Trong suốt 10 thế kỷ, phụ nừ Việt Nam hầu như không biết, thậm chí không có vị trí trong giáo , Trường Chính trị tinh Đồng Nai dục học đường, trong đào tạo hay các kỳ thi cử.. Như vậy,
Trang 1QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẼN
CỦA ĐỘI NGŨ Nữ TRÍ THỨC TĨNH ĐÒNG NAI
TS VŨ THỊ NGHĨA'*’
Ngày nhận bài: 12/5/2022 Ngày thẩm định: 24/5/2022 Ngày duyệt đăng: 20/6/2022
gang no lực vượt bậc của bản thân, đội ngũ nữ trí thức của tỉnh Đồng Nai đã có sự phát triển
cả về số lượng và chất lượng; không ngừng phát huy và khăng định vị thế, vai trò của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; là niềm tự hào của phụ nữ tỉnh Đồng Nai Nội dung bài viết khái quát về quả trình hình thành và phát trỉến của đội ngũ nữ trí thức tỉnh Đồng Nai.
Từ khóa:Biên Hòa; đội ngũ nữ trí thức; tỉnh Đồng Nai
1 Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta chưa có được đội
•ngũ nữ trí thức Điều này do nhiều
nguyên nhân, trong đó môi trường xã hội, văn
hóa của chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn
năm với thuyết giáo Khổng Tử “Trọng nam
hơn nữ, trọng đức hơn tài”, đã ảnh hưởng rất
lớn tới sự phát triển trí tuệ của người phụ nữ
Trong xã hội phong kiên, sô phận người phụ
nữ rất rẻ rúng: “Nhất nam viết hữu, thập nữ
viết vô” Họ bị kìm hãm trong những lễ giáo
phong kiến khắt khe, không được học hành để
phát triển tài năng, trí tuệ
Từ khoa thi Nho học đầu tiên trong lịch sử
nước ta tổ chức vào năm 1075 cho đến khoa
thi Nho học cuối cùng (năm 1919), tức là trong
10 thế kỷ, “các vương triều kế tiếp nhau đã tổ
chức được 187 kỳ thi Hội, thi Đình, tuyển chọn
được 2.898 tiến sĩ và hàng vạn cử nhân, tú tài”'1’
Trong suốt 10 thế kỷ, phụ nừ Việt Nam hầu như
không biết, thậm chí không có vị trí trong giáo
(,) Trường Chính trị tinh Đồng Nai
dục học đường, trong đào tạo hay các kỳ thi cử Môi trường xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến - Nho giáo đã dẫn đến hệ quả là trong số 2.898 tiến sĩ thời ấy, chỉ
có duy nhất bà Nguyễn Thị Duệ và cũng là nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam Sự phân biệt đối
xừ đối với phụ nữ trong xã hội phong kiến đã kim hãm và làm thui chột tài năng, trí tuệ, hạ thâp địa vị, giá trị của người phụ nữ
Trong quá trình xâm lược Việt Nam, cùng với chính sách khai thác thuộc địa, chính sách chia đê trị, thực dân Pháp còn thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị Chúng cho mở các đại lý thuốc phiện, đại lý rượu nhiều hơn trường học, đến trường chỉ là đặc ân của con cái nhà giàu Hậu quả của chính sách này là hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ Phụ nữ Việt Nam vừa bị ràng buộc bởi tư tưởng phong kiến lạc hậu, hà khắc, vừa bị các thế lực phong kiến, thực dân bóc lột, chà đạp thô bạo lên cuộc sống và nhân phẩm, dẫn đến “97% phụ nữ Việt Nam không biết đọc, biết viết Họ không chỉ trở thành nạn nhân của chính sách
Khoa học chính trị - số 05/2022
Trang 2ngu dân của thực dân Pháp mà còn là nạn nhân
của thành kiến hẹp hòi phân biệt đối xử kiểu
phong kiến - Nho giáo”(2)
Riêng với Đồng Nai, nền giáo dục và khoa cử
cũng trong tình trạng chung của các tỉnh Nam Bộ,
từ buổi đầu đến năm 1864 (năm có kỳ thi Hương
cuối cùng ở Nam Bộ), về cơ bản nằm trong nền
giáo dục và khoa cử của chế độ phong kiến
Năm 1698, khi lề thành hầu Nguyễn Hữu
Cảnh kinh lược Nam Bộ, lấy xứ Đồng Nai làm
huyện Phước Long, đặt dinh Trấn Biên “chiêu
mộ dân xiêu tán từ Quảng Bình trở vào cho đến
ở, chia đặt thôn ấp, người Thanh trú ngụ cũng
biên vào sổ hộ”(3) Thời gian dài sau đó, nghĩa
là sau khi có “bộ máy hành chính” các cấp tại
Biên Hòa, dân cư ở đây vẫn còn thưa thớt,
cuộc sống còn nhiều khó khăn do phải nuôi
tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn và chiến
tranh liên tục tàn phá Trong hoàn cảnh như
vậy, nền giáo dục không thể phát triển được
Khi triều Nguyễn được thiết lập (năm 1802),
giáo dục và khoa cử ở Nam Bộ nói chung, Biên
Hòa - Đồng Nai nói riêng bắt đầu được chú trọng,
từ việc ra quy chế về thi cử, định lại học quy cho
các trấn Biên Hòa, Gia Định (năm 1803), đến
việc mở khoa thi Hương đầu tiên cho Nam Bộ
(trường thi Gia Định, năm 1813) Điều này đã
khiến trong thời gian ngắn, giáo dục ở một vùng
vốn còn hoang sơ có dịp “phục hưng” như nhận
xét của Trịnh Hoài Đức: “Đất nước Dương Châu,
gần mặt trời, thiên khí phấn phát, trung chánh,
văn minh Nên con người chuộng tiết nghĩa, học
sách Ngũ Kinh, Tứ thư, thông giám, tinh hiểu
nghĩa lý, lúc đầu trung hương (triều Nguyễn) đặt
chức đốc học, ban bố học quy, mở khoa thi, lối
học cử nghiệp phát khởi, từ đấy lý học cùng văn
chương đều thịnh hành tốt đẹp, mà văn phong
mới trồi dậy”*4’ Sau này, Quốc sử quán triều
Nguyễn cũng nhận xét về người Biên Hòa: “kẻ
sĩ chăm học, dân sung canh cửi, thợ ở phố mà
làm việc; buôn tùy đất mà cách tác”*5’
Theo giới nghiên cứu, “Từ thời vua Minh
Mạng (1820 - 1840) trở đi, giáo dục ở Biên Hòa
đã phát triển quy củ hơn Chính vị vua này đã
đốc thúc việc thêm chức Huấn đạo (quan coi việc
• Kỉnh nghiệm - Thực tiễn
học) đến các huyện (năm 1839), tìm kiếm hiền tài
ở Nam Bộ, mở các trường tinh (học tỉnh), trường phú (học phủ), trường huyện (học huyện) Thời này, trường tỉnh được dời từ thôn Tân Lại về Tân Lân (tỉnh thành), mở trường phủ Phước Long đặt ở phía đông lỵ sở của phủ (thôn Bình Lợi, huyện Phước Chánh) Đến năm Minh Mạng thứ
18 (năm 1837), lại mở thêm trường phủ Phước Tuy, đặt ngay tại lỵ sở phủ, thôn Phước Lễ, huyện Phước An”*6’ Như vậy, nếu so với các trường tỉnh, trường huyện ở Nam Bộ thời bấy giờ, các trường lớn tại Biên Hòa trở thành một trong những trung tâm về giáo dục của Nam Bộ
Từ khi vua Gia Long mở trường thi Gia Định (Quý Dậu, năm 1813) đến kỳ thi Giáp Tý (năm 1864) tại An Giang, các tỉnh Nam Bộ và Bình Thuận có 19 kỳ thi “Trong 19 kỳ thi đó, Biên Hòa có 22 sĩ tử đậu cử nhân Neu so sánh vói
8 tỉnh có sĩ từ tham dự kỳ thi Hương tại trường Gia Định, Biên Hòa xếp thứ tư (sau Gia Định, Vĩnh Long và Định Tưòng; trước Bình Thuận,
An Giang và Hà Tiên)”*7’ Tuy vậy, trong bảng vàng này vẫn chưa có phụ nữ nào được ghi danh Sau khi chiếm Biên Hòa và cả Nam kỳ lục tỉnh, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách giáo dục nô dịch Tuy có thay đối theo thời gian, nhưng về cơ bản vần nhằm mục đích buổi ban đầu: đào tạo đội ngũ giúp việc trung thành và thành thạo Pháp ngự; hạn chế và đi đến xóa bỏ dần Nho học Vì thế, ở các tỉnh như Biên Hòa, các trường do nhà Nguyễn hình thành và cả do những sĩ phu dựng nên cũng vắng bóng dần Mặc dù thực dân Pháp cố gắng mở mang một nền giáo dục nô dịch, nhưng kết quả lại không như mong đợi Nguyên nhân là do khi buôi đâu chiếm Biên Hòa (năm 1861), một vùng trù phú, dân cư ngày một đông đúc như Biên Hòa nhưng
hề quân Pháp đến thì dân làng lại bỏ đi nơi khác Nhiều vùng đã trở nên hoang vắng, dân cư thưa thớt Với truyền thống yêu nước và trọng nghĩa, nên những trường học do bọn xâm lược xây dựng người Biên Hòa cũng không chấp nhận hệ thống giáo dục của họ Bởi vậy, dù trường học đầu tiên đặt tại tỉnh lỵ được mở khá sớm (khoảng trước năm 1867) thì cũng không có nhiều học sinh đến
Khoa học chính trị - số 05/2022
Trang 3học Mãi đến năm 1878, cả Biên Hòa chỉ có 33
học sinh ngoại trú Đó là chưa kể đến chất lượng,
điều mà chính người Pháp thừa nhận là “chăng
ra làm sao cả” Cho đến năm 1901, “cả tỉnh Biên
Hòa vẫn chỉ có 1 trường tiểu học với 182 học
sinh, 4 trường sơ học với 196 học sinh Lúc này,
tỉnh Biên Hòa có 16 tổng, 160 làng, với 102.941
người dân Nghĩa là cứ 272 người dân mới có 1
học sinh Thực dân Pháp còn khuyến khích các
nhà thờ Thiên Chúa giáo mở trường, mở lóp do
các giáo sĩ điều hành với 229 học sinh Còn các
trường, lóp dạy chữ Hán không được thực dân
Pháp khuyến khích thì vẫn được các thầy đồ đảm
trách với số học sinh lên đến 652 người”18*
Từ đó về sau, nền giáo dục ở Biên Hòa cũng
không phát triến đáng kể Đen năm 1923, “Biên
Hòa có 1 trường tiêu học tỉnh lỵ với 500 học
sinh, 11 trường tổng/21 tồng với 979 học sinh,
16 trường làng/162 làng với khoảng 2.000 học
sinh Trừ trường tiểu học tỉnh lỵ, các trường
khác đều là sơ học (dạy từ lóp 1 -3)”(9) Đất nước
loạn lạc nên việc đến trường học tập gặp nhiều
khó khăn và không phải ai cũng đi học được,
nhất là phụ nữ, đặc biệt là ở những bậc học cao
Do vậy, đại đa số người dân mù chữ
Sau gần một thế kỷ cai trị, với chính sách
nô dịch về văn hóa, giáo dục, thực dân Pháp đã
tạo ra một đội ngũ trí thức mới Trong số đó, có
những người từ truyền thống dân tộc, quê hương
đã nhanh chóng tiếp thu các giá trị của văn hóa
phương Tây, đặc biệt là tư tưởng nhân đạo chủ
nghĩa của văn học Phục hưng, của “thế kỷ ánh
sáng” và lập tức trớ thành “phản sản phẩm” của
chính người “khai hóa” Ở Đồng Nai, đó là những
thanh niên: Huỳnh Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc,
Lý Văn Sâm Tính đến thời điểm này, Đồng Nai
cũng chưa có phụ nữ nào đạt được học vị cao để
gia nhập vào đội ngũ trí thức mới
Như vậy, từ Cách mạng Tháng Tám năm
1945 trở về trước, phụ nữ Việt Nam về cơ bản
không có cơ hội, điều kiện, môi trường xã
hội đe phát triền tài năng, trí tuệ Hơn 10 thế
kỷ, họ bị kìm hãm về trí tuệ và tinh thần bởi
những định kiến khắc nghiệt của quy tắc xã
hội lạc hậu, phản động Điều này đã gây khó
khăn cho hành trình tiếp cận khoa học của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo
Là một bộ phận của phụ nữ Việt Nam, phụ nữ Đồng Nai cũng cùng chung cảnh ngộ trong bối cảnh lịch sử đất nước lúc bấy giờ
2. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một thời kỳ mới, có ý nghĩa bước ngoặt lịch sử đối với phụ nữ Việt Nam nói chung
và đội ngũ nữ trí thức nói riêng Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đánh dấu sự hình thành và phát triển của đội ngũ nữ trí thức nước ta Cuộc cách mạng đó đã giải phóng toàn thê dân tộc ta, trong đó có phụ nữ vôn là những người bị áp bức, bóc lột nhất đã được hưởng nhiều nhất thành quả của cách mạng
Quán triệt chủ trương của Đảng về xây dựng một nền giáo dục mới, tại Biên Hòa, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm
1945, mặc dù phải dồn sức cho cuộc kháng chiến trường kỳ, song trong hoàn cảnh kháng chiến gian khố và khắc nghiệt, công việc tổ chức một nền giáo dục cách mạng vần được gấp rút tiến hành Ty giáo dục tỉnh Biên Hòa, Ban giáo dục một sổ huyện đã được thành lập với nhiệm vụ trọng tâm là diệt “giặc dốt” theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh Nhiều cán bộ, thanh niên đã được cử đi vận động,
tổ chức nhân dân các vùng kháng chiến xóa
mù chữ và bình dân học vụ Kết quả, xã Thái Hòa là một trong hai xã đầu tiên của Nam
Bộ được công nhận đã xóa mù chữ Nhiều vùng kháng chiến khác cũng đạt được những kết quả nhất định Bên cạnh đó, chính quyền cách mạng đã cử nhiều cán bộ về tận vùng Cà Mau, Bạc Liêu - nơi có Sở Giáo dục Nam Bộ
đê theo học các lóp trung học Chính những chủ trương đúng đắn này đã tạo tiền đề cho sự hình thành đội ngũ nữ trí thức của Biên Hòa sau này
Giai đoạn từ năm 1954 - 1975, ở những vùng tạm chiếm, nền giáo dục thực dân kiểu mới cũng hình thành Chỉ xét riêng về quy mô và tốc độ phát triển, giáo dục thời kỳ này so với thời Pháp thuộc đã tăng đáng kể Năm 1956, trường Ngô Quyền - ngôi trường trung học đầu tiên của Biên
Khoa học chính trị - số 05/2022
Trang 4Hòa ra đời, đánh dấu bậc giáo dục phổ thông
trung học được xác lập trên địa bàn tỉnh Biên
Hòa Đen năm 1973, “tỉnh Biên Hòa có khoảng
130.000 học sinh các cấp và các hệ (công lập,
bán công, tư thục) trên 524.000 dân Giáo dục
chuyên nghiệp và dạy nghề hầu như không đáng
kể”(10) Tính đến năm 1975, “đội ngũ trí thức của
Đồng Nai có rất ít, trình độ đại học chỉ có 962
người”00 Cho đến nay, chưa có cá nhân, tổ
chức nào nghiên cứu, thống kê về đội ngũ nữ
trí thức của Đồng Nai trước năm 1975, nhưng
trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, trí thức là
nữ rất hiếm hoi, nếu có cũng chiếm tỷ lệ rất thấp
Từ sau năm 1975, nền giáo dục của Đồng
Nai đã phát triển không ngừng Sau khi thống
nhất đất nước, cùng với cả nước, Đồng Nai
tập trung cho phát triển kinh tế - xã hội, tập
trung cho phát triển giáo dục Đến năm 1995,
Đồng Nai có 25 trường phố thông trung học;
01 trường cao đẳng (trường cao đẳng sư phạm
để đào tạo nguồn nhân lực cho ngành giáo
dục tỉnh nhà); 01 trường trung cấp; 09 trung
tâm ngoại ngừ và tin học; 01 trường đại học
(năm 1997) Trong 20 năm (1975 - 1995),
“toàn tỉnh có 64.032 học sinh tốt nghiệp phổ
thông trung học; 8.372 học viên bổ túc cấp 3
tốt nghiệp”(12) Mồi năm có hàng nghìn thanh
niên được đào tạo nghề, hoặc đã tốt nghiệp các
trường chuyên nghiệp Thành tựu của ngành
giáo dục Đồng Nai trong 20 năm đã góp phần
quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho tỉnh Là cơ
sở quan trọng để phát triển đội ngũ trí thức nói
chung, đội ngũ nữ trí thức của Đồng Nai nói
riêng, phục vụ cho sự phát triển của tỉnh nhà
Năm 1991, sau 05 năm tiến hành đổi mới,
chuyển sang giai đoạn xây dựng và phát triến
kinh tế - xã hội theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế của Đồng Nai
tiếp tục phát triển Trong bối cảnh khó khăn
chung của cả nước, nhưng Đồng Nai vẫn đạt
mức tăng trưởng trung bình 05 năm là 2,7%
Vì vậy, lao động nhập cư có xu hướng đổ về
Đồng Nai, nguồn lao động có trình độ từ cao
đẳng trở lên tăng mạnh mồi năm, qua đó liên
• Kinh nghiệm - Thực tiễn
tục bổ sung cho nguồn nhân lực của Đồng Nai “Đến năm 1999, Đồng Nai có gần 24.000 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, gấp 18 lần năm 1975 Đến năm 2004 có hơn 85.000 lao động có trình độ từ cao đắng trở lên”(13) Năm 1997, Đồng Nai xây dựng được một trường đại học (Trường Đại học dân lập Lạc Hồng) Sự ra đời của Trường Đại học Lạc Hồng - trường đại học đầu tiên trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nhằm đáp ứng việc đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực có trình độ cao phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương; đồng thời, tạo điều kiện cho ngưòi dân Đồng Nai học tập thuận lợi sau bậc trung học Tính đến hết năm 2020, nhà trường
đã đào tạo được 42.000 cử nhân, kỹ sư Năm
2009, Trường Đại học Lạc Hồng tổ chức chiêu sinh khóa đào tạo thạc sĩ đầu tiên và năm 2014 bắt đầu đào tạo trình độ tiến sĩ Đen nay, Trường Đại học Lạc Hồng đã đào tạo được 900 lao động
có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, góp phần quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ trí thức của Đồng Nai nói chung, đội ngũ nữ trí thức nói riêng Năm 2010, Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai được nâng cấp thành Trường Đại học Đồng Nai - là trường đại học đa hệ, đa ngành, góp phần bổ sung nguồn nhân sự phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của tỉnh Tính đến năm 2020, ưên địa bàn tỉnh
có 03 trường cao đẳng, 05 trường đại học và 02 phân hiệu trường đại học; có trên 75 trung tâm tin học, ngoại ngữ Chất lượng đào tạo của các trường đại học thuộc tỉnh quản lý, các trung tâm tin học, ngoại ngữ ngày càng được nâng lên, có nhiều chuyền biến tích cực trong công tác đào tạo, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức của tỉnh
3 Là một trong những tỉnh công nghiệp phát triển năng động của vùng Đông Nam Bộ, ý thức được tầm quan trọng của đội ngũ trí thức ưong cạnh tranh, nắm bắt cơ hội cho địa phương, các cấp ủy, chính quyền tỉnh Đồng Nai luôn đặc biệt quan tâm đến đội ngũ trí thức Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 về xây
dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đây mạnh
Khoa học chính trị - số 05/2022
Trang 5công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã tạo
Cơ chế đế Đồng Nai phát triển mạnh mẽ đội ngũ
nữ trí thức Việc thực hiện các cơ chế, chính
sách trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh trí thức được
Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận
lợi cho trí thức phát huy khả năng cống hiến,
góp phần nâng cao về số lượng và chất lượng
đội ngũ trí thức trên địa bàn tỉnh
Một cách làm mang tính đột phá cùa Đồng
Nai là thực hiện Chương trình đào tạo sau đại
học (gọi tắt là Chương trình 2) do Sở Khoa học
và Công nghệ chủ trì thực hiện Kết quả đào
tạo Chương trình 2: giai đoạn 2006 - 2010, có
10 học viên tham gia các chương trình đào tạo
thạc sĩ và tiến sĩ; giai đoạn 2011 - 2015, có 24
học viên tham gia chương trình đào tạo sau đại
học ở nước ngoài
Đe phát triển nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn cao, đủ về số lượng, bảo đảm
chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Tỉnh
giai đoạn 2016 - 2020, ngay 30/12/2016, ủy
ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định
số 4698/QĐ-UBND ban hành Chương trình
đào tạo phát triến nguồn nhân lực tinh Đồng
Nai giai đoạn 2016 - 2020 Đây là quyết định
mang tính đột phá của Đồng Nai nhằm đào tạo
nguồn nhân lực khoa học - công nghệ trình
độ cao, chất lượng cao để hình thành đội ngũ
chuyên gia giỏi trong các ngành chủ lực, mũi
nhọn của tỉnh Đây cũng là giải pháp hiệu quả
để vừa bồ sung lực lượng, vừa nâng cao chất
lượng đội ngũ nữ trí thức của tỉnh
Từ năm 2006 đến năm 2019, ùy ban nhân
dân tỉnh đã cử chọn 1.947 cán bộ đi đào tạo sau
đại học trong nước, với các trình độ thạc sĩ, tiến
sĩ, bác sĩ chuyên khoa I, II Đến năm 2019, tỉnh
nghiệm thu 1.526 trường hợp, trong đó nữ chiếm
tỷ lệ 39,56%*(14) Kết quả của chương trình đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đã bổ sung
lực lượng, góp phần nâng cao chất lượng đội
ngũ trí thức nói chung, đội ngũ nữ trí thức của
tỉnh Đồng Nai nói riêng Tính đến tháng 5/2021,
Đồng Nai “có 24/114 tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa
(l) Phạm Tất Dong, Luận cứ khoa học cho chính sách nham phát huy năng lực sáng tạo cùa giới trí thức và sinh viên, Đe tài KX 04.06, Hà Nội, 1993
(2) Đỗ Thị Thạch, Trí thức nữ Việt Nam trong công cuộc đoi mới hiện nay - Tiềm năng và phương hướng xây dựng, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, 1999, tr 13
(3>vâ(5> £Ịạị Nam nhất thống chi, t.5, Nxb Thuận Hóa,
1992, tr.36 và 42
(4' Gia Định thành thông chi, tập hạ, 1972, tr.4
thành và phát triển, Nxb Đồng Nai, 1998, tr.209, 209,
214, 214, 214 và 514
năm xây dựng và trường thành, tr 95
(l4) Báo Đồng Nai điện tử, Đào tạo nguồn nhân
lực: Cần chất lượng hơn số lượng, số thứ Ba, ngày
20/8/2019
thực hiện Kết luận số 43-KL/TU ngày 30/9/2016 cùa
ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về Đe án “Tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý và phát huy vai trò của phụ nữ trên địa bàn tinh Đồng Nai, giai đoạn 2016 - 2020", Đồng Nai, ngày 10/5/2021
II là nữ, đạt 21,05% và 1.576/2.370 thạc sĩ, bác
sĩ chuyên khoa I là nữ, đạt 66,50%”°5)
Trải qua gần 5 thập kỷ, trí thức nữ đã trở thành đội ngũ có tiềm năng to lớn Tính đến tháng 5/2021, đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh có 45.715 người, chiếm 64% trong tổng số 71.890 người lao động làm việc trong khối hành chính sự nghiệp tỉnh”(l6) “Nữ trí thức chiếm gần 50% trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức với gần 22.000 người”(17) Có thể nói, với sự quan tâm cùa các cấp ủy đãng, chính quyền, đặc biệt là sự cổ gắng nồ lực vượt bậc của bản thân, đội ngũ trí thức nữ của Đồng Nai hiện nay đang phát triển cả về số lượng và chất lượng Đội ngũ nữ trí thức của tỉnh Đồng Nai không ngừng phát huy, khẳng định
vị thế và vai trò của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của tỉnh và là một bộ phận quan trọng, niềm
tự hào của phụ nữ Đồng NaiU
Khoa học chính trị - số 05/2022