Qua chương này chúng ta có thể thấyđược thực trạng về hoạt động kinh doanh của công ty, tình hình đầu tư tài sảncủa doanh nghiệp, thực trạng về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của công
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để tồntại và phát triển, Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà cũng không phải
là một ngoại lệ, là một công ty con của Tổng Công ty Sông Đà- một doanhnghiệp Nhà Nước phát triển hàng đầu trong ngành xây dựng Tuy mới thànhlập từ năm 1992, và cổ phần hoá năm 2004, nhưng công ty đã chứng tỏ đượcnăng lực của mình thông qua thực hiện tốt các công việc được giao từ công ty
mẹ và hoàn thành xuất sắc các bản hợp đồng với các đối tác Là một doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tư vấn, khảo sát thiết kế, lập tổng dựtoán vốn đầu tư … các công trình xây dựng, nên doanh nghiệp mang đặc thùcủa ngành dịch vụ, thương mại nhưng cũng mang những đặc trưng riêng củangành xây dựng Là một doanh nghiệp mang tính chất là dịch vụ nên doanhnghiệp có rất nhiều vấn đề cần lưu ý trong hoạt động kinh doanh nhằm nângcao hơn nữa hiệu quả hoạt động của mình như: vấn đề nguồn lực, vấn đề hiệuquả sử dụng tài sản, vấn đề về tiền lương… Tất cả những vấn đề trên đều đặtdoanh nghiệp trước các thách thức lớn nhằm hoàn thiện hơn nữa để có thểđứng vững trên thị trường cạnh tranh hiện nay
Trang 2Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà trước khi cổ phần hoá là mộtdoanh nghiệp Nhà Nước, tuy vẫn chịu những ảnh hưởng lớn của phong cáchlàm việc theo kế hoạch mà ít chú ý đến hiệu quả, nhưng từ khi nền kinh tế thịtrường phát triển doanh nghiệp phải tự thay đổi mình để bắt kịp với sự pháttriển của nền kinh tế Vì vậy, doanh nghiệp đã thay đổi cung cách làm việc từkhâu quản lý đến khâu giám sát, nhân sự… Doanh nghiệp thay đổi đội ngũcán bộ công nhân viên, đầu tư máy móc thiết bị hiện đại… nhằm nâng caohơn nữa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Là một doanh nghiệp dịch vụnên tài sản lưu động của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng tàisản của doanh nghiệp Việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động sẽ cóảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, do ảnhhưởng như vậy của việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động nên em chọn đề
tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Công ty cổ phần tư
vấn xây dựng Sông Đà” làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp.
Do mới thành lập hơn 10 năm, và việc đổi mới doanh nghiệp mới diễn ratrong vài năm trở lại đây, do đó em chọn số liệu các báo cáo tài chính củadoanh nghiệp trong 3 năm gần đây nhất để phân tích hiệu quả sử dụng tài sảnlưu động tại công ty Trong chuyên đề này, em đã tiếp cận vấn đề từ việc đưa
ra những lí luận về phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động,qua đó tìm hiểu thực trạng và đánh giá thực trạng sử dụng tài sản lưu động tạidoanh nghiệp từ đó rút ra hạn chế và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng tài sản lưu động tại công ty hơn nữa
Chuyên đề này được trình bày thành 3 chương:
Chương I: Những khái quát chung nhất về hiệu quả sử dụng tài sản lưuđộng trong doanh nghiệp Qua chương này chúng ta có thể được hiểu biết thếnào là doanh nghiệp, các hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường, tài sản và tài sản lưu động của doanh nghiệp từ đó hiểu về hiệu quả sửdụng tài sản lưu động của doanh nghiệp
Trang 3Chương II: Nói về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công
ty cổ phần tư vấn xây dựng Sông Đà Qua chương này chúng ta có thể thấyđược thực trạng về hoạt động kinh doanh của công ty, tình hình đầu tư tài sảncủa doanh nghiệp, thực trạng về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của côngty: như tình hình sử dụng tiền, phải thu, tồn kho…
Chương III: Trong chương này, em đề cập tới các giải pháp nhằm nângcao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty cổ phần tư vấn xây dựngSông Đà, qua đây em xin nêu một số kiến nghị với các cơ quan có thẩmquyền nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công ty nâng cao hơn nữa hiệu quảhoạt động
Do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm, nên chuyên đề này không thểtránh khỏi có những sai sót Em kính mong các thầy cô giáo giúp đỡ để emhoàn thành chuyên đề này
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI
SẢN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Tài sản trong doanh nghiệp
1.1.1 Hoạt động quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm chung về doanh nghiệp
Mỗi nền kinh tế đều hàm chứa bên trong nó những thành viên được hìnhthành và phát triển nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển Các thành viên hoạtđộng và giúp đỡ nhau cùng phát triển, trong các thành viên của nền kinh tế thìdoanh nghiệp là một thành viên chủ chốt và quyết định sự tồn tại và phát triểncủa bất kỳ một nền kinh tế nào
Vậy doanh nghiệp được hiểu như thế nào? Có rất nhiều khái niệm vềdoanh nghiệp nhưng nhìn chung doanh nghiệp được hiểu là một chủ thể kinh
Trang 4tế độc lập, có tư vấn cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trườngnhằm mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của các chủ sở hữu
Doanh nghiệp là một tổ chức hoạt động kinh tế trong nhiều các ngànhnghề khác nhau Có rất nhiều hoạt động kinh tế phải được thực hiện bởidoanh nghiệp chứ không phải bất cứ một thành niên nào khác của nền kinh tế
Đó là khái niệm chung của thế giới về doanh nghiệp Còn tại Việt Nam,theo luật doanh nghiệp năm 1999- Điều 1 quy định: “Doanh nghiệp là một tổchức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kýkinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạtđộng kinh doanh- tức là thực hiện một hoặc một số công đoạn của quá trìnhđầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thịtrường nhằm mục đích sinh lời”
Hiện nay trong nền kinh tế các nước, doanh nghiệp được tổ chức thànhnhiều loại hình khác nhau Ở Việt Nam, theo quy định của Luật doanh nghiệpthì các loại hình doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn
có từ hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanhnghiệp tư nhân
Các doanh nghiệp hiện nay có thể được hoạt động dưới các hình thức là:kinh doanh cá thể, kinh doanh theo hình thức góp vốn, kinh doanh tổ chứcdưới hình thức công ty
- Kinh doanh cá thể là một loại hình thành lập đơn giản nhất, không cầncác điều lệ chính thức, ít chịu sự quản lý của nhà nước, không phải nộp thuếthu nhập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với cáckhoản nợ của doanh nghiệp, khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năngcủa người chủ
- Kinh doanh theo hình thức góp vốn là loại hình doanh nghiệp đượcthành lập khá dễ dàng với chi phí thấp, các thành viên chính thức phải chịu
Trang 5trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của doanh nghiệp, khả năng về vốn củadoanh nghiệp bị hạn chế.
- Công ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích:lợi ích của chủ sở hữu, hội đồng quản trị và các nhà quản lý Sự tồn tại củadoanh nghiệp không phụ thuộc vào sự thay đổi của số lượng cổ đông, các cổđông chịu trách nhiệm hữu hạn ở phần vốn của các cổ đông đã đóng góp vàocông ty
Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những ưu, nhược điểm riêng và phùhợp với quy mô và trình độ phát triển nhất định Hiện nay, hầu hết các doanhnghiệp lớn đều hoạt động với tư cách là công ty, đây cũng chính là loại hìnhphát triển nhất của doanh nghiệp
1.1.1.2 Hoạt động quản lý tài chính trong doanh nghiệp
a) Sự cần thiết của hoạt động quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Để đạt được mức lợi nhuận như mong muốn, doanh nghiệp cần phải cónhững quyết định hết sức đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp Mọi quyếtđịnh của doanh nghiệp đều phải được đặt trong các mối liên hệ xung quanhnhư môi trường kinh tế- xã hội Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với sự pháttriển của công nghệ thông tin dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong hoạtđộng quản lý tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp là đối tượng quản lýcủa Nhà Nước, sự thắt chặt hay nới lỏng hoạt động của doanh nghiệp bằngcác văn bản quy phạm pháp luật Doanh nghiệp trong nền kinh tế phải dự tínhcác rủi ro, đặc biệt là các rủi ro tài chính để có các phản ứng kịp thời và đúngđắn Doanh nghiệp phải đáp ứng được những đòi hỏi của đối tác về mức vốnchủ sở hữu trong cơ cấu vốn Sự tăng vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể tớihoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau.Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải có khả năng tự chủ và cóthể dự đoán trước được sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với
nó Trong các trường hợp, quan hệ tài chính doanh nghiệp được thể hiện rấtphong phú và đa dạng
Trang 6b) Nội dung cơ bản của quản lý tài chính doanh nghiệp
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp được thể hiện trong các quá trìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Việc xử lý các quan hệ tài chính chính
là việc các doanh nghiệp thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh thôngqua giải quyết ba vấn đề quan trọng đó là:
- Thứ nhất: nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với cácloại hình sản xuất kinh doanh đã lựa chọn, đây chính là chiến lược dài hạn củadoanh nghiệp, nó cũng là cơ sở để cho các doanh nghiệp dự toán vốn đầu tư
- Thứ hai: Các doanh nghiệp sẽ lấy nguồn vốn đầu tư ở đâu, hay chính làtrả lời câu hỏi “Các chủ doanh nghiệp phải kiếm tiền từ đâu để thực hiện cáchoạt động đầu tư của doanh nghiệp”
- Thứ ba: Việc quản lý tài chính hàng ngày của doanh nghiệp sẽ đượcthực hiện như thế nào? Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn của doanhnghiệp và chúng liên quan chặt chẽ tới việc quản lý tài sản lưu động củadoanh nghiệp
Đây chính là ba vấn đề chính và chủ yếu của tài chính doanh nghiệp.Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất là nghiên cứu cách thức giảiquyết ba vấn đề đó
Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần thuê nhà quản lýmua sắm các yếu tố vật chất chủ yếu như máy móc thiết bị, đất đai và laođộng… Điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp đang đầu tư để hình thành nêntài sản cho doanh nghiệp Nhưng để đầu tư vào các tài sản thì doanh nghiệpcần phải có vốn để đầu tư, một doanh nghiệp có thể có rất nhiều cách để huyđộng vốn đầu tư như: phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay đi vay của ngân hàng
và các tổ chức tài chính Vậy khi tìm kiếm đủ các nguồn tài trợ thì doanhnghiệp nên đầu tư vào các tài sản dài hạn nào? Để giải đáp cho vấn đề này đóchính là công việc dự toán vốn đầu tư- đó là quá trình kế hoạch hoá và quản
lý đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Nhà quản lý đầu tư dài hạn phải tìm kiếm
cơ hội đầu tư sao cho thu nhập do đầu tư mang lại lớn hơn chi phí đầu tư Vấn
đề thứ ba và cũng là một vấn đề hết sức quan trọng đó chính là việc quản lý
Trang 7tài sản lưu động- tức là quản lý các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Hoạtđộng tài chính ngắn hạn gắn liền với dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ Nhàquản lý tài chính cần phải xử lý sự lệch pha của các dòng tiền Quản lý ngắnhạn các dòng tiền không thể tách rời với vốn lưu động ròng của doanh nghiệp
- tài sản lưu động ròng được xác định bằng sự chênh lệch giữa tài sản lưuđộng và nợ ngắn hạn Một số vấn đề quản lý tài sản lưu động sẽ được làm rõnhư: doanh nghiệp nên nắm giữ bao nhiêu tiền và dự trữ, các khoản phải thubao nhiêu là phù hợp để doanh nghiệp vẫn giữ được khách hàng nhưng phảiđảm bảo an toàn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ tài trợ ngắn hạn bằngcách nào, mua chịu hay vay ngắn hạn để trả tiền ngay, nếu đi vay thì doanhnghiệp nên vay ở đâu và như thế nào…
Như vậy, qua đây chúng ta có thể nhận thấy ba vấn đề chính của tàichính doanh nghiệp đó chính là: dự toán vốn đầu tư dài hạn, cơ cấu vốn vàquản lý tài sản lưu động Đây là ba vấn đề bao trùm nhất của tài chính doanhnghiệp, mỗi vấn đề trên lại bao gồm nhiều nội dung, nhiều khía cạnh khácnhau đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải lưu tâm để quản lý doanhnghiệp một cách tốt nhất
1.1.2 Tài sản lưu động trong doanh nghiệp
a) Tài sản trong doanh nghiệp
Khái niệm tài sản trong doanh nghiệp
Tài sản trong doanh nghiệp là khoản mục nằm bên trái bảng cân đối kếtoán của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp chính là các bộ phận đượchình thành trong quá trình đầu tư của doanh nghiệp
Tài sản là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu thị cho những lợiích mà đơn vị thu được trong tương lai hoặc những tiềm năng phục vụ chohoạt động kinh doanh của đơn vị Nói cách khác, tài sản là tất cả những thứ
Trang 8hữu hình hoặc vô hình gắn với lợi ích trong tương lai của đơn vị thoả mãn cácđiều kiện:
- Thuộc quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát lâu dài của đơn vị
- Có giá trị thực sự đối với đơn vị
- Có giá phí xác định
Sự hình thành các tài sản trong doanh nghiệp
Một trong những nội dung chính của hoạt động tài chính doanh nghiệp
đó là đầu tư vào đâu, hay doanh nghiệp sẽ mua sắm tài sản như thế nào chophù hợp
Việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọngđối với doanh nghiệp, nó quyết định đến hoạt động kinh doanh của bất kỳ mộtdoanh nghiệp nào Việc hình thành các tài sản của doanh nghiệp là từ quátrình đầu tư của doanh nghiệp, doanh nghiệp thu hút được vốn đầu tư từ bênngoài vào sẽ tiến hành mua sắm tài sản để tiến hành sản xuất kinh doanh Khiđầu tư vào tài sản doanh nghiệp đầu tư sao cho cơ cấu của nó phù hợp với loạihình doanh nghiệp và đặc điểm của ngành nghề kinh doanh của mình
Sự hình thành các loại tài sản khác nhau thì cần hình thành từ cácnguồn khác nhau, doanh nghiệp cần phải có chính sách đầu tư thích hợp nhằmđảm bảo an toàn trong thanh toán của doanh nghiệp Việc lựa chọn nguồnthích hợp để đầu tư cho các tài sản được đề cập trong phần quản lý tài sản lưuđộng trong doanh nghiệp
Phân loại tài sản
Có nhiều cách phân loại tài sản trong các doanh nghiệp, nhưng nếu xét
về mặt giá trị và tính chất luân chuyển của tài sản, toàn bộ tài sản của doanhnghiệp được chia thành hai loại: tài sản lưu động và tài sản cố định, mỗi mộtloại tài sản đều có hình thái vật chất khác nhau và vai trò khác nhau nhưngđều nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đểhoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp
b) Tài sản cố định
Trang 9 Khái niệm tài sản cố định
Căn cứ vào tính chất và vai trò tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệusản xuất của doanh nghiệp được chia thành hai bộ phận là tư liệu lao động vàđối tượng lao động Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu và cóđặc điểm cơ bản là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chấtkhông thay đổi từ chu kỳ sản xuất đầu tiên cho đến khi bị sa thải khỏi quátrình sản xuất Mọi tư liệu lao động là tài sản hữu hình có kết cấu độc lập,hoặc là một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thựchiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phậnnào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được
Những tư liệu lao động được coi là tài sản cố định khi đồng thời thoảmãn hai tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn về thời gian: Có thời gian sử dụng từ 1năm trở lên
- Tiêu chuẩn về giá trị: Những tài sản có giá trị từ 10triệu đồng trở lên
Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận thiết bị riêng lẻ liên kếtvới nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau vànếu thiếu một bộ phận nào đó thì cả hệ thống vẫn thực hiện được chức nănghoạt động chính của nó, nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố địnhđòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận thì mỗi bộ phận thiết bị nói trên,được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập
Những súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm thì từng con được coi là tàisản cố định, từng mảnh vườn cây lâu năm cũng được coi là tài sản cố định
Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay, khi khoa học đã trởthành một lực lượng sản xuất trực tiếp thì khái niệm về tài sản cố định cũngđược mở rộng nó bao gồm cả những tài sản cố định không có hình thái vậtchất Loại này là những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra cũng đồng thời thoả
Trang 10mãn hai tiêu chuẩn nêu trên và thường bao gồm: chi phí thành lập doanhnghiệp, chi phí về bằng phát minh sáng chế…
Phân loại tài sản cố định
Để quản lý tốt tài sản cố định trong doanh nghiệp, tài sản cố định thôngthường được phân thành các loại sau:
- Tài sản cố định phục vụ cho mục đích kinh doanh: đây là những tài sản
cố định do doanh nghiệp sử dụng cho các mục đích kinh doanh kiếmlời, bao gồm: tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình Tàisản cố định hữu hình bao gồm: nhà cửa vật kiến trúc, máy móc thiết
bị, phương tiện vận tải thiết bị truyền dẫn, thiết bị dụng cụ quản lý,các loại tài sản cố định khác…
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốcphòng
Ngoài hai loại tài sản cố định nêu trên, trong các doanh nghiệp nhànước còn có thể có loại tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhànước theo quyết định của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Vai trò của tài sản cố định trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
Hoạt động của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng không thể không cótài sản cố định Dù là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực thương mại dịch vụ, tài sản đóng vai trò không thể thiếu đốivới các doanh nghiệp nhất là khi khoa học công nghệ ngày càng phát triểnhiện nay Các doanh nghiệp ra sức hiện đại hoá tài sản cố định nhằm nâng caonăng lực sản xuất của mình
Đối với các doanh nghiệp sản xuất tài sản cố định chiếm chủ yếu trongtổng tài sản Bởi vì hoạt động sản xuất chủ yếu là sử dụng các máy móc thiết
bị để tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp nào có máy móc thiết bị đầy đủ và hiệnđại thì chất lượng sản phẩm sẽ tốt và có tính cạnh tranh cao hơn các sản phẩmkhác
Trang 11Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ,tài sản cố đinh chỉ chiếm một phần không lớn vì hoạt động của họ chủ yếu là
sử dụng tài sản lưu động, tuy nhiên vai trò của tài sản cố định cũng hết sứcquan trọng nó cũng góp phần lớn vào việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp,một doanh nghiệp không thể hoạt động bình thường nếu như không có tài sảnlưu động
c) Tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Khái niệm tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có hoạt động quản trị tài chính
đó là một trong những nội dung quan trọng của quản trị tài chính trong doanhnghiệp, hoạt động quản trị tài chính trong doanh nghiệp bao gồm nhiều mặttrong đó quản lý vốn và tài sản trong doanh nghiệp là một nội dung quantrọng và xuyên suốt Mục tiêu quan trọng nhất của quản lý vốn và tài sản làđảm bảo cho quá trình sản xuất được bình thường và đạt được hiệu quả caonhất
Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động không chỉ tham gia vàomột chu kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng đối tượng laođộng khác Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến đểhợp thành thực thể của sản phẩm như bông thành sợi, cát thành thuỷ tinh, một
số khác bị mất đi như các loại nhiên liệu Bất kỳ hoạt động sản xuất kinhdoanh nào cũng cần phải có các đối tượng lao động Lượng tiền ứng trước đểthoả mãn nhu cầu các đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanhnghiệp
Một doanh nghiệp, bất kể đó là doanh nghiệp sản xuất hay doanhnghiệp thương mại thì khi tiến hành kinh doanh đều phải cần có tài sản lưuđộng Tài sản lưu động được phân bổ trong suốt quá trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Để quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục thì doanhnghiệp cần phải có đủ tài sản lưu động Nếu không quá trình sản xuất kinh
Trang 12doanh của doanh nghiệp sẽ bị gián đoạn, làm tăng chi phí và làm quá trình sảnxuất kinh doanh bị ảnh hưởng xấu
Với những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì nhucầu về tài sản lưu động của doanh nghiệp cũng khác nhau, quy mô của tài sảnlưu động cũng ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất kinh doanh Một quy mô tài sảnlưu động phù hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động một cách bình thường
và liên tục Ngoài quy mô thì cơ cấu tài sản lưu động ảnh hưởng không kémphần quan trọng đến hoạt động của doanh nghiệp, có một cơ cấu tài sản lưuđộng hợp lý sẽ đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp giúpdoanh nghiệp giảm được chi phí cũng như nâng cao hiệu quả cho quá trìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cơ cấu về tài sản lưu động còn chobiết tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp, về khả năng thanh toán vàcác rủi ro tài chính của doanh nghiệp
Qua đây cho ta thấy rằng tài sản lưu động là hết sức quan trọng đối vớicác doanh nghiệp, vì vậy các doanh nghiệp cần phải có chế độ quản lý và sửdụng một cách khoa học và hợp lý nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụngtài sản lưu động của doanh nghiệp
Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyểntrong quá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tàisản lưu động được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanhkhoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho Giá trị các tài sản lưu động của doanhnghiệp kinh doanh, sản xuất thường chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổnggiá trị tài sản của doanh nghiệp Quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản lưuđộng có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chungcủa doanh nghiệp Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quảcủa nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ do quản trị vốn lưu động tồi Nhưngcũng cần thấy rằng sự bất lực của một số doanh nghiệp trong việc hoạch định
và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động và các khoản nợngắn hạn hầu như là một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ
Trang 13 Cơ cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp
Tài sản lưu động gồm nhiều loại với tính chất và công dụng… khácnhau, vì thế để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán cần tiến hành phân loạitài sản lưu động theo các cách khác nhau
Trước hết, theo lĩnh vực tham gia luân chuyển thành ba loại: tài sản lưu
động sản xuất, tài sản lưu động lưu thông và tài sản lưu động tài chính
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm những tài sản dự trữ cho quá trình
sản xuất( nguyên, nhiên vật liệu công cụ dụng cụ…đang dự trữ trong kho) vàtài sản trong sản xuất (giá trị sản phẩm dở dang)
Tài sản lưu động lưu thông bao gồm tài sản dự trữ cho quá trình lưu
thông (thành phẩm, hàng hoá dự trữ trong kho, hàng gửi bán), tài sản trongquá trình lưu thông (vốn bằng tiền, các khoản phải thu)
Tài sản lưu động tài chính là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với
mục đích kiếm lời (đầu tư liên doanh, đầu tư chứng khoán…)
Tiếp theo, tài sản lưu động có thể phân theo mức độ thanh khoản Theo
cách phân loại này, người ta dựa vào khả năng huy động cho việc thanh toán
để chia tài sản lưu động thành các loại sau:
- Ngân quỹ bao gồm tiền mặt tại két của doanh nghiệp, tiền gửi ngân
hàng, tiền đang chuyển Đây là khoản mục có tính thanh khoản cao nhất trongbảng cân đối kế toán Doanh nghiệp cần phải biết duy trì một mức ngân quỹtối ưu, không được ít quá sẽ đe doạ đến khả năng thanh toán của doanhnghiệp, nhưng không được quá nhiều vì như vậy sẽ rất lãng phí, gây ứ đọngvốn của doanh nghiệp
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm đầu tư chứng khoán ngắn
hạn có khả năng thanh khoản cao, đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòngđầu tư ngắn hạn Đây là tài sản có tính thanh khoản cao của doanh nghiệpnhưng vẫn có khả năng sinh lời cho doanh nghiệp hơn là việc giữ tiền mặt Khi
có nhu cầu thanh toán doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này
Trang 14- Các khoản phải thu hay còn gọi là các khoản tín dụng thương mại bao
gồm các khoản phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, thuế giá trị giatăng được khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác, khi tiến hànhsản xuất doanh nghiệp cần phải có các mối quan hệ rộng rãi nhằm tiêu thụđược sản phẩm Muốn vậy doanh nghiệp cần phải bán chịu cho các kháchhàng tin cậy nhằm tăng khách hàng đồng thời mở rộng mạng lưới tiêu thụ sảnphẩm Các khoản phải thu này cũng có thể được hình thành qua việc doanhnghiệp đặt hàng ở nhà cung cấp nhưng chưa lấy hàng về như đặt hàng nguyênvật liệu…hoặc các khoản tạm ứng cho công nhân viên chưa thu về…
- Dự trữ, tồn kho: bao gồm nguyên, nhiên vật liệu, công cụ dụng cụ,
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang hay bán thànhphẩm, thành phẩm lưu kho Các doanh nghiệp khác nhau thì khoản mục này
là khác nhau Tuy nhiên doanh nghiệp cần phải có một chế độ quản lý hết sứckhoa học và hợp lý để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục,tránh lãng phí những chi phí không cần thiết
- Tài sản lưu động khác bao gồm các khoản tạm ứng chưa thanh toán,
chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý và các khoảnthế chấp, kí cược, kí quỹ…
Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mụctrên trong tài sản lưu động của doanh nghiệp Thường các doanh nghiệp chỉ
có ba mục chính đó là : ngân quỹ, phải thu và tồn kho Và ở trong chuyên đềnày chúng ta chỉ nghiên cứu các khoản mục chủ yếu này
1.2 Quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết quản lý tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Tài sản lưu động vận động một cách liên tục, chu chuyển trong kỳ kinhdoanh nên nó tồn tại ở tất các khâu, lĩnh vực trong quá trình sản xuất và táisản xuất của doanh nghiệp Quản lý và sử dụng hợp lý các khoản mục trongtài sản lưu động có tác động rất lớn đối với việc phát triển doanh nghiệp.Doanh nghiệp cần quản lý tốt tài sản lưu động vì những lí do sau:
Trang 15- Thứ nhất, vì tài sản lưu động la những tài sản có thời gian luân chuyểnngắn và thường xuyên thay đổi, nhạy cảm với những biến đổi của thị trường,
do đó cần phải có sự quản lý sát xao nhằm giảm thiểu những thiệt hại do sựthay đổi của tài sản lưu động mang lại
- Thứ hai, Mỗi một doanh nghiệp có cơ cấu tài sản lưu động là khácnhau, việc xác định một nhu cầu tài sản lưu động sao cho phù hợp với tài sản
cố định là tốt nhất, nhằm giảm thiểu sự dư thừa và thiếu hụt tài sản của doanhnghiệp khi cần thiết Sử dụng tài sản lưu động hợp lý và tiết kiệm giúp choquá trình sản xuất kinh doanh được liên tục và không bị gián đoạn
- Thứ ba, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động có ảnh hưởng một cách trựctiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Quản lý tốt tài sảnlưu động góp phần giảm thiểu chi phí sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm củadoanh nghiệp, giảm giá thành từ đó tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm củadoanh nghiệp trên thị trường hàng hoá
Hơn nữa, việc quản lý tài sản lưu động giúp doanh nghiệp nắm bắtđược tình hình về quá trình sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp Từ
đó, có biện pháp quản lý, lập kế hoạch về việc quản lý và sử dụng tài sản lưuđộng một cách hợp lý nhất giúp cho doanh nghiệp ngày càng ổn định pháttriển
1.2.2 Nội dung quản lý tài sản lưu động
a) Xác định nguồn tài trợ hợp lý cho tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Nhìn chung tài sản lưu động có một số đặc điểm chính như sau:
+ Tài sản lưu động có thời gian luân chuyển, sử dụng, thu hồi ngắn,thường chỉ trong một chu kỳ của quá trình sản xuất kinh doanh
+ Tài sản lưu động trong quá trình sản xuất chuyển hết giá trị vào giá trịcủa sản phẩm
Do các đặc điểm trên nên nguồn tài trợ cho tài sản lưu động cũng cónhững đặc điểm để phù hợp với đặc thù của tài sản lưu động Các nguồn tàitrợ cho tài sản lưu động bao gồm:
Trang 16* Các nguồn tài trợ ngắn hạn bao gồm
- Sử dụng các nguồn vốn nhàn rỗi có trong doanh nghiệp: đó là các khoản vốnchiếm dụng của doanh nghiệp như các khoản thuế phải nộp nhưng chưa nộp,các khoản phải trả cán bộ công nhân viên nhưng chưa đến hạn trả, các khoảnđặt cọc của khách hàng hay các khoản mua chịu của doanh nghiệp
- Vay ngắn hạn ngân hàng: doanh nghiệp có thể tiến hành làm hồ sơ vay vốnngắn hạn của ngân hàng, khi hết quá trình sản xuất kinh doanh thu được tiền
sẽ trả cho ngân hàng cả gốc và lãi
- Chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ khác: khi doanh nghiệp bán chịuhàng cho đối tác sẽ nhận được thương phiếu do khách hàng Nếu cần vốn màchưa đến hạn trả của khách hàng, doanh nghiệp có thể lên ngân hàng để chiếtkhấu thương phiếu lấy một khoản tiền
* Các nguồn tài trợ dài hạn
Các nguồn tài trợ dài hạn bao gồm
- Vay trên thị trường tài chính: bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc tráiphiếu của doanh nghiệp trên thị trường tài chính Bằng cách này doanh nghiệp
sẽ có một lượng vốn dài hạn và ổn định
- Sử dụng vốn chủ sở hữu, hoặc lợi nhuận để lại: khi mới thành lậpdoanh nghiệp, doanh nghiệp nào cũng có một lượng vốn chủ nhất định, trongquá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp làm ăn có lãi có trích lợi nhuận
để lại nhằm tái sản xuất mở rộng kinh doanh Doanh nghiệp có thể sử dụngnguồn vốn này nhằm đầu tư cho tài sản lưu động của doanh nghiệp
Mỗi nguồn tài trợ trên đều có những ưu, nhược điểm riêng Nếu doanhnghiệp chọn nguồn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu động thì có ưu điểm làlãI suất chịu thấp, vốn có thể quay vòng nhanh, doanh nghiệp thoát khỏi tìnhtrạng bị ứ đọng vốn Nhưng nguồn này lại có nhược điểm là doanh nghiệp dể
bị đe doạ bởi rủi ro thanh toán khi đi chiếm dụng vốn quá nhiều, doanhnghiệp cũng dễ bị chịu rủi ro về lãi suất trên thị trường Còn nếu doanhnghiệp sử dụng nguồn dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động có ưu điểm là
Trang 17doanh nghiệp ít chịu rủi ro trong thanh toán và những thiệt hại do sự thay đổilãi suất mang lại, nhưng sử dụng nguồn này sẽ chịu chi phí cao và doanhnghiệp sẽ bị lãng phí vốn vì thường chỉ sử dụng các nguồn ngắn hạn để tài trợcho tài sản lưu động.
Do vậy khi lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản lưu động các doanh nghiệpcần phải cân nhắc xem chọn nguồn nào nhằm có lợi nhất cho doanh nghiệpcũng như phù hợp với tình hình của doanh nghiệp
b) Quản lý dự trữ, tồn kho
Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tồn tại hàng tồn kho là một điềutất yếu của bất cứ một doanh nghiệp nào Hàng hoá tồn kho có ba loại:nguyên vật liệu thô phục vụ quá trình sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang
và thành phẩm Đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường khôngthể tiến hành sản xuất đến đâu là mua hàng đến đó như vậy là quá bất tiện vàkhông đảm bảo được quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra một cáchliên tục Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó lại
có một vai trò rất lớn đối với quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành đượcbình thường Doanh nghiệp cần phải có chiến lược dự trữ một cách tối ưu đểsao cho quá trình sản xuất kinh doanh luôn được diễn ra liên tục nhưng cũngđảm bảo không gây ứ đọng hàng hoá tốn kém chi phí Nguyên vật liệu tồnkho là đầu vào của các quá trình sản xuất kinh doanh, sau khi tiến hành sảnxuất kinh doanh, vì có độ trễ giữa sản xuất và tiêu dùng, nên trong doanhnghiệp tồn kho một lượng thành phẩm nhất định, nhất là những doanh nghiệpsản xuất mang tính thời vụ có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ,tồn kho sản phẩm là rất lớn
Có nhiều phương pháp quản lý hàng tồn kho nhưng ở đây chúng ta chỉ
đề cập đến một số các phương pháp như sau:
1 Quản lý hàng tồn kho theo phương pháp cổ điển- EOQ
Mô hình được giả định những lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau Khidoanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng hoá sẽ kéo theo hàng loạt các chi phí như
Trang 18chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm… nhưng nóichung có hai loại chi phí chính:
- Chi phí lưu kho: đây là những chi phí liên quan tới việc tồn trữ hànghoá bao gồm chi phí hoạt động (chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểmhàng hoá, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản…); chi phí tài chính (trảlãi tiền vay, chi phí về thuế, khấu hao…)
Gọi Q là số lượng mỗi lần cung ứng hàng hoá thì dự trữ trung bình sẽ là Q/2.Gọi C1 là chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá thì tổng chi phí lưu kho củadoanh nghiệp là
- Chi phí đặt hàng (chi phí hợp đồng): bao gồm chi phí quản lý giao dịch
và vận chuyển hàng hoá Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổnđịnh không phụ thuộc vào số lượng hàng hoá được mua
Nếu gọi D là toàn bộ lượng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thờigian( tháng, quý, năm) thì số lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q Gọi C2
là chi phí mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là:
Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hoá, ta có
2
C DC
Q
C1x 2
D
C2x Q
Q D TC= C1x + C2x
2 Q
Trang 19+ Điểm đặt hàng mới: trong thực tiễn hoạt động hầu như không có doanhnghiệp nào đến khi nguyên vật liệu hết rồi mới đặt hàng Nhưng nếu như đặthàng quá sớm thì sẽ làm tăng lượng hàng tồn kho tốn kém chi phí Do vậy,các doanh nghiệp cần phải xác định điểm đặt hàng mới Thời điểm đặt hàngmới được xác định bằng số lượng nguyên liệu sử dụng mỗi ngày nhân(x) với
độ dài của thời gian giao hàng
+ Lượng dự trữ an toàn: nguyên vật liệu sử dụng mỗi ngày là luôn biếnđổi, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ hoặc sảnxuất những hàng hoá nhạy cảm với thị trường Do đó, để đảm bảo cho sự ổnđịnh của sản xuất, doanh nghiệp cần phải duy trì một lượng hàng hoá tồn kho
an toàn Lượng dự trữ an toàn hoàn toàn tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể củadoanh nghiệp Lượng dự trữ an toàn là lượng hàng hoá dự trữ thêm vào lượng
dự trữ tại thời điểm đặt hàng
2 Phương pháp cung cấp đúng lúc (dự trữ = 0)
Theo phương pháp này, các doanh nghiệp có trong một số ngành nghề cóliên quan chặt chẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ, khi có mộtđơn đặt hàng nào đó họ sẽ tiến hành “hút” những hàng hóa và sản phẩm dởdang của các đơn vị khác mà họ không cần phải dự trữ Sử dụng phương phápnày sẽ làm giảm tới mức thấp nhất chi phí lưu kho Tuy nhiên, đây chỉ làphương pháp quản lý được áp dụng trong một số loại dự trữ nào đó của doanhnghiệp và phải kết hợp với các phương pháp quản lý khác
c) Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản
Lợi thế của việc giữ tiền mặt
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán củadoanh nghiệp ở ngân hàng Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vậtliệu, mua tài sản cố định…
Tiền mặt là một khoản không mang lại lãi cho doanh nghiệp, vì vậy quản
lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quantrọng nhất Việc giữ một lượng tiền mặt trong doanh nghiệp là hết sức cầnthiết bởi vì: có tiền mặt doanh nghiệp mới đảm bảo khả năng giao dịch hàng
Trang 20ngày của doanh nghiệp, nó bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấpcác dịch vụ cho doanh nghiệp, nó đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trườnghợp biến động không lường trước được của các luồng tiền vào và ra, có mộtlượng tiền mặt đủ lớn trong doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp hưởng lợithế trong việc thương lượng khi mua hàng.
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việc giữ tiền mặt trongdoanh nghiệp có lợi thế sau: khi doanh nghiệp mua hàng hoá dịch vụ có thểđược hưởng lợi thế chiết khấu, giúp doanh nghiệp duy trì tốt các chỉ số thanhtoán ngắn hạn, giúp doanh nghiệp tận dụng được những cơ hội thuận lợi trongkinh doanh, giúp doanh nghiệp có thể ứng phó với các nhu cầu khẩn cấp…
Trang 21Từ mụ hỡnh trờn và mụ hỡnh quản lý dự trữ EOQ cho chỳng ta một cỏchnhỡn tổng quỏt trong quản lý tiền mặt bởi vỡ cũng như cỏc tài sản khỏc, tiềnmặt là một loại hàng hoỏ nhưng đõy là hàng hoỏ đặc biệt- một tài sản cú tớnhlỏng nhất.
Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu theo mụ hỡnh EOQ là:
M* =
i
C
M n. b.
2
M*: tổng mức tiền mặt giải ngõn hàng năm
Cb: chi phớ cho một lần bỏn chứng khoỏn thanh khoản
i: lói suất
d) Quản lý cỏc khoản phải thu
+ Phõn tớch tớn dụng khỏch hàng: để thắng lợi trong hoạt động kinhdoanh trờn thị trường, cỏc doanh nghiệp cú thể sử dụng chiến lược về chấtlượng sản phẩm, về quảng cỏo, về giỏ cả…tuy nhiờn trong nền kinh tế thịtrường, việc mua bỏn chịu là một việc khụng thể thiếu, tớn dụng thương mạigiỳp doanh nghiệp đứng vững trờn thị trường nhưng cú thể mang đến nhữngrủi ro cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tớn dụng thương mại tỏcđộng đến doanh thu bỏn hàng, làm cho doanh thu bỏn hàng tăng lờn, tớn dụngthương mại làm giảm chi phớ tồn kho của doanh nghiệp, làm cho việc sử dụng
Đầu t tạm thời bằng cách mua chứng khoán có tính thanh khoản cao
Các chứng khoán thanh khoản cao
Dòng thu tiền mặt
Bán những chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt
Dòng chi tiền mặt Tiền mặt
Trang 22tài sản cố định trở nên hiệu quả hơn, hoạt động tín dụng thương mại có thểlàm tăng chi phí trong hoạt động của doanh nghiệp,…
Xác suất không trả tiền của người mua làm cho lợi nhuận bị giảm, nếuthời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng lớn, với các tác động nêu trênbuộc các nhà quản lý các khoản phải thu một cách chặt chẽ hơn
Để thực hiện việc cấp tín dụng với khách hàng thì các nhà quản lý phảiphân tích khả năng tín dụng của khách hàng Khi thực hiện phân tích khảnăng tín dụng của khách hàng, người ta có thể sử dụng các chỉ tiêu sau đểphán đoán như: phẩm chất, tư cách tín dụng, năng lực trả nợ của khách hàng,các khoản thế chấp, về khả năng vốn của khách hàng, các điều kiện về kinh tếkhác…
+ Phân tích các khoản tín dụng được đề nghị: cũng như rất nhiều sự phântích lựa chọn khác, việc phân tích đánh giá khoản tín dụng thương mại được
đề nghị để quyết định nên cấp hay không được dựa vào việc tính NPV củakhách hàng
+ Theo dõi các khoản phải thu: để quản lý các khoản phải thu, các nhàquản lý phải theo dõi các khoản phải thu, trên cơ sở đó có thể thay đổi chínhsách tín dụng thương mại kịp thời Thông thường người ta dựa vào các chỉtiêu, phương pháp, mô hình sau:
- Kỳ thu tiền bình quân
- Sắp xếp “tuổi” các khoản phải thu: theo phương pháp này các nhà quản
lý sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thời gian để tiện theo dõi và có biệnpháp thu nợ khi đến hạn
- Xác định số dư các khoản phải thu: theo phương pháp này, các khoảnphải thu sẽ không phải chịu ảnh hưởng của yếu tố thay đổi theo mùa vụ của
C¸c kho¶n ph¶i thu
Kú thu tiÒn b×nh qu©n=
Doanh thu tiªu thô b×nh qu©n 1 ngµy
Trang 23doanh số bán Sử dụng phương pháp này doanh nghiệp có thể thấy được hoàntoàn nợ tồn đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp Cùng với cách theo dõikhác, người quản lý có thể thấy được sự ảnh hưởng của các chính sách tàichính nói chung và chính sách tín dụng thương mại nói riêng.
1.3 Vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp
a) Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh
tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn, tài sản của doanhnghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích
và tối thiểu hoá chi phí
Một doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêutối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu Muốn vậy doanh nghiệp cần phải làmtốt công tác quản lý doanh nghiệp, trong đó quản lý tài sản lưu động là mộttrong những mảng hết sức quan trọng, không những là đem lại lợi ích chodoanh nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội Việc nâng cao hiệuquả sử dụng tài sản lưu động là hết sức cần thiết vì:
- Nó sẽ đảm bảo khả năng linh hoạt về tài chính, nâng cao tính tự chủ vàgiảm bớt rủi ro trong kinh doanh cho doanh nghiệp Việc nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản lưu động làm cho tài sản lưu động được quay vòng nhanh dẫnđến tiết kiệm cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có vốn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ tự chủ không phụ thuộc vào các nguồn tàitrợ từ bên ngoài, việc sử dụng linh hoạt nguồn vốn sẽ làm giảm thiểu các rủi
ro của doanh nghiệp
- Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động sẽ tạo ra sự an toàn chodoanh nghiệp, đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp bất kỳ lúc nào.Việc quản lý tài sản lưu động tốt sẽ tạo ra cho doanh nghiệp một cơ cấu tàisản hợp lý, doanh nghiệp sẽ duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình
Trang 24thường, liên tục, tránh ứ đọng vốn, giảm thiểu chi phí và đảm bảo khả năngthanh toán cho doanh nghiệp.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động cũng là tăng cường sự gắn
bó của doanh nghiệp với thị trường, góp phần thực hiện các mục tiêu xã hộicần thiết như bảo vệ và thoã mãn các nhu cầu của các thành viên trong xã hội
về thu nhập, công việc…
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là một phạm trù kinh tế phản ánh tìnhhình sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhấttrong kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất
b) Biểu hiện của hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Qua định nghĩa trên cho ta thấy khả năng sử dụng tiết kiệm, hợp lý tàisản lưu động của doanh nghiệp càng cao và càng tăng so với mức sử dụng củadoanh nghiệp kỳ trước Việc sử dụng tiết kiệm tài sản lưu động chỉ là một chỉtiêu cần được xem xét khi tính hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, vì nó giúpdoanh nghiệp giảm chi phí, không phải tài trợ thêm cho tài sản lưu động khi
mở rộng quy mô Hơn nữa, tốc độ luân chuyển càng cao của tài sản lưu độngtrong quá trình sản xuất thì khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp rất cao,giúp doanh nghiệp tái sản xuất, chớp lấy cơ hội kinh doanh Doanh nghiệpcần phải sử dụng tài sản lưu động sao cho nó đem lại lợi nhuận cao cho doanhnghiệp
Ngoài ra hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp còn là việcdoanh nghiệp có một cơ cấu tài sản lưu động hợp lý cùng với một kết cấu tối
ưu của tài sản lưu động
1.3.2 Các chỉ tiêu nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp
1.3.2.1 Hai phương pháp chính sử dụng đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Trang 25Trong phân tích tài chính có rất nhiều phương pháp để tiến hành đánh giá,đối với việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động có hai phương phápchủ yếu hay được sử dụng đó là: phương pháp so sánh và phương pháp tỷ số.a) Phương pháp so sánh
Đây là một phương pháp được sử dụng hết sức phổ biến không chỉ tronglĩnh vực quản lý tài chính Và khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu độngcác nhà quản lý cũng rất hay sử dụng phương pháp này Khi sử dụng phươngpháp này người ta phải lựa chọn các tiêu chuẩn, các căn cứ được sử dụng để
so sánh Các tiêu chuẩn này được lựa chọn tuỳ thuộc vào mục đích nghiêncứu của doanh nghiệp Các nhà quản lý có thể sử dụng một số tiêu chuẩn nhưsau:
Có thể lấy tài liệu của các năm trước, kỳ trước làm tiêu chuẩn để so sánh,tiêu chuẩn này dùng để đánh giá sự phát triển của các chỉ tiêu được chọn lựa.Hoặc doanh nghiệp có thể lấy những con số dự kiến trong tương lai để sosánh với hiện tại nhằm đánh giá việc thực hiện các định mức của doanhnghiệp
Doanh nghiệp có thể sử dụng các con số mang tính quy chuẩn làm căn
cứ để so sánh như các chỉ tiêu trung bình ngành, khu vực kinh doanh … nhằmđánh giá vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
Doanh nghiệp muốn sử dụng phương pháp này để đánh giá hiệu quả sửdụng tài sản lưu động thì phải sử dụng đồng nhất các chỉ tiêu để đánh giá Khiđánh giá các chỉ tiêu kinh tế cần phải quan tâm đến cả thời gian và khônggian Về thời gian các chỉ tiêu được dùng để so sánh phải được thống nhất vềnội dụng kinh tế, cùng một phương pháp tính toán và cùng một đơn vị đolường Về không gian các chỉ tiêu cần phải đưa về cùng một quy mô và điềukiện như nhau để so sánh
Thông thường có các kỹ thuật so sánh như sau:
Trang 26- So sánh bằng số tuyệt đối: người ta tiến hành so sánh số tuyệt đối của
kỳ này so với kỳ trước hay cùng với một chỉ tiêu khác, việc so sánh bằng sốtuyệt đối chỉ cho thấy được sự khác nhau về quy mô giữa các chỉ tiêu mà thôi
- So sánh bằng số tương đối: tức là ta chia trị số của các chỉ tiêu chonhau để thấy được mối quan hệ và tốc độ phát triển của chỉ tiêu cần đượcphân tích
So sánh bằng số bình quân của chỉ tiêu cần được phân tích: so sánh nàycho phép thấy được đặc điểm chung nhất của chỉ tiêu đang được nghiên cứu Mỗi một kỹ thuật so sánh đều có những đặc điểm và ưu điểm riêng phùhợp với từng mục tiêu nghiên cứu Vì vậy doanh nghiệp cần cân nhắc để lựachọn chỉ tiêu cho phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp
Khi thực hiện phương pháp so sánh để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sảnlưu động trong doanh nghiệp, nhà quản lý có thể dùng một số phương pháp sosánh chủ yếu đó là:
- Phương pháp so sánh theo chiều dọc: tức là so sánh trị số của các chỉtiêu khác nhau nhưng có mối quan hệ với nhau Cách so sánh này cho thấyđược tầm quan trọng của các khoản mục trong một mối ràng buộc sẵn có
- Phương pháp so sánh theo chiều ngang: là so sánh trị số của cùng mộtchỉ tiêu nhưng giữa các kỳ khác nhau Cách so sánh này cho phép thấy được
sự biến động của chỉ tiêu qua các giai đoạn khác nhau
Các phương pháp so sánh này rất hay được sử dụng trong việc phân tíchcác báo cáo tài chính như: báo cáo kết quả kinh doanh, phân tích bảng cân đối
kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ…
b) Phương pháp tỷ số
Phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến là phương pháp tỷsố.Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng đểphân tích Đó là các chỉ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêukhác Đây là phương pháp có tính hiện thực cao sao với các điều kiện áp dụngngày càng được bổ sung và hoàn thiện Bởi lẽ, nguồn thông tin kế toán và tài
Trang 27chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủ hơn Đó là cơ sở để hình thànhcác tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ số của doanh nghiệp.Hơn nữa, việc áp dụng một công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu vàthúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số; phương pháp phân tíchnày giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích mộtcách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từnggiai đoạn.
Phương pháp phân tích giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quảnhững số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt các tỷ số theochuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
Về nguyên tắc với phương pháp tỷ số, cần xác định được các các tỷ số tham chiếu Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệpcần so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu
ngưỡng-Như vậy, phương pháp so sánh luôn được sử dụng kết hợp với cácphương pháp phân tích tài chính khác Khi phân tích, nhà phân tích thường sosánh theo thời gian, để nhận biết xu hướng thay đổi của biến cần được phântích chẳng hạn xem tình hình sử dụng tài sản lưu động năm nay có hiệu quảhơn năm trước hay không… hoặc theo không gian để đánh giá vị thế củadoanh nghiệp trong ngành
1.3.2.2 Một số nhóm chỉ tiêu chính đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp có rấtnhiều chỉ tiêu, nhưng nhìn chung khi tiến hành phân tích, các nhà phân tíchchủ yếu chỉ sử dụng một số các chỉ tiêu cơ bản Các chỉ tiêu được chia thànhcác nhóm chủ yếu như sau:
a) Nhóm tỷ số phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Trang 28Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng cáckhoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh công ty luôn phát sinh các khoảnthu chi và thanh toán, trả nợ Yếu tố quyết định khả năng trả nợ của công ty làtính thanh khoản của các tài sản trong công ty Một tài sản có tính thanhkhoản nếu nó dễ dang chuyển sang thành tiền- hay tính thanh khoản của mỗitài sản chính là khả năng chuyển tài sản thành tiền, đựơc đo bằng thời gian vàchi phí Thời gian và chi phí để chuyển tài sản thành tiền càng cao thì tínhthanh khoản của tài sản càng thấp và ngược lại Tính thanh khoản của một tàisản phản ánh rủi ro khi chuyển tài sản thành tiền mặt trong khoảng thời giannhất định Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, một tài sản muốn bán nhanh thìchi phí lại rất lớn Điều này cho thấy tính thanh khoản của một tài sản phụthuộc vào nhiều yếu tố có thể thay đổi theo thời gian giữa các vùng, các nước
Vì khả năng thanh toán của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào khảnăng thanh toán của các tài sản nên để đo khả năng thanh khoản của các tàisản chúng ta sử dụng các chỉ tiêu:
Tỷ số về tỷ trọng các khoản phải thu trong tài sản lưu động (K1 )
Ta có:
Tỷ số này lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp, nhưngnếu nó quá lớn thì tính thanh khoản của tài sản không cao do có thể các khoảnphải thu khó đòi do đó sẽ đe doạ đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tỷ lệ cân đối các phải thu khách hàng so với các khoản phải trả ngườibán (K2 )
Ta có:
Ph¶i thu kh¸ch hµngK
2 = x100
C¸c kho¶n ph¶i thu
K1 = x100 Tæng tµi s¶n
Trang 29Thường K2 <= 100 là tốt nhất vỡ khi đú cú sự tương ứng giữa nhữngkhoản phải thu khỏch hàng và cỏc khoản phải trả người bỏn của doanh nghiệp.Khi đú cú sự tương ứng giữa phần vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng với phầnvốn doanh nghiệp đi chiếm dụng của người khỏc.
Nếu K2 >100 khi đú tỡnh hỡnh tài chớnh của doanh nghiệp khỏ bất ổn, ảnhhưởng đến khả năng thanh toỏn của doanh nghiệp, vỡ khi đú cỏc khoản phảithu khỏch hàng vượt quỏ khoản phải trả người bỏn của doanh nghiệp, đe doạđến khả năng thanh toỏn cỏc khoản nợ khi đến hạn vỡ khi này tài sản lưu độngchủ yếu là cỏc khoản phải thu Lỳc này doanh nghiệp cần cú biện phỏp nhằmgiảm cỏc khoản phải thu hoặc tăng tớnh thanh khoản của chỳng nhằm ổn địnhkhả năng thanh toỏn của doanh nghiệp
Cỏc tỷ số này nhằm đỏnh giỏ tớnh thanh khoản của tài sản, qua đú chothấy khả năng thanh toỏn của doanh nghiệp
Để thấy được khả năng thanh toỏn của doanh nghiệp chỳng ta sử dụngnhúm cỏc chỉ tiờu như sau:
Tỷ số về khả năng thanh toỏn hiện hành (K3 )
Ta cú:
Trong đú:
Nợ ngắn hạn = Vay ngắn hạn + Nợ dài hạn đến hạn trả + Phải trả chongười bỏn + Người mua trả tiền trước + Thuế và cỏc khoản phải nộp cho NhàNước + Phải trả cụng nhõn viờn + …
Tỷ số về khả năng thanh toỏn hiện hành của doanh nghiệp là thước đokhả năng thanh toỏn ngắn hạn của doanh nghiệp Nú cho biết mức độ cỏckhoản nợ của cỏc chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng cỏc tài sản cú thể
Tổng tài sản l u động K
3 = x100
Nợ ngắn hạn
Trang 30chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của cáckhoản nợ đó.
K3 = 2 là tốt nhất vì khi đó các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệpđược đảm bảo bàng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
K3 < 2 phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp kém, doanhnghiệp không có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ khi đến hạn
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh (K4 )
Ta có:
Tài sản quay vòng nhanh = Tiền + Chứng khoán ngắn hạn + Phải thu
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo khả năng thanh toán cáckhoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp mà không phụ thuộc vào việc bán tàisản là dự trữ, tồn kho
K4 = 1 là tốt nhất khi đó doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao
K4 < 1 phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp kém
Khả năng thanh toán tức thời (K5)
K5 <50 phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp là kém
Tµi s¶n quay vßng nhanhK
Trang 31K5 >50 phản ánh doanh nghiệp dự trữ tiền quá nhiều là không tốt vì như vậy
sẽ ứ đọng vốn của doanh nghiệp
Đây là một số các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp.Qua đó cho ta thấy doanh nghiệp có bị đe doạ bởi khả năng thanh toán không.Nhưng những tỷ số này chỉ là những công cụ đo lường một cách đơn giản vàphỏng đoán bởi vì:
Nó chuyển đổi một số nghĩa vụ tài chính chẳng hạn như các khoảnphải trả, nhưng lại không có liên quan gì đến rủi ro phá sản của công ty nếu cómức sinh lời tối thiểu
Hơn nữa, trừ khi công ty có ý định rút lui khỏi thị trường, không cònkinh doanh nữa, thì phần lớn tiền mặt do bán tài sản lưu động không phảidùng để giảm các khoản nợ mà nó được sử dụng để tái đầu tư tiếp tục mởrộng sản xuất kinh doanh
b) Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động( luân chuyển) của tài sản lưu động
Các khoản mục trong tài sản lưu động luôn được luân chuyển một cáchthường xuyên nhằm mang lại lợi nhuận, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp
Để đo khả năng hoạt động của các khoản mục trong tài sản lưu động ta sửdụng một số các tỷ số chủ yếu như sau:
Số vòng quay hàng tồn kho (K6)
Ta có:
Chúng ta cũng có thể tính số vòng quay hàng tồn kho theo công thức:
Tỷ số này cho biết số lần hàng tồn kho được luân chuyển trong kỳ Chỉtiêu này càng lớn thì càng tốt vì khi hàng tồn kho được luân chuyển nhanhnhất thì sẽ giảm chi phí và giảm rủi ro cho doanh nghiệp Vì nếu tỷ số nàynhỏ thì khi ấy doanh nghiệp sẽ dự trữ nhiều hàng hoá, nguyên nhiên vật
Gi¸ vèn hµng b¸nK
6 = x100 Hµng tån kho b×nh qu©n trong kú
Doanh thuK
6= x100 Hµng tån kho b×nh qu©n trong kú
Trang 32liệu… khi đó doanh nghiệp sẽ rất tốn chi phí lưu kho, hơn nữa điều này chứng
tỏ hàng hoá của doanh nghiệp bị ứ đọng quá nhiều không luân chuyển Quachỉ tiêu này giúp các nhà quản lý doanh nghiệp có thể có biện pháp nhằm đẩynhanh quá trình luân chuyển hàng tồn kho đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp
Số ngày tồn kho bình quân( K7)
Ta có:
Số ngày tồn kho bình quân cho biết một lần luân chuyển của hàng tồnkho trung bình hết bao nhiêu ngày Tỷ số này càng nhỏ thì càng tốt, vì sốngày luân chuyển của hàng tồn kho càng nhỏ chứng tỏ hàng tồn kho luânchuyển được càng nhanh, có lợi cho doanh nghiệp
Kỳ thu tiền bình quân( K8)
Ta có:
Kỳ thu tiền bình quân hay thời gian thu tiền là số ngày của một vòngquay của các khoản phải thu, tỷ số này sử dụng để đánh giá việc quản lý củacông ty đối với các khoản phải thu của mình
Vì đây là chỉ tiêu để đánh giá về các khoản phải thu nên doanh thu bìnhquân ở đây nên sử dụng đó là doanh thu bán chịu bình quân của doanh nghiệpmới chính xác ở đây ta coi toàn bộ doanh thu được tạo ra bởi doanh nghiệp là
do bán chịu hàng hoá
Tỷ số này cho biết cứ trung bình K8 ngày thì doanh thu bán chịu ở cáckhoản phải thu mới được thanh toán, hay K8 là thời gian trung bình từ lúc bánđược hàng cho đến lúc nhận được tiền
Trang 33Ta có:
Tỷ số này được xác định bằng cách chia doanh thu trong năm cho tổng
số tiền và các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao Tỷ số này chobiết số vòng quay tiền trong 1 năm, nếu tỷ số này càng lớn chứng tỏ trong 1năm tài sản lưu động của doanh nghiệp quay được nhiều vòng hơn và doanhnghiệp sử dụng tài sản lưu động hiệu quả hơn
Thời gian vòng quay tiền (K10)
Ta có:
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để tiền chu chuyển được mộtvòng Chỉ tiêu này càng thấp thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lưu độnglại càng cao và ngược lại
Số vòng quay các khoản phải thu (K11)
Ta có:
Qua đây ta có thể tính kỳ thu tiền bình quân qua công thức:
Tuy nhiên hình thức tính kỳ thu tiền bình quân cho biết nhiều thông tinhơn so với chỉ tiêu số vòng quay các khoản phải thu, do nó có thể so sánhthời gian thu tiền của doanh nghiệp với điều kiện bán chịu của công ty đó
Doanh thu thuÇn (doanh thu b¸n chÞu)
K
11 = x100 Kho¶n ph¶i thu
Tæng sè ngµy trong kú kinh doanh
Kú thu tiÒn b×nh qu©n = x100
Sè vßng quay c¸c kho¶n ph¶i thu
Trang 34 Số ngày bỏn hàng để tạo quỹ tiền mặt (K12)
Ta cú:
Ta khú cú thể xỏc định tỷ số này là bao nhiờu là phự hợp vỡ cỏc cụng tyluụn cần phải cú một lượng tiền mặt tối thiểu để thuận tiện khi giao dịch kinhdoanh và đụi khi cần phải cú một lượng tiền đủ lớn để cõn đối với việc thanhtoỏn cỏc khoản nợ tới hạn của khỏch hàng, ngõn hàng, đối tỏc Ngoài ra cỏcchứng khoỏn ngắn hạn là nguồn thanh khoản quan trọng của cụng ty trong cỏctrường hợp khẩn cấp Do đú, vấn đề xỏc định cụng ty cần phải cú bao nhiờutiền mặt tồn quỹ lại liờn quan đến vấn đề rộng lớn hơn đú là làm thế nào để cútớnh thanh khoản là tốt nhất
Vũng quay tài sản lưu động (K13)
Ta cú:
Chỉ tiờu này cho biết mỗi đơn vị tài sản lưu động sử dụng trong kỳ đemlại bao nhiờu đơn vị doanh thu thuần, chỉ tiờu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất
sử dụng tài sản lưu động càng cao
Kỳ luõn chuyển tài sản lưu động (K14)
Ta cú:
Tiền mặt + chứng khoán ngắn hạn
K
12 = x100
Doanh thu bình quân một ngày
Tài sản l u động Tổng tài sản l u động bình quân các quý trong năm
sử dụng bình quân =
trong kỳ Số quý trong năm
Thời gian của kỳ phân tích
K14 =
Số vòng quay của TSLĐ trong kỳ
Doanh thu thuần trong kỳ
K13 = x 100
TSLĐ bình quân trong kỳ
Trang 35Là số ngày bỡnh quõn cần thiết để tài sản lưu động thực hiện một vũngquay trong kỳ Với thời gian phõn tớch được quy ước là một năm tương ứngvới 360 ngày, một quý tương ứng với 90 ngày, một thỏng tương ứng với 30ngày Thời gian của một vũng luõn chuyển càng nhỏ thỡ tốc độ luõn chuyểncàng lớn, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao Chỉ tiờu này phản ỏnh
sự phỏt triển của trỡnh độ quản lý và sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
c) Nhúm cỏc tỷ số phản ỏnh hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong
doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, vỡ sử dụng tài sản lưu động khụng hiệuquả sẽ dẫn đến lóng phớ và gõy rủi ro cho doanh nghiệp Để đo hiệu quả sửdụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp cú một số chỉ tiờu sau:
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động- hay khả năng sinh lời của tàisản lưu động (K15)
Ta cú:
Chỉ tiờu này phản ỏnh khả năng sinh lời của tài sản lưu động Nú cho biếtmỗi đơn vị tài sản lưu động sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiờu đơn vị lợinhuận sau thuế
Mức đảm nhiệm tài sản lưu động (K16)
Ta cú:
Lợi nhuận sau thuếK
15 = x100
Tài sản l u động bình quân trong kỳ
Tài sản l u động sử dụng bình quân trong kỳ
K
16 = x100
Doanh thu thuần
Trang 36Tỷ số này cho biết để đạt mỗi đơn vị doanh thu doanh nghiệp cần phải
sử dụng bao nhiêu đơn vị tài sản lưu động Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quảkinh tế càng cao
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Tình hình sử dụng tài sản lưu động ở các doanh nghiệp khác nhau làkhác nhau Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động còn bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố cả ở bên trong và bên ngoài Ta có thể xét các nhân tố thành hai nhóm chủyếu sau:
Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có một cơ cấu riêng về tài sản sao cho
nó là phù hợp nhất cho sự phát triển của doanh nghiệp Sự cân đối giữa tỷtrọng tài sản lưu động với tài sản cố định sẽ thúc đẩy quá trình phát triển củadoanh nghiệp đồng thời nó cũng có tác động lớn đến hiệu quả sử dụng tài sảnlưu động của doanh nghiệp
Nếu trong doanh nghiệp lượng tài sản lưu động quá nhiều so với nhucầu của doanh nghiệp, trong khi đó tài sản cố định thì không đủ cho hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra một cách bình thường, điều nàycũng sẽ làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, dễgây ứ đọng tài sản lưu động tốn kém chi phí lưu kho, nhưng cũng không đảmbảo hoạt động sản xuất kinh doanh khi không có đủ tài sản lưu động cho hoạtđộng kinh doanh
Nếu tài sản lưu động quá ít không đủ cho hoạt động kinh doanh, tài sản
cố định quá nhiều sẽ dẫn đến dư thừa tài sản cố định, như vậy doanh nghiệp
Trang 37sẽ gây ra lãng phí nguồn vốn khi đầu tư vào tài sản cố định làm ứ đọng vốncủa doanh nghiệp.
Nói tóm lại, một sự đầu tư không hợp lý vào cả tài sản lưu động hay tàisản cố định cũng có thể gây ra tình trạng ứ đọng hay thiếu hụt cho doanhnghiệp, cả hai trường hợp đều không tốt vì không đảm bảo hoạt động chodoanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp cần phải có chính sách đầu tư một cáchhợp lý nhất để tiết kiệm được tiền nhưng cũng phải đảm bảo cho hoạt độngsản xuất kinh doanh được diễn ra một cách bình thường và liên tục
Các nhân tố thuộc về trình độ quản lý của doanh nghiệp
Việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động là hết sức cần thiết đòi hỏi trình
độ cán bộ phải hiểu biết và có chuyên môn cao trong lĩnh vực quản lý Quản
lý và sử dụng tài sản lưu động phải được lập kế hoạch và thực hiện một cáchđồng bộ và khoa học, kế hoạch quản lý và sử dụng tài sản lưu động phải đượclập một cách tỉ mỉ và phải phù hợp với tình hình hiện tại của doanh nghiệp.Trong quá trình sử dụng tài sản lưu động cần phải quản lý sao cho không bịlệch kế hoạch cũng như phù hợp với tình hình phát triển kinh doanh củadoanh nghiệp Vì vậy trình độ quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng quyếtđịnh tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Các yếu tố thuộc về trình độ nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một nhân tố quan trọng chính trong bất cứ doanhnghiệp nào Đó là một trong những nhân tố quyết định trong quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Trình độ của nguồn nhân lực được đobằng trình độ lành nghề, học vấn, kinh nghiệm, hiểu biết… trình độ nguồnnhân lực vì thế cũng là một nhân tố hết sức quan trọng quyết định hiệu quả sửdụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp Bởi vì, những cán bộ công nhântrong doanh nghiệp là những người trực tiếp quản lý và sử dụng tài sản lưuđộng, nếu nguồn nhân lực không có trình độ hoặc trình độ kém, tay nghề kém
sẽ dẫn đến việc sử dụng tài sản lưu động không đúng hoặc gây lãng phí làmgiảm hiệu quả sử dụng tài sản lưu động và làm cho hiệu quả sản xuất kinh
Trang 38doanh giảm Vì vậy doanh nghiệp cần phải có chính sách nhằm đài tạo vàphát triển hơn nữa trình độ của cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp,không chỉ vì mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động mà còn vìmục đích phát triển doanh nghiệp.
Trình độ công nghệ và khoa học kỹ thuật
Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trên thế giới
đã buộc doanh nghiệp phải thay đổi cả về máy móc, thiết bị, trình độ quản lýcũng như nguồn nhân lực nhằm bắt kịp với sự phát triển của các quốc gia trênthế giới
Do vậy, trình độ quản lý và sử dụng tài sản lưu động trong các doanhnghiệp cũng thường xuyên phải thay đổi nhằm cho phù hợp với sự phát triểncủa khoa học Các doanh nghiệp cần phải đầu tư mua sắm máy móc thiết bịhiện đại, các công nghệ hữu ích nhằm phục vụ cho quá trình phát triển củadoanh nghiệp nói chung và để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động củadoanh nghiệp nói riêng Đây là một đòi hỏi hết sức cần thiết đối với doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Ảnh hưởng của ngành nghề kinh doanh đến hiệu quả sử dụng tàisản lưu động trong doanh nghiệp
Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp cũng là nhân tố ảnh hưởng hếtsức sâu sắc tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp Nhìnchung có thể chia các doanh nghiệp ra thành các doanh nghiệp hoạt độngtrong các ngành công nghiệp nặng, các doanh nghiệp hoạt động trong cácngành công nghiệp nhẹ và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thươngmại dịch vụ
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì sẽ cónhu cầu về tài sản lưu động là khác nhau, do đó hoạt động quản lý và sử dụngtài sản lưu động cũng là khác nhau Đối với các doanh nghiệp hoạt động trongngành công nghiệp nặng thì nhu cầu về tài sản lưu động của họ không cao, chỉchiếm khoảng 20- 30% trong tổng tài sản của doanh nghiệp Còn đối với các
Trang 39doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp nhẹ thì nhu cầu về tàisản lưu động của họ là trung bình khoảng 50% tổng tài sản của doanh nghiệp.Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ là có nhu cầu
về tài sản lưu động là nhiều nhất, chiểm khoảng 70- 80% tổng tài sản củadoanh nghiệp Như vậy, đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau cầnphải có một chế độ sử dụng và quản lý tài sản lưu động cho phù hợp với đặcthù hoạt động của doanh nghiệp mình có như vậy mới có thể nâng cao hơnnữa hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong các doanh nghiệp
b) Nhóm các nhân tố khách quan
Là các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp tác động vào làm ảnh hưởng tớihiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp Các yếu tố đó bao gồm:
Các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế
Nền kinh tế khi vận hành luôn mang trong nó sự biến đổi và rất nhiềunhững rủi ro tiềm ẩn Sự thay đổi thường xuyên của các biến số kinh tế nàyluôn đặt doanh nghiệp trước nguy cơ phá sản nếu không có biện pháp ứng phókịp thời Các biến số chủ yếu trong nền kinh tế thay đổi đó là:
- Lạm phát: khi nền kinh tế xảy ra tình trạng lạm phát tức là hiện tượng mấtgiá của đồng tiền, làm cho giá cả hàng hoá, nguyên vật liệu tăng nhanh vàbiến động không ngừng, khi đó doanh nghiệp cần phải có những chính sáchđối với quản lý tài sản lưu động sao cho việc các biến số kinh tế thay đổikhông làm ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp
- Các biến động về cung cầu hàng hoá trên thị trường: các biến động này làmcho giá cả các mặt hàng thay đổi, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải cóbiện pháp quản lý sao cho giá cả của sản phẩm sản xuất ra đáp ứng một cáchtốt nhất nhu cầu của thị trường mà không làm cho giảm chất lượng của sảnphẩm
- Sự thay đổi về chính sách kinh tế của Nhà nước: để điều hành nền kinh tế,Nhà nước có rất nhiều các chính sách nhằm ổn định hoạt động sản xuất kinh
Trang 40doanh của các doanh nghiệp Khi đó các doanh nghiệp cần phải có nhữngchính sách nhằm bắt kịp với sự thay đổi đó nhằm đảm bảo sự phát triển củadoanh nghiệp.
- Sự thay đổi của lãi suất trên thị trường: điều này làm cho việc sử dụng vốncủa doanh nghiệp sẽ trở nên đắt đỏ hơn, vì vậy doanh nghiệp cần phải có biệnpháp nhằm quản lý và sử dụng tài sản lưu động một cách tiết kiệm và hợp lýnhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp
Sự biến động của các thị trường
Thị trường các nhân tố sản xuất, thị trường tài chính, thị trường laođộng, thị trường máy móc thiết bị… các thị trường này thường xuyên thay đổi
để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường hiện nay Sự thay đổi này kéotheo sự thay đổi của nguyên vật liệu, giá nhân công lao động, máy móc thiếtbị… không chỉ về giá cả mà còn về chất lượng và mức độ khan hiếm Vì vậydoanh nghiệp cần phải tăng cường quản lý hoạt động của doanh nghiệp, nhất
là quản lý việc sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Sự phát triển của khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ tác động đến tất cả các mặt của nền kinh tế xã hội,doanh nghiệp chịu rất nhiều tác động của công nghệ, nếu áp dụng công nghệđúng chỗ và tiên tiến sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển Do vậy doanhnghiệp cần phải biết áp dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực quản lý, nhất
là quản lý tài sản lưu động sẽ tạo ra hiệu quả lớn cho doanh nghiệp
Sự thay đổi của môi trường tự nhiên
Do tài sản lưu động bao gồm nguyên nhiên vật liệu sản xuất nhất lànhững doanh nghiệp chế biến thực phẩm, do đó chịu ảnh hưởng rất nhiều củahoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy doanh nghiệp cần tăng cường quản lýtài sản lưu động, chú ý vấn đề lưu kho và bảo quản tài sản lưu động sao chohoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn và không phụ thuộc nhiềuvào tự nhiên