1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động trong tình hình dịch covid 19 theo quy định của pháp luật lao động việt nam

73 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động trong tình hình dịch Covid-19 theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam
Tác giả Võ Thị Ngọc Huyền
Người hướng dẫn Th.s Lường Minh Sơn
Trường học Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Lao Động
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pơ; BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH VÕ THỊ NGỌC HUYỀN BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

Trang 1

Pơ; BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

VÕ THỊ NGỌC HUYỀN

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI SỬ DỤNG

LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

LAO ĐỘNG VIỆT NAMKHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH- 07- 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

VÕ THỊ NGỌC HUYỀN

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

TH.S LƯỜNG MINH SƠN

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Các ngành chịu sự tác động của dịch Covid-19 năm 2020 ở Việt Nam

Bảng 2: Điểm khác biệt cơ bản giữa cách chức trong kỷ luật lao động với quyềnnhân sự của người sử dụng lao động

Bảng 3: Phân biệt chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp thông thường vàkhi bị xử lý kỷ luật

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Biện pháp ứng phó dịch Covid-19 của một số doanh nghiệp tại Việt Nam

Trang 5

Lời cam đoan

Lời đầu tiên tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các bạn họccùng lớp, Thầy dạy môn luật Nhật Bản đã bên cạnh giúp đỡ tác giả trong quá trìnhthực hiện khóa luận, và đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫnTh.s Lường Minh Sơn, Thầy đã hướng dẫn, chỉ dạy nhiệt tình, giúp tác giả hoànthành tốt bài khóa luận của mình

Tác giả xin cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp “Bảo vệ quyền lợi người sửdụng lao động trong tình hình dịch Covid-19 theo quy định pháp luật Lao động ViệtNam” là công trình nghiên cứu độc lập, không sao chép từ ai Trong bài khóa luận

có sử dụng một số nguồn tài liệu tham khảo đã được trích dẫn nguồn và chú thích rõràng Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Bộ môn, Khoa và nhà trường về

sự cam đoan này

Sinh viên thực hiện

Võ Thị Ngọc Huyền

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu 7

3 Phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Tính ứng dụng của đề tài 9

6 Bố cục bài viết 9

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 10

1.1 Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động 10

1.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động 10

1.1.2 Vị trí người sử dụng lao động trong mối quan hệ lao động 12

1.1.3 Vai trò của người sử dụng lao động đối với sự phát triển kinh tế xã hội 14

1.1.4 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động 18

1.2 Những vấn đề liên quan đến dịch Covid-19 19

1.2.1 Tình hình dịch Covid-19 19

1.2.2 Sự ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với người sử dụng lao động 22

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 29

2.1 Quyền lợi của người sử dụng lao động khi dịch Covid-19 xảy ra 29

2.1.1 Chuyển người lao động làm công việc khác với hợp đồng lao động 30

2.1.2 Tạm hoãn thực hiện hợp đồng 31

2.1.3 Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 32

2.1.4 Thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế 34

2.1.5 Tiền lương và thời gian làm việc 36

2.1.6 Thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất 39

2.1.7 Quỹ hưu trí, quỹ tử tuất 42

2.1.8 Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 45

2.1.9 Vay vốn ngân hàng 45

2.2 Kinh nghiệm bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động theo quy định pháp luật Nhật Bản 46

2.2.1 Chấm dứt hợp đồng lao động 46

2.2.2 Tiền lương 51

2.2.3 Thời gian làm việc 53

2.2.4 Kỷ luật lao động 54

2.3 Những bất cập trong quy định pháp luật và một số đề xuất hoàn thiện 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62

KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, bước vào thời đại công nghệ 4.0 Hầunhư đi đến đâu cũng dễ dàng bắt gặp sự “hiện đại”của cuộc sống như xe điện, xehơi, máy bay, cao hơn là trí thông minh nhân tạo, người máy,… hiện có nhiều nhàmáy sản xuất nhân công lao động con người đã được thay thế bởi phần mềm, thiết

bị máy móc hiện đại, robot,… Song bên cạnh đó, cùng với sự phát triển khôngngừng, và ngày càng đổi mới của xã hội thì cũng kéo theo vô số các vấn đề Sự pháttriển của máy móc công nghệ đã ảnh hưởng đến môi trường sống, ô nhiễm khôngkhí từ các khí thải trong quá trình sản xuất, chế tạo, hay vì săn bắn trái phép dẫn đếnnhiều loài động vật có nguy có tuyệt chủng Khai thác rừng bừa bãi, quá mức đểxây các khu nghỉ dưỡng, làm đồ gỗ trang trí dẫn đến lũ lụt, sạt lở đèo núi Lượnglớn rác thải đưa ra ngoài thiên nhiên đã ảnh hưởng đến hệ sinh thái, gây ra hiệntượng nóng lên toàn cầu, biến đổi khí hậu, tạo nên những đợt mưa lớn dẫn đến lũ lụtnghiêm trọng, nắng khắc nghiệt dẫn đến hạn hán Những hệ quả trên trở thành mộttrong những nguyên nhân tạo điều kiện mầm bệnh phát triển, gần đây nhất là dịchbệnh do chủng Coronavirus gây ra vào năm 2019, hay còn gọi là Covid-19, đã trởthành nỗi ám ảnh cho người dân trên toàn thế giới, WHO gọi đây là “đại dịch toàncầu”1

Dịch bệnh diễn ra ngày càng phức tạp và nguy hiểm, đã cướp đi không biếtbao sinh mạng Ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế của các quốc giatrên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Đối mặt với tình hình dịch bệnhnguy hiểm như vậy, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành chỉ đạo về việc

thực hiện mục tiêu kép: “vừa sẵn sàng phòng, chống dịch, vừa đẩy mạnh phát triển

kinh tế - xã hội” 2 Ý nghĩa, người dân Việt Nam trong khi đồng lòng quyết tâm

chống dịch, bên cạnh đó không được quên nhiệm vụ gia tăng sản xuất để giữ vững,thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, việc duy trì hoạt động sản xuất trong tìnhhình đại dịch Covid-19 có thể xem là một thử thách vô cùng khó khăn

1 Khánh An, “COVID-19 trở thành ‘đại dịch toàn cầu’, nên hiểu như thế nào?”, nguồn:

https://thanhnien.vn/the-gioi/dai-dich-covid-19-dai-dich-toan-cau-la-gi-co-y-nghia-ra-sao-1194727.html, truy cập ngày 08/04/2021.

2 “Vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, vừa phòng, chống dịch COVID-19”, nguồn:

te-xa-hoi-vua-phong-chong-dich-covid-19, truy cập ngày 08/04/2021.

Trang 8

https://moh.gov.vn/tin-lien-quan/-/asset_publisher/vjYyM7O9aWnX/content/vua-ay-manh-phat-trien-kinh-Mặc dù Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi nhận

nguyên tắc, “Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ và tạo

điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.” 3 Bộ luật Lao

động cũng ghi nhận chính sách của Nhà nước về lao động, “Bảo đảm quyền và lợi

ích hợp pháp của NSDLĐ, quản lý lao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội” 4 Tuy nhiên, trên thực tế đa số mọi

người với suy nghĩ NLĐ có vị thế “yếu” hơn trong mối quan hệ lao động vớiNSDLĐ nên có xu hướng bảo vệ phía NLĐ Do vậy, vô tình tạo nên sự không côngbằng và phân biệt đối xử đối với NSDLĐ trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa họ trong mối quan hệ lao động

Quan hệ lao động là mối quan hệ hai chiều tác động qua lại lẫn nhau, lợi íchcủa các bên vừa mâu thuẫn vừa thống nhất, vừa phụ thuộc vào nhau nên mọi sự bảo

vệ một chiều hay thái quá cho một bên đều bất lợi và phản tác dụng5 Vì vậy nếumuốn bảo vệ NLĐ thì trước tiên chúng ta nên bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ trước

Vì nếu được pháp luật bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc sản xuất, kinhdoanh, thì họ cũng sẽ đối xử nhẹ nhàng và tạo nhiều cơ hội cho NLĐ Từ những tàiliệu tham khảo liên hệ với nước ngoài, cũng như các quy định trong pháp luật Laođộng Việt Nam, tác giả nghiên cứu làm rõ những vấn đề về quyền lợi của NSDLĐ,

họ có những quyền lợi gì, được quy định như thế nào, ở đâu, phân tích việc áp dụng

có những khó khăn, vướng mắc như thế nào trong tình hình dịch Covid-19, sau đóđóng góp ý kiến hoàn thiện hơn trong việc bảo vệ quyền lợi NSDLĐ Nhằm giúpchủ thể này có thêm động lực cũng như niềm tin vào pháp luật, yên tâm hơn trongviệc giúp nền kinh tế nước nhà hồi phục, phát triển trong bối cảnh “đại dịch toàncầu” như hiện nay

Với những phân tích, quan điểm như trên, việc nghiên cứu nhằm làm rõ vàhoàn thiện quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi NSDLĐ trong tình hình dịchCovid-19 hiện nay là hết sức cần thiết Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài“BẢO

VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM” làm đề tài viết khóa luận tốt nghiệp của mình.

3 Khoản 2 Điều 57 Hiến pháp 2013.

4 Khoản 2 Điều 4 BLLĐ 2019.

5Lê Hồng Thanh (2002), “Những nền tảng pháp lý cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam: Những chế định pháp luật cơ bản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb Hà Nội , tr 223.

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu

Quan hệ lao động là mối quan hệ dân sự xuất hiện nhiều trong đời sống xãhội, vì vậy có nhiều tác giả cũng đã lựa chọn những đề tài nghiên cứu liên quan đếncác quyền lợi của những chủ thể trong mối quan hệ này như NSDLĐ Liên quan đếnquyền lợi của NSDLĐ có một số công trình nghiên cứu như sau:

- Trần Thị Vân Anh (2018), Pháp luật về quyền của người sử dụng lao động

và một số kiến nghị hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Luật Hà Nội;

- Lường Minh Sơn (2017), Quyền quản lý của người sử dụng lao động kinh nghiệm một số nước đối với Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Luật Tp.

Hồ Chí Minh;

- Nguyễn Thị Lành (2010), Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của người sử dụng lao động trong các cuộc đình công bất hợp pháp, Luận văn thạc

sĩ, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh;

- Lê Hoàng Thanh Vân (2016), Quyền quản lý của người sử dụng lao động

theo pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí

Minh;

- Lê Thu Thủy Trinh (2012), Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của người sử dụng lao động trong pháp luật lao động Việt Nam thực trạng áp dụng

và hướng hoàn thiện, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh;

- Nguyễn Thị Diễm (2011), Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của người sử dụng lao động trong chế định hợp đồng lao động, Khóa luận tốt

nghiệp, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh;

- Lý Thị Đức Hạnh (2010), Pháp luật lao động với vấn đề bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học

Trang 10

mắc ra sao Để khắc phục hạn chế này, tác giả lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợingười sử dụng lao động trong tình hình dịch Covid-19 theo quy định của pháp luậtLao động Việt Nam”, được nghiên cứu trong giai đoạn dịch bệnh vẫn đang hiện hữu.

Có thể thấy đề tài nghiên cứu vẫn còn mới mẻ

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tác giả chủ yếu sử dụng một số phương pháp nhưsau:

− Phương pháp lịch sử: Mục đích làm rõ dịch bệnh Covid-19 bắt đầu từ khinào, và ở đâu, thời gian dịch bệnh lan rộng trên thế giới, cũng như nêu những sựkiện đáng chú ý liên quan đến dịch bệnh;

− Phương pháp thống kê: Để chứng minh rõ sự nguy hiểm của dịch bệnh, tácgiả đã tổng hợp các số liệu về số người nhiễm và số bệnh nhân tử vong tại một sốquốc và toàn thế giới Ngoài ra, những số liệu thể hiện sự tác động, ảnh hưởngnghiêm trọng của dịch bệnh đến một số ngành nghề tại Việt Nam Từ đó, chứngminh mức độ nguy hiểm của dịch bệnh đối với xã hội, kinh tế;

− Phương pháp so sánh: Mục đích mở rộng phạm vi nghiên cứu để thấy được

sự khác nhau trong việc quy định những vấn đề liên quan đến quyền lợi NSDLĐgiữa Việt Nam với nước ngoài Theo đó, tác giả sẽ đánh giá phương pháp quy định,

xu hướng bảo vệ NSDLĐ giữa các quốc gia Ngoài ra để nhận thấy sự thay đổitrong cách quy định giữa BLLĐ 2012 với BLLĐ 2019, nêu lên những điểm mới đãđược bổ sung, thay thế Phương pháp này còn sử dụng trong việc so sánh số liệuphát triển của nền kinh tế trước và sau khi dịch bệnh Covid-19 diễn ra, nhằm nổi bậtlên hệ quả của dịch bệnh Covid-19 đối với nền kinh tế;

Trang 11

− Phương pháp phân tích và tổng hợp: Để hiểu rõ hơn những quy định phápluật liên quan đến đề tài tác giả đã luận giả, chứng minh làm rõ các vấn đề liên quan,

từ những giải thích rút ra kết luận, đưa ra ý kiến đánh giá của tác giả về vấn đề

5 Tính ứng dụng của đề tài

Với độ “nóng” của dịch bệnh Covid-19 cũng như sự “mới mẻ” của đề tài, tácgiả mong muốn đem đến một cái nhìn mới trong việc bảo vệ quyền lợi của NSDLĐđược đặt trong bối cảnh thực tế đang hiện hữu, nhằm góp phần vào việc giúp quan

hệ lao động trở nên hài hòa, phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế thị trường cũngnhư quá trình hội nhập của nước ta

Đối với vấn đề học thuật, tác giả hy vọng bài nghiên cứu của mình sẽ là mộttrong những nguồn tài liệu tham khảo tin cậy, có ích đối với Thầy, Cô, các bạn sinhviên Cao hơn, tác giả mong bài nghiên cứu sẽ cung cấp thêm những thông tin, gócnhìn mới về những quyền lợi của NSDLĐ cho các doanh nghiệp, tổ chức kinhdoanh, cá nhân

6 Bố cục bài viết

Ngoài phần mở đầu, bài viết gồm có hai chương:

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI SỬ

DỤNG LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI SỬ DỤNG

LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 THỰC TRẠNG VÀ MỘT

SỐ KIẾN NGHỊ

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 1.1 Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động 1.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động

Trong đời sống xã hội, hàng hóa không tự nhiên có để phục vụ nhu cầu conngười, nền kinh tế cũng không thể tự mình dịch chuyển và phát triển Phía saunhững thành quả ấy là công sức lao động của con người, lực lượng sản xuất6 của xãhội, NSDLĐ và NLĐ Hai chủ thể này được xem như hai cánh tay đắc lực của Nhànước trong việc đưa nền kinh tế quốc gia phát triển và duy trì sự phồn vinh của đấtnước

Theo pháp luật Lao động tại một số quốc gia, NSDLĐ được định nghĩa như

sau, Luật Tiêu chuẩn lao động Nhật Bản, “NSDLĐ là tất cả những người thực hiện

hành vi vì chủ doanh nghiệp, về những sự việc liên quan đến NLĐ của công việc này, mặt khác là người đảm nhiệm công việc kinh doanh hoặc chủ doanh nghiệp”7.

Hay nói đơn giản NSDLĐ là có thể là người được chủ doanh nghiệp thuê về để thựchiện các công việc liên quan đến NLĐ, hoặc cũng có thể chính là người chủ của

doanh nghiệp đó Luật Lao động Trung Quốc, “NSDLĐ phải thiết lập, duy trì các

nguyên tắc và chế độ theo pháp luật, bảo đảm NLĐ được hưởng quyền lợi khi làm việc và thực hiện nghĩa vụ lao động với họ”8 Từ hai cách định nghĩa trên ta thấyđược cách định nghĩa của pháp luật Nhật Bản mang tính khái quát cao, việc xácđịnh chủ thể NSDLĐ phụ thuộc nhiều vào ý chí của người áp dụng pháp luật Dễgây nên sự hoang mang, vì định nghĩa chưa cụ thể, rõ ràng, phạm vi quá rộng dẫnđến việc khó xác định chủ thể nào là NSDLĐ trong mối quan hệ xã hội đa dạng.Cách định nghĩa của pháp luật Trung Quốc mang tính áp đặt nghĩa vụ, không trìnhbày dấu hiệu nhận biết NSDLĐ trong môi trường làm việc, mức độ khái quát vàtính chung trong quy định rất cao và rộng

6Lực lượng sản xuất là một khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa NLĐ với tư liệu sản xuất nhằm tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định, tham khảo, Lê Thị Chiên, “Quan điểm của C Mác về lực lượng sản xuất và

vấn đề bổ sung, phát triển quan điểm này trong giai đoạn hiện nay”, nguồn:

https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/821033/view_content , truy cập ngày 20/04/2021.

7 Điều 10 Luật Tiêu chuẩn lao động Nhật Bản 1947.

8 Điều 4 Luật Lao động Trung Quốc 1994.

Trang 13

Theo quy định của pháp luật Lao động Việt Nam, “NSDLĐ là doanh

nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng

NLĐ làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp NSDLĐ là cá nhân thì phải

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” 9 Lần sửa đổi năm 2019, các nhà làm luật đã

thay cụm từ “theo hợp đồng lao động” thành “theo thỏa thuận” thể hiện sự tiến bộ,

có quan sát rút kinh nghiệm từ thực tiễn Vì trên thực tế vẫn tồn tại nhiều mối quan

hệ lao động, nhưng các bên không có ký kết bất kỳ hợp đồng lao động, chỉ thỏathuận bằng miệng, hay còn gọi hợp đồng quân tử10 Lần sửa đổi này giúp mở rộngthêm phạm vi xác định NSDLĐ trong mối quan hệ xã hội, đã không còn bó buộcchỉ trong phạm vi theo hợp đồng lao động như Bộ luật năm 2012 Từ đó, có thể thấyquy định này sẽ bảo vệ tốt hơn quyền lợi của NSDLĐ trong những trường hợp họkhông ký hợp đồng lao động, không bỏ sót đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Laođộng

Ngoài ra, pháp luật Lao động Việt Nam định nghĩa theo phương pháp liệt kê,việc này dễ dàng hơn trong việc xác định, phân loại Tuy nhiên, thì hạn chế củaphương pháp này là dễ liệt kê thiếu, dẫn đến hệ quả có những chủ thể là NSDLĐnhưng lại không được công nhận vì không nằm trong phần liệt kê Dù vậy Quốc hộivẫn tiếp tục sử dụng phương pháp này, có lẽ điều này mang lại hiệu quả, và không

có bất cập hay sự thiếu sót khi áp dụng pháp luật trên thực tế

Dù sử dụng phương pháp định nghĩa nào thì cũng sẽ tồn tại hai mặt ưu vànhược điểm, điều quan trọng là phương pháp đó phù hợp với tình hình, điều kiệnphát triển của mỗi quốc gia Miễn sao việc quy định tạo sự dễ hiểu, thuận lợi đểngười dân áp dụng trên thực tế không vướng nhiều nhiều bất cập Từ đó ta có thể

hiểu một cách đơn giản NSDLĐ là người thuê, mướn, sử dụng sức lao động của

người khác để phục vụ công việc của mình dựa trên thỏa thuận giữa hai bên.

Quyền lợi được hiểu là những lợi ích chính trị, xã hội, vật chất hoặc tinh thần

do kết quả lao động của bản thân tạo nên hoặc do phúc lợi chung do Nhà nước, xãhội hoặc tập thể cơ quan, tổ chức nơi mình sinh sống, làm việc mang lại11 Nói cáchkhác, quyền lợi của NSDLĐ là những lợi ích về chính trị, xã hội,… mà họ nhậnđược do kết quả lao động họ đã đóng góp, mang về cho đất nước về mặt kinh tế và

xã hội, điều này làm chúng ta liên tưởng đến nguyên tắc sống “cho đi - nhận lại”

9 Khoản 2 Điều 3 BLLĐ 2019.

10 Lê Hồng Thanh (2002), tlđd (5) , Tr 223.

11 Bộ tư pháp - Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa - Tư pháp, tr.651.

Trang 14

Vì vậy việc bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ là việc chúng ta bảo vệ những mặt lợi ích

mà NSDLĐ được hưởng theo quy định của pháp luật Đây cũng là một trong nhữngnguyên tắc được Hiến pháp 2013 ghi nhận Dựa trên nguyên tắc này, pháp luật Laođộng đã ghi nhận các quyền của NSDLĐ: quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh,thuê mướn, tuyển chọn lao động; quyền quản lý, điều hành lao động; quyền xử lý

kỷ luật đối người vi phạm, khen thưởng đối với người NLĐ có thành tích; quyềnđược bảo vệ khi có tranh chấp lao động xảy ra; quyền được bồi thường thiệt hại dohành vi vi phạm pháp luật của NLĐ gây ra12 Lần sửa đổi gần đây nhất, năm 2019các nhà làm luật đã quan tâm hơn trong việc bảo vệ quyền lợi NSDLĐ, để nhằmtiến tới xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ, phục vụ quá trình hội nhậpquốc tế sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam13

1.1.2 Vị trí người sử dụng lao động trong mối quan hệ lao động

Để có được cuộc sống hiện đại, con người văn minh như ngày hôm nay, loàingười chúng ta đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, với nhiều lần chuyển mình

“thay đổi màu áo mới” Từ thời sơ khai, loài người cùng chung huyết thống, sốngbầy đàn, hay còn gọi là thị tộc, kinh tế lúc bấy giờ là sở hữu chung về tư liệu sảnxuất và tài sản Sau một thời gian, số lượng người trong thị tộc ngày càng tăng lên,

họ tách riêng ra thành các bộ lạc, từ quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân, trongchính thời kỳ này công cụ kim loại đã xuất hiện Một sự thay đổi lớn giúp đời sốngcủa tổ tiên ta trở nên dư dả, bắt đầu có sự phân công lao động xã hội giữa trồng trọt,chăn nuôi, nông nghiệp với thủ công nghiệp, con người cũng trở nên sở hữu riêngthành quả lao động của mình, hay còn gọi là sở hữu tư nhân Nhờ vậy bộ tộc ra đời,một tập hợp người đông hơn thay thế bộ lạc và liên minh các bộ lạc Sự ra đời của

bộ tộc đánh dấu sự tan rã của xã hội công xã nguyên thủy và chế độ tư hữu xuấthiện Trong xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp, giữa người sở hữu nhiều tài sản,

tư liệu sản xuất và người không có gì hoặc sở hữu ít Từ đó, dẫn đến mâu thuẫn giaicấp, Nhà nước ra đời để điều hòa và giải quyết mâu thuẫn này Sự xuất hiện củaNhà nước góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, trong việc đề ra cácchính sách, chiến lược, đường lối,… với quyền lực của mình Nhà nước tổ chức cáchoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện Qua đó, ta thấy được hoạt động lao

12Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật lao động, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia

Việt Nam, tr 40.

13 Nguyễn Văn Bình (2020), “Bộ luật Lao động (sửa đổi) - khung khổ pháp lý mới xây dựng quan hệ lao

động và phát triển lực lượng lao động”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 05 - 02/2020, tr 3.

Trang 15

động của con người được thực hiện liên tục từ thời xa xưa cho đến ngày nay, từ việctạo ra thức ăn để duy trì sự sống, đến việc tạo ra sản phẩm trao đổi lấy các sản phẩmkhác, và cao hơn con người biết tích trữ của cải để mở rộng quy mô sản xuất và làmgiàu cho chính mình, tạo sự phân chia địa vị xã hội Hoạt động tạo ra sản phẩm với

sự tham gia giữa người sở hữu tư liệu sản xuất và người góp sức như vậy được coi

là quan hệ lao động

Cụ thể, theo quy định của pháp luật, “quan hệ xã hội phát sinh trong việc

thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ, NSDLĐ, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể.”14 Từ định nghĩa trên ta biết được

quan hệ lao động được thiết lập giữa NSDLĐ, người có tư liệu sản xuất trong xã hội,

và NLĐ, người làm công, góp sức, là mối quan hệ thuê mướn và có trả tiền lương.Như vậy, NSDLĐ trong mối quan hệ này ở vị trí cao hơn và nắm nhiều quyền lựctrong tay, cụ thể NSDLĐ bằng quyền năng được pháp luật cho phép, họ thực hiệnquyền tuyển dụng, bố trí, điều hành lao động, theo nhu cầu sản xuất, công tác, khenthưởng và xử lý vi phạm đối với NLĐ15 Điều này cũng dễ hiểu, xuất phát từ việc

họ là người có nhiều của cải và tư liệu sản xuất, vì cần người tạo ra sản phẩm nênmới thuê mướn người khác về làm công cho mình, nên có quyền lựa chọn, tuyểndụng, sắp xếp phân công lao động miễn sao đem lại lợi nhuận cho mình, và không

vi phạm pháp luật Nếu NLĐ giúp cho “người chủ” của mình tạo ra nhiều sản phẩm,của cải ngày càng tích lũy nhiều, họ càng trở nên giàu có, bắt đầu mở rộng quy mô,nâng cao địa vị, sức ảnh hưởng của mình trong xã hội Mối liên hệ, gắn kết giữaNSDLĐ và NLĐ giống như dàn nhạc giao hưởng, NSDLĐ là nhạc trưởng, ngườichỉ huy dàn nhạc, giữ nhịp độ, điều tiết các bè nhạc cụ, NLĐ là các nhạc công, thựchiện, biểu diễn các nốt nhạc dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Do vậy, để có buổihòa nhạc thành công, đòi hỏi sự kết hợp ăn ý, nhịp nhàng giữa nhạc trưởng và nhạccông Giống với mối quan hệ lao động, cả hai bên cần hợp tác, hỗ trợ qua lại đểcùng có lợi, mang lại lợi nhuận, của cải cho NSDLĐ, tạo công ăn việc làm choNLĐ Hay nói cách khác, nếu như không có NSDLĐ thì không có nguồn tư liệu đểsản xuất, không có kế hoạch thực hiện, không thể tạo ra sản phẩm cho xã hội, khôngthể đáp ứng nhu cầu của con người, NLĐ cũng không có việc làm Ngược lại, nếu

14 Khoản 5 Điều 3 BLLĐ 2019.

15Đỗ Thị Dung (2013), “Về khái niệm quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động”, Tạp chí Luật

học, số 6/2013, tr 11.

Trang 16

không có sự góp sức của NLĐ thì những tư liệu sản xuất đó không thể trở thành sảnphẩm đáp ứng đủ nhu cầu của con người Mặc dù NSDLĐ ở vị trí cao hơn, có ưuthế nhiều hơn so với NLĐ, thì vẫn bị hạn chế, đặc biệt là về mặt xã hội Số lượngNLĐ chiếm số đông áp đảo, mỗi việc họ làm trong quá trình làm việc đều ảnhhưởng đến NSDLĐ Có một thực tế chúng ta dễ dàng nhận thấy là lực lượng NLĐtại nơi làm việc luôn chiếm số đông áp đảo, do vậy khi tập thể người này nổi dậy,liên kết đấu tranh đòi quyền lợi, thì ngay lập tức NSDLĐ sẽ trở thành phe “yếu thế”.

Ngoài ra, trong mối quan hệ lao động còn có sự tham gia của một chủ thểđặc biệt là Nhà nước Vì trong lĩnh vực lao động, chủ thể có thẩm quyền quản lý laođộng bao gồm Nhà nước và NSDLĐ16 Quản lý của Nhà nước là hoạt động mangquyền lực, bằng cách sử dụng pháp luật tác động lên các chủ thể của quan hệ laođộng nhằm điều chỉnh và hướng hành vi các chủ thể này phù hợp với lợi ích chungcủa xã hội, trong đó có lợi ích của Nhà nước17 Nhà nước ngoài nhiệm vụ chính là

đề ra các chính sách, kế hoạch, định hướng phát triển kinh tế, trong mối quan hệ laođộng còn xây dựng các hành lang pháp lý để một mặt hạn chế sự lạm dụng quyềnlực của NSDLĐ, mặt khác bảo vệ NLĐ cũng như NSDLĐ Nhà nước đóng vai trònhư “cán cân” giúp mối quan hệ trở nên công bằng và hài hòa hơn, vì vai trò củaquan hệ lao động hài hòa trong doanh nghiệp là cần thiết18, sẽ tăng năng suất laođộng, thúc đẩy sự đoàn kết cùng nhau góp sức xây dựng doanh nghiệp phát triển Vìvậy, vai trò quản lý của Nhà nước trong mối quan hệ lao động rất quan trọng

1.1.3 Vai trò của người sử dụng lao động đối với sự phát triển kinh tế xã hội

a/ Kinh tế

Nền kinh tế của chúng ta đã trải qua hai lần thay đổi, đầu tiên là hình tháikinh tế tự nhiên, là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội tự cấp tự túc, sản phẩm được tạo rathỏa mãn nhu cầu chính người sản xuất, quy mô sản xuất nhỏ, hàng hóa không đadạng, kém phát triển19 Sau đó, chuyển sang hình thái kinh tế sản xuất hàng hóa hay

16 Đỗ Thị Dung (2013), tlđd (15), tr 11.

17Đỗ Thị Dung (2013), tlđd (15), tr 11, Vũ Minh Tiến (2010), “Quản lý nhà nước về lao động trong các

doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội, tr 31

18Quan Gia Bình (2009), “Pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ NLĐ, người sử dụng lao động và những

giải pháp xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 8.

19Ngô Đạt (chủ biên) - Nguyễn Quốc Vinh - Nguyễn Hoài Đông - Nguyễn Thanh Hải (2013), “Học thuyết

kinh tế Mác - Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”, Nxb Lao động, tr 6.

Trang 17

còn gọi là nền kinh tế hàng hóa Nền kinh tế hàng hóa ra đời như một bước tiến mớilớn trong lịch sử nhân loại, đánh dấu sự phát triển của nền kinh tế, cho tới ngày nay

nó đã phát triển và đạt tới trình độ rất cao đó là nền kinh tế thị trường hiện đại20.Lần thay đổi này đã đặt nền móng cho đời sống con người trở nên tiện lợi, hàng hóakhông ngừng thay đổi cải tiến, mẫu mã đa dạng, quy mô sản xuất lớn, sức cạnhtranh mạnh, cuộc sống công nghiệp hóa hiện đại hóa hơn Ngoài ra, chúng ta còntrải qua bốn lần cách mạng công nghiệp, lần thứ nhất vào năm 1784, đặc trưng làviệc sử dụng năng lượng hơi nước và cơ giới hóa sản xuất Lần thứ hai từ khoảngnăm 1870 đến khi Thế Chiến I diễn ra, đặc trưng là việc sử dụng năng lượng điện và

sự ra đời của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy mô lớn Lần thứ ba vàokhoảng năm 1969, với sự xuất hiện và lan rộng của công nghệ thông tin, sử dụngđiện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Và đến lần thứ tư hay cònđược gọi là cách mạng Công nghiệp 4.0, bắt đầu vào thế kỷ 21, đang nảy nở từ cuộcmạng lần thứ ba, kết hợp các công nghệ lại với nhau làm mờ ranh giới giữa vật lý,

kỹ thuật số và sinh học21 Những lần thay đổi mang tính lịch sử như vậy, đã ảnhhưởng rất nhiều đến nền kinh tế toàn cầu, lúc này đây vai trò của các doanh nghiệp,công ty, tập đoàn,… được nêu cao, chính họ là người đặt nền móng cho sự pháttriển, họ thuộc vào các thành phần kinh tế22, là bộ phận cấu thành của nền kinh tếquốc gia, họ cố gắng tiếp thu cái mới, thay đổi tầm nhìn, hướng đi, để kinh tế pháttriển và bắt kịp xu thế chung

Nước Việt Nam chúng ta đang trong giai đoạn nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh vị trí, vai trò của con người chính là động lựccũng là mục tiêu cao nhất của sự phát triển23 Với chiến lược phát triển kinh tế - xãhội giai đoạn 2021 - 2030: đổi mới sáng tạo để hướng tới mục tiêu xây dựng đấtnước thịnh vượng, hùng cường, hướng tới một số giải pháp trong đó nâng cao hơnnữa thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Giải quyết quan hệ

20 Nguyễn Trọng Chuẩn (2020), “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vấn đề con người

-tiếp cận từ mục tiêu và động lực của sự phát triển”, Tạp chí Cộng sản, số 953 (11-2020), tr 68.

21 Vũ Việt Hoàng, “Những cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử nhân loại”, nguồn:

http://concetti.vn/news/legal_news/150/nhung-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-trong-lich-su-nhan-loai , truy cập ngày 19/04/2021.

22 Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ ở nước ta được phân thành ba thành phần: kinh tế công, kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp, tham khảo, Vũ Văn Phúc, “Kinh tế nhiều thành phần trong nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, nguồn: https://dangcongsan.vn/kinh-te/kinh-te-nhieu-thanh-phan-trong-nen- kinh-te-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-o-nuoc-ta-567515.html, truy cập ngày 19/04/2021.

23 Nguyễn Trọng Chuẩn (2020), tlđd (20), tr 68.

Trang 18

giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, nhấn mạnh việc phát huy tốt hơn vai trò củangười dân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội,… trong việc tham gia xâydựng, phản biện, và giám sát thực hiện chính sách và pháp luật24 Từ định nghĩaNSDLĐ trên, ta thấy được NSDLĐ cũng chính là nhân tố giúp kinh tế đất nướcphát triển.

NSDLĐ cũng góp nhiều công sức trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài,

họ phải chủ động trong việc tìm cách mở rộng quy mô sản xuất, tìm kiếm các nhàđầu tư mới từ thị trường nước ngoài, từ đó thu hút dòng vốn ngoại tệ vào thị trườngViệt Nam Một mặt tăng vốn doanh nghiệp, mặt khác qua việc thương lượng đầu tư,góp phần giới thiệu Việt Nam cho phía đối tác, gây hứng thú với các nhà đầu tư,giúp họ thấy được tiềm năng của thị trường Việt Nam mong muốn mở rộng, đầu tưthêm ở các lĩnh vực khác Như hiện tại nhiều chủ doanh nghiệp Nhật Bản xây dựngcông ty, thương hiệu, trung tâm mua sắm vào thị trường Việt Nam như cửa hàngUniqlo, chuỗi trung tâm thương mại Aeon,… Tạo thêm nhiều cơ hội việc làm, gópphần tăng thu nhập cho NLĐ Ngoài ra, NSDLĐ còn góp phần vào việc phát triểnkhoa học - kỹ thuật, công nghệ của đất nước Vì nền kinh tế thị trường đã tạo nênsức cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp, đặt ra yêu cầu NSDLĐ phải tìmcách đi theo hướng mới, mở rộng quy mô sản xuất để tăng tỷ lệ thị phần thị trường,nếu không sẽ bị đào thải ngay nếu cứ giữ mãi những cái cũ đã lạc hậu Từ đó thêmđộng lực để NSDLĐ tạo điều kiện cho NLĐ đi học tập kinh nghiệm cũng như kiếnthức mới ở nước ngoài sau đó truyền đạt lại cho công ty và áp dụng sản xuất, trênnền tảng đó họ nâng cao đổi mới phương pháp, máy móc sản xuất hiện đại tiên tiếnhơn Ví dụ tập đoàn Vingroup, cũng nhờ vào việc họ chịu khó học hỏi nước ngoài,

mà giờ đây họ đã có thể chế tạo được xe hơi, chuẩn bị xuất khẩu sang thị trườngkhó tính như Mỹ, chiếc xe hơi đầu tiên với nhãn “made in Vietnam” sẽ được lănbánh tại nước ngoài, đây là một niềm vinh hạnh đáng tự hào của đất nước chúng ta,

về mặt khoa học - kỹ thuật so với nước bạn25

b/ Xã hội

Cùng với những đóng góp về mặt kinh tế, NSDLĐ cũng góp phần vào việc

24 Bùi Tất Thắng (2020), “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030: đổi mới sáng tạo để

hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước thịnh vượng, hùng cường”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, 01/2020 số

01+02, tr 30.

25 Thiên Trường, “Sếp VinFast: Năm 2021 ô tô VinFast sẽ lăn bánh tại Mỹ”, nguồn: vinfast-nam-2021-o-to-vinfast-se-lan-banh-tai-my-d32830.html, truy cập ngày 23/04/2021.

Trang 19

https://nhadautu.vn/sep-phát triển xã hội Khi họ là chủ thể nòng cốt trong công cuộc tạo việc làm cho hàngtriệu NLĐ trên khắp cả nước, giảm tỷ lệ thất nghiệp, người nghèo, góp phần nângcao đời sống NLĐ, tạo thu nhập để duy trì cuộc sống hằng ngày và góp phần hạnchế các tệ nạn xã hội đối với những nguồn lao động trẻ không được may mắn đếntrường như bạn bè đồng trang lứa Thế giới ngày càng hội nhập, hiện đại, văn minh,dẫn đến yêu cầu tuyển dụng ngày càng nâng cao, không chỉ kiến thức chuyên môn,

mà còn các kỹ năng mềm như ngoại ngữ, tin học, trong khi Việt Nam đang dầntrở thành sự ưu tiên của nhiều nhà đầu tư nước ngoài Từ đó, dẫn đến việc ngườidân có ý thức trong học tập, nếu họ muốn có việc làm lương cao Kiến thức, trình

độ hiểu biết của NLĐ được mở rộng, tăng nguồn nhân lực lao động có tri thức, gópphần làm cho xã hội trở nên văn minh Không những vậy, NSDLĐ còn góp phầnvào việc thay đổi chương trình đại học, gồm có hai hình thức26, thứ nhất gián tiếpthông qua các kênh thông tin tuyển dụng, phản hồi chất lượng sinh viên tốt nghiệp,cung cấp các yêu cầu đối với sinh viên tốt nghiệp thông qua buổi kiến tập, giới thiệuviệc làm,… Sinh viên nhận thức được những điều còn thiếu sót, chủ động đầu tưthêm kiến thức, kỹ năng cần thiết Thứ hai hình thức trực tiếp, đóng góp ý kiến vềchuẩn đầu ra, và chương trình đào tạo, từ đó chương trình học tập của sinh viênđược thay đổi, chuyển sang thực hành nhiều hơn là lý thuyết, trường học cũng đầu

tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ học tập mới, hiện đại để phục vụ tốt nhấtcho người học

Ngoài ra, NSDLĐ còn đóng góp hỗ trợ, tổ chức các quỹ học bổng dành chocác em học sinh nghèo hiếu học, hay tài trợ xây dựng đường, cầu, nhà, trườnghọc,… cho người dân ở khu vực vùng khó khăn thông qua các chương trình như:Vượt lên chính mình, sáng mãi ước mơ, ngôi nhà mơ ước, lục lạc vàng,… Gần đâynhất trong tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn ra phức tạp khi số ca bệnh ngày càngnhiều, tăng áp lực lên ngành y tế, tập đoàn Vingroup đã quyên góp cho Bộ y tế3.000 máy thở VFS-410 và 200 máy thở VFS-51027 Tỷ phú Nguyễn Thị PhươngThảo, người đứng đầu hãng hàng không tư nhân lớn nhất Việt Nam, Vietjet, đã hỗtrợ các chuyến bay miễn phí để đưa người dân ở Hàn Quốc, Nhật Bản, TrungQuốc,… về lại quê hương giữa lúc mùa dịch Ông Hồ Hùng Anh, Chủ tịch hội đồng

26 Lê Chi Lan (2016), “Vai trò của người sử dụng lao động trong việc xây dựng và phát triển chương trình

đào tạo đạo học”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Nghiên cứu giáo dục, Tập 32, Số 3 (2016), tr 55.

27 “Bộ Y tế tiếp nhận 3.200 máy thở của Tập đoàn Vingroup phục vụ chống dịch COVID-19”, nguồn:

cua-tap-oan-vingroup-phuc-vu-chong-dich-covid-19 , truy cập ngày 23/04/2021.

Trang 20

https://moh.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset_publisher/3Yst7YhbkA5j/content/bo-y-te-tiep-nhan-3-200-may-tho-quản trị Techcombank cũng đã trao 10 tỷ đồng để chung tay chống dịch, hạn mặn28.

Họ đều là những NSDLĐ lớn ở đất nước Việt Nam, mặc dù chịu không ít tổn thấttrong mùa dịch, nhưng với tấm lòng cao cả, tinh thần “đoàn kết” của dân tộc Việt Nam,

họ đã trích ra một phần quỹ để hỗ trợ người dân, giúp đỡ Nhà nước trong công cuộcphòng chống dịch bệnh nguy hiểm Chúng ta thử nghĩ nếu xã hội không có sự giúpsức của những NSDLĐ như vậy, thì liệu chúng ta có thể vượt qua được khó khăn?

Từ phương diện kinh tế hay xã hội, NSDLĐ đều thể hiện vai trò quan trọngkhông thể thiếu của mình, một mặt đưa nền kinh tế phát triển, nâng cao chất lượngcuộc sống, mặt khác là các “mạnh thường quân” cùng với Nhà nước, chung tay giúpngười dân cả nước vượt qua khó khăn

1.1.4 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động

Trong mối quan hệ lao động không phải lúc nào thiệt thòi cũng thuộc về phíaNLĐ Vì thuộc phe yếu thế nên NLĐ nhận được rất nhiều sự bảo vệ từ pháp luật.Biết được điều này họ đã lợi dụng để chèn ép, gây áp lực với phía NSDLĐ, như tổchức các cuộc đình công bất hợp pháp, tự ý bỏ việc, đơn phương chấm dứt hợpđồng trái pháp luật,… gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho NSDLĐ Mặc dù ở vịthế cao hơn so với NLĐ, nhưng quyền lợi của NSDLĐ không được bảo đảm mộtcách tuyệt đối, vì đặc thù hoạt động kinh doanh mang tính rủi ro cao phục thuộc vàonhiều yếu tố, chính sách của Chính phủ, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh,…

do vậy cần thiết việc đặt ra yêu cầu cần bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ, người có vịtrí quan trọng và đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội

Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”29,NSDLĐ cũng là một chủ thể trong quan hệ pháp luật Lao động, vì thế họ cũng cầnđược “quan tâm”, bảo vệ giống như NLĐ, thực hiện tốt nguyên tắc cơ bản này đồngthời cũng thể hiện tính tối thượng của Hiến pháp và bản chất Nhà nước pháp quyềncủa Việt Nam30

Khi bảo vệ quyền lợi NSDLĐ ta sẽ thu hút được các nhà đầu tư nước ngoàiđến với Việt Nam, giúp tăng dòng vốn ngoại tệ, tăng cơ hội làm việc, tăng sự đadạng hàng hóa, đa dạng nền kinh tế Vì tạo cho nhà đầu tư nước ngoài cảm giác

28 “Tỷ phú Việt “nối vòng tay lớn” giữa mùa dịch Covid 19”, nguồn: tuc/tin-tuc/ty-phu-viet-noi-vong-tay-lon-giua-mua-dich-covid-19 , truy cập ngày 23/04/2021.

https://www.hdbank.com.vn/vi/about/tin-29 Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp 2013.

30Tính tối thượng của Hiến pháp là thể hiện hiệu lực tối cao trong hệ thống pháp luật, luật cơ bản nước Việt Nam Nhà nước pháp quyền là nhà nước sẽ quản lý xã hội dựa trên pháp luật, không ai có thể đứng trên pháp luật, mọi người đều phải tuân theo pháp luật.

Trang 21

“công bằng” trong mối quan hệ với NLĐ, bởi không ai muốn đầu tư vào một quốcgia mà quyền lợi của mình không được nêu cao, bảo vệ Bên cạnh đó, cũng tăng sứccạnh tranh, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nâng cao kỹ thuật, cẩn thận trongviệc sản xuất hàng hóa để “giữ chân” khách hàng, thị trường của mình.

Kinh tế hội nhập, có nhiều nhà đầu nước ngoài tìm đến Việt Nam, nên thịtrường lao động không chỉ có người dân nước mình, mà bên cạnh đó có thêm NLĐnước ngoài Do vậy, việc bảo NSDLĐ Việt Nam trong trường hợp này là cần thiết,một mặt đang bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nước mình

Việc bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ giúp mối quan hệ lao động dần trở nênđược cân bằng hơn, khi xu thế chung đều đứng về phía NLĐ Đã gây nên tâm lý e

dè trong việc thực hiện quyền quản lý của NSDLĐ, ảnh hưởng đến việc sản xuất,phát triển doanh nghiệp Ngoài ra, hạn chế được các tranh chấp xảy ra giữa hai chủthể, NLĐ cũng trở nên cẩn thận hơn trong cách hành xử của mình tại nơi làm việc

Mối quan hệ lao động tốt đẹp dẫn đến doanh nghiệp phát triển thuận lợi, vìchỉ khi đồng lòng đoàn kết, “dàn nhạc giao hưởng” mới phát huy hết sức mạnh,phục vụ tốt “khán giả”, dù có khó khăn thế nào cũng đều có thể vượt qua Từ đó,thể hiện sự quản lý hiệu quả của Nhà nước, người dân có thêm niềm tin vào phápluật, nâng cao ý thức chấp hành Việc bảo vệ quyền lợi NSDLĐ cũng đồng thời bảo

vệ quyền lợi của NLĐ

1.2 Những vấn đề liên quan đến dịch Covid-19

1.2.1 Tình hình dịch Covid-19

Vào cuối năm 2019, lần đầu tiên tại chợ hải sản Hồ Nam, Vũ Hán, TrungQuốc đã xuất hiện dịch bệnh mới gây viêm phổi hoặc viêm đường hô hấp cấp, dochủng mới của vi-rút Corona gây ra Tên gọi vi-rút Corona có nguồn gốc từ tiếngLatinh, trong đó Corona có nghĩa là “vương miện” hoặc “hào quang” Theo WHO,tên gọi chính thức của vi-rút Corona (nCoV) là Covid-19, gọi tắt từ tên gọiCoronavirus disease 19, và số 19 có ý nghĩa là năm dịch bệnh này xuất hiện, năm

2019 Đến tháng 02/2020, Ủy ban quốc tế về phân loại vi-rút, InternationalCommittee on Taxonomy of Viruses (ICTV), đặt tên cho chủng mới của vi-rútCorona là Sars-CoV-2 Đây là lý do cùng là một dịch bệnh nhưng lại có nhiều tên

Trang 22

gọi khác nhau nCoV, Covid-19 hoặc Sars-CoV-231, tác giả chọn tên gọi Covid-19thể hiện đầy đủ nội hàm liên quan đến dịch bệnh.

Bệnh do vi-rút Covid-19 gây ra thường có các triệu chứng như sốt, ớn lạnh,

ho, hụt hơi, khó thở, đau cơ hoặc đau người,… nhìn thoáng qua các triệu chứng nàykhá giống với bệnh cảm cúm thông thường Tuy nhiên, thì các triệu chứng trên chỉ

là giai đoạn sau khi phơi nhiễm bệnh, giai đoạn đầu của bệnh từ 2 -14 ngày, sau đócác triệu chứng ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn như khó thở, đau hoặc tứcngực thường xuyên, không thể thức dậy hay duy trì sự tỉnh táo, màu da thay đổisang xám hoặc xanh,…32Nếu để lâu không thăm khám, chữa trị kịp thời sẽ dẫn đếnsuy hô hấp cấp tính nghiêm trọng và nặng hơn là tử vong

Điểm nguy hiểm nhất ở dịch bệnh do vi-rút này gây ra là khả năng lây nhiễm

từ người sang người qua đường tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp (các vật dụng do ngườinhiễm bệnh cầm, nắm, sờ, chạm vào và bị nhiễm bệnh trên đó), hoặc tiếp xúc gầnvới người nhiễm bệnh qua dịch tiết từ miệng và mũi khi người nhiễm bệnh ho, hắthơi, nói hoặc hát, bệnh có thể lây nhiễm sang cho người khác trong bán kínhkhoảng 1 mét Chính vì độ “lây nhiễm” cao như vậy, nên trong khoảng thời gianngắn ngủi dịch bệnh đã tăng nhanh chóng Cụ thể, ngày 10/01/2020 có người chếtđầu tiên tại thành phố Vũ Hán vì dịch Covid-19, đến ngày 02/04/2020 đã có 204quốc gia bị mắc bệnh, có tới một triệu người bị nhiễm và số người chết lên đến con

số 53,1 nghìn người và sau ba tháng, tức ngày 03/07/2020, sáu tháng dịch Covid-19bùng phát, thì số ca nhiễm bệnh tăng lên 11 triệu người và số người chết là 532,8nghìn người33 Nhìn những con số “không biết nói dối” này, đã cho chúng ta thấyđược mức độ nguy hiểm của dịch bệnh đối với đời sống con người Trong suốt năm

2020 người dân toàn thế giới chỉ còn cách sống chung với dịch bệnh, sống trong sự

lo lắng, sợ hãi, việc họ có thể làm chỉ có thể là chống dịch, bảo vệ bản thân mình antoàn

31 “Virus Corona 2019 (Covid 19, Sars CoV 2): Nguyên nhân & triệu chứng”, nguồn: corona-2019/, truy cập ngày 12/04/2021.

https://vnvc.vn/virus-32 “Triệu chứng của COVID-19”, nguồn: testing/symptoms.html, truy cập ngày 12/04/2021.

https://vietnamese.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/symptoms-33 Nguyễn Thiện Nhân, “Dịch Covid-19 trên thế giới: các nước đang bước vào làn sóng Covid-19 lần thứ hai

và kinh nghiệm cho Việt Nam”, nguồn: benh/dich-covid-19-tren-the-gioi-cac-nuoc-dang-buoc-vao-lan-song-covid-19-lan-thu-2-cmobile2-

http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/phong-chong-dich-31592.aspx, truy cập ngày 12/04/2021.

Trang 23

Cho đến hôm nay, năm 2021, năm thứ hai của dịch Covid-19, số người bịnhiễm bệnh đã hơn 130 triệu người, số người chết là gần ba triệu người, số ngườichữa khỏi gần 110 triệu người34 Những con số này vẫn không ngừng tăng lên quatừng ngày, khi mà chủng vi-rút này đã biến thể chủng mới, đồng nghĩa với việc mức

độ nguy hiểm và khả năng lây nhiễm cũng “nâng cấp” theo, đã tăng tốc độ lâynhiễm nhanh hơn 70%35

Việt Nam là quốc gia láng giềng với Trung Quốc, hai nước chỉ cách nhauđường biên giới đất liền dài 1.449,566 km36, vị trí rất gần, chính vì vị trí địa lý nhưvậy, khi Trung Quốc ghi nhận ca tử vong đầu tiên vào ngày 10/01/2020 thì ngày23/01/2020 tại bệnh viện Chợ Rẫy đã ghi nhận hai ca nhiễm bệnh đầu tiên là hai chacon người Vũ Hán, Trung Quốc, kể từ đó dịch Covid-19 đã đến Việt Nam, cuộcchiến chống dịch của nước ta chính thức bắt đầu Ngày 11/03/2020, WHO đã công

bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi-rút Corona gây ra là “đạidịch toàn cầu”, cũng trong tháng này vào ngày 31 Thủ tướng ban hành Chỉ thị số16/CT-TTg về việc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch và thực hiện cách lytoàn xã hội37 trong vòng 15 ngày Đến năm 2021 tổng số người bị nhiễm cả nướcViệt Nam là 2.696 người, số người tử vong là 35 người tử vong, số người khỏibệnh 2429 người38 Nước ta đã phần nào thành công trong việc phòng chống dịchCovid-19, khi số người bị nhiễm bệnh không nhiều, không liên tục tăng, mà cónhững giai đoạn cả nước không ghi nhận một ca nhiễm bệnh nào cả

Tình hình dịch bệnh Covid-19 hiện nay trên toàn thế giới ngày càng diễnbiến phức tạp, mức độ nguy hiểm ngày càng tăng cao, khi chủng vi-rút này khôngngừng “nâng cấp” bản thân mình, đến hiện tại chúng ta vẫn chưa có thuốc có thể

34 “Covid-19 Corona virus pandemic”, nguồn: https://www.worldometers.info/coronavirus/, truy cập ngày 12/04/2021.

35 Bảo Loan, “Biến thể mới của SARS-CoV-2 xuất hiện tại Hải Dương có nguy hiểm hơn trước đây?”, nguồn:

https://ncov.moh.gov.vn/web/guest/-/6847426-878, truy cập ngày 12/04/2021.

36 “Sơ lược về các tuyến biên giới đất liền: Biên giới Việt Nam- Trung Quốc (Phần 1)”, nguồn:

https://quangnam.gov.vn/CMSPages/BaiViet/Default.aspx?IDBaiViet=26793#:~:text=%C4%90%C6%B0% E1%BB%9doanhnghiệpg%20bi%C3%AAn%20gi%E1%BB%9Bi%20%C4%91%E1%BA%A5t%20li%E1

%BB%81n,%2D%20Qu%E1%BA%A3ng%20T%C3%A2y%2FTrung%20Qu%E1%BB%91c., truy cập ngày 12/04/2021.

37 Không tập trung nơi công cộng, đông người, giữ khoảng cách tối thiểu 2m khi giao tiếp, người dân nên ở nhà, chỉ ra ngoài khi mua lượng thực và thuốc men, xe cá nhân được lưu thông giữa các tỉnh nhưng phải thật cần thiết.

38 “COVID-19: cập nhật mới nhất, liên tục”, nguồn: lien-tuc-n168210.html, truy cập ngày 12/04/2021.

Trang 24

https://suckhoedoisong.vn/Covid-19-cap-nhat-moi-nhat-đặc trị con “siêu vi-rút” này Trong tình hình thế giới ảm đạm như thế nhưng vẫn cómột số dấu hiệu đáng mừng khi có một vài quốc gia họ đã nghiên cứu được vắc-xin

và đã qua kiểm nghiệm Chẳng hạn, vắc-xin phòng Covid-19 AstraZeneca đượcnghiên cứu và phát triển bởi đại học Oxford và hãng dược nổi tiếng thế giớiAstraZeneca (Vương quốc Anh), đã được cấp Giấy phép sử dụng khẩn cấp củaWHO, và được Chính phủ Việt Nam phê duyệt mang về Việt Nam sử dụng trongviệc chống dịch Covid-1939 Hoặc là vắc-xin Sputnik V do Trung tâm Nghiên cứuDịch tễ, Vi sinh Quốc gia Gamaleya và Bộ Quốc phòng Nga phát triển với hiệu quảbảo vệ khỏi Covid-19 lên đến 95%, được trình lên WHO để đưa vào danh sách sửdụng khẩn cấp và tiền kiểm định, cũng là loại vắc-xin thứ hai được Chính phủ ViệtNam phê duyệt sử dụng40 Đây là những kết quả đáng mừng, mang lại cho chúng taniềm tin có thể đánh bại cơn ác mộng Covid-19

1.2.2 Sự ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với người sử dụng lao động

Dịch bệnh Covid-19 mang lại nhiều tiêu cự và tác động xấu đến nền kinh tếtoàn cầu, không một quốc gia nào có thể thoát khỏi “vòng xoáy” khủng hoảng củacơn đại dịch Trong báo cáo “Viễn cảnh toàn cầu”, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF gọinhững việc đang xảy ra do tác động của dịch Covid-19 là “Đại phong tỏa”41 Phongtỏa có nghĩa là hạn chế đi lại trừ trường hợp cần thiết (như mua lương thực, thựcphẩm, thuốc men cấp cứu), ngừng mọi hoạt động giao thông công cộng, chuyến baynội địa42, đại phong tỏa là tình trạng cả nước hoặc có nhiều quốc gia cùng áp dụngbiện pháp này Đây được xem như là một vật chắn lớn, ngăn chặn việc mua bán,xuất nhập khẩu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế không chỉ quốc gia nội tại

mà cả nước ngoài Thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lớn nhất từ sau

39 “Vắc xin phòng Covid-19 của Astrazeneca: “Chìa khóa” chấm dứt đại dịch”, nguồn:

https://vnvc.vn/astrazeneca/ , truy cập ngày 12/04/2021.

40 “Vaccine Sputnik V (Nga): Chất lượng kiểm định ngừa Covid trên 95%”, nguồn: https://vnvc.vn/sputnik-v/,

truy cập ngày 12/04/2021.

41 Nhật Minh, “Kinh tế thế giới trước dịch bệnh COVID-19”, nguồn:

benh-covid-19.aspx, truy cập ngày 13/04/2021.

https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/820140/kinh-te-the-gioi-truoc-dich-42 “Infographics: Hiểu đúng về phong tỏa, giãn cách xã hội và cách ly y tế”, nguồn:

xa-hoi-va-cach-ly-y-te-99434.aspx, truy cập ngày 13/04/2021.

Trang 25

http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2021-02-05/infographics-hieu-dung-ve-phong-toa-gian-cach-chiến tranh thế giới thứ hai và là thảm họa kinh tế lớn nhất sau cuộc Đại suy thoáinăm 1930.43

Cụ thể, dưới tác động của Covid-19, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàncầu năm 2020 được Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển(UNCTAD) đánh giá sẽ thu hẹp “từ mức 1.540 tỷ USD năm 2019 xuống dưới 1.000

tỷ USD” Theo dự báo của UNCTAD, năm 2021, dòng vốn FDI sẽ giảm thêm từ5% - 10% và có thể bắt đầu phục hồi từ năm 2022 Ngoài ra, thương mại toàn cầugắn chặt với chuỗi cung ứng và dòng vốn FDI toàn cầu cũng chịu tác động tiêu cực

từ đại dịch Covid-19, khi được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dự báo giảm13% trong năm 202044

Một trong những lý do kinh tế bị ảnh hưởng lớn từ dịch Covid-19, làm nêncuộc khủng hoảng như thế này là tính lây nhiễm cao của dịch bệnh Dẫn đến việcChính phủ các nước ban hành các biện pháp giãn cách, hạn chế đi lại, hệ quả, nhucầu của người dân đối với hàng hóa, sử dụng dịch vụ đã giảm một cách trầm trọng.Ngoài ra, để ngăn tình trạng dịch bệnh lây lan từ nước này sang nước khác các quốcgia áp dụng chế độ “bế quan tỏa cảng”, ngưng việc xuất nhập khẩu, thực hiện “tựcung tự cấp” trong nước Từ đó, dẫn đến hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch, sảnxuất kinh doanh bị đình trệ Và các công ty, doanh nghiệp vì để giảm các nghĩa vụtài chính với NLĐ, họ quyết định giảm nhân công để giảm thiểu tiền lương chi trả,duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp Việc “cắt giảm nhân công”với số lượng lớn nhưvậy, tạo nên ảnh hưởng dây chuyền, từ thu nhập NLĐ giảm đi, họ không có khảnăng tài chính duy trì cuộc sống, số lượng người nghèo tăng lên, cho đến nhu cầuhàng hóa giảm xuống một cách nhanh chóng, vì suy cho cùng NLĐ cũng chính làkhách hàng, người sử dụng hàng hóa, dịch vụ do chính họ làm ra

Việt Nam chúng ta là một trong số ít quốc gia đã thành công trong cuộcchiến chống lại dịch Covid-19, giảm thiểu được thiệt hại về tính mạng, không ảnhhưởng nhiều đến đời sống người dân Nhưng, không vì vậy mà chúng ta có thể tựtin nói rằng Việt Nam ổn định, nằm ngoài vòng xoáy khủng hoảng kinh tế được.Bởi vì, kinh tế toàn cầu hoạt động giống như hiệu ứng “Domino”, nghĩa là chỉ cần

43 Nhật Minh, tlđd (41).

44 Nguyễn Quang Thuấn (2018), “Tác động của đại dịch COVID-19 và một số giải pháp chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn tới”, nguồn: https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/819611/tac-dong- cua-dai-dich-covid-19%C2%A0va-mot-so-giai-phap-chinh-sach-cho-viet-nam-trong-giai-doan-toi.aspx# , truy cập ngày 13/04/2021.

Trang 26

một tác động, một sự thay đổi của một quốc gia về kinh tế sẽ lan truyền ảnh hưởngđến nền kinh tế của các quốc gia khác Do vậy, Việt Nam cũng gánh chịu phần ảnhhưởng nào đó từ cuộc khủng hoảng này Và khi nền kinh tế của một quốc gia bị ảnhhưởng thì các doanh nghiệp, nhà máy, xí nghiệp,… sẽ bị tác động đầu tiên, vì họ lànhân tố thúc đẩy kinh tế phát triển.

Trải qua hai lần bùng dịch (tháng 04/2020 và tháng 07/2020) và một lần cách

ly toàn xã hội, nền kinh tế Việt Nam đã chịu thiệt hại đáng kể Theo kết quả điều trađột xuất của Tổng cục Thống kê về tác động của dịch Covid-19 tới doanh nghiệplần một, đến ngày 20/04/2020 với 126.565 doanh nghiệp tham gia trả lời có tới85,7%, khoảng 10.000 doanh nghiệp, bị tác động bởi đại dịch, cụ thể:

Bảng 1: Các ngành chịu sự tác động của dịch Covid-19 năm 2020 ở Việt Nam45

Qua bảng số liệu thống kê, khu vực vận tải hàng không, dịch vụ lưu trú, dịch

vụ ăn uống, du lịch, giáo dục và đào tạo, dệt may, sản xuất da,… có tỷ lệ doanhnghiệp chịu sự tác động của dịch Covid-19 rất cao đều trên 90% Nghĩa là cứ cómười công ty hoạt động trong khu vực ngành nghề này thì có sẽ có đến chín công ty

bị ảnh hưởng

Đặc biệt khu vực vận tải hàng không đạt tỷ lệ 100%, toàn bộ ngành gần như

bị tê liệt Xuất phát từ các nguyên nhân, thứ nhất vào đầu năm 2020 là thời gian đại

45 Bạch Hồng Việt (2020), “Tác động của đại dịch Covid-19 đến tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ở Việt Nam”, nguồn: https://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/Tac-dong-cua-dai-dich- Covid-19-den-tang-truong-kinh-te-va-phat-trien-ben-vung-o-Viet-Nam-104, truy cập ngày 13/04/2021.

Dệt may, sản xuất da, các sản phẩm từ

da, sản xuất các sản phẩm điện tử, sản

xuất ô tô

Trên 90

Trang 27

dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát, mọi người không kịp phòng bị, để ngăn ngừa dịchlây lan Chính phủ các nước áp dụng biện pháp hạn chế nhập cảnh một cách nghiêmngặt, nên việc “bay” thật sự bị hạn chế và khó khăn Thứ hai, thời gian này cũng làlúc Việt Nam áp dụng cách ly toàn xã hội trong vòng 15 ngày theo Chỉ thị số16/CT-TTg của Chính phủ (từ ngày 01/04/2020), việc đi lại của người dân trên cảnước bị hạn chế, chỉ ra ngoài khi thật sự cần thiết, cho nên lý do để sử dụng máybay là không có Từ đó dẫn đến ngành hàng không gần như ngừng hoạt động trongthời gian dài Hơn nữa, dù không hoạt động nhưng các hãng hàng không vẫn phảichịu chi phí lớn cho việc liên quan đến phi hành đoàn, hoạt động bảo trì, nhiên liệu,phí sân bay và bảo quản máy bay để khi được phép hoạt động là có thể bay ngay.Theo dự báo của Hiệp hội Vận tải hàng không Quốc tế (IATA) các hãng tại ViệtNam mất đi doanh thu khoảng 04 tỷ USD Vietnam Airlines, hãng hàng không quốcgia Việt Nam, giảm doanh thu đến 50.000 tỷ đồng, dự kiến lỗ 29.000 tỷ đồng, thâmhụt 16.000 tỷ đồng, nếu không có hỗ trợ của Chính phủ sẽ rơi vào trạng thái mấtthanh khoản46, nghĩa là mất khả năng chuyển đổi thành tiền mặt từ một sản phẩmhay một tài sản nào đó.

Khu vực ngành dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, đại lý du lịch, là phânngành chịu ảnh hưởng rõ nét nhất sau ngành hàng không Nguyên nhân cũng xuấtphát từ việc hạn chế xuất nhập cảnh, cách ly xã hội, kết quả lượng khách du lịchquốc tế giảm mạnh đến -55,8% chủ yếukhách từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản(những quốc gia có số ca nhiễm Covid-19 tăng nhanh),…Cùng với người dân trongnước không có nhu cầu sử dụng nên lượng khách giảm tới -27,3%47 Doanh nghiệpkinh doanh bị thiệt hại nặng nề phải trả lại tiền cho khách do không tổ chức tourđược, tiền đặt cọc cho khách sạn, nhà hàng Tình trạng hoạt động của họ đã bị tạmdừng trong thời gian dài, phải đợi đến khi dịch bệnh lắng xuống, không còn nguyhiểm mới có thể hoạt động bình thường

Khu vực ngành giáo dục và đào tạo vì dịch bệnh, buộc phải giữ khoảng cách,hạn chế tập trung đông người, nên trường học đóng cửa, học sinh không thể đi họctrực tiếp, cũng đã chuyển sang học trực tuyến qua các phần mềm học online nhưzoom, meeting,… kéo theo đó nhiều phụ huynh phải nghỉ việc ở nhà chăm sóc chocon nhỏ, dẫn đến NLĐ nghỉ việc Ngoài ra, các cơ sở giáo dục ngoài công lập dođối mặt với nguy cơ đóng cửa trong thời gian dài có thể dẫn đến phá sản, vì không

46 Bạch Hồng Việt, tlđd (45).

47 Bạch Hồng Việt, tlđd (45).

Trang 28

hoạt động nhưng họ vẫn phải thanh toán tiền lương cho giáo viên, NLĐ khác, bêncạnh đó thanh toán tiền thuê mặt bằng, chi phí bảo hiểm,… Doanh thu cuối thángthì nhỏ giọt hoặc có khi không có nhưng các chi phí phải chi đều đặn, đã có nhiều

cơ sở giáo dục thật sự bị kiệt sức, không thể gồng gánh nỗi trong mùa dịch này

Liên quan đến khu vực ngành dệt may, sản xuất da, các sản phẩm từ da, sảnxuất các sản phẩm điện tử, sản xuất ô tô, vì phần lớn nguyên liệu, linh kiện là nhậpkhẩu từ nước ngoài, nhà sản xuất lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc Nhưng do tìnhhình dịch căng thẳng các quốc gia đã đóng cửa khẩu, dẫn đến việc nguyên liệu, linhkiện không thể nhập về Việt Nam, giai đoạn này NSDLĐ trong nước trở nên thụđộng Một số tình huống có thể xảy ra như sau, một là buộc phải tạm ngừng sảnxuất toàn bộ, hoặc một vài công đoạn bị thiếu nguyên liệu, linh kiện ngoại nhập.Hai là tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới trong nước để thay thế, tuy nhiên thì bướcnày tính khả thi không cao, vì liên quan đến yêu cầu của khách hàng, chất lượngnguồn nguyên liệu, linh kiện có đảm bảo như ngoại nhập Mặt khác, các doanhnghiệp trong ngành dệt may phải gánh chịu thêm khó khăn về nhân công lao động,khi số lượng NLĐ đông đảo, khó đảm bảo được độ an toàn cao cho sức khỏe NLĐ,phải chia ca làm việc thành các ca gãy để đảm bảo giãn cách xã hội, hoặc cho NLĐnghỉ việc vài ngày do dịch diễn biến phức tạp, khi không thể duy trì tình trạng kinhdoanh, buộc họ phải thu hẹp sản xuất Cụ thể, vào năm 2020, công ty TNHHCrystal Intimate Việt Nam (chuyên sản xuất hàng may mặc) đã phải cho công nhân(CN) ngừng việc trong 2 ngày: Ngày 28/02, 864 người của bộ phận may, kiểm hàng,đóng gói và sửa máy nghỉ; ngày 29/02, 987 người của toàn nhà máy nghỉ Công tyTNHH Crystal Martin (Việt Nam) cho NLĐ nghỉ việc trong 3 ngày: ngày 29/02,nghỉ 8.220 người (toàn bộ nhà máy); ngày 06/03 và ngày 07/03, 6.458 người bộphận may, kiểm hàng, đóng gói và sửa máy nghỉ48 Trong trường hợp cho NLĐ nghỉviệc như thế, NSDLĐ vẫn có trách nhiệm phải trả lương cho NLĐ49 Đối với cácdoanh nghiệp dù có thể sản xuất ra sản phẩm, nhưng hàng hóa lại không được giao

đi, vì đối tác có thể đã tạm dừng kinh doanh hoặc do quốc gia của đối tác đã đóngcửa giao thương, đành phải dời thời gian giao hàng lại đến khi dịch bệnh bớt căngthẳng Sản phẩm làm ra phải “nằm chờ” trong kho, lâu ngày dẫn đến chi phí lưu kho,

48 Quế Chi, “Doanh nghiệp, NLĐ ngành Dệt may gặp khó” , nguồn: nguoi-lao-dong-nganh-det-may-gap-kho-792550.ldo , truy cập ngày 14/04/2021.

https://laodong.vn/thoi-su/doanh-nghiep-49 Điểm a Khoản 3 Điều 99 BLLĐ 2019.

Trang 29

lưu bãi tăng cao, chi phí phải chi trả của doanh nghiệp lại tăng lên, trong khi đódoanh thu thì bị đông cứng.

Từ những thiệt hại do dịch Covid-19 gây ra như trên đã dẫn đến hiện tượngnhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động Theo số liệu của Tổng cục thống kêtrong quý 1/2020, số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động có thời hạn là gần 17nghìn đơn vị, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp ngừng hoạtđộng chờ làm thủ tục giải thể là 12,2 nghìn đơn vị, giảm 20,6% Trong đó, có 2.629doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, 4.343 doanhnghiệp đăng thông báo giải thể và 5.206 doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể với

cơ quan thuế50

Dịch Covid-19 như một cơn lốc xoáy khi trời giông bão, nơi nào có nó điqua nơi đó sẽ có thiệt hại về người và tài sản, sự nguy hiểm của cơn đại dịch đã gây

ra những thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, người chịu thiệt hại đầu tiên chính làNSDLĐ, cánh tay đắc lực giúp kinh tế của quốc gia phát triển

50 Nguyễn Nguyên Zen - Mai Thị Hồng Quyên (2020), “Bảo hiểm thất nghiệp với NLĐ và doanh nghiệp

trước ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19”, Tạp chí Lao động và xã hội, số 623 từ 16-31/5/2020, Tr 6.

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

NSDLĐ là người thuê mướn nhân công làm việc cho mình và trả lương cho

họ dựa trên năng lực và hiệu quả công việc mà họ mang lại Bằng những đóng gópcủa mình đối với xã hội và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước, NSDLĐ đượchưởng những quyền lợi trong mối quan hệ lao động với NLĐ và pháp luật là công

cụ quan trọng để bảo vệ những quyền lợi này Quan hệ lao động là mối quan hệ cơbản, và quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia Dù NSDLĐ

có vị trí ưu thế hơn so với NLĐ về mặt tài sản và quyền lực, tuy nhiên họ vẫn làmột chủ thể trong một quan hệ pháp luật, nếu vậy họ cũng phải được đối xử côngbằng, không thể vì lý do họ chiếm ưu thế hơn mà “chèn ép”, hạn chế quyền lợi của

họ Đặc biệt là khi đối diện với dịch bệnh nguy hiểm, vai trò của NSDLĐ trong việcduy trì và vực dậy nền kinh tế là vô cùng quan trọng, vì chính họ là chủ thể trực tiếp

sẽ triển khai, lên kế hoạch thực hiện các chính sách, định hướng của Chính phủ

Trong thời gian ngắn trở lại đây người dân trên thế giới phải gồng mìnhchống lại cơn đại dịch Covid-19 hết sức nguy hiểm và có diễn biến khó lường.Chính vì sự nguy hiểm này đã mang lại nhiều tổn thất, mất mát về người và tài sản,ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế chung toàn cầu, mà chủ thể ảnh hưởng nổi bật

là các doanh nghiệp, nhà sản xuất, cá nhân kinh doanh, hay còn gọi là NSDLĐ

Từ những diễn giải, phân tích làm sáng tỏ các vấn đề liên quan bảo vệ quyềnlợi trong tình hình dịch bệnh, chương tiếp theo tác giả sẽ đi sâu vào phân tích và bànluận về các quyền lợi của NSDLĐ trong tình hình dịch Covid-19

Trang 31

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 2.1 Quyền lợi của người sử dụng lao động khi dịch Covid-19 xảy ra

“Bộ Y tế đề nghị người dân đeo khẩu trang khi ra khỏi nhà và không tụ tậpnơi đông người”, “Bộ Y tế đề nghị mọi người dân không ra khỏi nhà khi không cầnthiết”, “Mỗi người dân, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh hãy thiết lập trạng thái bìnhthường mới vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, vừa đẩy mạnh chống dịch”,đây là lời nhắc nhở, tuyên truyền phòng chống dịch của Bộ Y tế gửi đến hơn 90triệu người dân Việt Nam thông qua tổng đài cuộc gọi, mỗi khi có dịch bùng pháttại Việt Nam51 Khi số người bị nhiễm và tử vong do dịch Covid-19 không ngừngtăng lên qua từng phút, lúc đó mọi người bắt đầu hoảng sợ, nhận thức được sự

“nguy hiểm”, thấy được mức độ “khủng khiếp” của cơn quét đại dịch Covid-19 này.Tuy nhiên, dù trong tình hình khó khăn, nhưng chúng ta không thể ngừng việc sảnxuất, phát triển kinh tế của đất nước, hơn bao giờ hết cần sự hỗ trợ từ Chính phủ, cónhững chính sách ưu đãi, bảo vệ quyền lợi của những người có vai trò nòng cốttrong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước, họ chính là những NSDLĐ Đểvượt qua được giai đoạn khó khăn, NSDLĐ cũng đã áp dụng nhiều biện pháp đểkhắc phục, duy trì hoạt động sản xuất, theo khảo sát của ILO, với sự tham gia của

58 doanh nghiệp tại Việt Nam, các biện pháp ứng phó được doanh nghiệp áp dụnggồm có:

Hình 1: Biện pháp ứng phó dịch Covid-19 của một số doanh nghiệp tại Việt

Nam52 (%; n=58)

51 “Chủ nhân câu nói “Bộ Y tế đề nghị người dân đeo khẩu trang” trong điện thoại”, nguồn:

https://www.youtube.com/watch?v=EWokc_yT0LQ&t=227s, truy cập ngày 11/06/2021.

52 Đỗ Quỳnh Chi, “Đánh giá nhanh tác động của đại dịch COVID-19 tới doanh nghiệp và NLĐ trong một số ngành kinh tế chính: Ứng phó, điều chỉnh và khả năng phục hồi”, nguồn:

https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/ -asia/ -ro-bangkok/ -ilo-hanoi/documents/publication/wcms_757928.pdf , truy cập ngày 03/05/2021.

Trang 32

Việc áp dụng các biện pháp trên đồng thời cũng là việc NSDLĐ đang sửdụng quyền điều hành, quản lý của mình trong giai đoạn bùng phát dịch bệnh.Quyền lợi của NSDLĐ được ghi nhận tại BLLĐ 2019, và các văn bản dưới luậtkhác.

2.1.1 Chuyển người lao động làm công việc khác với hợp đồng lao động

Khi tình hình dịch bệnh diễn biến căng thẳng, các nguồn nguyên vật liệu từnước ngoài đã ngừng cung ứng, ảnh hưởng quá trình sản xuất của NSDLĐ do thiếunguồn nguyên liệu Kết quả, có một số khâu trong chuỗi sản xuất phải dừng lại, một

số khâu khác có thể tiếp tục làm việc, để không bị động hoàn toàn trong tình hìnhdịch khó khăn, NSDLĐ có thể chuyển những NLĐ có khâu công việc bị ảnh hưởngsang làm khâu công việc vẫn đang hoạt động khác Căn cứ pháp lý áp dụng tại

khoản 1 Điều 29 BLLĐ 2019, với lý do vì dịch bệnh nguy hiểm, mà thực hiện việc

chuyển đổi53 Biện pháp này thể hiện việc sử dụng nguồn lao động linh hoạt, hiệuquả, giúp NSDLĐ giải quyết được bài toán khó “dư - thiếu” nhân công lao độnggiữa các bộ phận Mặt khác, góp phần làm cho mối quan hệ giữa hai chủ thể trongquan hệ lao động trở nên gắn chặt hơn, vì khi gặp khó khăn nhưng NSDLĐ vẫnkhông chấm dứt quan hệ lao động với NLĐ, mà tiếp tục giữ lại, tạo công ăn việclàm cho họ, cùng nhau vượt qua giai đoạn này Việc chuyển lao động như vậy cònmang lại lợi ích sau khi hết dịch, nguồn nguyên liệu đã có thể nhập về nước, quátrình sản xuất được tiếp tục, có khi phải hoạt động nhiều hơn Lúc này, NSDLĐ

53 Hướng dẫn tại Mục 3, Công văn số 1064/LĐTBXH-QHLĐTL ngày 25 tháng 03 năm 2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Quy định hướng dẫn trả lương ngừng việc và giải quyết chế độ cho người lao động trong thời gian ngừng việc liên quan đến dịch bệnh Covid-19 (Điều 31 BLLĐ 2012 nay Điều

29 BLLĐ 2019).

Trang 33

không cần phải tốn công sức tuyển dụng lại ban đầu, không mất thời gian để dạyviệc lại, đây cũng có thể xem là một cách “dự trữ hàng hóa sức lao động” Tuynhiên, NSDLĐ cần lưu ý về giới hạn của thời gian luân chuyển Không quá 60 ngàycộng dồn làm việc trong một năm, nếu vượt quá thời gian này phải có sự đồng ýbằng văn bản từ phía NLĐ NSDLĐ phải báo trước ít nhất 3 ngày làm việc và thôngbáo rõ thời hạn làm việc tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe giới tínhcủa NLĐ Thêm vào đó, mức tiền lương trả cho NLĐ là mức lương của công việcmới, nếu thấp hơn mức lương cũ, thì giữ nguyên mức tiền lương công việc trướctrong 30 ngày Tiền lương công việc mới không được thấp hơn 85% tiền lươngcông việc cũ và mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định54 Theo kết quảkhảo sát trên thì biện pháp chuyển NLĐ làm công việc khác với hợp đồng lao đồng

(hay là biện pháp sắp xếp lại lao động giữa các bộ phận )55được áp dụng nhiều hơn

cả, vì đây là biện pháp mang lại kết quả tích cực cho NSDLĐ và NLĐ

2.1.2 Tạm hoãn thực hiện hợp đồng

Biện pháp này được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 30 BLLĐ 2019, với

căn cứ “trường hợp khác do hai bên thỏa thuận” Đây có thể coi là một quy định

mở, cho phép NSDLĐ và NLĐ linh hoạt áp dụng, không chỉ ràng buộc trong cáctrường hợp luật định Vì về cơ bản mối quan hệ giữa hai chủ thể này là quan hệ hợpđồng dựa trên sự thỏa thuận, do đó có thể nêu ý kiến của mình về việc thực hiệnhợp đồng, miễn sao việc thỏa thuận đảm bảo các nguyên tắc cơ bản56 “Tạm hoãnhợp đồng” là việc tạm dừng thực hiện hợp đồng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh vì lý do theo quy định của pháp luật hoặc do các bên thỏa thuận, khi lý do tạmhoãn không còn nữa NLĐ có thể quay lại tiếp tục thực hiện hợp đồng Đặc biệt,trong tình hình dịch bệnh nguy hiểm, NSDLĐ đứng giữa thế khó khi công việc kinhdoanh không thể duy trì hoạt động, không có công việc thay thế để chuyển NLĐsang làm công việc khác Và không muốn chấm dứt hợp đồng lao động, vì sẽ gâytổn thất về sau, ảnh hưởng đến tiến độ, nhân công sản xuất hàng hóa khi dịch bệnh

54 Điều 29 BLLĐ 2019.

55 Hình 1, tr 30.

56 Điều 15 BLLĐ 2019:

“ Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động:

1 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

2 Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức

xã hội.”

Trang 34

qua đi, cũng có thể đây là những NLĐ làm việc hiệu quả, lâu năm, hiểu rõ văn hóacủa doanh nghiệp,… Để giải quyết vấn đề, hai chủ thể cùng thỏa thuận, ký với nhaubản nội dung về việc tạm hoãn thực hiện hợp đồng do ảnh hưởng của dịch bệnhCovid-19 trong thời gian ngắn, 10 ngày chẳng hạn Lúc này lợi ích của NSDLĐcũng sẽ được đảm bảo Bởi vì, biện pháp tạm hoãn thực hiện hợp đồng một mặtgiúp NSDLĐ giữ lại được những “nhân viên đạt chuẩn” của mình, mặt khác tạo cơhội để NLĐ tìm kiếm các công việc khác làm tạm thời kiếm thu nhập trang trải cuộcsống, không những vậy khi áp dụng biện pháp này NSDLĐ không phải gánh chịuchi phí tiền lương và các lợi ích đã ký kết hợp đồng57 Sau khi hết thời hạn đã thỏathuận, NLĐ có thể quay lại làm việc bình thường, mối quan hệ lao động giữa haibên lại được tiếp tục.

2.1.3 Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Tình hình sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ bị đình trệ trong thời gian dàibởi dịch bệnh Kinh tế bị thâm hụt, do gánh các chi phí sản xuất phát sinh thêm,hàng hóa không bán, xuất khẩu được, nhân công không có việc làm, buộc họ phảithu hẹp phạm vi sản xuất, hoặc đóng cửa cơ sở Vì lợi ích lâu dài của doanh nghiệpcũng như NLĐ khác, NSDLĐ phải đơn phương chấm dứt hợp đồng với NLĐ khôngcần sử dụng đến “Đơn phương” có tính chất của một bên, không có sự thỏa thuậnhoặc sự tham gia của bên kia58 Khi sử dụng quyền lợi này NSDLĐ không cần thỏathuận hay sự đồng ý từ phía NLĐ Căn cứ rõ ràng mà NSDLĐ có thể áp dụng đểđơn phương chấm dứt hợp đồng trong tình hình dịch bệnh, được quy định tại điểm c

khoản 1 Điều 36, BLLĐ 2019, “do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch

họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc” Khác với BLLĐ 2012, lần sửa đổi mới này các nhà lập pháp đã

liệt kê cụ thể các trường hợp được xem là lý do bất khả kháng vào ngay trong điều

luật, không còn quy định, hướng dẫn tại Nghị định59như trước đây Tạo điều kiệnthuận lợi cho người áp dụng, thi hành pháp luật dễ dàng nắm bắt các quy định

NSDLĐ khi không còn khả năng, nhu cầu thuê NLĐ có thể lấy căn cứ vì tình hình

dịch Covid-19 nguy hiểm hoặc do thu hẹp sản xuất Khi áp dụng NSDLĐ cần phải

57 Khoản 2 Điều 30 BLLĐ 2019.

58 Chu Thị Bích Thu (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, tr 311.

59 Khoản 2 Điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều luật của Bộ luật Lao động.

Trang 35

chứng minh “đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làmviệc”, chẳng hạn đã vay vốn ngân hàng để duy trì sản xuất, chuyển NLĐ sang làmcông việc khác,… nhưng khó khăn vẫn không được giải quyết Việc quyết địnhchấm dứt hợp đồng với NLĐ đồng nghĩa với việc họ sẽ bị mất việc làm, có khi thấtnghiệp trong một khoảng thời gian dài vì dịch bệnh rất khó tìm việc, ảnh hưởng đếnđời sống gia đình, việc học hành của con cái của họ, nếu việc chấm dứt liên quanđến nhiều NLĐ thì sẽ ảnh hưởng đến xã hội Vì vậy, buộc NSDLĐ phải chứng minh

rõ đã cố gắng hết sức nhưng không thể cứu vãn tình hình và việc đơn phương chấmdứt hợp đồng lao động là biện pháp “không còn cách nào khác, đành phải thựchiện” Tuy nhiên, thời điểm hiện tại không căn cứ nào để quyết định NSDLĐ đã ápdụng mọi biện pháp khắc phục hay chưa, nên việc áp dụng sẽ gặp nhiều lúng túng

và trường hợp nghỉ khác được NSDLĐ đồng ý; NLĐ nữ mang thai; NLĐ đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi” 60 Vận dụng vào tình hình thực tế, trongtrường hợp NLĐ, hay khu nhà NLĐ đang ở phải cách ly theo chỉ thị của Bộ Y tế,hoặc trong thời gian điều trị do nhiễm Covid-19, NSDLĐ không được đơn phươngchấm dứt hợp đồng với họ vì thuộc căn cứ NLĐ ốm đau đang điều trị, điều dưỡngtheo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền Vì vậy NSDLĐ cầnchú ý để không vi phạm

Ngoài ra, NSDLĐ cần phải chú ý nghĩa vụ thông báo “ít nhất 45 ngày đối

với hợp đồng lao động không xác định thời hạn, ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động có xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng hoặc trường hợp chấm dứt vì lý do tại điểm b khoản 1 Điều 36 Luật này”61 Nhưvậy, khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng với lý do dịch bệnh haythu hẹp sản xuất, NSDLĐ vẫn phải tuân thủ khoảng thời gian trên, không thuộc

60 Điều 37 BLLĐ 2019.

61 Khoản 2 Điều 36 BLLĐ 2019.

Trang 36

trường hợp được miễn hay giảm thời gian thông báo Áp dụng vào thực tế sẽ gặp trởngại ở điểm, tại giai đoạn khó khăn NSDLĐ muốn chấm dứt hợp đồng ngay để giảithoát cho NLĐ, và các nghĩa vụ tài chính đang gánh vác, nhưng “phải đợi” mộtkhoảng thời gian có khi hơn một tháng thì mới có thể thực hiện được quyền này.Khi đó, mục đích của việc thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng là nhằm bảo

vệ quyền lợi cho một bên chủ thể khi gặp những hoàn cảnh khó khăn nhất địnhkhông thể thực hiện hợp đồng62, đã không được phát huy

2.1.4 Thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

Khó khăn do dịch bệnh gây ra, ngoài việc đối mặt, thích nghi ứng phó, thìchúng ta không còn cách nào khác để vượt qua cơn khủng hoảng này Khi thời thếthay đổi, đặc biệt là tình hình kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cácdoanh nghiệp không thể bảo thủ, cố chấp giữ nguyên mô hình hoạt động như từtrước đến giờ Vì vậy, họ phải linh hoạt, quyết liệt trong việc hoạch định lại kếhoạch kinh doanh, mô hình quản trị,… Khi thay đổi cơ cấu, công nghệ, mô hìnhcông ty không còn quy mô như trước, kéo theo đó nhu cầu sử dụng lao động giảm.Pháp luật cho phép NSDLĐ có thể chấm dứt hợp đồng với NLĐ trong trường hợpnhư vậy Đây cũng là một trong những biện pháp mà NSDLĐ có thể áp dụng trongtình hình dịch Covid-19

Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 BLLĐ 2019, những trường hợp giảm lao

động với lý do thay đổi cơ cấu, công nghệ là “thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại

lao động; thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ; thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm” Thay đổi cơ cấu tổ chức là việc NSDLĐ sẽ tiến hành đánh giá, xem xét

lại bộ máy làm việc của mình, quyết định cắt giảm, nhập, tách, thành lập thêm cácphòng ban mới, giúp doanh nghiệp có cơ hội đánh giá ưu và khuyết điểm của nguồnnhân lực để phát huy, khắc phục, giúp bộ máy tinh gọn, được vận hành trơn tru,

hiệu quả hơn Tổ chức lại lao động là trường hợp tách, sáp nhập doanh nghiệp, rà

soát nguồn nhân lực, sau đó ra quyết định giữ, chấm dứt hợp đồng với ai, nhằm tăng

năng suất lao động Thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh

doanh gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ, khi NSDLĐ muốn

giảm chi phí nhân công như: bảo hiểm, tiền lương, trợ cấp,… và tăng năng suất lao

62 Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2017), tlđd (12), tr 196.

Ngày đăng: 27/10/2022, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.B. Tài liệu tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: 39/2018/NĐ-CP
11. Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật lao động, chủ biên Trần Hoàng Hải, Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật lao động
Tác giả: Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2017
12. Nguyễn Nguyên Zen - Mai Thị Hồng Quyên (2020), “Bảo hiểm thất nghiệp với NLĐ và doanh nghiệp trước ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19”, Tạp chí Lao động và xã hội, số 623 từ 16-31/5/2020.C. Tài liệu từ internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm thất nghiệpvới NLĐ và doanh nghiệp trước ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19”, "Tạp chí Laođộng và xã hội", số 623 từ 16-31/5/2020.C
Tác giả: Nguyễn Nguyên Zen - Mai Thị Hồng Quyên
Năm: 2020
1. “Bộ Y tế tiếp nhận 3.200 máy thở của Tập đoàn Vingroup phục vụ chống dịch COVID-19”, nguồn: https://moh.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset_publisher/3Yst7YhbkA5j/content/bo-y-te-tiep-nhan-3-200-may-tho-cua-tap-oan-vingroup-phuc-vu-chong-dich-covid-19,truy cập ngày 23/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế tiếp nhận 3.200 máy thở của Tập đoàn Vingroup phục vụchống dịch COVID-19
3. “Chủ nhân câu nói “Bộ Y tế đề nghị người dân đeo khẩu trang” trongđiện thoại”, nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nhân câu nói “Bộ Y tế đề nghị người dân đeo khẩu trang” trongđiện thoại
6. “Infographics: Hiểu đúng về phong tỏa, giãn cách xã hội và cách ly y tế”, nguồn: http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2021-02-05/infographics-hieu-dung-ve-phong-toa-gian-cach-xa-hoi-va-cach-ly-y-te-99434.aspx, truy cập ngày 13/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infographics: Hiểu đúng về phong tỏa, giãn cách xã hội và cách ly ytế
7. “Sơ lược về các tuyến biên giới đất liền: Biên giới Việt Nam- TrungQuốc (Phần 1)”, nguồn:https://quangnam.gov.vn/CMSPages/BaiViet/Default.aspx?IDBaiViet=26793#:~:text=%C4%90%C6%B0%E1%BB%9doanhnghiệpg%20bi%C3%AAn%20gi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược về các tuyến biên giới đất liền: Biên giới Việt Nam- TrungQuốc (Phần 1)
10. “Vắc xin phòng Covid-19 của Astrazeneca: “Chìa khóa” chấm dứt đại dịch”, nguồn: https://vnvc.vn/astrazeneca/, truy cập ngày 12/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vắc xin phòng Covid-19 của Astrazeneca: “Chìa khóa” chấm dứt đạidịch
11. “Vaccine Sputnik V (Nga): Chất lượng kiểm định ngừa Covid trên 95%”, nguồn: https://vnvc.vn/sputnik-v/, truy cập ngày 12/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vaccine Sputnik V (Nga): Chất lượng kiểm định ngừa Covid trên95%
12. “Virus Corona 2019 (Covid 19, Sars CoV 2): Nguyên nhân & triệu chứng”, nguồn: https://vnvc.vn/virus-corona-2019/,truy cập ngày 12/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Virus Corona 2019 (Covid 19, Sars CoV 2): Nguyên nhân & triệuchứng
13. “Vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, vừa phòng, chống dịch COVID-19”, nguồn: https://moh.gov.vn/tin-lien-quan/-/asset_publisher/vjYyM7O9aWnX/content/vua-ay-manh-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vua-phong-chong-dich-covid-19,truy cập ngày 08/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, vừa phòng, chống dịchCOVID-19
14. Khánh An, “COVID-19 trở thành ‘đại dịch toàn cầu’, nên hiểu như thế nào?”, nguồn: https://thanhnien.vn/the-gioi/dai-dich-covid-19-dai-dich-toan-cau-la-gi-co-y-nghia-ra-sao-1194727.html,truy cập ngày 08/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: COVID-19 trở thành ‘đại dịch toàn cầu’, nên hiểu nhưthế nào
15. Ngọc An, “Sôi động xuất khẩu khẩu trang, đồ bảo hộ y tế”, nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sôi động xuất khẩu khẩu trang, đồ bảo hộ y tế
18. Lê Thị Chiên, “Quan điểm của C. Mác về lực lượng sản xuất và vấn đề bổ sung, phát triển quan điểm này trong giai đoạn hiện nay”, nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của C. Mác về lực lượng sản xuất và vấnđề bổ sung, phát triển quan điểm này trong giai đoạn hiện nay
19. Vũ Việt Hoàng, “Những cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử nhân loại”, nguồn: http://concetti.vn/news/legal_news/150/nhung-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-trong-lich-su-nhan-loai,truy cập ngày 19/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sửnhân loại
20. Trung Hưng, “Kinh tế Việt Nam dự báo tăng mạnh trở lại trong năm 2021-2022”, nguồn: https://nhandan.com.vn/nhan-dinh/kinh-te-viet-nam-du-bao-tang-manh-tro-lai-trong-nam-2021-2022-643775/,truycậpngày07/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam dự báo tăng mạnh trở lại trong năm2021-2022
21. Bảo Loan, “Biến thể mới của SARS-CoV-2 xuất hiện tại Hải Dương có nguy hiểm hơn trước đây?”, nguồn: https://ncov.moh.gov.vn/web/guest/-/6847426-878,truy cập ngày 12/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến thể mới của SARS-CoV-2 xuất hiện tại Hải Dươngcó nguy hiểm hơn trước đây
22. Bùi Sỹ Lợi, “Kinh nghiệm cải cách hệ thống an sinh xã hội của NhậtBản”, nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm cải cách hệ thống an sinh xã hội của NhậtBản
23. Phúc Long, “Đại dịch COVID-19 gây suy thoái hay khủng hoảng kinh tế thế giới?”, nguồn: https://tuoitre.vn/dai-dich-covid-19-gay-suy-thoai-hay-khung-hoang-kinh-te-the-gioi-20200401110816013.htm,truycậpngày12/04/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại dịch COVID-19 gây suy thoái hay khủng hoảng kinhtế thế giới
24. Nhật Minh, “Kinh tế thế giới trước dịch bệnh COVID-19”, nguồn:https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thế giới trước dịch bệnh COVID-19

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w