Có thể kể đến như việc xác định pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất đối với người để lại di sản là người không quốc tịch hoặc người có nhiều quốc tịch; vấn đề năng lực lập, thay đổi hoặ
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Khái quát về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Pháp luật về thừa kế là một trong những chế định pháp lý quan trọng trong lĩnh vực dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền của người thừa kế 1 Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc xuất hiện các yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự là điều tất yếu 2 , quan hệ thừa kế cũng không là ngoại lệ Lúc này, đặt ra thêm các yêu cầu mới từ quy định pháp luật để kịp thời điều chỉnh cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Để làm được điều đó, việc nắm bắt các khái niệm, đặc điểm liên quan là cần thiết để có sự điều chỉnh phù hợp
Cho đến hiện nay, tuy pháp luật không có một định nghĩa riêng biệt nhưng bởi vì thừa kế mang bản chất là một quan hệ dân sự nên việc tiếp cận khái niệm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là căn cứ để xác định thế nào là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Lần đầu tiên khái niệm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận tại Điều 826 BLDS 1995 và từ đó quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được hiểu là các quan hệ thừa kế có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Sau đó, BLDS 2005 tiếp tục ghi nhận, sửa đổi, bổ sung tại Điều 758, trên tinh thần đó, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ thừa kế có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
1 Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam Nguồn: https://phapluattoandan.com/tin-tuc/che-dinh-quyen-thua-ke-trong-phap-luat-dan-su-viet-nam/ (truy cập ngày 01/06/2021)
2 Nguyễn Bá Chiến (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột pháp luật ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.88
14 nước ngoài hoặc là các quan hệ thừa kế giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Tại quy định của BLDS 2005 đã có sự ghi nhận thêm về mặt chủ thể đối với người người Việt Nam định cư ở nước ngoài Điều này được xem là hợp lý khi xét đến thực tiễn tại thời điểm đó, bởi việc công dân Việt Nam ở nước ngoài sẽ phát sinh gắn bó về mặt pháp lý với hệ thống pháp luật của nước nơi họ thường trú và việc gắn bó này liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam thường trú ở nước ngoài 3
Hiện tại, với khái niệm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại khoản 2 Điều 663 BLDS 2015, ta có thể hiểu quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ thừa kế thuộc một trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài
Thứ hai, các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ thừa kế đó xảy ra tại nước ngoài
Thứ ba, các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ thừa kế đó ở nước ngoài
So với BLDS 2005 trước đây, xét về mặt chủ thể thì BLDS 2015 đã loại bỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cơ quan, tổ chức không có tư cách pháp nhân Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định cụ thể cho chủ thể là quốc gia Bởi lẽ, trong một số trường hợp đặc biệt, điển hình là trường hợp khi một công dân chết và để lại di sản ở một quốc gia khác nhưng không có người thừa kế, khi này quốc gia mà người chết là công dân có khả năng sẽ trở thành một chủ thể tham gia vào quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
3 Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, tr.463
Như vậy, quan hệ thừa kế sẽ được xem là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài khi xuất hiện một trong ba căn cứ được để cập trên: (i) chủ thể; (ii) sự kiện pháp lý; (iii) đối tượng của quan hệ thừa kế
1.1.2 Đặc điểm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Trước khi có sự tham gia của các yếu tố nước ngoài, quan hệ thừa kế mang những đặc điểm của một quan hệ pháp luật dân sự, tồn tại ngay cả khi chưa có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh Địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ thừa kế đều bình đẳng Bình đẳng về khả năng tham gia vào quan hệ theo các điều kiện do luật định, bình đẳng trong việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ, được pháp luật bảo vệ như nhau khi quyền và lợi ích bị xâm phạm 4
Khi có sự xuất hiện của các yếu tố nước ngoài thì quan hệ thừa kế sẽ mang những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ mang bản chất dân sự Theo cách tiếp cận của BLDS 2015 hiện hành, quan hệ dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, tức quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm 5 Trên thực tế đã hình thành rất nhiều quan hệ xã hội thỏa mãn các tiêu chí trên, có thể kể đến các quan hệ lao động, thương mại, hôn nhân gia đình,…và thừa kế cũng không là ngoại lệ
Thứ hai, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ có liên quan đến ít nhất hai hệ thống pháp luật trở lên Một là, vì có sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế cho người còn sống, dẫn đến quan hệ thừa kế là một quan hệ tài sản và do đó có quan hệ với pháp luật nơi có tài sản Hai là, vì có sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế cho người còn sống trên cơ sở huyết thống, dẫn đến quan hệ thừa kế là một quan hệ nhân thân và do đó có liên hệ với pháp luật nhân thân của người để lại thừa kế Ba là, khi chết, người để lại thừa kế có thể chưa chấm dứt các quan hệ dân sự thiết lập với các đối tác khác (bên thứ ba), nhất là
4 Đại học Luật TP.HCM (2018), Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự, NXB Hồng Đức, tr.42-45
16 quan hệ dân sự trong hợp đồng và quan hệ dân sự ngoài hợp đồng, do vậy quan hệ thừa kế cũng là quan hệ tài sản đối với bên thứ ba 6
Xung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.2.1 Khái niệm xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Khi nhắc đến TPQT nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng thì một trong các vấn đề cốt lõi được các nhà nghiên cứu quan tâm chính là XĐPL Có rất nhiều người nhầm lẫn XĐPL là hiện tượng có nhiều quy phạm khác nhau trong cùng hệ thống pháp luật của một quốc gia để điều chỉnh một quan hệ pháp luật phát sinh Tuy nhiên, về mặt bản chất ta nên hiểu đây không phải là hiện tượng XĐPL mà là sự mâu thuẫn (chồng chéo) giữa các ngành, các văn bản pháp luật trong quốc gia đó 16 Trong TPQT, khái niệm XĐPL nên được tiếp cận ở mức độ chính xác hơn, đó là tồn tại nhiều hệ thống pháp luật từ các quốc gia khác nhau cùng điều chỉnh một vấn đề mà dẫn đến các hệ quả không giống nhau
Như vậy, ta có thể hiểu XĐPL về thừa kế là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để giải quyết đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 17
1.2.2 Nguyên nhân xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Hiện tượng XĐPL là một hiện tượng đặc thù của TPQT, do đó luôn đặt ra yêu cầu hướng đến giải quyết sự XĐPL Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền không thể áp dụng đồng thời hai hay nhiều hệ thống pháp luật để cùng điều chỉnh một vấn đề hoặc không thể lựa chọn tùy tiện bất kỳ hệ thống pháp luật nào để áp dụng mà cần có hướng giải quyết dựa trên các cơ sở chọn luật phù hợp Để làm được điều đó thì việc nghiên cứu những nguyên nhân làm phát sinh hiện tượng XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết
Nguyên nhân thứ nhất là khả năng áp dụng nhiều hệ thống pháp luật khác nhau khi phát sinh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Như đã đề cập trong phần
16 Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, sđd, tr.154
17 Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, sđd, tr.157
20 đặc điểm của quan hệ này sẽ liên quan đến ít nhất hai hệ thống pháp luật trở lên, mà xét theo bình diện chung, tất cả các quốc gia trên thế giới đều chấp nhận khả năng áp dụng pháp luật của quốc gia nước ngoài để giải quyết các vấn đề của quan hệ đó Có thể là pháp luật của quốc gia nơi người để lại di sản mang quốc tịch hoặc có nơi cư trú, hoặc pháp luật quốc gia nơi đang có di sản, hoặc pháp luật quốc gia nơi xảy ra các sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế đó 18
Nguyên nhân thứ hai là có sự khác nhau trong pháp luật các nước khi cùng điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Sự khác nhau này là hệ quả từ nhiều yếu tố chi phối đến quá trình xây dựng và ban hành quy định pháp luật liên quan đến quan hệ thừa kế của quốc gia đó Các yếu tố có thể kể đến là quan điểm chính trị, hệ tư tưởng, phong tục, tập quán, tôn giáo, trình độ phát triển kinh tế, điều kiện xã hội 19 …Ví dụ như pháp luật thừa kế của một số quốc gia có quy định phần thừa kế bắt buộc cho người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản nhằm bảo vệ quyền được hưởng di sản cho dù không nằm trong sự định đoạt của người để lại di sản Trong khi đó, một số quốc gia không có quy định như vậy nhằm tôn trọng ý chí và sự định đoạt của người để lại di sản Chính vì có sự khác biệt về nội dung nên cùng một quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nhưng hệ quả của việc giải quyết sẽ khác nhau Điều này dẫn đến sự XĐPL
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, các quốc gia luôn đẩy mạnh và tăng cường hợp tác quốc tế, tuy nhiên trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn, TPQT ở các quốc gia còn nhiều sự khác biệt Do đó việc xác định nguyên nhân XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài sẽ góp phần tìm ra những cách thức, phương pháp giải quyết phù hợp, tạo ra khung pháp lý theo hướng hoàn thiện hơn để đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ này
18 Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, sđd, tr.160
19 Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, sđd, tr.161
Nguyễn Bá Chiến (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột pháp luật ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.69
1.2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.2.3.1 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Việc quy định các phương pháp giải quyết XĐPL về thừa kế là quyền tự do lựa chọn của mỗi quốc gia, tuy nhiên khi đưa ra các phương pháp giải quyết xung đột, cần quan tâm đến quyền và lợi ích của các bên chủ thể, quyền lợi của quốc gia và cộng đồng quốc tế 20 Có thể kể đến hai phương pháp phổ biến sau đây, mỗi một phương pháp sẽ đóng vai trò nhất định, không có một phương pháp nào mang tính tối ưu nhất và thay thế các phương pháp khác:
Thứ nhất, xây dựng và áp dụng quy phạm thực chất Các quy phạm thực chất này có thể được chứa đựng trong các điều ước quốc tế (quy phạm thực chất thống nhất) hoặc trong pháp luật quốc gia (quy phạm thực chất của quốc gia), trực tiếp điều chỉnh vấn đề XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài Ưu điểm của phương pháp này chính là quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ 21 , giúp đơn giản hóa các thủ tục cũng như các quy định “chồng chéo” nhau, giúp việc giải quyết XĐPL một cách có hiệu quả, thuận tiện và nhanh chóng Điều này xuất phát từ việc các cơ quan có thẩm quyền không cần lựa chọn pháp luật áp dụng như đối với quy phạm xung đột 22 Tuy nhiên, đối với các quy phạm thực chất thống nhất, do bản chất đặc thù chịu sự chi phối bởi yếu tố truyền thống, lịch sử của quan hệ thừa kế, nên việc các quốc gia cùng nhau thỏa thuận và xây dựng một quy định chung dường như chưa đạt được hiệu quả 23 Bởi lẽ có những quy phạm khi áp dụng sẽ rất phù hợp với hoàn cảnh xã hội, kinh tế, văn hóa của quốc gia này nhưng có khả năng không phù hợp đối với một quốc gia khác Ví dụ như có quốc gia quy định việc đăng ký quyền sở hữu đối với di sản là bất động sản trước tiên phải là người thuộc hàng thừa kế có quan hệ huyết thống với người để lại di sản, sau đó những người thừa kế này sẽ chuyển giao lại cho những người hưởng di sản không có quan hệ huyết thống (nếu có) Trong khi
20 Lê Thị Nam Giang (2010), Tư pháp quốc tế, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, sđd, tr.118
21 Lê Thị Nam Giang (2010), Tư pháp quốc tế, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, sđd, tr.118
22 Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, sđd, tr.163
23 Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Công an Nhân dân, tr.278
22 đó quy định này lại tỏ ra không phù hợp khi có người thừa kế là người không có quan hệ huyết thống với người để lại di sản, điều mà ở một số quốc gia khác không có quy định Hơn nữa quá trình đàm phán để thông qua các quy phạm thực chất thống nhất cần một thời gian lâu dài, mang tính chất phức tạp và tốn kém
Thứ hai, xây dựng và áp dụng quy phạm xung đột Các quy phạm xung đột này có thể được chứa đựng trong các điều ước quốc tế (quy phạm xung đột thống nhất) hoặc trong pháp luật quốc gia (quy phạm xung đột của quốc gia) Khác với phương pháp thứ nhất, các quy phạm xung đột được xây dựng sẽ không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ thừa kế Thay vào đó, phương pháp này sẽ đưa ra các nguyên tắc chung cho các cơ quan có thẩm quyền lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết Cũng chính điều này đã khiến cho phương pháp có điểm hạn chế, vì các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh nên việc áp dụng cũng trở nên phức tạp hơn đặc biệt trong trường hợp có hiện tượng dẫn chiếu ngược hoặc dẫn chiếu đến pháp luật của một nước thứ ba Tuy nhiên, so với phương pháp thứ nhất thì trong phương pháp này, việc các quốc gia cùng nhau xây dựng các quy phạm xung đột thống nhất dường như dễ dàng hơn Bởi lẽ, suy cho cùng thì đó chỉ là các nguyên tắc chung mang tính chất hướng dẫn để các bên lựa chọn pháp luật phù hợp chứ không mang tính áp đặt hay ràng buộc các bên áp dụng một hướng giải quyết cụ thể, hay mang một ý chí chủ quan của bất kỳ bên quốc gia ký kết nào Hiện nay các quốc gia áp dụng phương pháp này rất phổ biến, điển hình chính là thông qua các quy phạm tại các Hiệp định tương trợ tư pháp Đồng thời, các quốc gia cũng chủ động xây dựng các quy phạm xung đột của quốc gia đó trong những trường hợp không có điều ước quốc tế với các nước thì đây chính là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền lựa chọn pháp luật giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài Trong quá trình xây dựng, một số hệ thuộc luật được sử dụng phổ biến như: hệ thuộc luật nhân thân, hệ thuộc luật nơi có tài sản, hệ thuộc luật lựa chọn,…
Hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis) là hệ thuộc chỉ ra pháp luật liên quan đến nhân thân của chủ thể trong quan hệ Đây là hệ thuộc luật được sử dụng phổ biến
23 để điều chỉnh quan hệ mang bản chất dân sự có yếu tố nước ngoài bao gồm cả thừa kế Về vấn đề này, có nhận định rằng: “Trong hầu hết các hệ thống XĐPL, những vấn đề liên quan đến những mối quan hệ nhân thân và tài sản giữa các thành viên của một gia đình được điều chỉnh bởi luật nhân thân như là một nguyên tắc chung” 24 Trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, hệ thuộc luật nhân thân được áp dụng để điều chỉnh một số vấn đề như thừa kế di sản là động sản, năng lực lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc, hình thức di chúc,…Hệ thuộc luật nhân thân tồn tại trong hai hình thức 25 :
Một là, hệ thuộc luật quốc tịch (lex patriae/lex nationalis) là pháp luật của nước mà chủ thể trong quan hệ mang quốc tịch Hệ thuộc luật quốc tịch có ưu điểm rất quan trọng là tính ổn định cao, bởi vì, việc thay đổi quốc tịch không diễn ra một cách thường thường xuyên và dễ dàng Nhưng cũng chính đặc tính này sẽ là nhược điểm khi người nhập cư sinh sống lâu dài ở một quốc gia khác quốc gia họ mang quốc tịch, cản trở sự hòa nhập của họ vào cộng đồng nơi họ đang thực sự sinh sống 26
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và Liên minh Châu Âu
1.3.1 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
1.3.1.1 Nguyên tắc chung trong giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Căn cứ theo pháp luật hiện hành, cụ thể dựa trên khoản 1 Điều 680 BLDS
2015 đưa ra quy tắc áp dụng chung: “Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết” Tuy nhiên, khoản
2 Điều 680 BLDS 2015 có quy định: “Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”
Như vậy, trên nguyên tắc chung, Việt Nam áp dụng thống nhất luật quốc tịch của người để lại di sản ngay trước khi chết để điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài như hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế, tỷ lệ phân chia di sản, quản lý di sản,…Riêng đối với di sản là bất động sản, vì là một loại tài sản đặc thù, nên việc thực hiện quyền đối với bất động sản, đơn cử như việc xác định người thừa kế có được trở thành chủ sở hữu hay chỉ được hưởng phần giá trị tương đương của bất động sản đó, hoặc nếu được trở thành chủ sở hữu thì cần đáp ứng những yêu cầu, điều kiện gì,…sẽ do luật nơi có bất động sản điều chỉnh
41 Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, sđd, tr.246-247
Ví dụ, ông A có một quốc tịch duy nhất là quốc tịch Pháp ngay trước khi chết và có để lại di sản gồm động sản ở Pháp và căn nhà ở Việt Nam, không có di chúc Áp dụng nguyên tắc giải quyết chung tại khoản 1 Điều 680 BLDS 2015, pháp luật Pháp sẽ được lựa chọn để giải quyết các vấn đề thừa kế, bao gồm cả động sản ở Pháp và căn nhà ở Việt Nam Tuy nhiên, do căn nhà là bất động sản nằm trên lãnh thổ Việt Nam nên việc xem xét người thừa kế của A có được chứng nhận quyền sở hữu đối với căn nhà hay chỉ được hưởng phần giá trị thì do pháp luật Việt Nam điều chỉnh
Do Việt Nam sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch làm nguyên tắc chung giải quyết XĐPL về thừa kế nên trên thực tế sẽ có khả năng phát sinh hai trường hợp, đó là người để lại di sản thừa kế không có quốc tịch hoặc có hai quốc tịch trở lên Khi có sự tham gia của hai chủ thể này, việc giải quyết các vấn đề XĐPL cũng trở nên phức tạp hơn khi chưa thể xác định chính xác quốc gia liên quan đối với người không quốc tịch hoặc có nhiều hơn hai quốc gia liên quan, bảo hộ cho người có nhiều quốc tịch 42 Mỗi một trường hợp sẽ có những hướng giải quyết khác nhau: Đối với trường hợp người để lại di sản không có quốc tịch, căn cứ theo khoản
1 Điều 672 BLDS 2015, pháp luật của nước nơi người đó cư trú 43 vào thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài sẽ được áp dụng Nếu người để lại di sản có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ thì áp dụng pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất So với trước đây, BLDS 2005 lựa chọn áp dụng pháp luật Việt Nam (hệ thuộc luật Tòa án) trong trường hợp không thể áp dụng luật nơi cư trú, hiện nay BLDS 2015 đã tiếp cận với cách giải quyết khách quan hơn, đảm bảo tôn trọng, công bằng hơn cho các chủ thể trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài và phù hợp với nguyên tắc quan trọng trong TPQT là bình đẳng giữa các hệ thống pháp luật 44
42 Lê Thị Bích Thủy (2019), Pháp luật áp dụng đối với cá nhân trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo
Bộ luật dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học số 1/2019, tr.57 Nguồn: https://sti.vista.gov.vn/tw/Lists/TaiLieuKHCN/Attachments/275200/CVv209S012019057.pdf (truy cập ngày 23/06/2021)
43 Về khái niệm “cư trú” theo cách tiếp cận tại khoản 1 và khoản 2 Điều 40 BLDS 2015, là nơi người đó thường xuyên sinh sống, trường hợp không xác định được nơi người đó thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống
44 Lê Thị Bích Thủy (2019), Pháp luật áp dụng đối với cá nhân trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo
Bộ luật dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học số 1/2019, tlđd, tr.59
30 Đối với trường hợp người để lại di sản có nhiều quốc tịch, tức từ hai quốc tịch trở lên Việc XĐPL cũng trở nên phức tạp và được các quốc gia quan tâm giải quyết Tại khoản 2 Điều 672 BLDS 2015 quy định áp dụng pháp luật của nước nơi người để lại di sản có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Có thể thấy, khi một người để lại di sản có từ hai quốc tịch trở lên, pháp luật bắt buộc phải đưa ra thêm một hoặc nhiều tiêu chí bổ sung để cơ quan có thẩm quyền có đủ cơ sở lựa chọn pháp luật áp dụng, cụ thể BLDS 2015 đã đưa thêm luật nơi cư trú thay vì chỉ áp dụng luật quốc tịch theo nguyên tắc chung
Tuy nhiên, trên thực tế sẽ tồn tại không ít các trường hợp gây khó khăn khi áp dụng pháp luật nơi cư trú Ví dụ như người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ trên BLDS 2015 đã đưa ra hướng giải quyết thông qua xác định pháp của nước mà người để lại di sản có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất
Mặc dù vậy, để làm tăng cơ hội áp dụng pháp luật của Việt Nam khi giải quyết vụ việc, trong trường hợp người để lại di sản có nhiều quốc tịch nhưng trong đó có quốc tịch Việt Nam thì theo đoạn thứ hai khoản 2 Điều 672 BLDS 2015 có quy định:
“Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam”
Nguyên tắc chung để giải quyết XĐPL về thừa kế có yếu tố nước ngoài cho đến nay vẫn chưa có quy định riêng đề cập hay điều chỉnh liên quan đến chủ thể là người thừa kế nói chung và trẻ em nói riêng
1.3.1.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài trong trường hợp có di chúc
Một trong những nội dung quan trọng, đặc trưng khi đề cập đến thừa kế chính là di chúc bởi lẽ di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết 45 Do đó khi quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
31 phát sinh thì cũng đặt ra một số vấn đề pháp lý nhất định xoay quanh di chúc của người để lại di sản
Thông thường, trên lãnh thổ Việt Nam, một di chúc được xem là hợp pháp khi đáp ứng đủ các điều kiện tại khoản 1 Điều 630 BLDS 2015, cụ thể: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật Riêng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, năng lực chủ thể và hình thức di chúc là những nội dung được TPQT tập trung điều chỉnh
Vấn đề thứ nhất là năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc Khoản 1 Điều 681 BLDS 2015 quy định: “Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc” Tương tự với nguyên tắc chung, BLDS áp dụng luật quốc tịch của người lập di chúc để giải quyết XĐPL Song, cần lưu ý về thời điểm xác định luật quốc tịch được áp dụng phải là thời điểm lập, thay đổi, huỷ bỏ di chúc chứ không phải thời điểm người để lại di sản chết