1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Từ thực tiễn tại tỉnh Vĩnh Long

70 51 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính - Từ thực tiễn tại tỉnh Vĩnh Long
Tác giả Nguyễn Văn Điều
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Cảnh Hợp
Trường học Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1................................................................................................................ 6 (12)
    • 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (12)
      • 1.1.1 Khái niệm đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (12)
      • 1.1.2 Đặc điểm của đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (15)
      • 1.1.3 Ý nghĩa của đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (20)
    • 1.2 Đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam (22)
      • 1.2.1 Các trường hợp Toà án tổ chức đối thoại (22)
      • 1.2.2 Thời điểm tổ chức đối thoại (23)
      • 1.2.3 Nguyên tắc đối thoại (24)
      • 1.2.4 Thành phần tham gia đối thoại (25)
      • 1.2.5 Trình tự tiến hành đối thoại (26)
      • 1.2.6 Kết quả của đối thoại và xử lý kết quả đối thoại (27)
  • CHƯƠNG 2.............................................................................................................. 26 (32)
    • 2.1 Thực tiễn đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính tại tỉnh Vĩnh Long (32)
      • 2.1.1 Những kết quả đạt được của thực tiễn đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính tại tỉnh Vĩnh Long (32)
      • 2.1.2 Những hạn chế của thực tiễn đối thoại trong giải quyết khiếu nại hành chính tại tỉnh Vĩnh Long (35)
    • 2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính ở tỉnh Vĩnh Long (52)
      • 2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính về đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (52)
      • 2.2.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính tại tỉnh Vĩnh Long (55)

Nội dung

Số vụ án được tổ chức đối thoại còn tương đối thấp, tỷ lệ vụ án đối thoại thành chưa cao, một số trường hợp Thẩm phán thực hiện không đúng trình tự, thủ tục đối thoại, quyết định công nh

6

Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

1.1.1 Khái niệm đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

Trong quá trình thực hiện quản lý hành chính nhà nước, cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền có thể ban hành quyết định hành chính và thực hiện hành vi hành chính mang tính đơn phương nhưng bắt buộc thi hành đối với các cá nhân, tổ chức liên quan Việc sử dụng quyền lực nhà nước và áp đặt ý chí nhà nước luôn tiềm ẩn khả năng xuất hiện sự phản kháng của đối tượng bị quản lý Khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm từ các quyết định hành chính, hành vi hành chính, đối tượng bị quản lý có quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, từ đó làm phát sinh vụ án hành chính và quá trình giải quyết vụ án hành chính tại Toà án.

Vụ án, theo từ điển tiếng Việt, là việc hoặc sự việc không hay, rắc rối cần phải được giải quyết; theo Từ điển Luật học, vụ án là một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra Toà án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết; VAHC là vụ việc phát sinh từ tranh chấp hành chính giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý về tính hợp pháp của các hình thức quản lý nhà nước, và nó xuất hiện trong các lĩnh vực khác nhau của hoạt động hành chính nhà nước; dưới góc độ lý luận, VAHC được xem là một vụ việc có tính chất tranh chấp trong lĩnh vực hành chính.

1 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.1130

2 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, tr.860

3 Nguyễn Ngọc Hoà – Chủ biên, Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học –

Tranh chấp hành chính được Toà án có thẩm quyền thụ lý theo yêu cầu khởi kiện của cá nhân, tổ chức đối với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Các văn bản pháp luật liên quan như Luật Hành chính, Luật TTHC và các chuẩn mực của luật quốc tế cung cấp cơ sở để Toà án xem xét và giải quyết các vụ việc tranh chấp hành chính một cách công bằng và hợp pháp, bảo đảm quyền lợi của cá nhân và tổ chức trước các quyết định và hành vi hành chính.

Toà án có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu khởi kiện hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với quyết định hành chính và hành vi hành chính VAHC, hay vụ việc tranh chấp hành chính, phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, bao gồm cả quyết định kỷ luật buộc thôi việc và quyết định giải quyết khiếu nại về xử lý vụ việc cạnh tranh, cũng như việc lập danh sách cử tri theo quy định của pháp luật, và được Toà án thụ lý giải quyết Như vậy, VAHC là vụ án phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và được Toà án thụ lý giải quyết.

Theo Từ điển tiếng Việt, giải quyết là làm cho không còn thành vấn đề nữa Vì thế, giải quyết VAHC (vụ án hành chính) là quá trình nhằm xác định tính có căn cứ của các yêu cầu khởi kiện và tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện để đưa ra kết luận có cơ sở Quá trình giải quyết VAHC có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, tuy nhiên cơ quan duy nhất có chức năng xét xử và thực hiện giải quyết vụ án hành chính là Toà án.

Vụ án hành chính (VAHC) được Toà án xem xét và phán quyết dựa trên tính có căn cứ của các yêu cầu khởi kiện và tính hợp pháp của các đối tượng khởi kiện theo quy định của pháp luật Về mặt hình thức, quá trình giải quyết VAHC được thể hiện qua các giai đoạn của tố tụng hành chính gồm khởi kiện VAHC, thụ lý và xét xử VAHC.

4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.217

5 Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.250

6 Lê Thị Mơ (2014), Người khởi kiện trong VAHC, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr.8

7 Viện ngôn ngữ học (2008), Tlđd (1), tr.388

“Đối thoại” theo Từ điển tiếng Việt là sự nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người hoặc là việc bàn bạc, thương lượng trực tiếp giữa các bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (VAHC), đối thoại được hiểu là sự gặp gỡ, trao đổi thông tin giữa các đương sự nhằm làm rõ và đồng thuận xác định sự thật khách quan của vụ việc, nắm được quan điểm của nhau và cùng tìm ra một giải pháp để giải quyết tranh chấp Về mặt lý thuyết và thực tiễn, khái niệm đối thoại trong tố tụng hành chính đã được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau; như một hoạt động, đối thoại là hoạt động do Toà án tiến hành trong quá trình tố tụng hành chính để các bên trao đổi nội dung tranh chấp và yêu cầu nhằm xác định tính hợp pháp hay không hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện, từ đó các bên tranh chấp có thể tìm kiếm một giải pháp để giải quyết tranh chấp; kết quả đối thoại không mang giá trị bắt buộc với các bên Mục đích của đối thoại là gặp gỡ, trao đổi thông tin bằng nhiều hình thức giữa các chủ thể liên quan nhằm hiểu rõ và thống nhất về sự thật khách quan của vụ việc, chia sẻ quan điểm và cùng tìm ra giải pháp giải quyết tranh chấp; tuy nhiên, đối thoại không nhằm xác định tính hợp pháp của quyết định hay hành vi bị khởi kiện mà là hỗ trợ các bên tìm kiếm biện pháp giải quyết tranh chấp hành chính.

8 Viện ngôn ngữ học (2008), Tlđd (1), tr 338

Nguyễn Thị Hồng Trang (2013) nghiên cứu Đối thoại trong tố tụng hành chính, được trình bày trong luận văn thạc sĩ luật học tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, trang 12 Bài viết nhấn mạnh vai trò của đối thoại trong quá trình tố tụng hành chính và cung cấp cơ sở lý luận cho thực tiễn tố tụng hành chính ở Việt Nam. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Khám phá API văn bản miễn phí từ Pollinations.AI, hỗ trợ nội dung và SEO cho bài viết luật học của bạn – [Ủng hộ sứ mệnh của chúng tôi](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để AI luôn tiếp cận mọi người.

Đối thoại trong giải quyết tranh chấp hành chính ở Việt Nam nhằm giúp các bên đương sự hiểu rõ nội dung tranh chấp, quan điểm và lý lẽ của nhau; khi các bên tự nhận ra sai sót, rút đơn khởi kiện hoặc tự động khắc phục, sửa chữa, hiệu quả hơn so với việc đợi một phán quyết và bị cưỡng chế thi hành Theo quy định của pháp luật TTHC hiện hành, đối thoại là một thủ tục bắt buộc mà Toà án phải tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm Nếu các bên đối thoại thành công, Toà án sẽ ra quyết định công nhận kết quả đối thoại và đình chỉ việc giải quyết tranh chấp hành chính.

Đối thoại là một thủ tục trong quá trình giải quyết VAHC do Toà án tiến hành theo trình tự và thủ tục được pháp luật TTHC quy định, nhằm giúp các bên đương sự nắm bắt và hiểu rõ yêu cầu khởi kiện, đối tượng khởi kiện và lập luận của nhau Thông qua đối thoại, các bên trình bày luận cứ, lý lẽ của mình và nắm bắt quan điểm của đối phương để từ đó đề xuất các cách xử lý VAHC theo quy định của pháp luật.

1.1.2 Đặc điểm của đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Thứ nhất, đối thoại là một thủ tục trong tố tụng hành chính

Quá trình giải quyết VAHC trải qua nhiều giai đoạn, trong đó giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là thời điểm quan trọng để các chủ thể tố tụng chuẩn bị đầy đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử công khai tại phiên toà sơ thẩm Trong giai đoạn này, Toà án có trách nhiệm tổ chức phiên họp đối thoại để các bên đương sự thống nhất về việc giải quyết VAHC, đồng thời đây là thủ tục bắt buộc trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, trừ những trường hợp được quy định bởi pháp luật Nội dung đối thoại trong tố tụng hành chính có sự khác biệt theo các văn bản pháp luật TTHC qua các thời kỳ Theo Điều 3 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các VAHC 12, trong quá trình giải quyết VAHC, Toà án tạo điều kiện để các bên có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

TTHC năm 2010, chế định “đối thoại” được chính thức ghi nhận Theo Điều 12 của

11 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật TTHC, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.71

12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các VAHC năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006

Luật TTHC năm 2010 quy định trong quá trình giải quyết VAHC, Toà án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án và việc thay thế từ “thoả thuận” bằng “đối thoại” để phù hợp với bản chất của quan hệ pháp luật hành chính (VAHC); tuy nhiên quy định chưa rõ ràng nên tồn tại nhiều quan điểm về đối thoại, có ý kiến cho rằng đối thoại mang tính tuỳ nghi không phải thủ tục bắt buộc Toà án phải thực hiện, và có ý kiến cho rằng đối thoại là hoạt động bắt buộc các bên phải tiến hành trong quá trình giải quyết VAHC Để khắc phục hạn chế này, Luật TTHC năm 2015 quy định cụ thể về đối thoại trong tố tụng hành chính; theo Điều 20, Toà án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện cho các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án, nội dung này được cụ thể hoá tại Chương X của Luật TTHC về thủ tục đối thoại và chuẩn bị xét xử Do đó, theo quy định hiện hành, đối thoại được khẳng định là một thủ tục bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử VAHC, trừ các vụ án không tiến hành được đối thoại, vụ án về khiếu kiện danh sách cử tri và vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn.

Thứ hai, đối thoại trong quá trình giải quyết VAHC do Toà án tiến hành đối với hầu hết các VAHC Đối thoại được xem là một trong các nguyên tắc đặc thù của tố tụng hành chính Là cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án Trong đó, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án Việc tổ chức đối thoại trong

13 Trần Thị Tố Thu (2012), “Đối thoại trong tố tụng hành chính”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 01, tr 9

14 Phạm Văn Giòn (2013), “Những vấn đề rút ra từ công tác kiểm sát việc giải quyết VAHC trong lĩnh vực thuế và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính”, Tạp chí Kiểm sát, số 8, tr.39; Trần Dương Công (2013), “Một số vấn đề cần trao đổi về cơ chế đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính”,

Tạp chí Kiểm sát, số 16, tr 13;

Trong giai đoạn này, Toà án có trách nhiệm bảo đảm thủ tục đối thoại được thực hiện đúng pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như tính pháp lý của đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Toà án chủ động triệu tập các đương sự tham gia đối thoại trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Cuộc họp đối thoại do Thẩm phán chủ trì; Thẩm phán phổ biến các quy định của pháp luật liên quan để các bên nắm rõ quyền, nghĩa vụ và phân tích hậu quả pháp lý của việc đối thoại, từ đó các bên tự nguyện thống nhất với nhau về cách giải quyết vụ án Kết quả đối thoại do Toà án tiến hành được ghi nhận bằng văn bản tố tụng có tính chất pháp lý ràng buộc đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan.

Đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam

Đối thoại là nội dung quan trọng được pháp luật TTHC ghi nhận và qua quá trình phát triển của hệ thống pháp luật TTHC Việt Nam các quy định về đối thoại ngày càng được hoàn thiện Theo quy định của Luật TTHC năm 2015, đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính (VAHC) bao gồm các nội dung cơ bản nhằm bảo đảm sự tham gia của các bên liên quan, tăng cường tính công khai minh bạch và nâng cao hiệu quả xử lý vụ việc.

1.2.1 Các trường hợp Toà án tổ chức đối thoại

Theo Điều 20 của Luật TTHC năm 2015, Toà án có trách nhiệm tổ chức đối thoại nhằm để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án trong quá trình giải quyết VAHC; tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào Toà án cũng có trách nhiệm tổ chức đối thoại Theo khoản 1 Điều 134 của Luật TTHC, Toà án sẽ không tiến hành thủ tục đối thoại đối với những vụ án không tiến hành đối thoại được, và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri.

Việc tham gia đối thoại để thống nhất về việc giải quyết VAHC là quyền tự định đoạt của các đương sự trong tố tụng hành chính Khi các bên không thể tham gia hoặc không có nhu cầu đối thoại vì lý do khách quan hoặc chủ quan, Toà án sẽ không có trách nhiệm tiến hành đối thoại Theo Điều 135 Luật TTHC, trong trường hợp người khởi kiện, người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, Toà án sẽ không tổ chức đối thoại Ngoài ra, các vụ việc đương sự không thể tham gia đối thoại vì lý do chính đáng hoặc các bên thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại được xem là không tiến hành đối thoại, và Toà án cũng không có trách nhiệm tổ chức đối thoại trong các trường hợp này Do thời gian giải quyết ngắn, Luật TTHC quy định Toà án không tổ chức đối thoại đối với khiếu kiện danh sách cử tri.

Theo quy định của pháp luật về thủ tục hành chính hiện hành, Toà án có trách nhiệm tổ chức đối thoại khi giải quyết các vụ án hành chính (VAHC), trừ những vụ án không thể tiến hành đối thoại và các vụ án giải quyết khiếu kiện về danh sách cử tri Đây là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết VAHC nhằm bảo đảm đối thoại được thực hiện.

1.2.2 Thời điểm tổ chức đối thoại

Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Luật TTHC năm 2015, trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Toà án tiến hành đối thoại với các đương sự để đạt sự thống nhất về cách giải quyết vụ án Theo khoản 4 Điều 138 của Luật TTHC năm 2015, nội dung đối thoại và quy trình liên quan được xác định nhằm đảm bảo sự đồng thuận giữa các bên trước khi đưa vụ án ra xét xử.

Vào năm 2015, phiên họp đối thoại được tổ chức sau khi hoàn tất kiểm tra giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, nhằm giúp các bên nắm bắt đầy đủ các tình tiết, tài liệu và chứng cứ của vụ án để từ đó có quyết định phù hợp tại phiên đối thoại Quy định này đảm bảo các bên nắm bắt được thông tin và chứng cứ quan trọng, từ đó nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án ở giai đoạn đối thoại Việc quy định thời điểm tổ chức đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là hợp lý, vì đây là thời điểm các chủ thể tố tụng hành chính chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc đưa vụ án ra xét xử công khai tại phiên toà Trong giai đoạn này, nếu các bên đương sự thống nhất với nhau về cách giải quyết vụ án sẽ làm vụ án kết thúc nhanh chóng, triệt để, qua đó tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho các bên Như vậy, Toà án có trách nhiệm tổ chức đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VAHC, trừ những vụ án không tiến hành đối thoại được.

Trong vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn, nhằm rút ngắn thời gian và đơn giản hóa thủ tục so với thủ tục thông thường, đối thoại không được tổ chức trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Theo khoản 3 Điều 249 Luật TTHC, sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành đối thoại, trừ trường hợp không tiến hành được Trường hợp đương sự đồng thuận về việc giải quyết vụ án, Thẩm phán lập biên bản đối thoại và ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành theo quy định tại Điều 140 Luật TTHC Trường hợp đương sự không đồng thuận về việc giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành xét xử.

Điều 20 của Luật TTHC quy định rằng Toà án không chỉ chịu trách nhiệm tổ chức đối thoại theo pháp luật mà còn tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau nhằm thảo luận và thống nhất về việc giải quyết vụ án, đảm bảo quá trình giải quyết vụ án diễn ra đúng các quy định của Luật TTHC.

Khoản 1 Điều 187 của Luật TTHC quy định Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa khi các bên đương sự đề nghị tạm ngừng để tự đối thoại với nhau Tại phiên tòa phúc thẩm, theo Điều 238 của Luật TTHC, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng có quyền tạm ngừng phiên tòa khi có căn cứ tương ứng.

Toà án có trách nhiệm tổ chức đối thoại trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VAHC, trừ các vụ án không thể tiến hành đối thoại, ví dụ vụ kiện về danh sách cử tri Đối với vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, thủ tục đối thoại được tiến hành tại phiên toà sơ thẩm Ngoài ra, đương sự có quyền tự đối thoại trong quá trình giải quyết VAHC theo các thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm, và Toà án phải tạo điều kiện để các đương sự tự đối thoại trong các trường hợp này.

Thủ tục đối thoại được tiến hành tuân thủ theo nguyên tắc được quy định tại khoản 2 Điều 134 của Luật TTHC như sau:

Thứ nhất, bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự

Đối thoại là thủ tục trong tố tụng nhằm tạo điều kiện cho các bên đương sự gặp gỡ, trình bày và làm rõ nội dung vụ việc; thủ tục này được tiến hành công khai với sự tham gia của các đương sự và Toà án có trách nhiệm triệu tập tham dự Trong quá trình đối thoại, các bên có quyền trình bày quan điểm, đánh giá tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và tôn trọng quyền lợi hợp pháp của người khác Các bên cần lắng nghe ý kiến và đề xuất của các bên tham gia để đưa ra các quyết định phù hợp Trên cơ sở các ý kiến đóng góp từ các đương sự và người tham gia tố tụng, Thẩm phán sẽ đưa ra kết luận đối thoại khách quan và đúng đắn.

Thứ hai, không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết

VAHC trái với ý chí của họ

Trong quá trình đối thoại tố tụng, các bên tham gia được tôn trọng quyền và nghĩa vụ tố tụng, đồng thời bình đẳng về quyền trình bày quan điểm, đánh giá và đề nghị Mục tiêu của đối thoại là giúp các đương sự đạt được sự đồng thuận về cách giải quyết VAHC dựa trên sự tự định đoạt của chính các bên Trong tổ chức đối thoại, Thẩm phán chủ trì phiên họp đóng vai trò điều hành, hướng dẫn và hỗ trợ các bên để đảm bảo nhận thức đúng đắn về đối tượng và yêu cầu khởi kiện Lựa chọn biện pháp xử sự phụ thuộc vào ý chí của các đương sự, và không ai có quyền ép buộc các bên thực hiện việc giải quyết VAHC trái với ý chí của họ.

Thứ ba, nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

Việc thể hiện sự tự do và ý chí của các bên đương sự trong giải quyết VAHC là cơ sở để nội dung đối thoại và kết quả đối thoại không trái pháp luật hay trái đạo đức xã hội Để bảo đảm nguyên tắc này, các bên đương sự, đặc biệt là người khởi kiện, phải có sự am hiểu quy định pháp luật để có thể đưa ra những nội dung thống nhất đúng quy định Ngoài ra, thẩm phán cần giải thích đầy đủ, rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các đương sự, hậu quả pháp lý của đối thoại và các quy định liên quan để các bên nắm bắt và đưa ra quyết định phù hợp.

1.2.4 Thành phần tham gia đối thoại

Theo khoản 1 Điều 137 của Luật TTHC, thành phần tham gia phiên họp đối thoại gồm Thẩm phán chủ trì phiên họp (thường là thẩm phán được phân công giải quyết vụ án), Thư ký phiên họp ghi biên bản, đương sự hoặc đại diện hợp pháp của đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền tham gia phiên họp; đối với đương sự không sử dụng được tiếng Việt hoặc là người khuyết tật nghe, nói hoặc nhìn, bắt buộc phải có người phiên dịch tại phiên họp đối thoại; Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tham gia phiên họp khi cần thiết; tuy vậy, phiên họp đối thoại không có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quy định này phù hợp với mục đích của đối thoại trong tố tụng hành chính, đó là gặp gỡ, trao đổi giữa các đương sự nhằm làm rõ tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện và yêu cầu khởi kiện.

Nhằm bảo đảm hiệu quả của đối thoại trong vụ án, các đương sự phải có mặt khi được Tòa án triệu tập tham gia đối thoại Theo khoản 3 Điều 37 của Luật TTHC, trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên họp để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp và thông báo bằng văn bản việc hoãn phiên họp, mở lại phiên họp cho các đương sự.

1.2.5 Trình tự tiến hành đối thoại

26

Thực tiễn đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính tại tỉnh Vĩnh Long

2.1.1 Những kết quả đạt được của thực tiễn đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính tại tỉnh Vĩnh Long

Vĩnh Long là tỉnh ở hạ lưu sông Mê Kông, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, ở trung tâm đồng bằng Sông Cửu Long và giáp các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ Tỉnh có 8 đơn vị hành chính gồm 6 huyện (Bình Tân, Long Hồ, Mang Thít, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm); thị xã Bình Minh và thành phố Vĩnh Long Tổng cộng có 109 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn, bao gồm 94 xã, 5 thị trấn và 10 phường.

Vĩnh Long là tỉnh có nền kinh tế, xã hội đang dần phát triển với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao; cùng với sự phát triển đó, các tranh chấp trên các lĩnh vực có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tranh chấp hành chính Hoạt động giải quyết vụ án hành chính luôn nhận được sự quan tâm của toàn thể hệ thống chính trị tỉnh và hoạt động xét xử nói chung cùng với đối thoại trong giải quyết các vụ án hành chính ngày càng hoàn thiện, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Trong thời gian qua, Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Long đã nỗ lực phấn đấu, tổ chức thực hiện tốt công tác xét xử Về công tác xét xử các vụ án hành chính (VAHC), từ năm 2016 đến ngày 31/10/2021, Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Long đã thụ lý 339 VAHC, trong đó đã giải quyết được 227 vụ án, chiếm tỷ lệ 66,96%.

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long công bố năm 2019, báo cáo tổng hợp kết quả của dự án điều tra và đánh giá chất lượng đất, cũng như tiềm năng đất đai lần đầu ở tỉnh Vĩnh Long, trong đó trang 25 trình bày các kết quả phân tích chất lượng đất và nhận định về tiềm năng sử dụng đất cho phát triển địa phương.

19 Theo Báo cáo Công tác xét xử và phương hướng, nhiệm vụ của Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Long từ năm 2016-2021

Bảng 2.1 Thống kê tình hình xét xử VAHC của Toà án nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

NĂM CẤP TOÀ ÁN SỐ THỤ LÝ ĐÃ GIẢI QUYẾT

Hoạt động xét xử các VAHC đã góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, bảo đảm tính ổn định, thông suốt và hiệu lực của nền hành chính quốc gia Để các bên đương sự gặp gỡ, thống nhất về việc giải quyết VAHC, Toà án các cấp tổ chức đối thoại theo quy định của pháp Luật TTHC Theo số liệu giai đoạn 2018–2021, có 2 vụ án được Toà án tổ chức đối thoại (2018), 35 vụ (2019), 29 vụ (2020) và 8 vụ (2021); một số vụ đối thoại đã thành công, giúp giải quyết tranh chấp hành chính nhanh chóng, triệt để và hạn chế kéo dài tình trạng khiếu kiện.

Bảng 2.2 Thống kê số VAHC đƣợc tổ chức đối thoại và kết quả đối thoại thành của Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Long từ năm 2018-2021

NĂM SỐ VAHC TỔ CHỨC ĐỐI THOẠI

KẾT QUẢ ĐỐI THOẠI THÀNH

Trong quá trình tổ chức đối thoại, Thẩm phán thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật TTHC về trình tự, thủ tục tiến hành đối thoại Thẩm phán phổ biến cho các đương sự các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ việc nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của các bên Việc tuân thủ chặt chẽ này tăng cường tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của quá trình tố tụng.

Theo thống kê từ năm 2018-2021, thụ lý và giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Long cho thấy quá trình các đương sự được hướng dẫn liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình, và phân tích hậu quả pháp lý của đối thoại để hỗ trợ các bên tự nguyện đi đến thống nhất trong giải quyết vụ án Bên cạnh đó, thẩm phán còn giải thích quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý và Điều 2 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 hướng dẫn chi tiết Luật Trợ giúp pháp lý, nhằm tăng cường tiếp cận và sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý cho người dân.

Qua đối thoại, các bên VAHC đã thống nhất giải quyết vụ việc và cam kết thực hiện đúng quy định của pháp luật, được Tòa án công nhận kết quả đối thoại và đình chỉ việc giải quyết vụ án Điển hình là vụ án thụ lý số 06/2021/TLST-HC ngày 24/5/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa người khởi kiện là bà Cao NCL và người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Vĩnh Long Qua đối thoại, các đương sự đã thống nhất với nhau các nội dung như sau: bà L phải gửi đơn khiếu nại và Chủ tịch UBND huyện B phải thụ lý giải quyết khiếu nại theo quyết định số 346/2018/HC-PT ngày 29/8/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh và quy định của Luật Khiếu nại; ngay sau khi nhận Thông báo thụ lý giải quyết đơn khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện B, bà L sẽ rút đơn khởi kiện.

Ngày 05 tháng 7năm 2021 và ngày 25 tháng 8 năm 2021 Chủ tịch UBND huyện B và người khởi kiện đã thực hiện nội dung làm việc theo thoả thuận tại biên bản đối thoại ngày 01 tháng 7 năm 2021 Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án về việc người bị kiện đã thực hiện nội dung đối thoại thành và người khởi kiện đã nộp cho Toà án văn bản rút đơn khởi kiện, không có đương sự nào có ý kiến phản đối Vì thế, ngày 30 tháng 9 năm 2021 Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ra Quyết định số 07/2021/QĐST-HC công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án 21

2.1.2 Những hạn chế của thực tiễn đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính tại tỉnh Vĩnh Long

Quyết định số 07/2021/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về công nhận kết quả đối thoại thành công và đình chỉ giải quyết vụ án nêu rõ rằng các bên đã đạt được thỏa thuận tại buổi đối thoại và kết quả này được tòa án công nhận Văn bản cho phép đình chỉ giải quyết vụ án dựa trên quy định tố tụng và thỏa thuận giữa các bên khi kết quả đối thoại được chấp nhận, từ đó kết thúc quá trình xét xử theo đúng quy trình Quyết định này nhằm đảm bảo công bằng pháp lý, tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng cho các bên liên quan, đồng thời ghi nhận kết quả đối thoại như căn cứ để dừng các bước tiếp theo của vụ án Thông tin trong quyết định đóng vai trò quan trọng trong quản lý vụ án tại tỉnh Vĩnh Long và cho thấy sự linh hoạt của hệ thống tư pháp trong việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp ngoài tố tụng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn đối thoại trong quá trình giải quyết VAHC ở tỉnh Vĩnh Long vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định Các hạn chế này cần được nhận diện rõ ràng và phân tích kỹ lưỡng để từ đó đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đối thoại, đảm bảo tính khách quan, minh bạch và hiệu quả trong quá trình giải quyết VAHC tại địa phương.

Thứ nhất, số lượng VAHC tổ chức đối thoại còn tương đối thấp so với số lượng VAHC được Toà án các cấp thụ lý

Theo quy định hiện hành, đối thoại là thủ tục bắt buộc trong tố tụng hành chính trừ các vụ án không thể tiến hành đối thoại và các vụ khiếu kiện danh sách cử tri Tại Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Long, tình hình xét xử hành chính cho thấy số vụ án có đối thoại còn rất thấp Cụ thể, năm 2018 thụ lý 68 vụ án hành chính nhưng chỉ có 2 vụ được tổ chức đối thoại; năm 2019 thụ lý 52 vụ và có 35 vụ đối thoại; năm 2020 thụ lý 47 vụ và có 29 vụ đối thoại.

Bên cạnh đó, tỷ lệ VAHC đối thoại thành còn tương đối thấp Trong đó, năm

Về tình hình đối thoại thành tại VAHC, năm 2018 không có vụ án nào đối thoại thành; năm 2019 có 7 vụ trên tổng số 35 vụ, chiếm tỷ lệ 20%; năm 2020 là 2/29 vụ, tương đương 6,9%; năm 2021 là 2/8 vụ, tương ứng 25% Trong các vụ án đối thoại thành, hầu hết là người khởi kiện tham gia đối thoại và tự nguyện rút đơn khởi kiện Từ năm 2018 đến nay, trong tổng số 13 vụ án đối thoại thành, chỉ có 3 vụ các bên đương sự cùng cam kết và thực hiện cam kết được Toà án ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án.

Thứ hai, quyết định công nhận kết quả đối thoại và đình chỉ giải quyết vụ án được ban hành không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, thể hiện sự thiếu hụt trong trình tự tố tụng và căn cứ pháp lý Quyết định này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan và làm suy giảm tính hợp lệ của hồ sơ vụ án.

Thông qua đối thoại, các bên đương sự có thể thống nhất với nhau về việc giải quyết VAHC Theo quy định tại khoản 3 Điều 140 của Luật TTHC năm 2015, khi các bên đương sự đồng ý giải quyết vụ án bằng việc người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện, Tòa án lập biên bản về cam kết của các đương sự; trong vòng 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện Hết thời hạn này mà một trong hai đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục mở phiên tòa xét xử vụ án Khi nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp Như vậy, Toà án chỉ có thể ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành và đình chỉ giải quyết VAHC khi người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện, sau đó cả người khởi kiện và người bị kiện cùng thực hiện cam kết trên Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy một số trường hợp Toà án ban hành quyết định công nhận kết quả đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án chưa đúng với quy định pháp luật, cụ thể như sau:

Một nội dung cam kết của người bị kiện không liên quan trực tiếp đến việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ quyết định bị kiện, cũng như không liên quan đến việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện; sự cam kết này tập trung vào các yếu tố khác và không tác động trực tiếp đến quyết định pháp lý hoặc hành vi hành chính đang được xem xét trong vụ kiện.

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính ở tỉnh Vĩnh Long

2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính về đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

Đối thoại là cơ hội để các đương sự gặp gỡ, thống nhất với nhau về việc giải quyết VAHC, do đó quy định hiện hành tạo điều kiện cho họ tham gia đối thoại Những vụ án không tiến hành đối thoại là các trường hợp đương sự vắng mặt, không thể tham gia hoặc không có nhu cầu tham gia đối thoại Để bảo đảm quyền tham gia phiên họp đối thoại và tính kịp thời trong giải quyết VAHC, các quy định về những vụ án không tiến hành đối thoại phải thật sự chặt chẽ và hợp lý Hiện nay, các quy định này còn tồn tại những hạn chế và bất cập, gây khó khăn cho Toà án trong quá trình áp dụng và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong tố tụng hành chính Do đó, quy định về những vụ án không tiến hành đối thoại được cần sửa đổi, bổ sung, và có hướng dẫn cụ thể cho các nội dung sau đây:

Để bảo đảm tính chính xác và phù hợp với quy định hiện hành về sự có mặt của đương sự khi được Tòa án triệu tập hợp lệ, cần sửa đổi khoản 1 Điều 135 của Luật TTHC năm 2015 đối với các vụ án không tiến hành đối thoại theo hướng tương tự với điểm 1 khoản 1 Điều 143 và khoản 2 Điều 157 của Luật TTHC, nhằm ghi nhận rằng người khởi kiện, người bị kiện và các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Đối với trường hợp đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể về định nghĩa và phạm vi của 'lý do chính đáng' Để bảo đảm quyền tham gia phiên họp, chỉ khi được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai và đương sự vẫn vắng mặt vì lý do chính đáng mới được xem là không tiến hành đối thoại Ngược lại, nếu các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng nhưng có nhu cầu tham gia đối thoại, Tòa án cần tạo điều kiện để các đương sự được đối thoại về việc giải quyết VAHC Vì vậy, pháp luật TTHC cần hướng dẫn cụ thể quyền đề nghị Tòa án tổ chức đối thoại trong trường hợp này.

Ba là, đối thoại trong tố tụng hành chính chủ yếu diễn ra giữa người khởi kiện và người bị kiện, vì thế, quy định “Các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại” tại khoản 3 Điều 135 của Luật TTHC là không hợp lý Quy định này có thể làm quá trình giải quyết VAHC bị kéo dài không cần thiết khi đòi h i tất cả các đương sự đều thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại Ở đây, chỉ cần người khởi kiện hoặc người bị kiện đề nghị không tiến hành đối thoại, Toà án sẽ không tiến hành đối thoại Do đó, cần sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 135 của Luật TTHC như sau: “Người bị kiện hoặc người khởi kiện đề nghị không tổ chức đối thoại”

Thứ hai, quy định về cách thức xử lý trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên họp đối thoại

Việc có mặt tại phiên họp đối thoại khi được Toà án triệu tập hợp lệ là nghĩa vụ của các đương sự Vì những lý do khác nhau, đương sự có thể vắng mặt Hiện nay, Luật TTHC chưa quy định cụ thể về cách thức xử lý trong trường hợp các đương sự vắng mặt tại phiên họp đối thoại Để bảo đảm tính thống nhất cho trong việc áp dụng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong tố tụng hành chính, Luật TTHC cần quy định cụ thể về sự có mặt và cách thức xử lý trong trường hợp các đương sự vắng mặt khi được Toà án triệu tập tham gia phiên họp đối thoại Theo đó, khi được Toà án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên họp đối thoại lần thứ nhất mà đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự vắng mặt có lý do chính đáng, Toà án sẽ hoãn phiên họp đối thoại Đối với quy định tại khoản 3 Điều 137 của Luật TTHC, trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên họp để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp và thông báo bằng văn bản việc hoãn phiên họp, mở lại phiên họp cho các đương sự Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cần hướng dẫn cụ thể như thế nào là “không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các đương sự vắng mặt”

Quy định về người tham gia đối thoại và vai trò của các bên tham gia đối thoại: để bảo đảm tính thống nhất trong quy định về thành phần tham gia đối thoại và phát biểu tại phiên họp đối thoại, Luật TTHC cần bổ sung người đại diện hợp pháp của đương sự tại khoản 4 Điều 138; đồng thời, để tạo điều kiện thuận lợi cho bên bị kiện có mặt tại phiên đối thoại, Luật TTHC cần mở rộng phạm vi chủ thể được ủy quyền làm người đại diện cho người bị kiện, bao gồm cơ quan, tổ chức và người đứng đầu cơ quan, tổ chức; người bị kiện có thể ủy quyền cho người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc cơ quan, tổ chức.

UBND và các cơ quan có chức năng tương đương được xem là người đại diện cho đương sự trong tố tụng hành chính Bên cạnh đó, Khoản 6 Điều 61 của Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC) cần được bổ sung quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thay mặt đương sự tham gia đối thoại khi được đương sự ủy quyền bằng văn bản.

Biên bản ghi nhận cam kết của các đương sự và cách xử lý kết quả đối thoại khi các bên thực hiện cam kết đóng vai trò trọng yếu trong cơ chế giải quyết tranh chấp Biên bản ghi nhận đầy đủ sự đồng thuận về nội dung, thời hạn và biện pháp thực hiện cam kết, làm căn cứ để theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và xử lý phát sinh Trong quá trình đối thoại, nếu các cam kết được thực hiện đúng như thỏa thuận, kết quả đối thoại sẽ được ghi nhận là hoàn thành và các biện pháp xác nhận sự thực hiện được áp dụng Ngược lại, khi xảy ra sự không thực hiện hoặc vi phạm cam kết, các bước xử lý sẽ được thực hiện theo quy trình đã thỏa thuận, bao gồm xem xét lại nội dung cam kết, điều chỉnh biện pháp thực hiện hoặc áp dụng biện pháp xử lý phù hợp Việc ghi nhận rõ ràng và đầy đủ kết quả đối thoại giúp tăng tính minh bạch, bảo đảm trách nhiệm của các bên và thuận lợi cho việc lưu trữ, tra cứu sau này.

Để bảo đảm tính thống nhất trong việc áp dụng, Toà án nhân dân tối cao cần ban hành hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục ghi nhận sự cam kết của các bên và xây dựng biểu mẫu biên bản cam kết với nội dung chi tiết; đồng thời, nhằm tránh các quan điểm khác nhau về điều kiện ban hành quyết định công nhận kết quả đối thoại và đình chỉ giải quyết vụ án, Luật TTHC cần sửa đổi Khoản 3 Điều 140.

“Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho

Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện Hết thời hạn này, nếu một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình, Thẩm phán tiến hành các thủ tục mở phiên tòa xét xử vụ án Trường hợp các bên đã thực hiện cam kết, khi bên cuối cùng thực hiện cam kết, Tòa án phải thông báo cho đương sự khác biết Trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối, Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành và đình chỉ việc giải quyết vụ án, đồng thời gửi quyết định ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2.2.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính tại tỉnh Vĩnh Long

Thứ nhất, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân về đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính

Đối thoại trong tố tụng hành chính chỉ đạt hiệu quả cao khi người khởi kiện có hiểu biết nhất định về pháp luật hành chính và tố tụng hành chính; tuyên truyền pháp luật qua các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đã đạt được một số kết quả, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ và ý thức pháp luật cho người dân Tòa án nhân dân hai cấp của tỉnh chưa triển khai xét xử lưu động để tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về pháp luật TTHC và VAHC cho cộng đồng; vì vậy cấp ủy Đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật TTHC nói chung và quy định về đối thoại trong tố tụng hành chính nói riêng Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long cần tăng cường tuyên truyền, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp và đa dạng hóa các phương tiện tuyên truyền để tới được người dân, đồng thời chỉ đạo các tòa án cấp huyện chú trọng công tác này qua nhiều kênh khác nhau Ngoài ra, nên mở chuyên mục tuyên truyền về thủ tục giải quyết VAHC, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trên Đài phát thanh và Đài truyền hình địa phương.

Thứ hai, nâng cao ý thức trách nhiệm của người bị kiện và đại diện hợp pháp của họ trong việc tham gia đối thoại với Toà án, đồng thời tăng cường ý thức của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Toà án, nhằm bảo đảm quá trình tố tụng diễn ra công bằng, minh bạch và hiệu quả.

Phiên họp đối thoại chỉ có thể tiến hành và đạt hiệu quả khi người bị kiện ý thức trách nhiệm của mình trong quá trình giải quyết VAHC; người kiện cần thái độ cầu thị, hợp tác, sẵn sàng nhận trách nhiệm và đối thoại để tìm ra sự thật khách quan của vụ án Ngoài ra, người bị kiện cần phối hợp chặt chẽ với người tiến hành tố tụng trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để quá trình đối thoại đạt kết quả tốt Các cấp ủy Đảng, thủ trưởng người bị kiện cần làm gương, thể hiện ý thức trách nhiệm đối với hoạt động xét xử hành chính và tham gia đối thoại, cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án Bên cạnh đó, pháp luật cần quy định cụ thể hình thức xử lý đối với những trường hợp người bị kiện cố tình vắng mặt tại các phiên toà, phiên họp giải quyết VAHC và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi trì hoãn việc cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Toà án.

Thứ ba, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng đối thoại của Thẩm phán

Trong báo cáo Tổng kết công tác xét xử năm 2021 và phương hướng nhiệm vụ năm 2022 của Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Long, tổng biên chế hiện có là 199 người, trong đó cấp tỉnh 57 người (01 Thẩm phán cao cấp; 18 Thẩm phán trung cấp; 15 Thẩm tra viên; 21 Thư ký; 02 cán bộ khác) và cấp huyện 142 người (17 Thẩm phán trung cấp; 57 Thẩm phán sơ cấp; 06 Thẩm tra viên; 58 Thư ký; 04 cán bộ khác) Trong thời gian qua, TAND tỉnh Vĩnh Long luôn chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ nói chung và thẩm phán xét xử hành chính nói riêng Tuy án hành chính là loại án phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực của quản lý nhà nước như đất đai, thuế, cạnh tranh, để có nhận định chính xác, toàn diện tại phiên họp đối thoại đòi hỏi thẩm phán phải có kiến thức về quản lý nhà nước Vì vậy, bên cạnh việc thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ thẩm phán, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long cần chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao kiến thức quản lý nhà nước cho các thẩm phán được phân công xét xử án hành chính.

Ngoài kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ, kỹ năng tổ chức đối thoại của Thẩm phán đóng vai trò đặc biệt quan trọng để phiên họp đối thoại đạt hiệu quả cao Để đạt mục tiêu và yêu cầu của công tác đối thoại, thẩm phán cần thành thạo các kỹ năng thiết yếu như lọc thông tin, diễn đạt rõ ràng bằng ngôn ngữ phù hợp, tư duy phân tích, xây dựng kế hoạch đối thoại và giao tiếp hiệu quả Vì thế, song song với nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long cần tăng cường công tác bồi dưỡng kỹ năng đối thoại của thẩm phán trong quá trình giải quyết VAHC.

Thứ tư, bảo đảm về điều ki n vạ t chất, phu o ng ti n kỹ thuạ t cho hoạt đọ ng đối thoại ở Tòa án nha n da n hai cấp tỉnh Vĩnh Long

Ngày đăng: 27/10/2022, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích từ ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 124-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giải thích từ ngữ luật học
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
15. Trần Sỹ Dương (2016), Đối thoại trong giải quyết tranh chấp hành chính ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại trong giải quyết tranh chấp hành chính ở Việt Nam
Tác giả: Trần Sỹ Dương
Năm: 2016
16. Nguyễn Thị Hà (2017), Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2017
17. Lê Thu Hằng (2011), “Đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính”, Tạp chí Nghề luật, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính”, "Tạp chí Nghề luật
Tác giả: Lê Thu Hằng
Năm: 2011
18. Nguyễn Thuý Hiền (2018), “Đổi mới, tăng cường hoà giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, tăng cường hoà giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Thuý Hiền
Năm: 2018
19. Nguyễn Ngọc Hoà – Chủ bie n, Tru ờng Đại học Luạ t Hà Nọ i (1999), Từ điển giải thích thuạ t ngữ luạ t học – Luạ t Hành chính, Luạ t TTHC, Luạ t uốc tế, Nxb Co ng an nha n da n, Hà Nọ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuạt ngữ luạt học – Luạt Hành chính, Luạt TTHC, Luạt uốc tế
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà – Chủ bie n, Tru ờng Đại học Luạ t Hà Nọ i
Nhà XB: Nxb Co ng an nha n da n
Năm: 1999
20. Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam
Tác giả: Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
21. Lê Thị Mơ (2014), Người khởi kiện trong vụ án hành chính, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người khởi kiện trong vụ án hành chính
Tác giả: Lê Thị Mơ
Năm: 2014
22. Nguyễn Thành Nhân (2016), “Thủ tục đối thoại trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục đối thoại trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Thành Nhân
Năm: 2016
23. Lê Việt Sơn, Vũ Thị Minh Thuý (2016), “Thủ tục đối thoại theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục đối thoại theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Lê Việt Sơn, Vũ Thị Minh Thuý
Năm: 2016
24. Trần Thị Tố Thu (2012), “Đối thoại trong tố tụng hành chính”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại trong tố tụng hành chính
Tác giả: Trần Thị Tố Thu
Năm: 2012
25. Nguyễn Thị Hồng Trang (2016), Đối thoại trong tố tụng hành chính, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại trong tố tụng hành chính, Luận văn thạc sĩ luật học
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Trang
Năm: 2016
26. Lê Quang Trình (2020), “Sự cần thiết của hoạt động đối thoại trong tố tụng hành chính từ thực tiễn một vụ án”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết của hoạt động đối thoại trong tố tụng hành chính từ thực tiễn một vụ án”, "Tạp chí Luật sư Việt Nam
Tác giả: Lê Quang Trình
Năm: 2020
27. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2014
28. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2019
29. Viẹ n Ngo n ngữ học (2008), Từ điển Tiếng Viẹ t, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Viẹt
Tác giả: Viẹ n Ngo n ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2008
30. Viẹ n Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luạ t học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tu pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luạt học
Tác giả: Viẹ n Khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tu pháp
Năm: 2006
31. Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, tr. 225-228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
32. Nguyễn Hoàng Yến (2018), “Xử lý kết quả đối thoại trong tố tụng hành chính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12.C. Các Báo cáo, quyết định của Toà án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý kết quả đối thoại trong tố tụng hành chính”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Hoàng Yến
Năm: 2018
33. Báo cáo Tổng kết hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao năm 2018 34. Báo cáo Tổng kết hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao năm 2019 35. Báo cáo Tổng kết hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao năm 2020 36. Báo cáo Tổng kết hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao năm 2021 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w