SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN VỠ TỬ CUNG TRONG THAI KỲ BS Phạm Thị Phương Anh Thai phụ nhập viện trong tình trạng đau bụng cấp là một trong những tình huống lâm sàng thường gặp Trong đó vỡ tử cung là nguyên nhân.
Trang 1SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN VỠ TỬ
CUNG TRONG THAI KỲ
BS Phạm Thị Phương Anh
Thai phụ nhập viện trong tình trạng đau bụng cấp là một trong những tình huống lâm sàng thường gặp Trong đó vỡ
tử cung là nguyên nhân ít gặp nhưng tần xuất tử vong mẹ
và thai nhi cao nếu không chẩn đoán và xử trí kịp thời Một phân tích gộp tổng hợp dữ liệu từ 25 nghiên cứu đăng trên PubMed, Medline và Cochrane từ 1976-2012, có 2.084 trường hợp vỡ tử cung trong số 2.951.297 thai phụ khảo sát, chiếm tỷ lệ 0.07% (1) Nhưng khi phân tích giới hạn lại các trường hợp không có sẹo mổ cũ trên tử cung thì tỷ lệ này giảm xuống còn 0.012% Tuy nhiên hiện nay tình trạng
mổ lấy thai ngày càng gia tăng dẫn đến tỷ lệ vỡ tử cung trên thai phụ có vết mổ cũ cũng tăng cao
Các dấu hiệu lâm sàng trong vỡ tử cung trong trường hợp
có vết mổ cũ thường không đặc hiệu, gây khó khăn trong chẩn đoán Thời gian từ lúc tiếp nhận bệnh nhân đến lúc chẩn đoán và lấy thai ra càng nhanh càng tốt Ngoài thăm khám lâm sàng, siêu âm là phương tiện chẩn đoán đầu tay
để khảo sát các trường hợp này Ngoài ra siêu âm đo bề dày đoạn dưới tử cung nhằm dự đoán tình trạng nứt hoặc vỡ tử cung trước đây ít được sử dụng do các nghiên cứu trước công bố rằng nó có giá trị tiên đoán dương thấp, giá trị tiên đoán âm cao Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây, bao gồm
cả tổng quan hệ thống đã chứng minh siêu âm thật sự có giá
Trang 2trị dự đoán vỡ tử cung trong trường hợp có vết mổ cũ lấy thai
A GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM ĐO BỀ DÀY ĐOẠN DƯỚI
TỬ CUNG TRONG DỰ ĐOÁN VỠ TỬ CUNG
Trên 90% các trường hợp vỡ tử cung xảy ra do nứt vết mổ
cũ lấy thai hoặc bóc nhân xơ tử cung Chính vì vậy đã có nhiều nghiên cứu khảo sát giá trị của siêu âm đo bề dày toàn bộ đoạn dưới tử cung (the full lower uterine segment -fLUS- thickness ) và bề dày cơ tử cung đoạn dưới (the myometrial thickness of LUS -mLUS)
trong dự đoán vỡ tử cung
Năm 1999, Rozenberg và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu tiến cứu trên 642 thai phụ (2) và nhận thấy nguy cơ vỡ tử cung đối với thai phụ có tiền căn mổ lấy thai có liên quan trực tiếp đến bề dày fLUS Siêu âm ngả bụng thời điểm
36-38 tuần tuổi thai cho thấy nguy cơ vỡ tử cung cao khi bề dày fLUS mỏng hơn 3.5 mm Sử dụng ngưỡng cắt này, tác giả cho biết độ nhạy là 88%, độ đặc hiệu là 73.2%, giá trị tiên đoán dương là 11.8%, giá trị tiên đoán âm là 99.3% trong dự đoán vỡ tử cung
Đến năm 2000, một nghiên cứu tiến cứu khác của Gotoh
và cộng sự trên 722 thai phụ (3), siêu âm khảo sát bề dày fLUS nhận thấy nếu dùng cut-off là 2mm thì giá trị tiên đoán dương là 73.9% và giá trị tiên đoán âm là 100%
Năm 2014, một tổng quan hệ thống các dữ liệu trên
PubMed, Embase và Cochrane từ 1965-2009 (4) Có 12 nghiên cứu, gồm 1834 thai phụ được đưa vào phân tích
Trang 3Các thai phụ có tiền căn mổ lấy thai, được đo bề dày fLUS
và bề dày mLUS vào ba tháng cuối thai kỳ Phân tích ROC cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa bề dày đoạn dưới
tử cung và vỡ tử cung (AUC: 0.84 ± 0.03, P < 0.001) Với
cut-off có giá trị dự đoán dao động trong khoảng 2-3.5 mm Ngoài ra bề dày mLUS cũng có giá trị dự đoán nhưng thấp
hơn fLUS (AUC: 0.75 ± 0.05, P< 0.01), với cut-off là 1.4-2
mm
Đến năm 2016, nghiên cứu của Tadatsugu Kinjo và cộng sự
đăng trên Open Journal of Obstetrics and Gynecology (5) cũng chứng minh được bề dày mLUS và fLUS có liên quan đến nguy cơ vỡ tử cung Nghiên cứu tiến cứu trên 89 thai phụ từ 37-41 tuần, khảo sát tiến hành từ năm 2013-2015 Các thai phụ được chia làm hai nhóm: nhóm A có tiền căn
mổ lấy thai, nhóm B có tiền căn sinh ngả âm đạo Siêu âm ngả âm đạo đánh giá mLUS và fLUS được thực hiện trước
mổ lấy thai hoặc sinh thường Sau đó quan sát LUS trong quá trình phẫu thuật, LUS được chia làm 4 mức độ: độ I là LUS tiến triển tốt, độ II là LUS mỏng nhưng không quan sát thấy phần thai bên trong, độ III là có thể quan sát thấy phần thai bên trong và độ IV là có vết nứt hoặc vỡ tử cung Kết quả nghiên cứu cho thấy bề dày mLUS và fLUS trung bình ở nhóm A là 1.5 mm và 4.07 mm, nhóm B lần lượt là 2.75 mm và 5.37 mm Ngoài ra có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa bề dày mLUS/ fLUS giữa độ I/II ( 2.07 và 4.37 mm) và độ III/IV (0.67 và 2.52 mm) Cả mLUS và fLUS đều có giá trị tiên đoán độ III/IV, với cut-off là 0.97
mm cho mLUS và 3.13 mm cho fLUS Độ nhạy của
mLUS/ fLUS lần lượt là 87.5% và 75%, độ đặc hiệu cũng lần lượt là 87.7% và 91.4% Nghiên cứu kết luận siêu âm
Trang 4đo bề dày LUS từ 37-41 tuần có thể là một phương pháp khả thi và đáng tin cậy để dự đoán nứt hoặc vỡ tử cung
Năm 2019, Brenna E Swift và cộng sự (6) đã thực hiện một phân tích gộp và tổng quan hệ thống về giá trị của siêu
âm đo bề dày đoạn dưới tử cung từ 36-40 tuần nhằm dự đoán vỡ/ nứt tử cung khi vào chuyển dạ Phân tích gộp này dựa trên 28 nghiên cứu đoàn hệ, được tổng hợp trên
MEDLINE, EMBASE, ClinicalTrials.gov và Cochrane Library từ năm 1990 đến 11/ 2018, với 5874 thai phụ có tiền căn mổ lấy thai “Cut-off” trong các nghiên cứu trên dao động từ 1.5- 4.05 mm Kết quả phân tích cho thấy có mối liên hệ giữa bề dày đoạn dưới cơ tử cung và tình trạng vỡ/ nứt tử cung Khi phân tích dưới nhóm 12 nghiên cứu, cut-off trong khoảng 2.0-3.65 mm có giá trị dự đoán chính xác hơn Cụ thể là trong 12 nghiên cứu, có 18 ca ( 1.0%) vỡ
tử cung, 120 ca nứt vết mổ cũ (6.6%) và 1674 ca không có tình trạng vỡ/nứt tử cung Kết quả cho thấy độ nhạy là 0.88 (95% CI 0.83 0.92) và độ đặc hiệu là 0.77 (95% CI 0.70‐ ‐ 0.83) Nghiên cứu kết luận, nếu bề dày đoạn dưới tử cung
> 3.65 mm với kỹ thuật đo chuẩn sẽ giảm nguy cơ vỡ tử cung trong chuyển dạ
B KỸ THUẬT SIÊU ÂM ĐO mLUS VÀ fLUS:
Vấn đề về mặt kỹ thuật siêu âm làm sao để đo chính xác bề dày đoạn dưới cơ tử cung cần được quan tâm Hiện tại có hai phương pháp đo, gồm siêu âm ngả bụng và siêu âm ngả
âm đạo
Trang 5Năm 2004, Cheung và cộng sự đã mô tả kỹ thuật siêu âm ngả bụng đo mLUS công bố trên Journal of Ultrasound in Medicine (7) Siêu âm thực hiện khi bàng quang đầy để cho hình ảnh rõ nét Sử dụng đầu dò convex có tần số từ 3.5-5.0 MHz Vùng mỏng nhất của đoạn dưới tử cung được xác định qua mặt cắt dọc giữa, dọc theo kênh CTC Phóng đại vùng này sao cho sự di chuyển nhẹ của con trỏ chỉ làm thay đổi 0.1 mm Cách đo chuẩn là đặt con trỏ ở hai điểm: điểm thứ nhất là vị trí tiếp xúc giữa thành bàng quang và mặt trước cơ tử cung, vị trí thứ hai là vị trí tiếp xúc giữa mặt sau
cơ tử cung và màng ối như hình mô tả bên dưới Đo ít nhất hai lần và giá trị thấp nhất được xem là mLUS
Hình mô tả cách đo mLUS qua siêu âm ngả bụng, B là
bàng quang, H là đầu thai nhi
Đến năm 2013 Ginsberg và cộng sử mô tả phương pháp đo
bề dày toàn bộ đoạn dưới tử cung (fLUS) và bề dày cơ tử cung đoạn dưới (mLUS), công bố trên Journal of Clinical Ultrasound (8) Siêu âm ngả âm đạo khi bàng quang trống
Trang 6Vùng mỏng nhất của đoạn dưới tử cung được xác định, đo fLUS bằng cách đặt con trỏ hai vị trí: một là mặt trong thành sau bàng quang, hai là vị trí tiếp xúc giữa màng ối và màng rụng Cách đo mLUS cũng tương tự như Cheung mô
tả Hiện chưa có khuyến cáo nên đo ngả nào là ưu thế hơn
The LUS was examined to identify
the thinnest zone and evaluated using the
transvagi-nal approach with an empty urinary bladder Full LUS
thickness was measured with a caliper at the inner
surface of the posterior bladder wall and another
cali-per at the interface between the amniotic fluid and
the decidua The myometrium was measured with
the first caliper at the interface between the amniotic
fluid and the deciduas and the second between the
bladder wall and the myometrium
The LUS was examined to identify
the thinnest zone and evaluated using the
transvagi-nal approach with an empty urinary bladder Full LUS
thickness was measured with a caliper at the inner
surface of the posterior bladder wall and another
cali-per at the interface between the amniotic fluid and
the decidua The myometrium was measured with
the first caliper at the interface between the amniotic
fluid and the deciduas and the second between the
bladder wall and the myometrium
The LUS was examined to identify
the thinnest zone and evaluated using the
transvagi-nal approach with an empty urinary bladder Full LUS
thickness was measured with a caliper at the inner
surface of the posterior bladder wall and another
Trang 7cali-per at the interface between the amniotic fluid and the decidua The myometrium was measured with the first caliper at the interface between the amniotic fluid and the deciduas and the second between the bladder wall and the myometrium
Hình minh họa cách đo fLUS và mLUS trên siêu âm
Trang 8Hình ảnh vết nứt vị trí vết mổ cũ, fLUS rất mỏng (hai mũi tên thẳng)
C CÁC DẤU HIỆU CHẨN ĐOÁN VỠ TỬ CUNG TRÊN SIÊU ÂM(9):
1 Các thành phần thai, túi ối lồi ra khỏi tử cung, nằm trong khoang bụng, dấu hiệu này dễ quan sát trên siêu
âm Tuy nhiên dấu hiệu này xuất hiện trong giai đoạn muộn
2 Quan sát thấy vết nứt trên cơ tử cung
3 Hình ảnh khối máu tụ phía ngoài tử cung
4 Sự hiện diện của dịch tự do trong ổ bụng
Trang 9Hình ảnh túi ối (AF) và một phần mông thai nhi lồi ra khỏi
tử cung, lớp cơ tử cung mất liên tục (M), bánh nhau (P) còn nằm trong tử cung
Trang 10Hình ảnh vết nứt trên cơ và khối máu tụ mặt ngoài tử cung
Trang 11Hình ảnh các vết nứt trên tử cung, quan sát được túi ối.
Tài liệu tham khảo:
1 https://reference.medscape.com/article/275854-overview#a5
2 Rozenberg P, Goffinet F, Philippe HJ, Nisand I Thickness of the lower uterine segment: its influence in the management of
patients with previous cesarean sections Eur J Obstet
3 Gotoh H, Masuzaki H, Yoshida A, et al Predicting
incomplete uterine rupture with vaginal sonography during the late second trimester in women with prior
cesarean Obstet Gynecol 2000 Apr
95(4):596-600 [Medline]
Trang 124
http://www.jogc.com/article/S1701-2163(16)34475-9/abstract
5 http://www.scirp.org/journal/ojog
http://dx.doi.org/10.4236/ojog.2016.61001
7 Cheung, V.Y., Constantinescu, O.C and Ahluwalia, B.S (2004) Sonographic Evaluation of the Lower Uterine
Segment in Patients with Previous Cesarean Delivery
Journal of Ultrasound in Medicine, 23, 1441-1447
8 Ginsberg, Y., Goldstein, I., Lowenstein, L and Weiner, Z (2013) Measurements of the Lower Uterine Segment during Gestation Journal of Clinical Ultrasound, 41, 214-217
9 https://radiopaedia.org/articles/uterine-rupture