1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Chế định người đại diện theo pháp luật trong Luật doanh nghiệp 2020

68 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Định Người Đại Diện Theo Pháp Luật Trong Luật Doanh Nghiệp 2020
Tác giả Kim Ngọc Ánh
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Tăng Thị Bích Diễm
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Lê Nguyễn Huyền Trang với khóa luận “Chế định người đại diện theo pháp luật trong luật doanh nghiệp 2014” năm 2020 đã tiếp cận đề tài theo cáckhía cạnh cụ thể của chế định NĐDTPL

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

CHẾ ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2020

SINH VIÊN THỰC HIỆN: KIM NGỌC ÁNH

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ TĂNG THỊ BÍCH DIỄM

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Tăng Thị Bích Diễm, đảm

bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.

Ký tên

KIM NGỌC ÁNH

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

NĐDTPL Người đại diện theo pháp luật

GCN Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 7

1.1 Cơ sở hình thành mối quan hệ giữa người đại diện theo pháp luật với doanh nghiệp 7

1.1.1 Nguồn gốc quan hệ đại diện giữa người đại diện theo pháp luật với doanh nghiệp 7

1.1.2 Quan hệ đại diện giữa người đại diện theo pháp luật với doanh nghiệp 10

1.2 Khái niệm về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 13

1.3 Đặc điểm của chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 16

1.4 Vai trò của chế định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 18

CHƯƠNG 2 XÁC LẬP, CHẤM DỨT TƯ CÁCH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 22

2.1 Căn cứ xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 22

2.1.1 Theo quy định của pháp luật 22

2.1.2 Theo Điều lệ công ty 25

2.1.3 Sự chỉ định của Tòa án 27

2.2 Điều kiện làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 28

2.2.1 Điều kiện về chức danh quản lý 28

2.2.2 Điều kiện về nơi cư trú 31

2.2.3 Một số điều kiện khác 32

2.3 Thời điểm xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 35 2.4 Chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 36

2.5 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 39

CHƯƠNG 3 THẨM QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 42

3.1 Thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 42

3.1.1 Đại diện doanh nghiệp trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự 42

3.1.2 Đại diện doanh nghiệp trong các quan hệ tố tụng 45

3.1.3 Một số quyền khác của người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp 48

3.1.4 Giới hạn thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 49

3.2 Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 51

3.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 55

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứXIII, diễn ra vào ngày 28/03/2021 tại trụ sở Quốc hội, thủ tướng Nguyễn XuânPhúc đã trình bày Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 10 năm giai đoạn 2021 –

2030, chủ đề của chiến lược có nêu rõ: Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 là nướcđang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045trở thành nước phát triển, thu nhập cao1 Một trong những động lực mang tính tiênquyết để thực hiện thành công chiến lược nêu trên không thể không kể đến là sựphát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp cả về lượng và chất, với nhiều tậpđoàn và doanh nghiệp đã có sự đột phá trong sản xuất công nghiệp và công nghệ,chủ động tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu Chính vì thế, doanhnghiệp đã dần khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế quốcdân và đóng góp nhiều giá trị cho xã hội Để đạt được những thành công đó, doanhnghiệp luôn phải dựa vào sức mạnh của con người Một trong những nhân tố quantrọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp chính là vai trò củangười đại diện theo pháp luật (NĐDTPL) Doanh nghiệp vốn là một thực thể pháp

lý độc lập, bản thân doanh nghiệp không thể tự xác lập và thực hiện các quyền,nghĩa vụ của mình với Nhà nước, với đối tác, khách hàng hay với chủ nợ/con nợ màphải xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ thông qua hành vi của người đại diện(NĐD)2

Nhận thức được vai trò quan trọng đó, các nhà làm luật của Việt Nam đãkhông ngừng nghiên cứu và có những thay đổi về pháp luật đối với NĐD của doanhnghiệp Sự thay đổi theo hướng tiệm cận hơn với chế định NĐDTPL của một sốnước trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp thành lập, hoạtđộng tại Việt Nam Gần đây nhất, Luật Doanh nghiệp (LDN) 2020 được Quốc hộithông qua ngày 17/06/2020 đã có những quy định mới và khắc phục được một sốhạn chế của LDN 2014, nhưng bên cạnh đó vẫn còn bỏ ngỏ một số bất cập đượcnhận thấy trong quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế Đồng thời, sự thiếu vắng

về mặt lý luận của NĐDTPL đã gây ra những khó khăn nhất định khiến các doanhnghiệp khá lúng túng trong việc tiếp cận và áp dụng các quy định này

Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Chế định người đại diện theo pháp luật trongLuật doanh nghiệp 2020” để làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn có thêm một

1“Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030”,

xiii/chien-luoc-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-10-nam-2021-2030-3671 , truy cập ngày 25/04/2021 2Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”,

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-Tạp chí Khoa học và pháp lý, Số 4(41)/2007, tr.21.

Trang 7

công trình nghiên cứu về chế định NĐDTPL một cách đầy đủ và toàn diện dưới góc

độ pháp lý và quản trị doanh nghiệp Từ đó, có những kiến nghị có ích góp phần tạo

ra một môi trường pháp lý an toàn, phù hợp với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệptrong hoạt động đầu tư, kinh doanh, đồng thời nâng cao hoạt động quản lý của Nhànước

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chế định về NĐDTPL của doanh nghiệp từ lâu đã không còn là một đề tàiquá mới mẻ Kể từ khi pháp luật Việt Nam ghi nhận những quy định về NĐDTPLthì đã có rất nhiều tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu và đề xuất những kiến nghịhữu ích nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Một số công trình nghiên cứudưới dạng sách đã đề cập tới vấn đề về NĐDTPL của doanh nghiệp như sau:

Tác giả Trương Nhật Quang đã dành chương số 7 trong quyển sách với tựa

đề: “Pháp luật về doanh nghiệp – Các vấn đề pháp lý cơ bản”, NXB Dân trí, năm

2016 để phân tích một cách tổng quan các quy định về NĐDTPL theo LDN 2014

Tác giả Đỗ Văn Đại đã cung cấp cho người đọc những nội dung mang tính lýluận và thực tiễn áp dụng các quy định về NĐD nói chung, trong đó có bao gồm

NĐDTPL của doanh nghiệp trong quyển sách có tựa đề “Luật hợp đồng Việt Nam Bản án và bình luận bản án”, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.258 -

-331; bình luận những điểm mới của BLDS 2015 về chế định NĐD trong nội dung

của quyển sách “Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015”,

NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, chương 7

Tuy nhiên, vì chỉ dành một dung lượng nhỏ để viết về chế định NĐDTPLnên những công trình nêu trên chưa thể khái quát một cách toàn diện và có hệ thốngcác vấn đề lý luận về NĐDTPL của doanh nghiệp Ngoài ra, một số tác giả cũng đãlựa chọn đề tài này để viết luận văn và khóa luận, có thể kể đến như:

Tác giả Lê Việt Phương với luận văn “Người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam” năm 2013 Luận văn đã nghiên cứu

khá đầy đủ và toàn diện về chế định NĐDTPL Tuy nhiên công trình nghiên cứunày được thực hiện theo LDN 2005, vốn có nhiều sự khác biệt với các quy địnhhiện hành và nay chỉ còn có giá trị tham khảo

Tác giả Mai Thị Ngân Hà với luận văn “Pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty” năm 2020 và tác giả Ngô Thị Huệ My với khóa luận “Chế định người đại diện theo pháp luật theo Luật doanh nghiệp 2014” năm 2017 Cả hai

đều tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về NĐDTPL và thực trạngquy định pháp luật về NĐDTPL theo LDN 2014, đồng thời đưa ra kiến nghị hoànthiện một số bất cập

Trang 8

Tác giả Lê Nguyễn Huyền Trang với khóa luận “Chế định người đại diện theo pháp luật trong luật doanh nghiệp 2014” năm 2020 đã tiếp cận đề tài theo các

khía cạnh cụ thể của chế định NĐDTPL, đồng thời đánh giá, đề xuất cơ chế quản lý

theo pháp luật các nước Phương Tây, trình bày một số học thuyết tiêu biểu về NĐD

và bình luận những vấn đề thực tiễn trong quản trị doanh nghiệp và pháp luật doanhnghiệp ở Việt Nam

Bài viết “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – Nhìn từ góc độ luật so sánh” của Ngô Huy Cương trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật số

04/2009 Tác giả đã phân tích, bình luận và so sánh chế định NĐDTPL của các quốcgia, đưa ra quan niệm của một số học giả và đánh giá những điểm hạn chế của Bộluật dân sự (BLDS) 2005

Đặc biệt, khi LDN 2014 ra đời với những quy định mang tính đột phá và traoquyền cho doanh nghiệp, không ít tác giả đã nghiên cứu chế định NĐD theo các quyđịnh của LDN 2014, trong đó có thể kể đến:

Bài viết “Hành lang pháp lý mới về người đại diện theo pháp luật của Luật

Doanh nghiệp 2014” của Bùi Đức Giang trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật số

06/2015 đã tập trung phân tích các quy định mới của LDN 2014 về chế địnhNĐDTPL, đặc biệt về việc chỉ định, quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL cùng tráchnhiệm dân sự của chức danh này

Bài viết “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo Luật Doanhnghiệp 2014 dưới góc độ quyền tự do kinh doanh” của Ngô Gia Hoàng, Nguyễn

Thị Thương trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 07/2016 Các tác giả đã tập

trung khái quát về NĐDTPL của doanh nghiệp và quyền tự do kinh doanh, phântích những điểm mới và chỉ ra những vướng mắc khi áp dụng các quy định vềNĐDTPL

Bài viết “Quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2014 về người đại diện theo

pháp luật của doanh nghiệp”, tác giả Vũ Lan Anh trong Tạp chí Luật học số 04/2016 Tác giả đã phân tích và bình luận những điểm mới quan trọng mang tính

đột phá của LDN 2014 về NĐDTPL của doanh nghiệp và chỉ ra những điểm cầnlưu ý trong việc áp dụng trên thực tế

Trang 9

Bài viết “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp: Thực trạng và

hướng hoàn thiện” của Phan Thành Nhân, Đỗ Thị Nhung trong Tạp chí Nhà nước

và Pháp luật số 12/2018 Hai tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá các quy định

của LDN 2014 về NĐDTPL của doanh nghiệp cũng như thực tiễn áp dụng và đưa

ra một số giải pháp hoàn thiện

Vì các công trình nghiên cứu nêu trên được thể hiện dưới hình thức là bàibáo khoa học nên các vấn đề về NĐDTPL của doanh nghiệp chưa được nghiên cứumột cách đầy đủ, chỉ mang tính khái quát chung và tổng quan về NĐDTPL Một sốcông trình nghiên cứu chỉ tập trung phát hiện, đánh giá những điểm mới và điểm bấtcập trong quá trình áp dụng pháp luật nên chưa giàu tính lý luận Thêm vào đó, hầuhết các công trình nghiên cứu đều được xây dựng dựa trên các quy định của LDN

2005, LDN 2014, vốn là các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực

Tuy nhiên, những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đều rất quý báu vì đãgiúp người đọc nhận thức được bản chất và vai trò của chế định NĐDTPL trongdoanh nghiệp Và chắc chắn đây sẽ là nền tảng vững chắc để tác giả tiếp tục nghiêncứu một cách khái quát và toàn diện hơn “Chế định người đại diện theo pháp luậttrong Luật Doanh nghiệp 2020”, đồng thời đưa ra những kiến nghị có ích để hoànthiện môi trường pháp lý giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong hoạt động kinhdoanh

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Thông qua nghiên cứu đề tài “Chế định người đại diện theo pháp luật trongLuật Doanh nghiệp 2020”, tác giả hướng tới các mục đích quan trọng như sau:

Thứ nhất, khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến NĐDTPL của doanh

nghiệp dựa trên các học thuyết và quan điểm của một số tác giả

Thứ hai, phân tích và đánh giá khách quan các quy định về NĐDTPL của

doanh nghiệp theo LDN 2020; đồng thời chỉ ra một số điểm mới và bất cập củaLDN 2020 so với LDN 2005, LDN 2014

Thứ ba, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của LDN 2020 về NĐDTPL

và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện dựa trên cơ sở lý luận, pháp luật và thực tiễn

đã nghiên cứu trong đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả tập trung vào các vấn đề sau:

Thứ nhất, cơ sở hình thành quan hệ đại diện và các vấn đề lý luận của

NĐDTPL của doanh nghiệp;

Thứ hai, thực trạng quy định pháp luật về NĐDTPL của doanh nghiệp;

Trang 10

Thứ ba, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về NĐDTPL của doanh

nghiệp 4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận quan trọng liên quan đến chếđịnh NĐDTPL theo quy định của LDN 2020, BLDS 2015 và các văn bản pháp luậtchuyên ngành có liên quan đến chủ thể này Đề tài cũng chú trọng nghiên cứu thựctiễn áp dụng quy định của LDN về NĐDTPL thông qua các tranh chấp được xét xửtại Tòa án, quy định trong Điều lệ của các công ty đang hoạt động

Trong phạm vi khóa luận, tác giả tập trung nghiên cứu chế định NĐDTPLcủa các loại hình doanh nghiệp sau: Doanh nghiệp tư nhân (DNTN), Công ty hợpdanh (CTHD), Công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH) và Công ty cổ phần(CTCP)

Ngoài ra, để làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý và đưa ra các kiến nghị hoànthiện phù hợp, tác giả sẽ so sánh, đối chiếu các quy định về NĐDTPL trong LDN

2020 với một số quy định trong LDN 2005, LDN 2014 và tham khảo một số quyđịnh trong pháp luật của một số quốc gia như Bộ luật dân sự Pháp 1804, Bộ luậtDân sự và thương mại Thái Lan 1925, Luật công ty Úc 2001, Luật Công ty NhậtBản 2005, Luật Công ty Vương quốc Anh 2006, Luật Công ty trách nhiệm hữu hạncủa Đức 1892

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài một cách khái quát và toàn diện, phản ánh đầy đủ cáckhía cạnh của chế định NĐDTPL trong LDN 2020, tác giả đã sử dụng phối hợpnhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể là:

Thứ nhất, phương pháp tra cứu, tìm kiếm thông tin để thu thập được những

nguồn tài liệu phong phú như các văn bản quy phạm pháp luật, sách, luận văn, khóaluận, tạp chí, trang thông tin điện tử, bản án có liên quan đến nội dung của đề tài

Thứ hai, phương pháp phân tích, đánh giá để nghiên cứu một cách cụ thể và

“mổ xẻ” các vấn đề pháp lý, cho thấy được ưu điểm, hạn chế của các quy định phápluật và phản ánh được thực trạng áp dụng pháp luật trên thực tế Đây là phươngpháp được sử dụng xuyên suốt khóa luận và tập trung chủ yếu ở chương 2 vàchương 3

Thứ ba, phương pháp so sánh để chỉ ra các quy định mới, điểm tiến bộ của

LDN 2020 và sự khác biệt trong quy định của pháp luật trong nước với các quyđịnh của pháp luật nước ngoài về chế định NĐDTPL của doanh nghiệp từ đó cónhững gợi mở để đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật

Trang 11

Thứ tư, phương pháp tổng hợp Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp

những nguồn thông tin đã được thu thập, tìm kiếm và để tổng kết các vấn đề nghiêncứu sau khi phân tích, đánh giá, so sánh

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được chia thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về chế định người đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp 2020

Chương 2: Xác lập, chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp 2020 và kiến nghị hoàn thiện

Chương 3: Thẩm quyền, trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật trongLuật Doanh nghiệp 2020 và kiến nghị hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP

LUẬT TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 1.1 Cơ sở hình thành mối quan hệ giữa người đại diện theo pháp luật với doanh nghiệp

1.1.1 Nguồn gốc quan hệ đại diện giữa người đại diện theo pháp luật với doanh nghiệp

Theo quan điểm của Các Mác thì bản chất của con người là sự tổng hòa củacác mối quan hệ xã hội Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó thông qua cáchthức con người tương tác, trao đổi, giao tiếp với nhau để xác lập giao dịch nhằmđáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần Hầu hết mọi người sẽ tự mình xác lậpgiao dịch để đáp ứng những nhu cầu của chính mình Tuy nhiên, không phải ai cũng

có đủ khả năng để tự mình xác lập tất cả giao dịch đó, thậm chí là có những người

bị mất hoặc không có năng lực để xác lập, tiến hành giao dịch Mặt khác, nhờ vàotrình độ học vấn, kinh nghiệm mà một người trở nên thông thạo đối với một hoặcmột số công việc nhất định Để đảm bảo cho giao dịch được xác lập và tiến hànhmột cách thuận tiện, tránh được rủi ro, tiết kiệm thời gian, chi phí, con người dần

có xu hướng nhờ người khác thay mình xác lập, thực hiện các giao dịch nhằm đápứng các nhu cầu của chính mình Từ đó, quan hệ đại diện được hình thành3

Trước công nguyên, Luật La Mã không chấp nhận vấn đề đại diện do tính chấttrọng hình thức đối với hợp đồng4 Đến thế kỉ XVIII, vấn đề đại diện được thúc đẩy ởchâu Âu lục địa bởi các luật gia theo trường phái luật tự nhiên5 Còn với quốc gia theotruyền thống luật Common law, pháp luật về đại diện bắt đầu từ câu châm ngôn La-tinh: “Qio facit per alium, facit per se”, tạm dịch là “hành động của một người thôngqua chủ thể khác được pháp luật coi là hành động của chính người đó”, pháp luật vềđại diện được hình thành6 Có thể thấy, sự thay mặt hành động của một cá nhân chomột cá nhân khác, hoặc là cho một nhóm người đã dần được thừa nhận và ngày càngđược vận dụng một cách phổ biến trong xã hội Dưới sự tác động của các cuộc cáchmạng công nghiệp, sự gia tăng sản xuất và gia tăng về số lượng lao động đã đặt ra vấn

đề cần có người thay mặt người chủ quản lý một phần hoặc toàn bộ hoạt động sảnxuất, kinh doanh Như vậy, ngoài vai trò là phương thức giúp một

3Lê Việt Phương (2013), Người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.5

4Ngô Huy Cương (2009), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – nhìn từ góc

độ luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4 (252)/2009, tr.26.

5Ngô Huy Cương, tlđd (4), tr.26

6 Hồ Ngọc Hiển (2007), “Nghĩa vụ của người đại diện và người ủy quyền theo pháp luật kinh

doanh của Hòa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 03/2007, tr.57.

Trang 13

người có thể đạt được những nhu cầu thiết yếu của mình mà không cần trực tiếptham gia xác lập, thực hiện giao dịch thì quan hệ đại diện còn được hình thành và

hỗ trợ đắc lực trong việc quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thươngnhân, chủ nhà máy, xí nghiệp Với vai trò quan trọng đó, quan hệ đại diện đã đượccác nhà làm luật quan tâm và xây dựng các định nghĩa theo đặc thù pháp luật củatừng quốc gia Chẳng hạn như:

Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 đã quy định: “Đại diện là hợp đồng, theo đó,một người trao cho người khác thực hiện một công việc nhân danh và vì lợi ích củangười được đại diện”7 Định nghĩa này cho thấy tồn tại một mối quan hệ hợp đồnggiữa NĐD và người được đại diện, NĐD sẽ tiến hành một công việc “nhân danh”

và “vì lợi ích” của người được đại diện

Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan năm 1925 định nghĩa về quan hệđại diện như sau: “Đại diện là một hợp đồng, trong đó một người gọi là người đạidiện được quyền hành động cho một người gọi là người được đại diện và đồng ýhành động như vậy”8 Các nhà làm luật đã thừa nhận rằng một người có thể biểu lộ

ý chí của mình thông qua hành động của chính bản thân mình hoặc thông qua hànhđộng của một người khác bằng cơ chế đại diện Và tương tự như những quan hệ dân sự khác, các bên phải có sự tự do thỏa thuận, tự do ý chí

Là một quan hệ phổ biến trong xã hội nên việc không làm vô hiệu hóa cáchợp đồng được giao kết thông qua đại diện là rất quan trọng, bởi về phương diện vĩ

mô nó thúc đẩy phân công lao động xã hội và tăng cường giao lưu dân sự, và vềphương diện vi mô nó giúp cho các chủ thể thuận tiện hơn trong việc giao kết hợpđồng.9 Điều này có thể được chứng minh thông qua việc quan hệ đại diện không chỉdừng lại là quan hệ đại diện giữa cá nhân và cá nhân, mà còn có thể là quan hệ giữa

cá nhân với các chủ thể khác được thừa nhận bởi pháp luật Cùng với sự phát triểncủa kinh tế - xã hội đã có nhiều chủ thể có tư cách pháp lý khác nhau xuất hiện vàtham gia vào quan hệ đại diện Đặc biệt, là sự ra đời của pháp nhân – công ty trên

cơ sở tự do ý chí của con người, xuất phát từ nhu cầu về tự do lập hội và tự do kinhdoanh Khi đáp ứng được những điều kiện luật định thì các thực thể này được xem

là một chủ thể pháp lý độc lập, có những quyền hạn và nghĩa vụ nhất định Mặc dùđược nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ pháp luật nhưng pháp nhânvẫn chỉ là một nhóm người có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản riêng và tự chịu

7 Điều 1984 Bộ luật Dân sự Pháp 1804 (French Civil Code),

https://www.napoleon- series.org/research/government/code/book3/c_title13.html#chapter1 , truy

cập ngày 15/6/2020

8Điều 797 Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan 1925 (Thailand Civil and Commercial Code),

https://www.samuiforsale.com/law-texts/thailand-civil-code-part-2.html#770 , truy cập ngày 15/6/2021

9Ngô Huy Cương, tlđd (4), tr.26.

Trang 14

trách nhiệm bằng chính tài sản đó mà không có một hình hài cụ thể như một conngười10 Vì vậy, khi muốn tham gia vào các quan hệ xã hội và thực hiện các tráchnhiệm pháp lý của mình thì công ty phải thông qua hành động của một cá nhân Từ

đó hình thành nên quan hệ đại diện giữa bên được đại diện là công ty và bên đạidiện là một cá nhân

Ngoài ra, sự phát triển của pháp luật công ty (Company Law) và sự phân táchgiữa quyền sở hữu và quyền quản lý, kiểm soát công ty đã làm tiền đề cho sự xuấthiện lý thuyết về đại diện11 Như đã phân tích ở trên, công ty là một tập thể người

có cơ cấu tổ chức phức tạp, có sự phân chia lao động ở mức độ cao Với nhữngcông ty có quy mô lớn, có nhiều địa điểm kinh doanh, và kéo theo đó là sự gia tăng

số lượng người lao động thì chủ sở hữu doanh nghiệp chắc chắn không thể tự mìnhquản lý và điều hành được doanh nghiệp Chưa kể đến không phải chủ sở hữu nàocũng có năng lực điều hành và quản lý Bởi vì chủ sở hữu thường là những cổ đông

có nguồn lực về tài chính hay là những cá nhân có ý tưởng kinh doanh và họ chỉ cóthế mạnh trong một số lĩnh vực nhất định Vì vậy, để họ kiêm luôn vai trò quản lý,điều hành doanh nghiệp sẽ dẫn đến doanh nghiệp hoạt động thiếu hiệu quả Thếnên, các chủ sở hữu thường sẽ chọn một người trong công ty hoặc thuê một cá nhânbên ngoài có năng lực để quản lý, điều hành doanh nghiệp, thường được gọi vớichức danh là Giám đốc, Tổng giám đốc

Tuy nhiên, việc tách bạch quyền sở hữu và quyền quản lý, kiểm soát công tycũng có khả năng tiềm ẩn nhiều rủi ro khiến cho doanh nghiệp hoạt động thiếu hiệuquả, nguyên nhân xuất phát từ những mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ sở hữu vàngười quản lý trong doanh nghiệp “Với vị trí của mình, người quản lý công tyđược cho là luôn có xu hướng tư lợi và không siêng năng, mẫn cán, và có thể tìmkiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ ba của mình chứ không phải chocông ty Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thiết rằng, các cổđông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảmbảo lợi ích của mình12” Người quản lý suy cho cùng vẫn là một người lao động đilàm thuê cho chủ doanh nghiệp, khi được tập trung nhiều quyền lực trong tay, họ cóthể có những hành động không đúng đắn gây thiệt hại cho doanh nghiệp, vì lợi íchcủa mình mà quên đi lợi ích của chủ sở hữu Đặc biệt là khi người quản lý phải đưa

ra những quyết định có ảnh hưởng tới quyền lợi của chính bản thân họ hoặc ngườithân thích Chính vì vậy, chủ sở hữu phải đặt ra những giới hạn và có cơ chế kiểm

10 Khoản 1 Điều 74 BLDS 2015

11 Mai Thị Ngân Hà (2020), Pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty, Luận

văn thạc

sĩ Luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Tr.22

12 Bùi Xuân Hải, tlđd (2), tr.22-23

Trang 15

soát hành vi của người quản lý để tránh những thiệt hại có thể xảy đến cho doanhnghiệp Tóm tại, học thuyết đại diện đã chỉ ra rằng quan hệ đại diện trong doanhnghiệp chính là mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty Sự phát triểncủa pháp luật công ty và cơ chế kiểm soát giữa người chủ và người quản lý chính làtiền đề hình thành nên chế định về NĐDTPL của doanh nghiệp ngày nay.

Với sự xuất hiện và phát triển của chế định đại diện, pháp luật Việt Namcũng đã có những quy định điều chỉnh quan hệ này trong Bộ luật dân sự (BLDS)

1995 – BLDS đầu tiên của Việt Nam Theo đó, “Đại diện là việc một người (gọi làngười đại diện) nhân danh một người khác (gọi là người được đại diện) xác lập,thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện”13 Đến BLDS 2005,định nghĩa này đã được bổ sung như sau: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi

là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là ngườiđược đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.”14 Nhưvậy, BLDS 2005 đã bổ sung thêm cụm từ là “vì lợi ích” của người được đại diện.Điều này được xem là cần thiết để tránh việc NĐD lạm dụng vị trí của mình gâythiệt hại cho người được đại diện15 Có thể thấy rằng định nghĩa “đại diện” trongpháp luật Việt Nam cũng có nội dung tương tự với định nghĩa “đại diện” được nêutrong Bộ luật dân sự Pháp Và đến nay, tinh thần này vẫn được các nhà làm luậtViệt Nam duy trì trong BLDS 201516

Qua đó cho thấy quan hệ đại diện đã xuất hiện từ rất sớm, là một quan hệ xã hộiđược thừa nhận rộng rãi và được pháp luật ghi nhận Nhờ có quan hệ đại diện mànhững người không có, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đã có thể dễdàng đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống Ngoài ra, chế định đại diện còn thúc đẩy sựtham gia sâu rộng của các tổ chức kinh tế vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và đẩynhanh sự phân công lao động xã hội Vì vậy, hiểu được nguồn gốc của quan hệ đạidiện sẽ giúp chúng ta hiểu được những vấn đề pháp lý xoay quanh chế định NĐDTPLcủa doanh nghiệp, từ đó có thể vận dụng linh hoạt trong thực tiễn

1.1.2 Quan hệ đại diện giữa người đại diện theo pháp luật với doanh nghiệp

Đại diện đã xác lập các mối quan hệ giữa NĐD, người được đại diện vàngười thứ ba với nhau Đồng thời, sự xác lập, tồn tại và chấm dứt của quan hệ đạidiện được điều chỉnh bằng các quy định pháp luật có liên quan Do đó, quan hệ đạidiện cũng chính là một quan hệ pháp luật Khi nghiên cứu quan hệ pháp luật này,

Trang 16

chúng ta cần xem xét thông qua ba thành phần sau đây: chủ thể, khách thể và nộidung.

1.1.2.1 Chủ thể quan hệ đại diện

Chủ thể của quan hệ đại diện bao gồm người được đại diện và NĐD Tương

tự như vậy, trong quan hệ đại diện giữa NĐDTPL với doanh nghiệp cũng tồn tại haichủ thể chính và cả hai chủ thể này khi tham gia vào quan hệ đại diện đều phải đápứng được những điều kiện nhất định

Thứ nhất, NĐDTPL của doanh nghiệp phải là cá nhân, có năng lực pháp luật

và năng lực hành vi dân sự đầy đủ Ngoài ra, chủ thể này cần phải đáp ứng thêmmột số điều kiện khác về chức danh quản lý, trình độ chuyên môn, thủ tục đăng kývới cơ quan nhà nước,… được quy định trong Điều lệ công ty, LDN và các văn bảnpháp luật chuyên ngành có liên quan Trong quan hệ này, NĐDTPL nhân danh và vìlợi ích của doanh nghiệp mà tiến hành xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vớibên thứ ba, hay thay mặt doanh nghiệp để thực hiện các nghĩa vụ pháp lý với các cơquan nhà nước

Thứ hai, người được đại diện là doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể có tư

cách pháp nhân (CTHD, CTTNHH, CTCP) hoặc không có tư cách pháp nhân(DNTN) Và tất nhiên, các doanh nghiệp này phải được đăng ký thành lập, hoạtđộng theo đúng quy định của pháp luật Doanh nghiệp là một thực thể pháp lý độclập, không phải là con người cụ thể nhưng vẫn được pháp luật công nhận và traocho những quyền hạn, trách nhiệm giống hệt như một “con người” (con người củapháp luật hoặc con người trước pháp luật)17 Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thểthực hiện các quyền hạn và trách nhiệm đó nhờ vào việc vay mượn năng lực hành

vi của con người Khi tham gia vào quan hệ đại diện, doanh nghiệp sẽ phải tiếpnhận những quyền hạn và trách nhiệm pháp lý phát sinh từ giao dịch dân sự doNĐD xác lập, thực hiện trong phạm vi đại diện18

1.1.2.2 Khách thể của quan hệ đại diện

Khách thể của một quan hệ pháp luật là những lợi ích và giá trị xã hội mà cácchủ thể tham gia quan hệ hướng tới trong một động thái tích cực19 Tương tự nhưvậy, vì muốn nhận được lợi ích vật chất hay lợi ích về tinh thần nên các chủ thể mớitham gia vào quan hệ đại diện và xác lập các quyền, nghĩa vụ của mình trong quan

Trang 17

việc NĐD không mong muốn nhận được lợi ích nào từ công việc này Trong quan

hệ đại diện, NĐDTPL của doanh nghiệp có thể nhận được những lợi ích như: thùlao cho việc đại diện (trợ cấp chức vụ), hay các lợi ích tinh thần như sự tin tưởng,tín nhiệm của doanh nghiệp, địa vị trong xã hội, danh tiếng, cơ hội phát triển bảnthân,

Ở chiều ngược lại, nhờ vào quan hệ đại diện mà các doanh nghiệp đã thamgia vào các quan hệ xã hội một cách bình thường như một cá nhân thông qua hành

vi của NĐD Không chỉ vậy, doanh nghiệp còn đạt được mục tiêu cốt lõi của hoạtđộng kinh doanh đó là sinh lợi Doanh nghiệp có thể nhận được những lợi nhuận tolớn từ các hợp đồng do NĐD xác lập, là hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, quảntrị doanh nghiệp, là sự uy tín, hài lòng của khách hàng, đối tác và đóng góp nhữnggiá trị cho xã hội

1.1.2.3 Nội dung quan hệ đại diện

Khi tham gia vào quan hệ đại diện, người được đại diện và NĐD có nhữngquyền hạn và nghĩa vụ pháp lý nhất định, đó cũng chính là nội dung của quan hệ đạidiện Quyền hạn và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ đại diện giữaNĐDTPL và doanh nghiệp được xác lập dựa trên sự thỏa thuận, theo Điều lệ củadoanh nghiệp, hoặc căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền hay các quyđịnh pháp luật có liên quan Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đạidiện thì NĐDTPL có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích củangười được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác20

Do đó, nếu một giao dịch dân sự được xác lập bởi người không có quyền đạidiện hoặc phần giao dịch dân sự do NĐDTPL xác lập, thực hiện vượt quá phạm viđại diện thì không phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với doanh nghiệp Đổi lại, trongtrường hợp này, người không có quyền đại diện phải có nghĩa vụ thực hiện giaodịch dân sự được xác lập và NĐDTPL phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với phầngiao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện đối với bên thứ ba, đồng thời chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại, hoặc các trách nhiệm pháp lý khác đối với hành vi củamình, trừ một số trường hợp ngoại lệ được pháp luật quy định21

Hiện nay, trong BLDS 2015 và LDN 2020 có đề cập tới quyền hạn và tráchnhiệm của NĐD nhưng không quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của ngườiđược đại diện Dựa vào bản chất của quan hệ đại diện, chúng ta có thể suy luậnđược một số quyền hạn và trách nhiệm cơ bản của NĐDTPL và của doanh nghiệp.Chẳng hạn như:

20 Khoản 2 Điều 141 BLDS 2015

21 Điều 142, Điều 143 BLDS 2015

Trang 18

Với tư cách là người được đại diện, doanh nghiệp, hay cụ thể hơn là chủ sởhữu doanh nghiệp, các cổ đông của công ty có các quyền hạn và trách nhiệm sauđây: quyền được giám sát, theo dõi các công việc mà NĐD thực hiện; quyền yêucầu NĐD báo cáo kết quả và nhận những lợi ích đạt được từ công việc đại diện;trách nhiệm hỗ trợ, cung cấp thông tin, tạo điều kiện thuận lợi để NĐD hoàn thànhcông việc; trách nhiệm trả thù lao theo đúng thỏa thuận của các bên,…

Ngược lại, NĐDTPL có các quyền hạn và trách nhiệm sau: thực hiện cáccông việc trong phạm vi đại diện một cách cẩn trọng, trung thực, trung thành với lợiích của doanh nghiệp; thường xuyên báo cáo kết quả, tiến độ công việc; được nhậncác thù lao theo đúng thỏa thuận;

1.2 Khái niệm về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Thông qua việc tìm hiểu nguồn gốc và phân tích các yếu tố cấu thành quan

hệ đại diện nói chung và quan hệ đại diện giữa NĐDTPL với doanh nghiệp nóiriêng, chúng ta đã phần nào hình dung được những ý niệm về NĐDTPL của doanhnghiệp Vốn là một bộ phận của chế định đại diện, nên việc định nghĩa NĐDTPLcủa doanh nghiệp cũng không giống nhau ở một số quốc gia Chẳng hạn như:

Luật Công ty của Anh 2006 quy định: “Một thành viên cá nhân được công ty

ủy quyền thực hiện các quyền hạn tương tự mà công ty có thể thực hiện”22 LuậtCông ty của Úc 2001 quy định: “Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cánhân do doanh nghiệp chỉ định để thực hiện tất cả hoặc bất kỳ quyền hạn nào màdoanh nghiệp có thể thực hiện”23 Với hai khái niệm này thì NĐDTPL được hiểu làngười do “công ty ủy quyền” hoặc do “doanh nghiệp chỉ định” và người này sẽthực hiện tất cả quyền hạn mà một doanh nghiệp được pháp luật cho phép thựchiện Cách định nghĩa này cho thấy bản chất của quan hệ đại diện: vì doanh nghiệpkhông thể tự mình thực hiện được các quyền hạn và trách nhiệm pháp lý, do đó cầnđến sự thay mặt hành động của NĐDTPL Vậy nên, NĐDTPL hiển nhiên đượcquyền thực hiện tất cả hoặc bất kì một quyền hạn mà pháp luật đã trao cho doanhnghiệp, nếu không có bất kỳ sự hạn chế nào được ghi nhận tại Điều lệ công ty hayquy định của pháp luật

Bên cạnh đó, Luật Công ty Nhật Bản 2005 lại tiếp cận người đại diện theopháp luật thông qua chức năng quản lý, đó là: “Người quản lý có quyền thực hiệnbất kỳ và tất cả các hành vi pháp lý và phi tư pháp nhân danh công ty liên quan đến

22 Điều 323.2 Luật Công ty Anh 2006 (United Kingdom Companies Act),

https://www.legislation.gov.uk/ukpga/2006/46/section/323 , truy cập ngày 05/5/2021

23 Điều 250D Luật công ty Úc năm 2001 (Australia Companies Act), https://www.austlii.edu.au/ cgi-bin/viewdoc/au/legis/cth/consol_act/ca2001172/s250d.html , truy cập ngày 05/5/2021

Trang 19

hoạt động kinh doanh của mình”24 Riêng đối với Luật Công ty trách nhiệm hữu hạnĐức 1892 thì không đưa ra khái niệm một cách rõ ràng, mà khẳng định: “Công ty sẽ docác Giám đốc làm đại diện Trong trường hợp công ty không có Giám đốc, các cổ đông

sẽ làm đại diện cho công ty bất cứ khi nào có tuyên bố hoặc các giấy tờ có liên quanđược xác lập”25 Hai cách định nghĩa nêu trên lại xuất phát từ vai trò mà NĐDTPLnắm giữ trong doanh nghiệp Theo đó, NĐDTPL đồng thời là người quản lý, thực hiệncác hành vi được pháp luật quy định (hành vi pháp lý) và những hành

vi không được pháp luật quy định một cách cụ thể (hành vi phi tư pháp) nhân danhdoanh nghiệp liên quan đến hoạt động kinh doanh Hoặc đối với CTTNHH của Đứcthì NĐDTPL là Giám đốc hoặc là các cổ đông (nếu công ty không có giám đốc).Như vậy, quyền và nghĩa cụ của NĐDTPL sẽ được thể hiện qua quyền và nghĩa vụcủa các chức danh mà pháp luật ấn định trở thành NĐDTPL của công ty

Mặc dù có sự khác nhau về mặt nội hàm của khái niệm “NĐDTPL của doanhnghiệp” trong pháp luật của một số quốc gia, nhưng tựu chung lại, NĐDTPL làngười được doanh nghiệp chỉ định và chỉ được phép thực hiện những quyền hạn,trách nhiệm nhân danh doanh nghiệp, hoàn toàn vì lợi ích của doanh nghiệp

Tại Việt Nam, LDN 2020 đã đưa ra khái niệm về NĐD của doanh nghiệp

như sau: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân

sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa

án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.” Về cơ bản, khái niệm

NĐDTPL của doanh nghiệp trong LDN 2020 của Việt Nam cũng có nét tương đồngvới pháp luật của một số nước trên thế giới Đó là NĐDTPL là cá nhân, nhân danhdoanh nghiệp để thực hiện những quyền hạn và trách nhiệm mà pháp luật trao chodoanh nghiệp – một chủ thể pháp lý độc lập và vì quyền lợi của chính doanh nghiệp

đó Tuy nhiên, điểm khác biệt trong khái niệm này là các nhà làm luật đã liệt kê mộtcách cụ thể các quyền mà NĐD có thể thực hiện, đảm nhiệm trong phạm vi đạidiện: thứ nhất, đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh

từ giao dịch của doanh nghiệp; thứ hai, đại diện cho doanh nghiệp trong hoạt động

tố tụng; thứ ba, để tránh bỏ sót tư cách đại diện của NĐDTPL, các nhà làm luật ViệtNam đã khái quát lại bằng cách quy định NĐDTPL có quyền đại diện cho doanhnghiệp thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

24 Điều 11.1 Luật Công ty Nhật Bản năm 2005 (Japanese Companies Act),

http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=2035&vm=04&re=02 , 05/5/20201

25 Điều 35.1 Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn Đức 1892 (Limited Liability Companies Act),

https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_gmbhg/englisch_gmbhg.html , 05/05/2021

Trang 20

So sánh với chế định về NĐDTPL của doanh nghiệp trong LDN 2005 vàLDN 2014, chúng ta có thể thấy sự thay đổi trong việc xây dựng khái niệm liênquan đến đối tượng này Cụ thể, LDN 2005 không đưa ra khái niệm cụ thểNĐDTPL của doanh nghiệp và cũng không có điều khoản riêng quy định vềNĐDTPL mà các quy định liên quan đến NĐDTPL nằm rải rác ở các điều khoản vềthủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, về cơ cấu tổ chức, quản lý của từng loạihình doanh nghiệp Đến LDN 2014, khái niệm về NĐDTPL của doanh nghiệp đãđược quy định cụ thể tại một điều khoản riêng Theo đó, khoản 1 Điều 13 LDN

2014 quy định: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.” Việc quy định cụ thể khái niệm NĐDTPL của

doanh nghiệp tại một điều khoản riêng được xem là một bước tiến mới quan trọngtrong hoạt động lập pháp, cho thấy các nhà làm luật đã nhận thức khá đầy đủ về vaitrò của chủ thể này trong hoạt động của doanh nghiệp và sự cần thiết phải đặt ranhững khung pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ đại diện Đồng thời, khi doanhnghiệp tiếp cận với các quy định pháp luật sẽ có sự nhìn nhận thống nhất, toàn diện

về vai trò của NĐDTPL, từ đó dễ dàng áp dụng vào thực tiễn

Về cơ bản, tinh thần của khái niệm NĐDTPL của doanh nghiệp trong LDN

2014 vẫn được duy trì trong LDN 2020 Tuy nhiên, LDN 2020 đã bổ sung thêmmột tư cách mới cho NĐDTPL của doanh doanh nghiệp, đó là tư cách “người yêucầu giải quyết việc dân sự” Sự bổ sung này là cần thiết và phù hợp với quy địnhcủa Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 vì doanh nghiệp cũng là chủ thể cóquyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, chẳng hạn như yêu cầu mở thủ tụcphá sản26 Với phạm vi đại diện được mở rộng như vậy sẽ sẽ tạo điều kiện pháp lýtốt hơn cho doanh nghiệp khi tham gia các quan hệ xã hội nói chung và các hoạtđộng kinh doanh nói riêng

Một điểm còn hạn chế trong việc xây dựng khái niệm NĐDTPL của doanhnghiệp theo LDN 2014 và đến nay vẫn chưa được các nhà làm luật khắc phục khixây dựng LDN 2020 Đó là khái niệm này chỉ đề cập tới vai trò “thực hiện” màkhông đề cập tới vai trò “xác lập” đối với các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giaodịch của doanh nghiệp Một NĐD không nhất thiết phải thực hiện đồng thời hai vaitrò “xác lập” và “thực hiện” giao dịch dân sự NĐDTPL có thể chỉ “xác lập” và

26 Khoản 3 Điều 5 Luật Phá sản 2014

Trang 21

“không thực hiện” giao dịch và điều này phụ thuộc vào phạm vi đại diện27 Mặc dù,khái niệm tại khoản 1 Điều 12 LDN 2020 là một quy định mở cho phép NĐD được

“thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”, tức là đượcquyền xác lập các giao dịch, song việc không quy định cụ thể quyền hạn này trongmột văn bản pháp luật chuyên ngành là một hạn chế28 Đồng thời, theo quy định tạikhoản 1 Điều 134 BLDS 2015 có quy định NĐD là người nhân danh và vì lợi íchcủa người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Do đó, khắc phụcđược hạn chế này sẽ giúp khái niệm về NĐDTPL của doanh nghiệp trong LDN

2020 tương thích và phù hợp hơn với khái niệm đại diện trong BLDS 2015

1.3 Đặc điểm của chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Dựa vào khái niệm về NĐDTPL của doanh nghiệp đã được phân tích ở phíatrên, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của NĐDTPL như sau:

Thứ nhất, NĐDTPL của doanh nghiệp cần phải đáp ứng những điều kiện, tiêu

chuẩn mà pháp luật và Điều lệ doanh nghiệp đề ra Vì NĐDTPL là NĐD cho doanhnghiệp trong tất cả các giao dịch dân sự và thực hiện những quyền hạn, nghĩa vụ củadoanh nghiệp với cơ quan nhà nước Do đó, dưới góc độ quản lý nhà nước về hoạtđộng của các tổ chức kinh tế thì pháp luật cần đặt ra những điều kiện, tiêu chuẩn củaNĐDTPL nhằm góp phần tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và ổnđịnh Bên cạnh đó, NĐDTPL là người lao động trong doanh nghiệp, nắm giữ vai tròquan trọng đảm bảo doanh nghiệp được vận hành và hoạt động một cách bình thường.Vậy nên, NĐDTPL được doanh nghiệp chỉ định cần phải đáp ứng thêm những điềukiện mà Điều lệ công ty đề ra phù hợp với đặc điểm, tính chất của doanh nghiệp vàkhông trái với các quy định của pháp luật Chẳng hạn, trong khái niệm về NĐDTPLcủa doanh nghiệp thì điều kiện đầu tiên là NĐD phải là cá nhân Trong quan hệ đại diệnnói chung, NĐD có thể là cá nhân hoặc pháp nhân29, nhưng chỉ có cá nhân mới có thểtrở thành NĐDTPL của doanh nghiệp Bởi lẽ, lý do chính để pháp nhân cần cóNĐDTPL là vì pháp nhân không thể tự mình hành động cho chính mình mà phải thôngqua hành vi của con người30 Ngoài ra, cá nhân đó phải có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ Mặc dù khái niệm tại khoản 1 Điều 12 LDN 2020 không nêu rõ yêu cầu đối với cánhân là NĐDTPL của doanh nghiệp, nhưng dựa vào các quy định pháp luật khác cóliên quan, chẳng hạn tại khoản 5 Điều 12

27 Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Tập 1, Nhà

xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Tr.270

28 Bùi Đức Giang (2015), “Hành lang pháp lý mới về người đại diện theo pháp luật của

Luật Doanh nghiệp 2014”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6(326)/2015, tr.18.

29 Khoản 1 Điều 134 BLDS 2015

30 Lê Việt Phương, “Bàn về người đại diện của công ty cổ phần ở Việt Nam”, Tạp chí Pháp luật và Kinh tế, số 8(305)-2017, tr.32

Trang 22

LDN 2020 có quy định nếu trường hợp doanh nghiệp chỉ còn một NĐDTPL vàngười này bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên (HĐTV), Hộiđồng quản trị (HĐQT) cử người khác làm NĐDTPL của công ty Như vậy, có thểthấy yêu cầu có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là điều kiện bắt buộc để có thể trởthành NĐDTPL của doanh nghiệp Bên cạnh đó, LDN, Điều lệ công ty và các vănbản pháp lý chuyên ngành còn quy định những điều kiện khác mà NĐDTPL cầnphải đáp ứng như là điều kiện về cư trú, bằng cấp, chức vụ,… Những điều kiện nàyđược đặt ra nhằm mục đích giúp chủ sở hữu doanh nghiệp lựa chọn được một cánhân có năng lực phù hợp, đảm bảo thực hiện được công việc đại diện một cáchhiệu quả và tạo dựng một môi trường kinh doanh ổn định, bình đẳng giữa các doanhnghiệp.

Thứ hai, NĐDTPL trong quan hệ đại diện sẽ nhân danh doanh nghiệp thực

hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp và vì lợi ích của doanh nghiệp.Mặc dù NĐDTPL của doanh nghiệp là cá nhân nhưng không nhân danh chính mình

mà nhân danh doanh nghiệp để xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Điều nàyđồng nghĩa với việc nếu một cá nhân nhân danh chính mình để xác lập, thực hiệngiao dịch với một bên thứ ba thì sẽ không phát sinh quan hệ đại diện Lúc này, cánhân đó sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ phátsinh từ giao dịch dân sự với bên thứ ba Ngược lại, vì nhân danh doanh nghiệp nênNĐDTPL của doanh nghiệp sẽ không phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các vấn

đề phát sinh từ hoạt động nhân danh Cụ thể, doanh nghiệp sẽ là chủ thể tiếp nhậntất cả quyền hạn và nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ giao dịch do NĐDTPL xác lậptrong phạm vi đại diện Tuy nhiên, NĐDTPL của công ty vẫn sẽ phải chịu tráchnhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp và bên thứ ba nếu vi phạmcác nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 13 LDN 2020 hoặc trong trường hợpNĐDTPL xác lập, thực hiện các giao dịch vượt quá phạm vi đại diện31

Ngoài ra, vì cá nhân NĐDTPL và doanh nghiệp không phải là một chủ thể, mà

là hai chủ thể độc lập trong quan hệ dân sự, có sự tách bạch về quyền sở hữu tài sản và

có những mưu toan về lợi ích riêng Do đó, rất có thể xảy ra trường hợp NĐD vì lợiích của mình mà bỏ quên lợi ích của doanh nghiệp, của chủ sở hữu hay nhà đầu tư và

có những hành động gây ảnh hưởng xấu tới lợi ích của doanh nghiệp Trong khoa họcpháp lý, vấn đề này được gọi là “xung đột lợi ích giữa người đại diện và người đượcđại diện” (principal-agent conflict of interests)32 Do đó, để bảo

31 Khoản 2, 4 Điều 143 BLDS 2015

32 Trường đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tlđd(15), tr.294

Trang 23

vệ quyền lợi của doanh nghiệp và đảm bảo quan hệ đại diện phát huy được vai trò

là một công cụ hỗ trợ đắc lực giúp người được đại diện có thể tham gia vào cácgiao dịch dân sự và đáp ứng được nhu cầu của chính họ thì mọi hành động màNĐD tiến hành nhân danh doanh nghiệp đều phải vì lợi ích của doanh nghiệp

Thứ ba, quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL của doanh nghiệp được xác định

theo quy định của pháp luật (cụ thể là BLDS, LDN và các văn bản pháp luật chuyênngành), theo Điều lệ công ty, văn bản thỏa thuận giữa chủ sở hữu công ty với NĐDhoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với công ty thuộc loạihình doanh nghiệp nhà nước33 Khi tham gia vào quan hệ đại diện, NĐD cũng cónhững quyền hạn và nghĩa vụ nhất định Tuy nhiên, NĐDTPL không thể tự đặt raquyền và nghĩa vụ cho chính mình mà chỉ được hành động trong phạm vi đại diệnđược quy định Phạm vi đại diện của NĐDTPL sẽ được xác định cụ thể trong Điều

lệ công ty, trong văn bản thỏa thuận giữa công ty và NĐD, quyết định của cơ quannhà nước có thẩm quyền.34 Đặc điểm này được hình thành từ việc chủ sở hữu, các

cổ đông luôn đặt ra những cơ chế để kiểm soát hành động của người quản lý, tránhnhững hành vi tư lợi, gây thiệt hại cho doanh nghiệp Vậy nên, NĐDTPL chỉ đượchành động trong một giới hạn mà pháp luật cho phép hoặc được các chủ sở hữu ấnđịnh trong Điều lệ công ty Đặc biệt là trong trường hợp công ty có nhiều hơn mộtNĐDTPL thì quyền hạn và nghĩa vụ của từng NĐDTPL sẽ không giống nhau màtùy thuộc vào sự phân chia thẩm quyền được ghi nhận trong Điều lệ của công ty35

Hiện nay, chế định về NĐD vẫn đang được các luật gia tiếp tục nghiên cứu

và trong tương lai sẽ có những sửa đổi, bổ sung phù hợp vai trò của NĐDTPL đốivới doanh nghiệp Tuy nhiên, những sự thay đổi đó vẫn sẽ xoay quanh và làm nổibật những đặc điểm của chế định NĐDTPL của doanh nghiệp mà tác giả đã phântích Dựa vào những đặc điểm mang tính đặc trưng của quan hệ này, chúng ta sẽ dễdàng lý giải những quy định pháp luật liên quan đến NĐDTPL của doanh nghiệp vàvận dụng linh hoạt các quy định pháp luật trong thực tiễn

1.4 Vai trò của chế định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Sự mở cửa của thị trường cùng với sự tăng cường giao lưu kinh tế giữa cácquốc gia đã giúp doanh nghiệp có nhiều hơn các cơ hội để mở rộng hoạt động sảnxuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình Vậy nên, từ khi chế định về NĐDTPL

ra đời với những sửa đổi mang tính cấp tiến đã tạo nên một tấm lưới bảo vệ an toàngiúp doanh nghiệp giao kết hợp đồng, hợp tác một cách thuận lợi, tránh được nhiềurủi ro Không chỉ bảo vệ tốt quyền lợi của người được đại diện là các doanh nghiệp,

33 Mai Thị Ngân Hà, tlđd (11), tr.19

34 Khoản 1 Điều 141 BLDS 2015

35 Khoản 2 Điều 12 LDN 2020

Trang 24

chế định về NĐDTPL còn giúp bảo vệ tốt quyền lợi của NĐDTPL và các chủ thểchịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động kinh doanh và quản trị của doanh nghiệp.

Có thể kể đến như cổ đông, người lao động, chủ nợ, người quản lý công ty, kháchhàng của công ty và Nhà nước Vậy nên, khi phân tích vai trò của chế địnhNĐDTPL trong việc bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi củaNĐDTPL và bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba sẽ giúp chúng ta thấy được sự cầnthiết của chế định này trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp

Thứ nhất, đối với doanh nghiệp Tư cách của NĐDTPL gắn bó một cách mật

thiết với sự hình thành, tồn tại và chấm dứt của một doanh nghiệp Doanh nghiệpkhông thể tự mình tham gia vào các giao dịch mà phải nhờ vào hành động và sự biểu lộ

ý chí của NĐDTPL Nếu NĐDTPL của doanh nghiệp quản lý, điều hành tốt các hoạtđộng của doanh nghiệp sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và nhà đầu tư Ởchiều ngược lại, nếu NĐDTPL có năng lực quản lý, điều hành kém cỏi hay có mụcđích tư lợi thì doanh nghiệp và các nhà đầu tư sẽ phải gánh chịu nhiều rủi ro nghiêmtrọng Chính vì vậy, để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của doanh nghiệp và nhà đầu tư, chủ

sở hữu thì cần có những quy định về pháp luật để ràng buộc NĐDTPL phải hành xửmột cách đúng đắn, ngăn chặn khả năng tư lợi Đây cũng là một trong những vai tròquan trọng của chế định về NĐDTPL trong doanh nghiệp

Thứ hai, đối với NĐDTPL Khi tham gia vào quan hệ đại diện, NĐDTPL sẽ

không phải chịu trách nhiệm với bên thứ ba về các giao dịch mà mình xác lập nhândanh doanh nghiệp trong phạm vi đại diện Thêm vào đó, NĐD sẽ nhận được nhữnglợi ích nhất định Tuy nhiên, khi tham gia vào quan hệ này, NĐD vẫn có thể gánhchịu những trách nhiệm pháp lý nếu hành động của họ vượt quá phạm vi đại diện.Chính vì vậy, cần có những quy định xác định rõ phạm vi đại diện đối với NĐDTPLcủa doanh nghiệp Để từ đó, họ có cơ sở để xác lập, thực hiện các giao dịch nhândanh doanh nghiệp một cách đúng đắn, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và chủ đầu

tư Ngoài ra, dựa vào các quy định của pháp luật về đại diện, NĐD có cơ chế đểchấm dứt tư cách đại diện của mình thông qua việc đơn phương chấm dứt quan hệđại diện36 Càng hiểu rõ các quyền hạn và trách nhiệm của mình, NĐDTPL sẽ càngbảo vệ tốt hơn quyền lợi của mình trong quan hệ với doanh nghiệp và bên thứ ba

Thứ ba, đối với bên thứ ba Đây là những chủ thể chịu tác động trực tiếp bởi

hoạt động kinh doanh và các quyết định quản trị của doanh nghiệp NĐDTPL là cánhân được doanh nghiệp, chủ đầu tư tin tưởng lựa chọn trao quyền nhân danhdoanh nghiệp để tiến hành xác lập, thực hiện các giao dịch với khách hàng, đối táchay thực hiện các trách nhiệm pháp lý với Nhà nước Do đó, cần có những quy định

36 Mai Thị Ngân Hà, tlđd (11), tr.26

Trang 25

pháp luật ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp, trách nhiệm của NĐDTPL hoặctrách nhiệm liên đới giữa hai chủ thể này đối với bên thứ ba nếu rơi vào các trườnghợp giao dịch dân sự được ký kết bởi người không có thẩm quyền đại diện hoặcvượt quá phạm vi đại diện Đây cũng mà một trong những vấn đề mà các kháchhàng, đối tác thường lo lắng và cẩn trọng suy xét khi tham gia vào các giao dịch.Với những giao dịch được ký kết bởi người không có thẩm quyền đại diện hoặcvượt quá phạm vi đại diện thì sẽ không phát sinh quyền và nghĩa vụ với doanhnghiệp mà người không có thẩm quyền hoặc NĐDTPL sẽ là người chịu tráchnhiệm thực hiện và bồi thường thiệt hại với bên thứ ba37 Dù có thể thiệt hại khônglớn, nhưng rõ ràng mục đích ban đầu của bên thứ ba đã không đạt được khi đốitượng mà bên thứ ba mong muốn hợp tác là doanh nghiệp chứ không phải cá nhânNĐDTPL.

Như vậy, chế định về NĐD đã hình thành nên những quan hệ giữa các chủthể: giữa doanh nghiệp với NĐD, giữa NĐD với bên thứ ba và giữa doanh nghiệpvới bên thứ ba Do đó, chế định về NĐDTPL của doanh nghiệp là vô cùng quantrọng trong đời sống xã hội Nó góp phần tạo một môi trường pháp lý an toàn, giúpcác bên tham gia vào giao dịch dân sự đều đạt được mục tiêu của mình Đồng thời,đây cũng chính là cơ chế hữu hiệu giúp các nhà đầu tư có thể kiểm soát chặt chẽngười quản lý công ty, hướng đến sự phát triển và hiệu quả trong hoạt động củadoanh nghiệp Cũng chính vì những lý do này mà bất kỳ hệ thống pháp luật nàocũng đều xem đây là một chế định quan trọng, chế định trung tâm của luật dân sựhiện đại38

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Với chương 1, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, phân tích nguồn gốc và nội dung của quan hệ đại diện dựa trên

những lý thuyết tiêu biểu về NĐD, một số quy định pháp luật của các quốc gia vàphân tích, bình luận của một số tác giả

Thứ hai, phân tích khái niệm NĐDTPL trong LDN 2020, so sánh với các quy

định của LDN 2014, LDN 2005 và BLDS 2015 và để xuất bổ sung thêm tư cách

“xác lập” giao dịch của NĐDTPL bên cạnh tư cách “thực hiện” giao dịch

Thứ ba, phân tích những đặc điểm đặc trưng nhất của NĐDTPL của doanh

nghiệp như NĐDTPL cần đáp ứng các điều kiện nhất định, NĐDTPL phải hànhđộng nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp cũng như hành động trong phạm viđại diện được xác định theo quy định pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của

cơ quan có thẩm quyền

Thứ tư, phân tích vai trò

nghiệp trong việc bảo vệ lợi ích

tham gia vào các giao dịch dân sự

quan trọng của chế định NĐDTPL của doanh của doanh nghiệp, NĐDTPL và bên thứ ba khi

Trang 27

CHƯƠNG 2 XÁC LẬP, CHẤM DỨT TƯ CÁCH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2.1 Căn cứ xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Khi nghiên cứu về NĐDTPL trong doanh nghiệp, vấn đề đầu tiên chúng tacần phải xem xét đó là các căn cứ xác lập tư cách đại diện của chủ thể này Theoquy định tại khoản 1 Điều 137 BLDS 2015, quy định NĐDTPL của pháp nhân baogồm những chủ thể sau: (i) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; (ii) Người

có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; (iii) Người do Tòa án chỉ địnhtrong quá trình tố tụng tại Tòa án Như vậy, có 03 căn cứ để xác lập tư cáchNĐDTPL của doanh nghiệp Cụ thể như sau:

2.1.1 Theo quy định của pháp luật

Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam được xây dựng dựa trên tinh thần tôntrọng quyền tự do kinh doanh, quyền tự định đoạt của các chủ sở hữu trong việcđiều hành và quản lý doanh nghiệp39 Tuy nhiên, xuất phát từ tính đặc thù của từngloại hình doanh nghiệp mà trong một số trường hợp pháp luật có những quy định cụthể về chủ thể nào trong doanh nghiệp là NĐDTPL Đồng nghĩa với việc các chủthể này không thể chỉ định một người khác làm NĐDTPL

Cụ thể, đối với DNTN, chủ doanh nghiệp là NĐDTPL duy nhất của doanhnghiệp40 Quy định này phản ánh quan điểm truyền thống về sự gắn bó mang tính lệthuộc giữa DNTN và chủ doanh nghiệp41 và phù hợp với khái niệm “NĐDTPL củadoanh nghiệp” được quy định tại Điều 12 LDN 2020 Tuy nhiên lại có sự mâuthuẫn với khái niệm “đại diện” được quy định tại Điều 134 BLDS 2015 Theo Điều

134 của BLDS 2015 thì bên được đại diện chỉ bao gồm cá nhân và pháp nhân Mặtkhác, DNTN không có tư cách pháp nhân vì không có sự độc lập về tài sản vàkhông tự nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ pháp luật mà hoàn toànphụ thuộc vào tư cách của người chủ doanh nghiệp42 Sự mâu thuẫn này xuất phát

từ sự thay đổi của BLDS 2015 so với BLDS 2005 vì đã loại bỏ đi “chủ thể khác”được quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua NĐD (“chủ thể khác” ởđây được hiểu là DNTN, hộ kinh doanh,…)43 Phải chăng pháp luật về doanhnghiệp đã có sự ưu ái hơn cho DNTN khi xác định chủ doanh nghiệp là NĐDTPL?

39 Ngô Gia Hoàng, Nguyễn Thị Thương (2016), “Người đại diện theo pháp luật của doanh

nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 dưới góc độ quyền tự do kinh doanh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 07/2016, tr.49

Trang 28

Tuy nhiên, LDN quy định như vậy cũng hoàn toàn hợp lý vì pháp luật đã thừa nhậnDNTN là một tổ chức kinh tế độc lập và để tham gia thị trường thì luôn cần đến vaitrò của một NĐD Dựa vào nguyên tắc áp dụng văn bản pháp luật, BLDS và LDNđều do Quốc hội ban hành, trong trường hợp có quy định khác nhau về vấn đề nàythì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau, tức là áp dụng quy định củaLDN 202044.

Đối với CTHD, các TVHD là NĐDTPL của công ty và tổ chức điều hànhhoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty45 Quy định này xuất phát từ bản chấtcủa CTHD là một công ty đối nhân, các TVHD là chủ sở hữu chung của công ty,cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sảncủa mình về nghĩa vụ của công ty Chính vì vậy, mỗi TVHD đều có quyền ngangnhau trong việc quản lý, điều hành công ty, bao gồm cả tư cách làm NĐDTPL,nhân danh công ty xác lập, thực hiện các giao dịch với bên thứ ba Quy định nàycho thấy các nhà làm luật hướng tới sự cân bằng giữa quyền và lợi ích của cácTVHD, không thể bị chi phối bởi số vốn góp hay một yếu tố nào khác Tuy nhiên,trên thực tế, các TVHD có thể có sự phân chia về thẩm quyền đại diện dựa trênnăng lực chuyên môn, thế mạnh của mỗi cá nhân Điều này đã giúp CTHD phát huyđược sức mạnh của tập thể cũng như của từng cá nhân trong doanh nghiệp, tạo sựlinh hoạt và thuận lợi hơn khi tham gia vào các quan hệ kinh tế

Đối với CTTNHH và CTCP, pháp luật đã cho phép hai loại hình doanhnghiệp này có thể có một hoặc nhiều NĐDTPL tùy thuộc vào mục đích, nhu cầu,quy mô của doanh nghiệp46 Quyền tự định đoạt số lượng, chức danh NĐDTPL củaCTTNHH và CTCP đã được ghi nhận trong LDN 2014 và đến nay vẫn được duy trìtrong LDN 2020 Quy định này đã tháo gỡ nhiều khó khăn cho doanh nghiệp so vớiquy định CTTNHH và CTCP chỉ có một NĐDTPL như LDN 2005 Bởi lẽ, vớinhững công ty có quy mô lớn hay có nhiều hoạt động kinh doanh mà chỉ có mộtNĐDTPL thì hoạt động của công ty sẽ bị thụ động, phụ thuộc rất nhiều vào nănglực, thời gian của người nắm giữ vai trò này Do đó, quy định như trên là một sự bổsung kịp thời giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc xác lập, thực hiện giaodịch, hạn chế việc phải ủy quyền lại, qua đó nắm bắt, tận dụng được các cơ hội kinhdoanh

Ngoài ra, LDN còn quy định một số trường hợp đương nhiên phát sinh tưcách NĐDTPL Đó là trường hợp đối với CTTNHH có hai thành viên, nếu có thànhviên là cá nhân làm NĐDTPL của công ty chết, mất tích, đang bị truy cứu trách

44 Khoản 3 Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015

45 Khoản 1 Điều 184 LDN 2020

46 Khoản 2 Điều 13 LDN 2020

Trang 29

nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp

xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, trốn khỏinơi cư trú, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làmcông việc nhất định thì thành viên còn lại đương nhiên làm NĐDTPL của công tycho đến khi có quyết định mới của HĐTV về NĐDTPL của công ty47 Quy địnhtrên nếu đặt vào trường hợp CTTNHH có hai thành viên đều là cá nhân thì rất hợptình, hợp lý, giúp giải quyết một cách tức thời sự thiếu vắng vai trò của NĐDTPLđối với hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, vì quy định này không nói rõCTTNHH có hai thành viên đều là cá nhân hay một thành viên là cá nhân và thànhviên còn lại là tổ chức nên nếu áp dụng trong trường hợp còn lại thì sẽ bất hợp lý

Vì với thành viên còn lại là tổ chức thì một tổ chức không thể trở thành NĐDTPL.Mặt khác, nếu hiểu NĐD theo ủy quyền của tổ chức này trở thành NĐDTPL củaCTTNHH thì sẽ dẫn đến mâu thuẫn với Điều 15 LDN 2020, vì NĐD theo ủy quyềncủa thành viên là tổ chức chỉ được nhân danh tổ chức đó thực hiện quyền và nghĩa

vụ của thành viên tại HĐTV48 Như vậy, để tạo sự thống nhất thì quy định này nên

chỉ rõ là áp dụng trong trường hợp “CTTNHH có hai thành viên là cá nhân”.

Bên cạnh đó, LDN 2020 còn quy định một số chức danh cụ thể trongCTTNHH và CTCP sẽ là NĐDTPL của công ty nếu như Điều lệ công ty không cóquy định về vấn đề này Chẳng hạn, đối với CTTNHH, trường hợp Điều lệ công tykhông quy định thì Chủ tịch HĐTV hoặc Chủ tịch công ty là NĐDTPL của công

ty49 Đối với CTCP, trường hợp công ty chỉ có một NĐDTPL thì Chủ tịch HĐQThoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là NĐDTPL của công ty Trường hợp Điều lệchưa có quy định thì Chủ tịch HĐQT là NĐDTPL của công ty Trường hợp công ty

có hơn một NĐDTPL thì Chủ tịch HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đươngnhiên là NĐDTPL của công ty.50 Những quy định trên là một sự hướng dẫn cụ thể

để CTTNHH và CTCP có thể lựa chọn những người quản lý doanh nghiệp có vịthế, có sự am hiểu về “bộ máy” doanh nghiệp để trở thành NĐDTPL Đồng thời đâycũng là sự giới hạn và là căn cứ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước, Tòa

án có thể xác định được NĐDTPL của CTTNHH và CTCP trong trường hợp Điều

lệ công ty không có quy định cụ thể

47 Khoản 6 Điều 12 LDN 2020

48 Khoản 1 Điều 15 LDN 2020

49 Khoản 3 Điều 79, khoản 3 Điều 54 LDN 2020

50 Khoản 2 Điều 137 LDN 2020

Trang 30

2.1.2 Theo Điều lệ công ty

Điều lệ công ty là văn bản nội bộ của doanh nghiệp, đồng thời cũng là công

cụ quan trọng, hữu hiệu giúp các nhà quản lý, chủ đầu tư điều hành và quản lýdoanh nghiệp một cách hiệu quả Một trong những nội dung chủ yếu của Điều lệcông ty mà LDN 2020 yêu cầu bắt buộc phải có là phải quy định số lượng, chứcdanh quản lý và quyền, nghĩa vụ của NĐDTPL của doanh nghiệp; phân chia quyền

và nghĩa vụ của NĐDTPL trong trường hợp công ty có nhiều hơn một NĐDTPL51.Như vậy, có thể thấy rằng Điều lệ công ty là một trong những căn cứ xác lập tưcách đại diện của NĐDTPL

Tuy nhiên, Điều lệ công ty sẽ không phải là căn cứ xác lập tư cáchNĐDTPL của DNTN và CTHD Như đã phân tích ở mục 2.1.1, chủ DNTN sẽ làNĐDTPL duy nhất của doanh nghiệp Với quy mô nhỏ và cơ cấu tổ chức đơn giảnnên DNTN không cần thiết phải có Điều lệ doanh nghiệp Tuy nhiên, pháp luậtkhông cấm chủ DNTN xây dựng và sử dụng Điều lệ để quản trị doanh nghiệpnhưng phải đảm bảo nội dung Điều lệ tuân thủ các quy định pháp luật, đồng nghĩavới việc chủ DNTN không thể chỉ định một cá nhân khác thay mình làm NĐDTPL.Đối với CTHD, Điều lệ công ty là thành phần bắt buộc trong hồ sơ đăng ký doanhnghiệp52 Nhưng trong bản Điều lệ này thông thường sẽ không có điều khoản quyđịnh về NĐDTPL mà chỉ có điều khoản ghi nhận thông tin cá nhân của các thànhviên hợp danh (TVHD) như họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các thông tin cơ bảnkhác53 Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi pháp luật đã quy định một cách minh thị:tất cả các TVHD đều là NĐDTPL của CTHD Như vậy, trên thực tế, khách hàng,đối tác của CTHD có thể kiểm chứng người xác lập, thực hiện giao dịch với mình

có đúng thẩm quyền hay không bằng cách đối chiếu thông tin người này với danhsách TVHD của công ty trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.Nếu có hạn chế về thẩm quyền đại diện trong thực hiện công việc kinh doanh hằngngày của công ty thì hạn chế đối với TVHD này chỉ có hiệu lực với bên thứ ba khingười đó được biết về hạn chế đó54 Quy định này cũng tồn tại một số vướng mắc

mà tác giả sẽ phân tích kĩ hơn ở chương 3 của khóa luận này

Ngược lại với CTHD, Điều lệ của CTTNHH và CTCP bắt buộc phải có điềukhoản quy định về NĐDTPL Pháp luật bắt buộc Điều lệ công ty phải quy định cụthể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của NĐDTPL của doanhnghiệp Trong trường hợp công ty có nhiều hơn một NĐDTPL thì Điều lệ công ty

51 Điểm g khoản 2 Điều 24 LDN 2020

52 Khoản 2 Điều 22 Nghị định 01/2021/NĐ-CP

53 Điểm d khoản 1 Điều 24 LDN 2020

54 Khoản 1 Điều 184 LDN 2020

Trang 31

còn phải có nội dung ghi nhận sự phân chia quyền và nghĩa vụ của từngNĐDTPL55 Quy định này một mặt giúp ràng buộc trách nhiệm của NĐDTPL vớidoanh nghiệp một cách rõ ràng, cụ thể Mặt khác, giúp nhà nước quản lý đượcthông tin của những NĐDTPL thông qua quy định bắt buộc doanh nghiệp phải nộpkèm Điều lệ công ty trong hồ sơ đăng ký thành lập Mặc dù phạm vi đại diện vàNĐDTPL được ghi nhận rõ nhất trong Điều lệ công ty, nhưng vì đây là văn bản nội

bộ, không bắt buộc công ty phải công khai nên rất khó để các đối tác của công tytiếp cận được Thực tế, Điều lệ của pháp nhân thường rất dài, khó hiểu vì câu từphức tạp, không chuẩn xác và đối tác không thể đọc toàn bộ Điều lệ của pháp nhânmỗi khi xác lập giao dịch với pháp nhân … chưa kể đến trường hợp Điều lệ phápnhân thay đổi theo thời gian và vì quá dài nên có thể bị thay thế mà đối tác khôngthể kiểm chứng56 Vì vậy, pháp luật bổ sung Điều lệ công ty là một trong những căn

cứ xác lập tư cách NĐDTPL doanh nghiệp sẽ mang lại nhiều rủi ro cho bên thứ bakhi không xác định được một cách chính xác rằng NĐD công ty ký kết hợp đồngvới mình có thẩm quyền hay không Về vấn đề này, các nhà lập pháp Việt Nam cóthể tham khảo và học kinh nghiệm của pháp luật công ty Vương quốc Anh TheoĐiều 40 Luật công ty Anh 2006 (Companies Act 2006), để bảo đảm lợi ích của bênthứ ba khi giao dịch với công ty một cách ngay tình và thiện chí, các Giám đốc củacông ty (NĐD) có quyền nhân danh công ty (hoặc ủy quyền cho người khác nhândanh công ty) để xác lập và thực hiện giao dịch mà không chịu bất cứ giới hạn nàotheo các văn bản nội bộ của công ty Bên giao dịch với công ty không có nghĩa vụphải tìm hiểu việc giới hạn thẩm quyền của NĐD và được coi là ngay tình trừ khicông ty có thể chứng minh điều ngược lại57 Do đó, LDN nên đặt ra những quyđịnh về trách nhiệm thông báo của NĐDTPL đối với đối tác của công ty về thẩmquyền đại diện của mình như tinh thần của khoản 4 Điều 141 BLDS 2015 Cụ thểnội dung kiến nghị sẽ được tác giả đề xuất tại mục 2.5 của khóa luận này

Qua những phân tích trên có thể thấy điều lệ công ty là một trong những căn

cứ quan trọng để xác lập tư cách của NĐDTPL, đặc biệt là đối với CTCP vàCTTNHH Các nhà quản lý, chủ đầu tư cần lưu ý đến căn cứ này để xây dựng chocông ty một bản Điều lệ có đầy đủ nội dung, tuân thủ quy định pháp luật và là căn

cứ rõ ràng để xác định thẩm quyền cũng như trách nhiệm pháp lý của từngNĐDTPL của doanh nghiệp

55 Điểm g khoản 2 Điều 24 LDN 2020

56 Đỗ Văn Đại, Lê Thị Hồng Vân (2015), “Hoàn thiện quy định về đại diện trong dự thảo

Bộ luật

dân sự sửa đổi”, Tạp chí Kiểm sát, số 22/2015, tr.43

57 Nguyễn Tuấn Vũ (2019), Một số góp ý nhằm hoàn thiện dự thảo luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp về người đại diện theo pháp luật”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2019, tr.59

Trang 32

2.1.3 Sự chỉ định của Tòa án

Vấn đề xác định NĐDTPL của pháp nhân trong hoạt động tố tụng là mộttrong những vấn đề quan trọng, đặc biệt là đối với quá trình truy cứu trách nhiệmhình sự pháp nhân Bởi vì trong tố tụng hình sự, xuất phát từ đặc thù của pháp nhân

là một chủ thể pháp luật được tạo thành từ các thể nhân, dẫn tới mọi hoạt động tốtụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự phải được tiến hành thông quamột thể nhân – NĐD58 Thông thường, NĐDTPL sẽ đại diện cho pháp nhân thamgia vào quan hệ tố tụng Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạnnhư pháp nhân có nhiều NĐDTPL nhưng không quy định rõ ai sẽ đại diện phápnhân tham gia tố tụng, dẫn đến những người này né tránh trách nhiệm hoặcNĐDTPL của pháp nhân chết, mất tích,… sẽ làm gián đoạn hoạt động tố tụng vàảnh hưởng tới quyền, lợi ích của các bên còn lại Do đó, pháp luật Việt Nam đã giatăng thêm quyền lực cho Tòa án bằng cách quy định: Tòa án, cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụng khác có quyền chỉ định NĐDTPL tham gia tố tụng theo quyđịnh của pháp luật, mà cụ thể là pháp luật tố tụng59

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định tại thời điểm khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử mà pháp nhân không có NĐDTPL hoặc có nhiều người cùng là NĐDTPLthì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một NĐD cho pháp nhân thamgia tố tụng60 Tuy nhiên, nên hiểu điều luật này theo hướng trong trường hợp phápnhân có nhiều NĐDTPL thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ chỉ địnhmột trong số họ đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng chứ không phải là một cánhân bất kì khác Bên cạnh đó, Điều 87 và Điều 88 BLTTDS 2015 cũng có quyđịnh một số trường hợp mà một cá nhân không được làm NĐD cho doanh nghiệpkhi tham gia tố tụng dân sự để tránh xung đột lợi ích giữa cá nhân NĐD và doanhnghiệp Trong trường hợp này, Tòa án có quyền chỉ định NĐD cho doanh nghiệp đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp tại Tòa án mà không phụ thuộcvào Điều lệ doanh nghiệp hay ý chí của chủ sở hữu doanh nghiệp61 Tuy nhiên trênthực tế, Tòa án ít khi chỉ định ngay một NĐD cho doanh nghiệp mà sẽ thông báo đểdoanh nghiệp tự cử NĐD tham gia tố tụng Chẳng hạn, trong bản án số 11/2019/LĐ-

ST, ngày 29/8/2019 của TAND Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh về

58 Nguyễn Văn Quân (2018), “Xác định người đại diện của pháp nhân trong tố tụng hình sự Pháp và một vài gợi ý trong tố tụng hình sự của Việt Nam”,

http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=206915 , truy cập ngày 20/05/2021

59 Khoản 7 Điều 12 LDN 2020.

60 Tại khoản 1 Điều 434 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

61 Vũ Lan Anh (2016), “Quy định mới của Luật doanh nghiệp 2014 người đại diện theo

pháp luật của doanh nghiệp”, Tạp chí Luật học, số 4/2016, tr.7

Trang 33

việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động62: nguyên đơn là ông Bùi Mạnh H làGiám đốc – đồng thời là NĐDTPL duy nhất của công ty Tháng 7/2016 ông có đơnxin nghỉ việc và miễn nhiệm chức danh giám đốc – NĐDTPL của công ty vì giađình chuyển đi xa, nhưng không được chấp nhận Do đó, ông đề nghị Tòa án xemxét giải quyết buộc CTCP xây dựng C phải ra quyết định cho ông thôi việc Vì ông

H không thể đồng thời là nguyên đơn và bị đơn trong cùng một vụ việc nên Tòa án

đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn và chủ tịch HĐQT của bịđơn nhưng bị đơn vẫn không cử NĐD nhận văn bản tố tụng của Tòa án cũng như

cử NĐD cho bị đơn tham gia tố tụng giải quyết trong vụ án này đối với nguyên đơn,nên Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 47 Luật phá sản 2014 cũng có quy định trườnghợp xét thấy NĐDTPL của doanh nghiệp không có khả năng điều hành, doanhnghiệp, hợp tác xã có dấu hiệu vi phạm khoản 1 Điều 48 của Luật này thì Thẩmphán ra quyết định thay đổi NĐDTPL của doanh nghiệp đó theo đề nghị của Hộinghị chủ nợ hoặc Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Như vậy, quyết định của Tòa án cũng chính là một trong những căn cứ làm phátsinh tư cách của NĐDTPL của doanh nghiệp Việc pháp luật trao quyền cho Tòa án chỉđịnh NĐD trong một số trường hợp đã đem lại ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn Nókhông chỉ giúp hoạt động tố tụng được diễn ra một cách thuận lợi, nhanh chóng, còngiúp tránh được những xung đột lợi ích giữa doanh nghiệp và NĐDTPL;

đồng thời bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào hoạt động tố tụng

2.2 Điều kiện làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Với những nội dung đã được phân tích, chúng ta thấy được vai trò quantrọng của NĐDTPL trong hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp Họ là NĐD chodoanh nghiệp trong các quan hệ đối nội và đối ngoại Mỗi hành động của NĐDTPLnhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp sẽ làm phát sinh những quyền hạn vànghĩa vụ cho doanh nghiệp với bên thứ ba Chính vì vậy, không phải một cá nhânbất kì nào cũng có thể làm NĐDTPL của doanh nghiệp mà người đó cần phải đápứng một số những điều kiện nhất định

2.2.1 Điều kiện về chức danh quản lý

Thứ nhất, NĐDTPL trước hết phải là người có chức danh quản lý Mặc dù

LDN 2020 không quy định điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể để trở thành NĐDTPL.Nhưng thông qua quy định về việc Điều lệ doanh nghiệp phải ghi nhận cụ thể chức

62 “ Bản án số 11/2019/LĐ-ST, ngày 29/8/2019 của TANH Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí

Minh về việc Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”,

https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta393323t1cvn/chi-tiet-ban-an , truy cập ngày 05/6/2021

Trang 34

danh quản lý của NĐDTPL63 thì có thể suy luận rằng NĐDTPL trước hết phải làngười có chức danh quản lý trong doanh nghiệp Theo LDN 2020, người quản lýdoanh nghiệp được định nghĩa là người quản lý DNTN và người quản lý công ty,bao gồm chủ DNTN, TVHD, Chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty,Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữchức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty64 Như vậy, tương tự vớiLDN 2014, pháp luật hiện hành không hạn chế các chức danh quản lý được coi làngười quản lý trong doanh nghiệp Tuy nhiên, định nghĩa này không đưa ra mộttiêu chí rõ ràng nào về người quản lý doanh nghiệp mà chỉ đơn thuần là liệt kê cácchức danh sẽ dẫn đến việc xác định người giữ “chức danh quản lý khác” ở mỗidoanh nghiệp là khác nhau Trên thực tế, người quản lý của doanh nghiệp có thể làPhó Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng phòng, Trưởng chinhánh, Người đứng đầu văn phòng đại diện,… Họ là những người hỗ trợ đắc lựccho Giám đốc hay HĐQT trong hoạt động kinh doanh và có sự am hiểu nhất định vềcông ty Do đó, việc cho phép công ty được tự do chỉ định những người này làmNĐDTPL là có cơ sở để chấp nhận được, nhưng phải thật thận trọng để lựa chọnđược người thực sự có năng lực quản lý và điều hành doanh nghiệp.

Thứ hai, NĐDTPL của doanh nghiệp không thuộc các trường hợp pháp luật

cấm làm người quản lý doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 17 LDN 2020, baogồm các trường hợp sau:

- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức65;

- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốcphòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩquan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công annhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phầnvốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;

- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theoquy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diệntheo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người

bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hànhvi;

Ngày đăng: 27/10/2022, 12:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Lan Anh (2016), “Quy định mới của Luật doanh nghiệp 2014 người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, Tạp chí Luật học, số 4(190)/2016, tr.3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định mới của Luật doanh nghiệp 2014 người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Vũ Lan Anh
Năm: 2016
2. Ngô Huy Cương (2009), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – nhìn từ góc độ luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4 (252)/2009, tr.26-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định đại diện theo quy định của pháp luật ViệtNam – nhìn từ góc độ luật so sánh”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2009
3. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hợp đồng phần chung
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
4. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Tập 1, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2017
5. Đỗ Văn Đại, Lê Thị Hồng Vân (2015), “Hoàn thiện quy định về đại diện trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)”, Tạp chí Kiểm sát, số 22/2015, tr.40-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định về đại diện trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Đỗ Văn Đại, Lê Thị Hồng Vân
Năm: 2015
6. Bùi Đức Giang (2015), “Hành lang pháp lý mới về người đại diện theo pháp luật của Luật Doanh nghiệp 2014”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2015, tr.18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành lang pháp lý mới về người đại diện theo phápluật của Luật Doanh nghiệp 2014”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Bùi Đức Giang
Năm: 2015
7. Nguyễn Thị Thùy Giang (2012), Pháp luật Việt Nam về Công ty hợp danh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ Luật học
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Giang
Năm: 2012
8. Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết người đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4(41)/2007, tr. 21-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết người đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Năm: 2007
9. Mai Thị Ngân Hà (2020), Pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty
Tác giả: Mai Thị Ngân Hà
Năm: 2020
10. Hồ Ngọc Hiển (2007), “Nghĩa vụ của người đại diện và người ủy quyền theo pháp luật kinh doanh của Hòa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 03(227)/2007, tr.57-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa vụ của người đại diện và người ủy quyền theopháp luật kinh doanh của Hòa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tươngứng của Việt Nam”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hồ Ngọc Hiển
Năm: 2007
11. Ngô Gia Hoàng, Nguyễn Thị Thương (2016), “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 dưới góc độ quyền tự do kinh doanh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7(339)/2016, tr. 48-53;77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Gia Hoàng, Nguyễn Thị Thương (2016), “Người đại diện theo phápluật của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 dưới góc độ quyền tự dokinh doanh”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Ngô Gia Hoàng, Nguyễn Thị Thương
Năm: 2016
12. Hoàng Thị Thanh Huyền (2017), Địa vị pháp lý của Giám đốc (Tổng Giám đốc) trong bộ máy tổ chức quản lý công ty cổ phần, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Thị Thanh Huyền (2017), "Địa vị pháp lý của Giám đốc (Tổng Giámđốc) trong bộ máy tổ chức quản lý công ty cổ phần
Tác giả: Hoàng Thị Thanh Huyền
Năm: 2017
13. Lê Vương Long (2006), Những vấn đề lý luận về quan hệ pháp luật, NXB Tƣ pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Vương Long (2006), "Những vấn đề lý luận về quan hệ pháp luật
Tác giả: Lê Vương Long
Nhà XB: NXBTƣ pháp
Năm: 2006
14. Ngô Thị Huệ My (2017), Chế định Người đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp 2014, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Thị Huệ My (2017), "Chế định Người đại diện theo pháp luật trong LuậtDoanh nghiệp 2014
Tác giả: Ngô Thị Huệ My
Năm: 2017
2. Điều 1984 Bộ luật Dân sự Pháp 1804 (French Civil Code), https://www.napoleon- series.org/research/government/code/book3/c_title13.html#chapter1, truy cập ngày 15/6/2020 Link
3. Điều 797 Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan 1925 (Thailand Civil and Commercial Code), https://www.samuiforsale.com/law-texts/thailand-civil-code-part-2.html#770, truy cập ngày 15/6/2021 Link
4. Điều 323.2 Luật Công ty Anh 2006 (United Kingdom Companies Act), https://www.legislation.gov.uk/ukpga/2006/46/section/323, truy cập ngày 05/5/2021 Link
5. Điều 250D Luật công ty Úc năm 2001 (Australia Companies Act), https://www.austlii.edu.au/cgi-bin/viewdoc/au/legis/cth/consol_act/ca2001172/s250d.html , truy cập ngày 05/5/2021 Link
6. Điều 11.1 Luật Công ty Nhật Bản năm 2005 (Japanese Companies Act), http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=2035&vm=04&re=02,truycập 05/5/20201 Link
7. Điều 35.2 Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn Đức 1892, sửa đổi năm 2017 (Limited Liability Companies Act), https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_gmbhg/englisch_gmbhg.html , truy cập ngày 05/05/2021 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w