Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chính là những nhiệm vụ mang tính lịch sử mà giai cấp công nhân cần phải thực hiện với tư cách la
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Nội dung 1 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chính là những nhiệm vụ mang tính lịch sử mà giai cấp công nhân cần phải thực hiện với tư cách là giai cấp lãnh đạo, là lực lượng xã hội đi đầu trong cuộc cách mạng nhằm xác lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa được thể hiện toàn diện trên các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội
1.1 Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được quy định hoàn toàn khách quan bởi địa vị kinh tế và địa vị chính trị - xã hội của họ:
- Thứ nhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân quy định.
+ Giai cấp công nhân là sản phẩm con đẻ của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại Chính điều kiện khách quan này đã quy định một cách khách quan địa vị kinh tế của giai cấp công nhân ở chủ nghĩa tư bản: đại diện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại, có tính xã hội hóa cao và phương thức sản xuất tiên tiến
+ Địa vị kinh tế của giai cấp công nhân đã quy định một cách khách quan
sứ mệnh lịch sử của họ: là lực lượng phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa khi nó đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất; thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới tiến bộ, phù hợp, mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Thứ hai, do địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân quy định.
+ Điều kiện sống, lao động và quá trình đấu tranh chống áp bức, bóc lột, bất công trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã đào luyện nên giai cấp công nhân với địa vị chính trị - xã hội là một giai cấp tiên tiến nhất, giai cấp cách mạng triệt để nhất, là lực lượng đối kháng trực diện với giai cấp tư sản
Trang 2+ Với địa vị chính trị - xã hội đó, với những đặc điểm chính trị - xã hội đã làm nên đặc trưng của giai cấp công nhân (về phương diện chính trị - xã hội) là giai cấp có tinh thần thần cách mạng triệt để nhất, tính tổ chức và kỷ luật cao, ý thức tự giác và khả năng đoàn kết quốc tế, giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có thể lãnh đạo, dẫn dắt cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhằm tự giải phóng mình, giải phóng quần chúng lao động và giải phóng toàn xã hội
- Thứ ba, địa vị kinh tế, địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân không chỉ quy định một cách khách quan sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà đồng thời còn tạo ra những điều kiện khách quan đảm bảo cho họ thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình Cụ thể là: Khả năng đoàn kết, thống
nhất, tổ chức bản thân giai cấp mình; khả năng đạt tới sự giác ngộ về địa vị lịch
sử của mình; khả năng hành động chính trị để từng bước đạt mục tiêu cách mạng; Khả năng đoàn kết các giai cấp khác trong cuộc đấu tranh chống giai cấp
tư sản trên quy mô quốc tế theo chủ nghĩa quốc tế vô sản; Khả năng lãnh đạo trong cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao động và của dân tộc
Như vậy, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được quy định hoàn toàn khách quan bởi chính địa vị kinh tế và địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân - một giai cấp cách mạng, đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, cho phương thức sản xuất tiên tiến thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phù hợp với xu thế đi lên của tiến trình phát triển lịch sử nhân loại
Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử đó hoàn toàn không phải vì họ nghèo khổ, không phải do ý muốn chủ quan của ai gán ghép mà bởi yêu cầu khách quan của sự phát triển nền sản xuất đại công nghiệp, bởi sự phát triển đúng quy luật của xã hội, của con người và của loài người Do đó, ngày nay, một bộ phận trong giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển đã được trung lưu hóa về sở hữu tư liệu sản xuất, thu nhập và mức sống… (sinh viên tự
chuẩn bị dẫn chứng), song điều này không làm thay đổi địa vị kinh tế và địa vị
chính trị - xã hội của họ và do đó không làm mất đi sứ mệnh lịch sử của giai cấp này… (sinh viên tự chuẩn bị nội dung lập luận).
Trang 31.2 Những điều kiện chủ quan đảm bảo cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được quy định hoàn toàn khách quan Song để biến sứ mệnh lịch sử khách quan đó thành hiện thực thì phải đảm bảo được những điều kiện chủ quan nhất định Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra những điều kiện chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình Đó là:
- Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng
+ Sự phát triển về số lượng của giai cấp công nhân bao gồm số lượng đông đảo, tỷ lệ và cơ cấu của giai cấp công nhân phù hợp với yêu cầu của sản xuất công nghiệp hiện đại và cơ cấu kinh tế của chủ nghĩa tư bản
+ Chất lượng giai cấp công nhân phải thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của một giai cấp cách mạng, tức là tự giác nhận thức được sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình, phải giác ngộ lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Chỉ với sự phát triển như vậy về số lượng và chất lượng, đặc biệt về chất lượng thì giai cấp công nhân mới có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình
- Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình:
+ Sự thâm nhập của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân dẫn đến sự hình thành chính đảng của giai cấp công nhân
+ Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhận vai trò lãnh đạo cuộc cách mạng là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách mạng, đồng thời cho thấy cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân đã đạt đến trình độ cao của đấu tranh chính trị
Trang 4+ Đảng phải có cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn và phương pháp cách mạng sáng tạo theo lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Đảng phải xây dựng được cơ sở chính trị - xã hội rộng rãi, xác lập và củng cố mối liên hệ mật thiết với quần chúng, tập hợp và đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong dân tộc và đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa tư bản, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì mới thực hiện được sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
- Liên minh các lực lượng cách mạng do giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của nó là đảng Cộng sản lãnh đạo.
Đây cũng là một điều kiện chủ quan quan trọng không thể thiếu để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
+ Liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội, do giai cấp công nhân lãnh đạo là một tất yếu, một vấn đề có tính quy luật của cuộc cách mạng thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, không chỉ trong cuộc cách mạng giành chính quyền mà còn trong toàn bộ tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
+ Thực hiện liên minh giai cấp này bằng đường lối và chính sách đại đoàn kết Đây là phương thức tập hợp lực lượng cách mạng và phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân, phát huy ảnh hưởng của Đảng Cộng sản trong xã hội để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Ngày nay, ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, những điều kiện chủ quan đảm bảo cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vẫn chưa chín muồi… (sinh viên tự chuẩn bị nội dung phân tích) Do đó, trong điều kiện hiện tại, chưa thể xảy ra cuộc cách mạng thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở những nước này (sinh viên tự chuẩn bị nội dung lập luận).
Nội dung 2 Chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nấc thang đầu tiên trong sự phân kỳ của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
Trang 5xã hội bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản giành được chính quyền và sẽ kết thúc khi những nền tảng vật chất, tinh thần của xã hội xã hội chủ nghĩa đã phát triển vững chắc
2.1 Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(Sinh viên tự xây dựng đề cương ôn tập).
2.2 Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
2.2.1 Đặc điểm nổi bật và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là sự tồn tại
đan xen giữa những nhân tố mới và những tàn dư của xã hội cũ về mọi mặt Xã hội của thời kỳ quá độ là xã hội có sự đan xen của nhiều tàn dư về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần của Chủ nghĩa tư bản hay tiền tư bản với những yếu tố mới mang tính chất xã hội chủ nghĩa, mới hình thành nhưng chưa phải đã là những yếu tố phát triển vững chắc của Chủ nghĩa xã hội
- Thực chất thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ cải biến
cách mạng từ xã hội tiền Tư bản chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa lên xã hội Xã hội chủ nghĩa; là cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt “ai thắng ai” giữa một bên là giai cấp công nhân liên minh với các tầng lớp nhân dân lao động khác đã giành được chính quyền nhà nước, đang phấn đấu đưa đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, với một bên là các giai cấp tư sản thống trị bóc lột đã bị đánh đổ, nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn Cuộc đấu tranh đó diễn ra tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp
2.2.2 Những biểu hiện của đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Có thể khái quát những biểu hiện của đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội trên bốn lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội như sau:
Trang 6- Trên lĩnh vực kinh tế: Thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội tất yếu tồn tại
nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có những thành phần đối lập nhau, đấu tranh lẫn nhau Bên cạnh các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, còn có các thành phần kinh tế khác nhau dựa trên những hình thức sở hữu khác về tư liệu sản xuất, trong đó
có thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Trong đó, kinh tế nhà nước, sở hữu nhà nước đóng vai trò chủ đạo điều tiết, định hướng các thành phần kinh tế khác đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa (sinh viên tự chuẩn bị dẫn chứng thực tiễn ở Việt Nam)
- Trên lĩnh vực chính trị: Đây là thời kỳ quá độ về mặt chính trị, trong thời
kỳ này, sự thống trị về chính trị của giai cấp công nhân được thể hiện bằng việc nhà nước chuyên chính vô sản được thiết lập, được củng cố và ngày càng hoàn thiện, nhằm thực hiện dân chủ cho nhân dân, bảo vệ những thành quả cách mạng, đấu tranh với các thế lực phản động, thù địch cùng những âm mưu và hành động chống phá của chúng… (sinh viên tự chuẩn bị dẫn chứng thực tiễn ở Việt Nam)
- Trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa: Thời kỳ quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên
Chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều tư tưởng khác nhau, thậm chí đối lập nhau, đấu tranh với nhau, chủ yếu là sự đối lập giữa tư tưởng vô sản và tư tưởng tư sản, tư tưởng tiến bộ, khoa học và tư tưởng phản tiến bộ, mê tín dị đoan, phản khoa học; giữa việc xây dựng những yếu tố tích của của một nền văn hóa tiến bộ của chế độ mới với sự chống phá của những tàn dư phản văn hóa do chế độ cũ
để lại… (sinh viên tự chuẩn bị dẫn chứng thực tiễn ở Việt Nam)
- Trên lĩnh vực xã hội:
+ Do kết cấu của nền kinh tế nhiều thành phần quy định nên trong thời kỳ
quá độ còn tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp với sự khác biệt giữa các giai cấp tầng lớp xã hội Các giai cấp, tầng lớp vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau… (sinh viên tự chuẩn bị dẫn chứng thực tiễn ở Việt Nam)
+ Xã hội của thời kỳ quá độ còn tồn tại sự khác biệt do chế độ xã hội cũ để
Trang 7lại như giữa nông thôn và thành thị; giữa lao động trí óc và lao động chân tay; sự khác biệt đó cũng dẫn tới sự tồn tại của bất công, bất bình đẳng nhất định mà chế độ xã hội mới từng bước phải khắc phục (sinh viên tự chuẩn bị dẫn chứng thực tiễn ở Việt Nam)
Bởi vậy, thời kỳ quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội, về phương diện xã hội là thời kỳ đấu tranh giai cấp chống áp bức, bất công, xóa bỏ
tệ nạn xã hội và những tàn dư của xã hội cũ để lại, thiết lập công bằng xã hội trên cơ sở thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động là chủ đạo
2.2 Đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa
(Sinh viên tự xây dựng đề cương ôn tập).
2.3 Tính tất yếu của việc quá độ lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
Tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
2.3.1 Căn cứ vào lý luận khoa học
- Căn cứ vào lý luận Hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin:
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh toàn bộ lịch sử xã hội loài người phát triển qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao Nhưng do đặc điểm về lịch sử,
về không gian, thời gian, về sự tác động của nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, có những quốc gia phát triển tuần tự, nhưng có những quốc gia phát triển
bỏ qua một hay vài hình thái kinh tế - xã hội nào đó Con đường phát triển quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là phù hợp với tính quy luật của việc “bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế - xã hội trong sự phát triển lịch sử
- Căn cứ vào lý luận của Chủ nghĩa xã hội khoa học về những điều kiện để một nước có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa:
Có sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân với kinh nghiệm và năng lực cần thiết trong đấu tranh cách mạng; có sự ủng hộ của quần chúng cách mạng; có sự giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ quốc tế… Chúng ta khẳng định: Việt Nam hoàn toàn có thể và có đủ điều kiện thực hiện quá độ bỏ qua chế độ
Tư bản chủ nghĩa để đi lên Chủ nghĩa xã hội
Trang 82.3.2 Những căn cứ thực tiễn
- Căn cứ vào xu thế phát triển của nhân loại trong thời đại ngày nay:
Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thắng lợi đã mở ra thời đại mới: thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới Cho dù chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới Sự vận động của lịch sử không tránh khỏi những bước quanh co, phức tạp, thậm chí có những bước thụt lùi Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức,
song theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản
Như vậy, trong xu thế phát triển tất yếu của thời đại ngày nay, Việt Nam hoàn toàn có thể đi lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa
- Căn cứ vào thực tiễn cách mạng Việt Nam:
Quá độ lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn, khoa học, phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam, phù hợp với dòng chuyển động liên tục của cách mạng Việt Nam
Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân của nước ta chứng minh rằng, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có nhiều phong trào đấu tranh chống Pháp thấm đượm tinh thần yêu nước, bất khuất, song đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại… (sinh viên tự chuẩn bị dẫn chứng lịch sử) Và như vậy, tất cả các phương án chính trị của các giai cấp, từ đường lối cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, đến những đường lối theo lập trường nông dân, lập trường tiểu tư sản, tư sản, đều được lịch sử khảo nghiệm nhưng rốt cuộc đều thất bại Trong bối cảnh đó, Đảng ta ra đời, nhanh chóng giương cao ngọn
Trang 9cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển đi lên
- Đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với nguyện vọng của đại đa
số nhân dân Việt Nam:
Đây là sự lựa chọn dứt khoát và đúng đắn của Đảng, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của dân tộc, của đại đa số nhân dân Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chấp nhận và chứng minh: Con đường cách mạng duy nhất có thể đem lại hạnh phúc thực sự cho đại đa số nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay là con đường "độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội" Những thành tựu đã đạt được qua hơn 35 năm đổi mới… (sinh viên tự chuẩn bị dẫn chứng) đã chứng tỏ sự lựa chọn đó là đúng hướng, phù hợp với lợi ích của cả dân tộc và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: Quy luật của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội Đó là con đường phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, cả về đặc điểm lịch sử -cụ thể trong nước và hoàn cảnh quốc tế, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của đại
đa số nhân dân Việt Nam
Nội dung 3 Sự ra đời, bản chất, chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa & Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
3.1 Sự ra đời, bản chất, chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
(Sinh viên tự xây dựng đề cương ôn tập).
3.2 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
(Sinh viên tự xây dựng đề cương ôn tập).
Nội dung 4 Vấn đề cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và liên hệ với Việt Nam
4.1 Cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(Sinh viên tự xây dựng đề cương ôn tập).
Trang 104.2 Cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam
(Sinh viên tự xây dựng đề cương ôn tập).
Nội dung 5 Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa phổ biến: dân tộc
- tộc người và dân tộc - quốc gia Thực chất, hai cách hiểu trên tuy không đồng nhất nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau, không tách rời nhau Dân tộc - quốc gia bao hàm dân tộc - tộc người Dân tộc - tộc người là bộ phận hình thành dân tộc - quốc gia Dân tộc - tộc người ra đời trong những quốc gia nhất định và thông thường, những nhân tố hình thành dân tộc - tộc người không tách rời với những nhân tố hình thành dân tộc - quốc gia
5.1 Hai xu hướng phát triển khách quan của dân tộc và biểu hiện của
nó trong giai đoạn hiện nay
5.1.1 Hai xu hướng phát triển khách quan của dân tộc
- Thứ nhất, xu hướng hình thành quốc gia dân tộc độc lập.
+ Ở các quốc gia gồm nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người khác nhau, trong quá trình phát triển, sự trưởng thành của ý thức tộc người và sự thức tỉnh về chủ quyền của mình, các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập
+ Xu hướng này phát huy tác động nổi bật trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản khi mà ý thức tự giác tộc người ngày càng trưởng thành đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh tự do gay gắt diễn ra ở những quốc gia tư bản chủ nghĩa đa tộc người và nó vẫn tiếp tục phát huy tác động trong giai đoạn đến quốc chủ nghĩa
- Thứ hai, xu hướng hình thành liên hiệp các dân tộc.