbảo công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trìnhquản lý thu thuế ngày càng hiệu quả, hợp lý hơn
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.2.3 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế
Để đạt được mục đích trên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân thủ nhữngnguyên tắc nhất định Đó là các nguyên tắc sau:
Trang 20- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật:
Pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Thanh tra,kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật Đâycũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể thanh tra, kiểm tra;nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra thuế; ngăn chặn tình trạng làm tráipháp luật, vô hiệu hoá hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và cán bộ thanh tra, kiểm trathuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định;xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật,không tuân theo ý kiến của bất cứ một cơ quan hoặc cá nhân nào Kết luận thanh tra,kiểm tra theo đúng quy định pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật
- Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan:
Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trongcông tác thanh tra, kiểm tra Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác thanhtra, kiểm tra thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lýđúng người đúng việc, đúng pháp luật
Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phảitôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quychụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải phản ánh vàđánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vìquyền lợi cá nhân; phải tỷ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng,hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn
- Nguyên tắc công khai, dân chủ:
Tính công khai trong thanh tra, kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dânbiết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ củanhân dân Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: công khai quyết định
Trang 21thanh tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng có liên quan và công bố công khai kếtluận thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, tuỳ trường hợp cụ thể mà xác định phạm vi côngkhai và hình thức công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mậtngười tố cáo, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả thanh tra,kiểm tra cao nhất.
Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôntrọng quần chúng, lấy dân làm gốc Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằmlôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như lànhững tai mắt của lực lượng thanh tra, kiểm tra Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phảicoi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiệncho đối tượng thanh tra, kiểm tra được trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyếtcác khiếu nại, tố cáo của công dân
- Nguyên tắc bảo vệ bí mật:
Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh tra, kiểm tra thuế là vì trong qúa trình thanhtra, kiểm tra người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quanđến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật quốc gia Nếu để lộ chonhững đối tượng không đựơc phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và cácdoanh nghiệp Do vậy, họ chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết
- Nguyên tắc hiệu quả:
Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho thanh tra, kiểm tra thuế đạt được mục đíchcủa nó Nguyên tắc này đòi hỏi thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả,nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảogiúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế
1.2.4 Yêu cầu đối với thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan đến lợi íchkinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội Do đó, công tác thanh tra, kiểmtra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Trang 22Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, xử
lý đúng người đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được thanh tra,kiểm tra Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của thanh tra, kiểm tra thuế vì chỉ khiđảm bảo những yêu cầu này mới đạt được mục đích của công tác thanh tra, kiểm trathuế, mới làm cho thanh tra, kiểm tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới cóđược sự tin tưởng của quần chúng nhân dân
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều
kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến Đảm bảo công khai, dân chủ làyêu cầu quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế vì thông qua đó phát huyđược sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủpháp luật Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằmkhắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước; ngăn chặn đúng lúc cáchành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa,
loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác thanh tra,kiểm tra thuế; đạt được yêu cầu này thì công tác thanh tra, kiểm tra thuế mới làm trònchức năng và nhiệm vụ của mình
1.2.5 Phân loại thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế được chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu thức phânloại Cụ thể như sau:
- Theo yếu tố thời gian:
+ Thanh tra, kiểm tra thuế thường xuyên: Đây là hoạt động thanh tra, kiểm tra diễn rađịnh kỳ, lặp đi lặp lại theo chu kỳ hàng ngày, hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm.Hoạt động kiểm tra thường xuyên thường được tiến hành tại cơ quan thuế đối với hồ
sơ khai thuế của NNT và được thực hiện thường xuyên đối với nội bộ cơ quan thuế.Hoạt động thanh tra, kiểm tra thường xuyên hàng năm thường được tiến hành tại trụ sởcủa NNT đối với những NNT được xếp vào nhóm rủi ro cao
+ Thanh tra, kiểm tra thuế bất thường: Đây là một trong những hình thức chủ yếu của
Trang 23thanh tra trong lĩnh vực xét và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân; thườngđược tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan có chức năng thanhtra, kiểm tra hay do lãnh đạo đơn vị đặt ra.
- Theo yếu tố phạm vi:
+ Thanh tra, kiểm tra từng phần: thường được áp dụng với một sắc thuế nhất định hoặcmột phần của quy trình thu nộp
+ Thanh tra, kiểm tra toàn phần: Áp dụng trên toàn diện các mặt công tác của một cơquan thuế, một cá nhân hay toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất cả các sắc thuế
có liên quan của một đối tượng nộp thuế
- Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra:
+ Thanh tra, kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế): Công tác kiểm tra các hồ sơ liên quanđến việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh được thực hiện tại cơ quan thuế.+ Thanh tra, kiểm tra tại cơ sở kinh doanh: Công việc thanh tra, kiểm tra được thựchiện tại trụ sở của NNT ; cho phép cán bộ thanh tra, kiểm tra tiếp cận với tình hìnhthực tế, tài liệu cụ thể của cơ sở như sổ sách chứng từ kế toán, quỹ tiền mặt thực tế,sản phẩm tồn kho thực tế…
1.3 Nội dung, phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế
1.3.1 Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
1.3.1.1 Đối với kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
Cơ quan thuế thực hiện việc kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ khai thuế (Tờ khaithuế và các phụ lục của tờ khai theo quy định của pháp luật), đối chiếu với cơ sở dữliệu của NNT và tài liệu có liên quan về NNT , để phân tích, đánh giá tính tuân thủhoặc phát hiện các trường hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuế,gian lận thuế
1.3.1.2 Thanh tra, kiểm tra tại trụ sở NNT
Căn cứ vào quyết định thanh tra, kiểm tra thuế, đoàn kiểm tra phải thực hiện quá trìnhtập hợp và phân tích rủi ro các thông tin chuyên sâu tại cơ quan thuế, nhằm kiểm tra
Trang 24tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính, các nghi vấn cần doanhnghiệp cung cấp thêm thông tin hoặc những nội dung nghi ngờ cần tiếp xúc với doanhnghiệp để làm rõ (thông tin chung về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổchức hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tănggiảm tài sản, biên bản xác nhận công nợ nội bộ, công nợ người bán, người mua ).Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở của NNT được thực hiện tuỳ theophạm vi, quy mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra.
Các nội dung kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp gồm:
- Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký
sử dụng hoá đơn
- Kiểm tra đối chiếu tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của doanhnghiệp: báo cáo quyết toán tài chính quý, năm; tờ khai thuế giá trị gia tăng, tờ khaithuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý, tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tựquyết toán năm và các tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế khác liên quan đến nộidung ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra
- Kiểm tra việc mở sổ sách và tính hợp pháp: sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết theo cácchuẩn mực kế toán nhà nước quy định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ chi tiết vớibảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản
Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu, hồ sơ liênquan khác: số thuế đầu kỳ trước chuyển sang, xác nhận của cơ quan thuế, cơ quan khobạc nhà nước về số nộp ngân sách trong kỳ, các tài liệu liên quan đến hoàn thuế, miễngiảm thuế
Kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ chứng lý tại trụ sở NNT gồm các nội dung sau:
- Kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung kiểm tra, thanh trathuế
- Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối chiếu số liệu hạch toán, số liệutính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của doanh nghiệp với các chuẩn mực
Trang 25nhà nước quy định (quy định luật, pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành;các cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán nhà nước ban hành ).
- Thực hiện lập hồ sơ chứng lý thanh tra, kiểm tra Hồ sơ chứng lý được coi là tài liệugốc để lập biên bản thanh tra, kiểm tra, gồm: các biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu;các bản sao chụp các tài liệu có liên quan kể cả các bức ảnh, đoạn băng ghi lại nhữngviệc làm sai của doanh nghiệp (phân tán kho quỹ, cất giấu chứng từ, tài liệu )
- Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ tài liệu ghi rõtình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ quan có trách nhiệmgiám định
1.3.2 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế
1.3.2.1 Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro
Xét riêng trong lĩnh vực quản lý thuế, rủi ro được hiểu là những tổn thất có thể xảy raphát sinh từ các hoạt động không tuân thủ pháp luật thuế trong một môi trường, hoàncảnh cụ thể
Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro, rủi ro bao gồm: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi
ro phát hiện và rủi ro thanh tra Trong đó:
- Rủi ro tiềm tàng (LR - Latent risk): là rủi rotiềm tàng hay còn gọi là rủi ro tiềm ẩn có
thể xảy ra trong một môi trường nhất định Trong thanh tra thuế, rủi ro tiềm tàng cóthể xảy ra sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính và các hồ sơ khai thuế, tồn tại độclập với tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ và việc có thực hiện thanh tra thuế haykhông Khi thanh tra, kiểm tra, để xác định loại rủi ro này, cán bộ thanh tra cần phảinắm được những kiến thức liên quan tới hoạt động của NNT , nhận biết yếu tố ảnhhưởng đến rủi ro tiềm tàng ở các mức độ tổng thể và chi tiết; xác định rõ mức độrủi ro tiềm tàng của từng cơ sở kinh doanh để làm cơ sở xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra.
- Rủi ro kiểm soát (RC -Risk Control): là rủi ro về khả năng kiểm soát tại chỗ không
chặt chẽ nên không ngăn ngừa được những sai sót trọng yếu có thể xảy ra Rủi ro kiểmsoát cũng nằm ngoài tầm kiểm soát của cán bộ thanh tra, kiểm tra vì nó luôn tồn tại, dù
có tiến hành thanh tra, kiểm tra hay không Ví dụ: để giảm việc không vào doanh thu
Trang 26các khoản thu tiền mặt khi bán hàng, hệ thống kiểm soát nội bộ yêu cầu sử dụng cáchóa đơn thu tiền đã được đánh số sẵn để ghi nhận các khoản doanh thu bằng tiền Kếtquả kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ cho thấy nhân viên hạch toán các khoản doanhthu này chỉ hạch toán trong quý đầu của năm kiểm tra Khi đó, rủi ro kiểm soát xảy racao trong 9 tháng cuối năm.
- Rủi ro phát hiện (RD - Risk Detection): là rủi ro mà thanh tra thuế không phát hiện
được qua các báo cáo tài chính gian lận Rủi ro phát hiện xuất hiện xuất phát từ chấtlượng của hoạt động thanh tra, hay là từ các quy định của pháp luật, chất lượng củaquy trình, trình độ cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế
- Rủi ro thanh tra(RI - Risk of inspection): là rủi ro mà các báo cáo tài chính gian lận
được chấp nhận như các báo cáo tài chính trung thực Rủi ro thanh tra tổng thể chịu sựtác động của ba nhân tố LR, RC và RD
Quản lý rủi ro là một quá trình nhận diện, đánh giá, phân tích để có phương án giảiquyết một cách có hệ thống nhằm tối đa hóa khả năng xảy ra khi có hiệu quả tích cực
và tối thiểu hóa khả năng xảy ra khi có hiệu quả tiêu cực Quản lý rủi ro có thể đượchiểu là quá trình lựa chọn và thực hiện các giải pháp trong bối cảnh nguồn lực có hạn
để giảm thiểu nguy cơ xấu đe dọa đến sự thành công của tổ chức Quản lý rủi ro cũng
là một quá trình đo lường hay đánh giá về quy mô và tính chất nghiêm trọng của một
sự việc, một hiện tượng, một vấn đề, trên cơ sở đó lập chiến lược quản lý rủi ro Nhưvậy, điều quan trọng trong quản lý rủi ro là dành ưu tiên mọi nguồn lực vào quản lýnhững rủi ro có thể xảy ra tổn thất lớn nhất và những rủi ro có nhiều khả năng xảy ranhất, tiếp đến là quản lý những rủi ro có tổn thất thấp hơn và ít có khả năng xảy rahơn
Việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thực chất là việc phânloại, đánh giá NNT dựa trên hệ thống những tiêu thức rủi ro về thuế nhằm xác địnhnhững người nộp thế có mức độ tuân thủ thấp và khả năng gian lận cao về thuế để tậpchung nguồn lực thanh tra, kiểm tra theo nguyên tắc ưu tiên nguồn lực thanh tra, kiểmtra những NNT có thể mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năngxảy ra nhất
Trang 271.3.2.2 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp đối chiếu, so sánh là phương pháp nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu trongsuốt quá trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế
Cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế cần tiến hành so sánh, đối chiếu các nội dung cần thanhtra, kiểm tra để xác định tính hợp lý, khách quan, trung thực của nội dung cuộc kiểmtra: đối chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị được kiểm tra với đơn vị khác; đối chiếu giữabáo cáo kế toán với sổ kế toán, giữa sổ kế toán tổng hợp với chi tiết, giữa số liệu vàchứng từ, giữa số liệu báo cáo và thực tế, giữa nội dung tài liệu, báo cáo sổ sách,chứng từ với chuẩn mực…
1.3.2.3 Phương pháp kiểm tra đi từ tổng hợp đến chi tiết
Phương pháp này gọi là phương pháp kiểm tra ngược chiều, khi kiểm tra thì kiểm tra
từ tổng hợp đến chi tiết chứ không phải từ chi tiết đến tổng hợp như trình tự hạch toán
kế toán Kiểm tra từ tổng hợp tới chi tiết giúp cán bộ phát hiện những mâu thuẫn,những vấn đề chính, những bất thường để tiến hành thanh tra, kiểm tra, tránh dàn trảikhông trọng tâm
Kiểm tra số liệu tổng hợp được tiến hành với các số liệu đã được tổng hợp theo nộidung kinh tế, phản ánh trên các báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, báo cáo kếtquả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ), rút ra nhận xét tổng quát và vấn đề cần đisâu kiểm tra
Kiểm tra số liệu chi tiết là kiểm tra số liệu của từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thểhiện trên chứng từ gốc hoặc bảng kê chi tiết
1.3.2.4 Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc
Các phương pháp được sử dụng:
- Kiểm tra chứng từ theo trình tự thời gian phát sinh;
- Kiểm tra theo loại hình nghiệp vụ: chứng từ thu, chứng từ chi tiền mặt; chứng từnhập xuất vật tư…;
- Kiểm tra điển hình: là lựa chọn ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụnào đó để kiểm tra, xem xét và rút ra kết luận chung
Trang 281.3.2.5 Phương pháp kiểm tra bổ trợ
Các phương pháp kiểm tra bổ trợ bao gồm:
- Phương pháp quan sát: Là quan sát trực tiếp, kín đáo và không gây trở ngại nhữngcông việc có liên quan đến nội dung thanh tra tại hiện trường
- Phương pháp phỏng vấn: Nhằm thu thập thông tin từ những người có quan hệ trựctiếp đến nội dung thanh tra
- Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần (phương pháp phối hợp kiểm tra nhiềunguồn): Theo phương pháp này, số liệu được đối chiếu với nhiều nguồn, nhiều nguồnthông tin để kiểm tra đảm bảo khớp đúng sự việc Cán bộ kiểm tra phải có văn bản xácnhận về từng phần việc đã được xác minh, trên cơ sở xác nhận từng phần để đi đến xácnhận toàn bộ
- Phương pháp toán học như số học, toán kinh tế… nhằm tính toán đối chiếu và tổnghợp số liệu
1.4 Chỉ tiêu đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra thuế
1.4.1 Kết quả thực thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Để đánh giá kết quả thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tác giả sử dụng các chỉtiêu sau:
- Tổng số tiền thuế truy thu, phạt;
- Tổng số người nộp thuế (NNT)được thanh tra, kiểm tra;
- Tỷ lệ số tiền thuế truy thu/ tổng số NNT được thanh tra, kiểm tra
Tỷ lệ số tiền thuế truy thu/ tổng số NNT được thanh tra, kiểm tra đánh giá mức độtrung thực của NNT khi thực hiện chế độ tự khai, tự nộp, tự xác định kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh Qua đó cũng cho biết việc lựa chọn NNT để kiểm tra cóđúng đối tượng nghi vấn không; kết quả có đảm bảo được tình răn đe cho những NNTkhác khi có ý định trốn thuế, gian lận thuế không Đồng thời, chỉ tiêu trên cũng đánhgiá được việc giám sát hồ sơ khai thuế, thủ tục thuế còn buông lỏng ở khâu nào đểnNNT dựa vào đó để khai man, trốn thuế
Trang 291.4.2 Mức độ hoàn thành kế hoạch
- Bình quân số tiền truy thu, phạt/ cuộc thanh tra, kiểm tra;
- Số ngày trung bình làm việc thực tế tại trụ sở NNT;
- Tổng số cuộc thanh tra, kiểm tra hoàn thành / kế hoạch được phê duyệt
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp
Trong quá trình triển khai thực hiện, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quanthuế có nhiều nhấn tố tác động đến, cả khách quan và chủ quan Cụ thể là:
1.5.1 Các nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là những nhân tố không thuộc về cơ quan thuế mà thuộc vềcác cơ quan, tổ chức khác trong xã hội Cụ thể là:
- Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về thuế nói riêng:
Pháp luật càng hoàn thiện thì càng tạo ra một cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy đủ, vững chắc,làm cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được thuận lợi Pháp luật thiếu minh bạchthì cơ sở xác định sai phạm không vững chắc, có thể gây những tranh luận không cóhồi kết về mức độ đúng sai trong hành vi của NNTvà của cơ quan thuế Pháp luậtkhông đầy đủ thì không có cơ sở pháp lý để tiến hành một số nội dung thanh tra, kiểmtra thuế cần thiết
- Sự phối hợp của các cơ quan nhà nước có liên quan: Để tiến hành công tác thanh tra,
kiểm tra thuế, cơ quan thuế cần sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước như:công an, quản lý thị trường, địa chính, kho bạc Hoạt động phối hợp có ý nghĩa quantrọng trong xác định thông tin về hoạt động kinh doanh và tình hình chấp hành phápluật thuế của NNT Thậm chí trong một số trường hợp, hoạt động phối có còn có tácđộng trực tiếp đến việc có hay không hành vi vi phạm pháp luật thuế và mức độ viphạm cụ thể như thế nào Bởi vậy, nếu sự phối hợp tốt thì giúp cho hoạt động thanhtra, kiểm tra thuế được thuận lợi và ngược lại
-Trình độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT : Người dân có tác động
đến hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trên hai phương diện: (i) Họ là NNT , là đối
Trang 30tượng của thanh tra, kiểm tra thuế; (ii) Họ là quần chúng nhân dân có thông tin về đốitượng thanh tra, kiểm tra Trên phương diện thứ nhất, với trình độ dân trí cao và ý thứcchấp hành pháp luật tốt thì NNT phối hợp tốt với cơ quan thanh tra, kiểm tra; tạo sựthuận lợi cho công tác thanh tra, kiểm tra Hơn nữa, trình độ dân trí cao, ý thức chấphành pháp luật thuế tốt sẽ giúp giảm khối lượng công tác thanh tra, kiểm tra thuế Trênphương diện thứ hai, trình độ dân trí càng cao thì người dân càng chủ động đấu tranhchống các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng, người dân
sẽ tích cực giúp đỡ cơ quan thuế trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế
1.5.2 Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố thuộc về bản thân cơ quan thuế Chủ yếu là cácnhân tố sau đây:
- Chất lượng của công tác lập kế hoạch và chuẩn bị công tác thanh tra, kiểm tra: Lập
kế hoạch đúng giúp lựa chọn đúng đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế Lập kế hoạchđúng giúp lựa chọn đúng thời điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra Chuẩn bị thanh tra,kiểm tra thuế càng kỹ lưỡng thì hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế càng cao vàngược lại
- Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế:
Con người là nhân tố quyết định đến sự thành bại của mọi hoạt động kinh tế - xã hội.Con người là nhân tố trung tâm của mọi hệ thống quản lý Lĩnh vực thanh tra, kiểm trathuế cũng không phải là ngoại lệ Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp củacán bộ thanh tra, kiểm tra thuế càng cao thì chất lượng công tác thanh tra, kiểm tracàng tốt và ngược lại
- Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc của cơ quan thuế: Sự đầu tư của nhà nước về
cơ sở vật chất và phương tiện làm việc có tác động không nhỏ đến hiệu quả và chấtlượng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế Cơ sở vật chất và phương tiện làm việchiện đại giúp nâng cao hiệu suất làm việc của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế Tuynhiên, với điều kiện làm nguồn kinh phí còn hạn hẹp việc trang bị các phương tiện cầnthiết cho cán bộ thanh tra, kiểm tra thực hiện nhiệm vụ chuyên môn vẫn chưa đáp ứngđược nhu cầu thực tế
- Chế độ đãi ngộ đối với người làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế:
Trang 31Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiệntheo quy định về quy chế chi tiêu chung của Tổng cục Thuế Tuy nhiên, căn cứ theotình hình thực tế của đơn vị, Cục Trưởng Cục Thuế đề ra quy chế chi tiêu nội bộ riêngphù hợp với nhu cầu và khản năng chi tiêu của Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn Chế độ đãingộ đối với cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế nằm trong tổng thể chế độ tiềnlương và thu nhập của cán bộ, công chức Một chế độ đãi ngộ thỏa đáng sẽ tạo độnglực làm việc tốt cho mỗi cán bộ công chức nói chung và mỗi cán bộ thanh tra, kiểm trathuế nói riêng Chế độ đãi ngộ thỏa đáng, đảm bảo đời sống của cán bộ sẽ góp phầngiảm động cơ tham nhũng.
- Sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu và việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho việc khai thác, phân tích thông tin về NNT: Thông tin là một trong những cơ sở tiên
quyết của mọi quyết định quản lý Trong thanh tra, kiểm tra thuế, thông tin là cơ sở đểlựa chọn đúng đối tượng thanh tra, kiểm tra; là cơ sở để lựa chọn phương pháp vàphạm vi, trọng tâm tiến hành thanh tra, kiểm tra; là cơ sở để xác định có hay khônghành vi vi phạm pháp luật thuế của đối tượng thanh tra, kiểm tra Cơ sở dữ liệu thôngtin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời thì hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế càng cao.Thông tin được tổng hợp xử lý tốt hay không phụ thuộc vào việc ứng dụng công nghệthông tin vào thanh tra, kiểm tra thuế Bởi vậy, cơ sở dữ liệu thông tin về NNT và trình
độ ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa rất quan trọng trong thanh tra, kiểm trathuế
- Công tác tổ chức, chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan thuế: Người lãnh đạo có vai trò
đặc biệt quan trọng trong mọi hệ thống quản lý mà trong quản lý thuế không phải làmột ngoại lệ Tài năng, đạo đức và uy tín của người lãnh đạo cơ quan thuế có tác độngquan trọng đến chất lượng và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
- Sự nghiêm minh trong xử lý vi phạm: Chế tài là một trong ba bộ phận cơ bản cấu
thành của một quy phạm pháp luật Chế tài có chức năng áp dụng hình phạt với hành
vi vi phạm pháp luật Chức năng này sẽ không được thực hiện đầy đủ khi việc tổ chứcthực hiện pháp luật không nghiêm minh Khi xử lý vi phạm không nghiêm minh sẽkhiến cả cán bộ thanh tra, và NNT nhờn luật; giảm tác động cảnh báo, ngăn ngừa củacông tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trang 32Sự ảnh hưởng của mỗi nhân tố đều có tác động hai mặt, cả tích cực và hạn chế Chính
vì vậy, cơ quan thuế phải có các biện pháp, giải pháp hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực,phát huy tác dụng tích cực để nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác thanh tra,kiểm tra thuế
1.6 Căn cứ pháp lý về công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thuế trong thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanhnghiệp được quy định tại các văn bản sau:
- Luật quản lý thuế, Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và cácvăn bản hướng dẫn thi hành;
- Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Luật thuế, Luật phí và lệ phí và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế;
Cụ thể, theo quy định của Luật Quản lý thuế, cơ quan thuế có trách nhiệm và quyềnhạn sau trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế:
1.6.1 Đối với hoạt động kiểm tra thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế:
- Chỉ đạo thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra thuế;
- Áp dụng biện pháp tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lậnthuế;
- Gia hạn kiểm tra trong trường hợp cần thiết;
- Quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiếnnghị người có thẩm quyền quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi hành chính, quyết định hành chínhcủa công chức quản lý thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức quản lý thuế khi thực hiện kiểm tra thuế
- Thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra thuế;
Trang 33- Yêu cầu NNT cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra;
- Lập biên bản kiểm tra thuế; báo cáo kết quả kiểm tra với người đã ra quyết định kiểmtra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của biên bản, báocáo đó;
- Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với người có thẩmquyền ra quyết định xử lý vi phạm
1.6.2 Đối với hoạt động thanh tra thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế
- Chỉ đạo, kiểm tra đoàn thanh tra thuế thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trongquyết định thanh tra thuế;
- Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giảitrình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế; yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra thuế cung cấp thông tin,tài liệu đó;
- Áp dụng các biện pháp: khám nơi cất giấu, tạm giữ tài liệu và tang vật liên quan đếnhành vi trốn thuế, gian lận thuế;
- Trưng cầu giám định về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế;
- Tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm khi xét thấy việclàm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật
về thuế; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quyết định xử lý về thanh tra thuế;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của trưởng đoàn thanh trathuế, các thành viên khác của đoàn thanh tra thuế;
- Kết luận về nội dung thanh tra thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra thuế
- Tổ chức, chỉ đạo các thành viên trong đoàn thanh tra thuế thực hiện đúng nội dung,
Trang 34đối tượng, thời hạn đã ghi trong quyết định thanh tra thuế;
- Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giảitrình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế; khi cần thiết có thể tiếnhành kiểm kê tài sản của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra thuế;
- Áp dụng biện pháp tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lậnthuế;
- Lập biên bản thanh tra thuế;
- Báo cáo với người ra quyết định thanh tra thuế về kết quả thanh tra và chịu tráchnhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo đó;
- Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyềnban hành quyết định xử lý vi phạm;
Nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên đoàn thanh tra thuế
- Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của trưởng đoàn thanh tra thuế;
- Kiến nghị xử lý những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế;
- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với trưởng đoàn thanh tra thuế
1.6.3 Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
1.6.3.1 Quyền của NNT (trong đó có doanh nghiệp) trong thanh tra, kiểm tra thuế
- Từ chối việc thanh tra, kiểm tra khi không có quyết định thanh tra, kiểm tra thuế Từchối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung kiểm tra thuế; thông tin,tài liệu thuộc bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Nhận biên bản thanh tra, kiểm tra thuế và yêu cầu giải thích nội dung biên bản thanhtra, kiểm tra thuế; bảo lưu ý kiến trong biên bản thanh tra, kiểm tra thuế;
- Khiếu nại với người ra quyết định thanh tra, kiểm tra thuế về quyết định, hành vi củatrưởng đoàn thanh tra, kiểm tra thuế, thành viên đoàn thanh tra, kiểm tra thuế khi cócăn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật Trong khi chờ giải quyếtkhiếu nại, người khiếu nại vẫn phải thực hiện các quyết định đó;
- Khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
Trang 35- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế.
1.6.3.2 Trách nhiệm, nghĩa vụ của NNT (trong đó có doanh nghiệp) trong thanh tra, kiểm tra thuế
- Chấp hành quyết định thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan quản lý thuế;
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dungkiểm tra theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, trưởng đoàn thanh tra thuế; chịu tráchnhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp;
- Ký biên bản thanh tra, kiểm tra thuế trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngàykết thúc thanh tra, kiểm tra;
- Chấp hành yêu cầu, kết luận thanh tra thuế, quyết định xử lý của cơ quan quản lýthuế, trưởng đoàn thanh tra thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
1.7 Kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra thuế
1.7.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới
1.7.1.1 Kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra thuế tại Mỹ
Hệ thống thuế Mỹ chia thành hai cấp độ là thuế liên bang (Thuế Trung ương)
và thuế bang (Thuế địa phương) Chính sách thuế cũng như quản lý thuế liên bang vàthuế bang hoàn toàn độc lập, tách biệt Chính sách thuế liên bang do quốc hội Mỹ banhành Cục thu nội địa Mỹ chịu trách nhiệm thực thi trong toàn nước Mỹ Là cơ quanđộc lập trực thuộc Bộ Ngân khố Mỹ chịu trách nhiệm quản lý các sắc thuế liên bang.Trong công tác quản lý thuế, Cục thu nội địa Mỹ có mục tiêu "Lấy đối tượng nộp thuế
là trung tâm"
Công tác thanh tra, kiểm tra của Cục thu nội địa được chia làm nhiều cấp độ,trong đó chú trọng tới việc nghiên cứu mô hình, nghiên cứu xu hướng phát triển cácngành cũng như xu hướng gia tăng của đối tượng nộp thuế để lựa chọn công tác thanhtra, kiểm tra Để tiến hành thanh tra, kiểm tra có hiệu quả hàng năm Cục thu nội địa
Mỹ thực hiện công tác đánh giá rủi ro để chọn đối tượng được thanh tra, kiểm tra Đây
là bước tất yếu cần phải thực hiện để tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra và dựa trêncác tiêu chí: Tiêu chí 1: Đảm bảo công bằng; Tiêu chí 2: Tính điểm DIF (DiscriminantFunction, hay Hàm Số Biệt Thức) là hệ thống tính điểm dựa trên phương pháp phân
Trang 36tích thống kê sử dụng nhiều biến số có liên quan đến nhau ( ví dụ: thu nhập, qui mô tàisản, và một số đặc tính của tờ khai) để ra các kết quả logic là số thuế phải nộp sẽ daođộng trong khoảng bao nhiêu; Tiêu chí 3: Chương trình ưu tiên thanh tra để chú trọngvào thanh tra đối với những đối tượng có nhiều nghi ngờ; Tiêu chí 4: Kết quả chươngtrình nghiên cứu quốc gia sau đóđối chiếu với các thông tin lưu trữ về đối tượng nộpthuế để từ đó phân tích và phân loại các nghi vấn để ra các quyết định kiểm tra, thanhtra theo nguồn lực cán bộ hiện có.
Chương trình thanh tra, kiểm tra là chương trình phổ biến nhất và huy động cán
bộ nhiều nhất Công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện dưới hai hình thức:Thư tra đổi: Trong trường hợp vấn đề nghi vấn, cần kiểm tra đơn giản và phạm
vi hẹp, có thể đưa ra kết luận trong vài giờ, không cần xem kỹ sổ sách, chứng từ
Thanh tra, kiểm tra trực tiếp: Trong trường hợp vấn đề phức tạp, phạm vi kiểmtra rộng, có thể mất vài tuần Nhằm sử dụng nguồn lực cán bộ hiệu quả hơn, các cán
bộ được huy động thanh tra, kiểm tra trực tiếp phải ở trình độ cao hơn các cán bộ thựchiện kiểm tra qua thư trao đổi
Để hỗ trợ cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tại Cục thu nội địa Mỹ còn hìnhthành ban điều tra hình sự chịu trách nhiệm điều tra các vi phạm về thuế mang tínhhình sự, cưỡng chế thuế vàđiều tra các vụ việc liên quan đến rửa tiền, làm tiền giả
1.7.1.2 Kinh nghiệm kiểm tra thanh tra thuế tại Anh
Khi chuyển sang cơ chế tự khai tự nộp, Luật qui định trách nhiệm, nghĩa vụ vàquyền hạn cơ quan thuế được quyền kiểm tra bất kỳ một đối tượng nộp thuế nào màkhông cần phải nêu lý do Cơ quan thuế phải tiến hành bắt đầu việc thanh tra trongvòng 12 tháng kể từ ngày hết hạn nộp tờ khai, sau 12 tháng cơ quan thuế chỉ thanh trakhi có thông tin từ các nguồn khác về việc cần phải tiến hành thanh tra Khi nhận đượcthông báo thanh tra doanh nghiệp không có quyền từ chối thanh tra và phải cung cấp
sổ sách tài liệu và trả lời các câu hỏi có liên quan Cơ quan thuế không được xuốngdoanh nghiệp yêu cầu danh nghiệp cung cấp sổ sách tài liệu kế toán mà doanh nghiệpphải có trách nhiệm gửi sổ sách tài liệu lên cơ quan thuế vàđến cơ quan thuế giải trìnhkhi có thông báo của cơ quan thuế đến làm việc liên quan đến nội dung thanh tra Khi
Trang 37doanh nghiệp thấy việc thanh tra kéo dài hoặc gây phiền hà cho doanh nghiệp thì cóquyền đề nghị Uỷ ban giaỉ quyết khiếu nại xem xét dừng cuộc thanh tra Khi xem xétnếu thấy đề nghị của doanh nghiệp là hợp lý Uỷ ban giải quyết khiếu nại quyết địnhtrong vòng 30 ngày sau cơ quan thuế phải kết thúc thanh tra.
1.7.1.3 Kinh nghiệm 30 ngày sau cơ quan thuế phải kết thúcthanh tra tại Malaysia
Để công tác thanh tra, kiểm tra thuế có hiệu quả, tại Malaysia tổ chức trungtâm thanhtra –điều tra thuế được phân bổ theo vùng Các trung tâm không chỉ dừnglại theo chứcnăng kiểm tra thuế thông thường mà chủ yếu tập trung vào công tác điềutra phát hiện
và xử lý các trường hợp trốn lậu thuế có tính chất nghiêm trọng, truy thuthuế vào ngânsách nhà nước Trung tâm điều tra thanh tra có nhiệm vụ tổ chức, thuthập thông tin từnội bộ ngành thuế, người tố giác, người khai báo, báo chí…để pháthiện các trườnghợp, các khả năng trốn thuế Tổ chức công tác điều tra nghiệp vụ có sựphối hợp trêntoàn quốc hoặc quy mô quốc tế Tổ chức lưu giữ tài liệu, bằng chứngliên quan đếnhành vi trốn thuế Tổ chức kiểm tra, đối chứng để quy phạm hành vi trốnthuế Khởi tố,truy tố, phạt hành chính, kiến nghị phạt hình sự đối với các hành vi trốnthuế; bắt giữtài sản, phong tỏa tài sản, truy thu cho ngân sách
1.7.1.4 Kinh nghi giữ tài sản, phong tỏa tài sản, truy thutại Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc công tác quản lý thuế được giao cho Cơ quan dịch vụ thuế quốc gia(Tổng cục Thuế) Hàn Quốc trực thuộc Bộ Tài chính, cơ cấu quản lý thuế của HànQuốc bao gồm 3 cấp:
- Cấp 1: Các vụ và các phòng chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan thuế vụ quốc gia
- Cấp 2: Cơ quan thuế vùng chịu sự giám sát của cơ quan dịch vụ thuế quốc gia, cótrách nhiệm trực tiếp xử lý tính thuế đối với một số người nộp thuế trong những trườnghợp đặc biệt, hướng dẫn và quản lý toàn bộ các hoạt động của cơ quan thuế quận,huyện
- Cấp 3: Cơ quan thuế quận huyện Công tác thanh tra thuế được xây dựng xuyên suốt
từ Tổng cục Thuế đến các cơ quan thuế quận huyện Tại cơ quan thuế vùng đã xâydựng các phòng thanh tra, kiểm tra với các chức năng chuyên biệt như sau: Phòngthanh tra và quản lý chịu trách nhiệm về kế hoạch thanh tra, thu thập, xử lý và phân
Trang 38tích những thông tin liên quan đến việc trốn thuế; Phòng thanh tra chịu trách nhiệmtiến hành thanh tra và xác định thuế; Phòng các cán bộ thanh tra đặc biệt chịu tráchnghiệm về phân tích những thông tin liên quan đến việc trốn thuế vàđiều tra tội phạm.
1.7.2 Tổng hợp bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới về công tác thanh tra
và kiểm tra thuế
Năm 2012 Tổng cục Thuế đã tổ chức tổng kết công tác thuế 5 năm (2007-2011) nhằmđánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác thuế 5 năm và nhiệm vụ giải pháp côngtác thuế đến năm2015
Căn cứ tình hình thực tế tại Việt Nam và qua nghiên cứu tham khảo công tác thanh tra,kiểm tra thuế tại một số nước trên thế giới, Tổng cục Thuế đã rút ra một số bài họckinh nghiệm về thanh tra, kiểm tra thuế cụ thể như sau:
Thứ nhất, về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra, kiểm tra thuế:Hầu hết các nước đều có hệ thống thanh tra thuế được tổ chức theo hệ thống dọc gắnvới mô hình tổ chức cơ quan thuế Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được phân cấptheo mô hình tổ chức, chủ yếu được thực hiện ở cấp trung gian (Cục Thuế vùng, tỉnh).Tại các quốc gia có tổ chức bộ phận thanh tra cấp trung ương thì chủ yếu là thực hiệncông tác chỉ đạo, hỗ trợ thanh tra, kiểm tra.Hoạt động thanh tra, kiểm tra người nộpthuế được chuyên môn hóa cao Các phòng thanh tra tại cơ quan thuế được tổ chứcchuyên biệt, chỉ thực hiện một giai đoạn của hoạt động thanh tra như: Phòng thanh trachịu trách nhiệm thu thập, xử lý phân tích rủi ro, lập kế hoạch thanh tra; Phòng thanhtra chịu trách nhiệm thực hiện thanh tra và xác định thuế Phòng thanh tra đặc biệt chịutrách nhiệm về phân tích những thông tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tộiphạm Hầu hết các cơ quan thuế các nước đều có thẩm quyền điều tra trốn thuế và bộphận điều tra trốn thuế thường được tập trung tại cấp trung ương
Thứ hai, về công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ thanh tra, kiểm tra: Các nước đều
có yêu cầu cao đối với việc tuyển chọn thanh tra viên Người được tuyển chọn thườngphải đào tạo qua Đại học Những tiêu chuẩn cơ bản thanh tra viên cần có gồm:
- Có kiến thức chuyên sâu về thuế;
Trang 39- Có kiến thức về kế toán theo chuẩn mực trong nước và quốc tế và mối liên kết giữacác yêu cầu về kế toán tài chính và kế toán cho mục đích thuế.
- Có kỹ năng thanh tra, phân tích kinh tế
- Có tính nhạy bén, làm việc độc lập và chịu được áp lực công việc
- Có kiến thức thành thạo về sử dụng máy tính (bao gồm kiến thức cơ bản về hệ điềuhành, mô hình lưu trữ dữ liệu, các ứng dụng cơ sở và ứng dụng chuyên ngành sử dụngcho thanh tra, kiểm tra)
- Có khả năng giao tiếp ngoại ngữ Ngoài việc tuyển chọn các nước còn chú trọngcông tác đào tạo và bồi dưỡng công chức thuế
Thứ ba, về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm: Công tác xây dựng kế
hoạch thanh tra hàng năm được tập trung thống nhất theo chỉ đạo từ cấp trung ươngcăn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch thanh tra tập trungvào đối tượng, ngành, nghề nhất định, phê duyệt điều chỉnh tỷ lệ đối tượng thanh tragiữa ngành nghề
Việc kiểm soát chất lượng thanh tra:
Các nước đều xây dựng hệ thống chuẩn mực thanh tra để kiểm soát chất lượng thanhtra Hệ thống chuẩn mực từng nước có sự khác biệt nhất định nhưng đều bao gồm cácnhóm chuẩn mực sau:
- Chuẩn mực 1: Kế hoạch thanh tra
- Chuẩn mực 2: Bằng chứng thanh tra và thu thập bằng chứng thanh tra
- Chuẩn mực 3: Kết luận và kiến nghị thanh tra
- Chuẩn mực 4: Tài liệu làm việc và Báo cáo thanh tra
Theo quy mô và tính chất của từng vụ thanh tra, cơ quan thuế có thể thành lập các bộphận riêng chịu trách nhiệm rà soát kết quả thanh tra theo các chuẩn mực trên trướckhi ban hành quyết định cuối cùng Ví dụ, tại Australia, Malaysia và Trung Quốc, cácthanh tra cao cấp hoặc trưởng phòng thanh tra có nhiệm vụ rà soát lại toàn bộ các kết
Trang 40quả thanh tra tại cơ sở có liên quan đến giao dịch quốc tế hoặc các vụ việc lớn trướckhi gửi kết quả chính xác cho người nộp thuế.
Thứ tư, về chiến lược xử lý rủi ro: Các nước đều xây dựng chiến lược xử lý rủi ro theo
hướng ưu tiên giải quyết các rủi ro ở mức cao (là những rủi ro không thể chấp nhậnđược) và giải quyết rủi ro ở mức thấp tùy theo nguồn lực cho phép (ví dụ: có thể lựachọn rủi ro ở mức thấp bằng phương pháp ngẫu nhiên để đánh giá khả năng kiểm soáthoặc tích lũy các rủi ro này để giải quyết trong tương lai) Phạm vi xem xét, phân tíchkhi nhận dạng rủi ro bao gồm cả những thông tin được thể hiện ở cấp “vĩ mô” như xuhướng phát triển kinh tế, đặc tính ngành nghề và các tác động của chính sách kinh tế,thương mại và đầu tư
Thứ năm, ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế: Nhóm các nước phát
triển có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế cao và tại cấp trungương thường thành lập bộ phận “Thanh tra máy tính” (Thanh tra tin học, thanh tra thuếbằng máy tính) Thanh tra máy tính được thực hiện thông qua hệ thống ứng dụng tinhọc hỗ trợ công tác thanh tra và quyền truy cập, khai thác, sử dụng hệ thống dữ liệucủa người nộp thuế để xác định rõ số liệu thực vềsổ sách kế toán và các giao dịch điệntử
1.7.3 Kinh nghiệm về kiểm tra sổ sách kế toán và các giao dịch điện tử của người nộp thuế
Công tác thanh tra, kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng trong công tácquản lý thuế Kinh nghiệm công tác thanh tra, kiểm tra của các nước nêu trên cho thấy:
Dù mô hình tổ chức và các hoạt động có khác nhau nhưng có những điểm chung:
- Mỗi quốc gia đều hết sức chú trọng tới công tác thanh tra, kiểm tra thuế, đều thậntrọng trong việc xem xét xác định mục tiêu, đối tượng thanh tra, kiểm tra
- Các tiêu chí quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra là gìn giữ luật pháp, hướngtới việc xác định đúng nguyên nhân sai phạm tăng thu cho ngân sách nhà nước
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra được phân loại và phân cấp rõ ràng, đảm bảo khép kín
và phát huy được tác dụng của tổ chức thanh tra các cấp