Tức là nó phải được biểu hiện ra bên ngoài và các chủ thể khác có thể nhận biết được dướidạng hành động và không hành động hành vi hành động là hành vi mà chủ thểphải thực hiện bằng nhữn
THỰC TIỄN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT
Thực tiễn về vi phạm pháp luật
Tình hình vi phạm pháp luật:
Hiện nay, hoạt động của các loại tội phạm được kiềm chế và giảm đáng kể nhờ thực hiện nghiêm túc chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm Các cơ quan điều tra ở các cấp đã đẩy nhanh tiến độ điều tra các vụ án, khắc phục tình trạng điều tra kéo dài và rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ án tồn đọng Nhờ đó, chất lượng điều tra và xử lý các loại tội phạm tiếp tục có những chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm và bảo đảm an ninh trật tự.
Hiện nay, tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp với sự nổi lên của các loại tội phạm như xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm trật tự, quản lý kinh tế, tham nhũng và chức vụ, tội phạm về môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao và tội phạm ma túy; các hành vi này thể hiện sự manh động và thủ đoạn ngày càng tinh vi, đặt ra thách thức lớn cho công tác phòng ngừa, điều tra và xử lý của cơ quan chức năng.
Vi phạm pháp luật đang diễn ra phổ biến, đa dạng và phức tạp trên hầu hết các lĩnh vực, nổi bật ở trật tự, an toàn giao thông; phòng chống cháy nổ; môi trường; xây dựng; và tại một số cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự, đặc biệt là vi phạm luật an ninh mạng.
Một số trường hợp vi phạm pháp luật:
Vi phạm pháp luật hành chính:
Trong nhiệm kỳ, các Tòa án đã thụ lý 36.354 vụ, đã giải quyết, xét xử được 32.466 vụ, đạt tỷ lệ 89,3%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết của Quốc hội đề ra; so với nhiệm kỳ trước, đã thụ lý tăng 10.889 vụ, đã giải quyết tăng 7.707 vụ Trong năm 2020, các Tòa án nhân dân đã thụ lý 12.470 vụ; đã giải quyết, xét xử được 8.582 vụ, đạt tỷ lệ 68,8% (so với năm 2019 thụ lý giảm 332 vụ, xét xử tăng 1.027 vụ) Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy là 3,26% (do nguyên nhân chủ quan là 2,62%); bị sửa là 2,92% (do nguyên nhân chủ quan là 2,54%) Tỷ lệ bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là 28,5%; tỷ lệ bản án sơ thẩm, phúc thẩm có kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là 1,13% Các Tòa án nhân dân đã giải thích hoặc kháng nghị đối với 02 bản án, quyết định do tuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án; ban hành 124 quyết định buộc thi hành án hành chính.
Vi phạm hình sự: a Thực trạng tình hình tội phạm ở nước ta trong giai đoạn đầu năm 2021:
2020 là một năm đầy biến động đối với nước ta khi đại dịch Covid-19 lan rộng và tác động sâu sắc đến mọi mặt kinh tế – xã hội Trong bối cảnh ấy, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá với thủ đoạn tinh vi và nguy hiểm hơn Hoạt động của các loại tội phạm diễn biến phức tạp, trong khi tai nạn giao thông và cháy nổ vẫn gây thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội Công bố số liệu sơ bộ về công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm năm 2020 cho thấy những kết quả bước đầu và những thách thức vẫn còn tồn tại.
Bộ Công an được đăng tải vào ngày 25/06/2021 cho thấy:
Toàn quốc xảy ra 3.478 vụ phạm tội về trật tự xã hội, khám phá 2.966 vụ và bắt giữ, xử lý 5.974 đối tượng; tỷ lệ khám phá đạt 85,28% và triệt phá 165 băng, nhóm So với tháng 5/2021, số vụ giảm 149 vụ (-4,11%), số vụ khám phá giảm 20 (-0,67%), số đối tượng bị bắt giữ, xử lý giảm 92 (-1,52%), trong khi số băng, nhóm bị triệt phá tăng 5 (+3,13%).
- Số vụ phạm tội về trật tự quản lý kinh tế: t oàn quốc xảy ra 414 vụ, so với tháng 5/2021 tăng 153 vụ (+58,62%).
- Số vụ phạm tội về trật tự quản lý kinh tế: toàn quốc xảy ra 414 vụ, so với tháng 5/2021 tăng 153 vụ (+58,62%).
- Số vụ phạm tội về môi trường: toàn quốc xảy ra 86 vụ, so với tháng 5/2021 tăng 11 vụ (+14,67%).
- Số vụ phạm tội về ma túy: toàn quốc xảy ra 2.602 vụ, so với tháng 5/2021 tăng 431 vụ (+19,85%).
Công tác truy nã trên toàn quốc đã đạt được kết quả rõ nét khi bắt giữ, vận động đầu thú và thanh loại 502 đối tượng truy nã, trong đó 160 đối tượng là nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm So với tháng 5/2021, số đối tượng truy nã được bắt, vận động đầu thú và thanh loại tăng 32 đối tượng, đồng thời số đối tượng nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm bị bắt, vận động đầu thú và thanh loại cũng tăng 32 đối tượng Đây là nội dung nổi bật và gợi ý một số vấn đề đáng lưu ý cần xem xét.
Các loại tội phạm nguy hiểm, sử dụng bạo lực và hình thành các băng nhóm hoạt động có tổ chức có xu hướng gia tăng về mức độ nguy hiểm và tính chất nghiêm trọng Sự gia tăng này đồng thời cho thấy có sự móc nối với một số cán bộ, công chức suy thoái về phẩm chất đạo đức.
Trong phạm vi an ninh, tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm có yếu tố nước ngoài bao gồm các trường hợp băng nhóm nước ngoài hoặc người Việt cấu kết với đối tượng nước ngoài để lừa đảo, buôn bán ma túy và buôn bán người; đồng thời các hành vi tổ chức phản động, thù địch và khủng bố cũng được xem là phần của các tội phạm có yếu tố nước ngoài hoặc xuyên quốc gia nhằm gây bất ổn cho xã hội.
Thứ ba, hành vi phạm tội ngày càng manh động; trong các vụ giết người, nguyên nhân xã hội chiếm tỷ lệ khá cao và có lúc lên tới khoảng 90%, cho thấy yếu tố xã hội đóng vai trò lớn trong khuynh hướng tội phạm hiện nay.
Có nhiều vụ việc bắt nguồn từ các mâu thuẫn đơn giản như cãi vã và chửi bới, dẫn tới hành vi phạm tội; đáng buồn hơn là có những trường hợp người thân trong gia đình giết nhau, cho thấy mức độ nghiêm trọng của xung đột gia đình và tác động của nó lên xã hội.
- Thứ tư, tội phạm xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi thành phần trong xã hội ( đáng quan tâm nhất là lứa tuổi vị thành niên).
Vi phạm dân sự: a Thực trạng tình hình vi phạm dân sự ở nước ta trong giai đoạn năm 2020:
- Theo báo cái Tổng kết công tác của Tòa án nhan dân tối cao được đăng tải vào tháng 12 năm 2020 cho thấy:
+ Trong đó, các Tòa án đã thụ lý 448.025 vụ việc dân sự; đã giải quyết 400.651 vụ việc dân sự, đạt tỷ lệ 89%
+ Các Tòa án đã thụ lý 4.067 vụ việc lao động; đã giải quyết 3.789 vụ việc; đạt tỷ lệ 93,2%.
+ Đã thụ lý 19.256 vụ việc kinh doanh thương mại; giải quyết 15.245 vụ việc; đạt tỷ lệ 79,2%.
Các Tòa án đã giải quyết 225 đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gồm 45 trường hợp không mở thủ tục phá sản, 59 trường hợp mở thủ tục phá sản, 19 trường hợp đình chỉ giải quyết và 30 trường hợp tuyên bố phá sản; các trường hợp còn lại đang tiếp tục được xem xét và giải quyết theo quy định của pháp luật Một số vấn đề đáng lưu ý sẽ được nêu ra.
- Thứ nhất, số vụ vi phạm dân sự tăng lên so với giai đoạn 2019 So với năm
2019, Tòa án nhân dân đã xét xử tăng hơn 32.365 vụ việc (Căn cứ theo Báo cáo Tổng kết công tác của Tòa án nhân dân tối cao năm 2020).
- Thứ hai, các vụ án về lao động chủ yếu do tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đồng; tranh chấp về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động; tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương.
- Thứ ba, các vụ tranh chấp kinh doanh thương mai chủ yếu là trong lĩnh vực đầu tư tài chính, ngân hàng, mua bán hàng hóa.
Vi phạm kỷ luật: a Thực trạng vi phạm kỷ luật hiện nay:
- Trong lĩnh vực chính trị:
Vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức ý thức, trách nhiệm chưa cao và đạo đức công vụ chưa thực sự là công bộc của dân; vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính như đi muộn, về sớm, giải quyết việc riêng trong giờ hành chính, làm việc mang tính hình thức, đối phó và né tránh trách nhiệm; giao tiếp, ứng xử thiếu chuẩn mực Một số cán bộ, công chức, viên chức còn lợi dụng vị trí công tác để tư lợi, sách nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, vi phạm các quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước Cần tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, đạo đức công vụ và kỷ luật, đồng thời nâng cao thanh tra, kiểm tra để đảm bảo phục vụ nhân dân một cách công khai, minh bạch và hiệu quả.
- Trong lĩnh vực kinh tế:
Hiện tượng tham nhũng và hối lộ vẫn còn phổ biến tại nhiều cơ quan và doanh nghiệp, gây tổn hại niềm tin và hiệu quả công việc Quấy rối tình dục nơi môi trường làm việc vẫn diễn ra, đặt người lao động trước nguy cơ mất an toàn và sự tôn trọng tại chỗ làm Vi phạm nghiêm trọng luật lao động về thời gian làm việc và nghỉ ngơi vẫn là vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất của đội ngũ nhân sự Bên cạnh đó, một số người có hành vi thiếu văn minh, không phù hợp với thuần phong mỹ tục ở chốn công sở, làm suy giảm chất lượng giao tiếp và văn hóa tổ chức.
- Trong lĩnh lực giáo dục:
Những nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật
Tác động xã hội và môi trường sống là những yếu tố bất lợi trong hoàn cảnh xung quanh, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành nhân cách và có thể dẫn tới hành vi lệch lạc ở cá nhân Những yếu tố này gồm gia đình, nhà trường, cộng đồng và điều kiện sống, khi ở mức tiêu cực có thể làm phai nhạt chuẩn mực xã hội và giá trị cá nhân Việc nhận diện và cải thiện các tác động này đóng vai trò quan trọng trong phát triển tâm lý lành mạnh và ngăn ngừa sự hình thành các khuynh hướng lệch lạc.
Gồm:+ Các tiểu môi trường mà cá nhân đang sống và giao tiếp thường xuyên: gia đình, trường học, nơi cư trú, sinh sống,
VD: môi trường gia đình không hoàn thiện, môi trường cư trú có nhiều tệ nạn xã hội
Môi trường xã hội vĩ mô bao gồm các yếu tố như chính sách và pháp luật, vai trò của phương tiện thông tin đại chúng, và những tác động của những ảnh hưởng tiêu cực mà người phạm tội chứng kiến hoặc nghe kể, từ đó ảnh hưởng đến nhận thức, giá trị chuẩn mực và hành vi của cá nhân cũng như của cộng đồng Việc phân tích các yếu tố này giúp làm rõ cách thức thông tin công chúng và hệ thống pháp lý hình thành khuynh hướng tuân thủ hay phạm pháp, đồng thời cung cấp cơ sở cho các chiến lược ngăn ngừa tội phạm và giáo dục xã hội nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến hành vi của người dân, đặc biệt những nhóm dễ bị ảnh hưởng.
VD: tình trạng thất nghiệp, đói nghèo…
Trước các trường hợp bất khả kháng, sự kiện này xảy ra một cách khách quan, không thể dự báo trước và không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong điều kiện và khả năng cho phép Tác động của bất khả kháng thường thể hiện sự gián đoạn tiến độ, làm ảnh hưởng đến thời hạn và chi phí, đồng thời có thể làm thay đổi nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Trong hoàn cảnh này, các bên cần xem xét cơ chế miễn trách nhiệm, gia hạn hợp đồng hoặc điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với thực tế và khả năng đáp ứng trong điều kiện cho phép.
VD: - Thiên tai,lũ lụt, động đất, núi lửa, chiến tranh…
- Những bất cập của pháp luật hiện hành.
Nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ ý thức của chủ thể, chủ yếu từ các yếu tố cảm xúc như sự tức giận, sự ghen tuông và đố kị Những trạng thái tâm lý này tác động mạnh đến hành vi và quyết định của cá nhân, khiến người ta dễ bị ảnh hưởng và mất kiểm soát khi đối mặt với thử thách Nhận diện và quản lý hiệu quả các yếu tố cảm xúc này sẽ giúp giảm thiểu hậu quả do nguyên nhân chủ quan gây ra.
Việc mất kiểm soát bản thân đột ngột có thể dẫn tới xung đột và thậm chí xô xát Ví dụ dễ thấy là những cuộc ẩu đả hay xích mích phát sinh từ những lý do không xứng đáng như một câu nói đùa cợt hoặc một lời trêu ghẹo Những tình huống như vậy diễn ra ở nhiều hoàn cảnh khác nhau và có thể bắt gặp ở khắp mọi nơi.
Nguyên nhân thứ hai bắt nguồn từ nhận thức kém về pháp luật Dù được dạy về pháp luật ở nhiều cấp độ trong giáo dục, nhiều người vẫn có thái độ hời hợt, thiếu hiểu biết về sự quan trọng của pháp luật và xem nhẹ các quy định, khiến nhận thức về hậu quả vi phạm chưa đầy đủ Mạng xã hội hiện nay có vai trò kết nối thông tin pháp lý, nhưng người dân lại ít chủ động tìm hiểu và cập nhật các luật hiện hành để tránh vi phạm Ví dụ điển hình là các vi phạm giao thông đường bộ như không đội mũ bảo hiểm, lạng lách đánh võng; dù biết đó là vi phạm vẫn thực hiện, gây nguy hiểm cho bản thân và những người tham gia giao thông khác.
Tổng kết phần 2
Dù các cơ quan nhà nước đã nỗ lực rất lớn để duy trì kỷ cương pháp luật, tỉ lệ tội phạm hình sự và các vi phạm khác vẫn không có dấu hiệu giảm Nguyên nhân chủ quan và khách quan đều góp phần, nổi bật là ý thức cá nhân và trách nhiệm của mỗi người đối với xã hội Thực trạng này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân để nâng cao trật tự xã hội và giảm thiểu vi phạm pháp luật.
THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ GIỮA VPPL VÀ HẬU QUẢ XẢY RA
Một số trường hợp thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa VPPL và hậu quả xảy ra 3 Tổng kết chương 3
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả thể hiện ở mức độ đa dạng: một hành vi trái pháp luật có thể là nguyên nhân duy nhất của hậu quả, hoặc nhiều hành vi cùng đóng vai trò là nguyên nhân; vì vậy việc xác định mối quan hệ nhân quả ở từng trường hợp có sự khác biệt Trong các tình huống thực tế, ví dụ tình huống 1 cho thấy sự khác biệt này: theo báo cáo do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, hải sản chết bất thường bắt đầu từ Hà Tĩnh từ ngày 06-04-2016 và sau đó lan rộng ra bốn tỉnh miền Trung.
Để xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả môi trường, bài viết xem xét các cơ sở và chứng cứ liên quan Các yếu tố được cho là nguyên nhân của vụ việc này tập trung vào quá trình vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy do công ty Formosa thực hiện, trong đó đã có những vi phạm và sự cố dẫn tới nước thải chứa độc tố phenol và xyanua chưa được xử lý đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường.
Nguyên nhân gây ra hải sản chết hàng loạt đã dẫn đến hậu quả kinh tế và xã hội vô cùng nghiêm trọng Theo báo cáo của Chính phủ, thiệt hại kinh tế chủ yếu gồm lượng hải sản chết dạt vào bờ khoảng 100 tấn và thiệt hại từ ngành nuôi trồng thủy sản với 9 triệu tôm giống chết cùng hàng nghìn lồng cá bị hư hại; hoạt động du lịch ở 4 tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế chịu thiệt hại nặng và nhiều doanh nghiệp ở Hà Nội, TP.HCM cũng bị ảnh hưởng khi khách hủy tour, khiến công suất phòng ở 4 tỉnh giảm xuống 40-50% và riêng Hà Tĩnh chỉ còn 10-20% Về môi trường, mức độ ô nhiễm bởi các độc tố như sắt, amoni, phenol đã giảm nhưng đáy biển vẫn còn huyền phù, màng bám keo tụ tại khu vực san hô và đá cứng, cần tiếp tục đánh giá tính độc và mức độ gây hại Ở mức xã hội, sự cố làm giảm lòng tin của người dân, khiến nghi ngờ về quy trình thẩm định và phê duyệt đầu tư cũng như năng lực ứng phó khủng hoảng của cơ quan chức năng, đồng thời một bộ phận người dân lo ngại về an toàn của cá biển và các sản phẩm như nước mắm, rong tảo, tiềm ẩn nguy cơ an ninh khi lo sinh kế, thất nghiệp và nợ nần do không tiêu thụ được hải sản.
Về lâu dài, sự suy giảm của rạn san hô và phù du sinh vật có thể làm gián đoạn chuỗi thức ăn biển, dẫn tới suy giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế lâu dài của người dân Hệ sinh thái biển bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi các thành phần này bị suy giảm, đòi hỏi quản lý và bảo tồn bền vững để giảm thiểu rủi ro và duy trì cân bằng sinh thái Ví dụ, vụ tai nạn ngày 16/10/2020 trên đường Hoàng Quốc Việt, Hà Nội cho thấy khi một người không đội mũ bảo hiểm tham gia giao thông có thể gặp chấn thương nghiêm trọng và chịu trách nhiệm pháp lý, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ pháp luật và an toàn giao thông Nếu doanh nghiệp thực thi hoạt động đúng pháp luật, nguy cơ pháp lý và tai nạn liên quan có thể được hạn chế, bảo đảm an toàn cho người dân và phát triển bền vững.
Trong tình huống 3, hành vi của Lê Văn Luyện trong vụ án cướp tiệm vàng Ngọc Bích xảy ra ngày 24/08/2011 cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa hành động phạm pháp và hậu quả pháp lý Việc Lê Văn Luyện thực hiện vụ cướp đã dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng bao gồm thiệt hại tài sản và việc bị bắt giữ, chịu trách nhiệm hình sự Hành vi được thực hiện trước khi các hậu quả được xác định, nhưng mức án và biện pháp xử lý phụ thuộc vào chứng cứ, động cơ và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được xem xét trong quá trình tố tụng Tình huống này minh chứng cho nguyên tắc rằng hành vi phạm tội là nguyên nhân và hậu quả pháp lý là hệ quả trực tiếp của hành vi ấy, được định hình bởi khung pháp lý hiện hành.
Trong tình huống này, hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại trực tiếp cho nạn nhân và có tác động nguy hiểm đến xã hội Nguyên nhân được xác định là vụ giết người và cướp tài sản xảy ra tại tiệm vàng Ngọc Bích Hậu quả là cái chết của hai vợ chồng chủ tiệm vàng Ngọc Bích; đồng thời đứa con trai mới 18 tháng tuổi và con gái lớn bị chém mất tay, gây đau thương cho gia đình bị hại, thiệt hại về tài sản và sự bất bình trong xã hội.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả mang tính phức tạp trong thực tiễn đòi hỏi phân tích sâu để nhận diện các yếu tố quyết định mức độ nguy hiểm cho xã hội Việc xác định và phân tích những yếu tố này giúp định hướng các biện pháp nhằm giảm thiểu nguy hiểm cho xã hội Quá trình phân tích đồng thời nâng cao nhận thức đúng đắn và cần thiết cho sinh viên về mối liên hệ giữa hành vi phạm pháp, hậu quả và các yếu tố nguy hiểm xã hội.
THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA
Các biện pháp thực hiện pháp luật
a.Công tác tham mưu và ban hành chỉ đạo:
Thứ nhất, Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối trong mọi hoạt động của hệ thống chính trị Nguyên tắc này yêu cầu hoạt động công vụ và tham mưu về chính sách pháp luật phải phù hợp với đường lối lãnh đạo của Đảng.
Để tham mưu xây dựng chính sách pháp luật hiệu quả, cần phân định thẩm quyền giữa các cơ quan và người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, đồng thời làm minh bạch hệ thống chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng chủ thể Trong Chính phủ, thẩm quyền được làm rõ cho Chính phủ, Thủ tướng và các thành viên theo cả thẩm quyền tập thể và cá nhân; tương tự với các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp, nhằm thực hiện nghiêm túc thẩm cấp trong nền hành chính Cán bộ, công chức tham mưu phải nắm vững quy trình: tham mưu cho cấp vụ, cấp vụ tham mưu cho bộ trưởng, bộ trưởng tham mưu cho Chính phủ và Thủ tướng Chính quyền địa phương cũng cần trang bị kỹ năng tham mưu theo thẩm cấp Nguyên lý “mỗi việc cần được giải quyết dứt điểm ở một cấp” và “mỗi người làm công việc của chính mình” nhấn mạnh việc lựa chọn và bố trí người có khả năng tham mưu giỏi, có khả năng dự báo chính sách pháp luật.
Trong quá trình tham mưu xây dựng chính sách pháp luật, cần bảo đảm tính khách quan, khoa học và kiên quyết chống lại lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm Kinh nghiệm cho thấy cán bộ, công chức tham mưu hiệu quả khi đặt lợi ích chung của đất nước và dân tộc làm mục tiêu hoạt động công vụ, từ đó tăng khả năng phát triển kinh tế hài hòa, đồng bộ và bền vững.
Xã hội sẽ đạt được hiệu quả và sự bền vững khi các chính sách pháp luật được thiết kế và thực thi vì lợi ích chung của toàn xã hội Ngược lại, nếu ưu tiên cục bộ địa phương, ngành hoặc lợi ích nhóm, hiệu quả của chính sách sẽ không cao và tính bền vững của pháp luật sẽ bị hạn chế Vì vậy, để tăng hiệu quả và bền vững, cần kiềm chế lợi ích nhóm, tăng tính minh bạch và sự đồng thuận xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách pháp luật.
Phối hợp trong tham mưu xây dựng chính sách pháp luật là kỹ năng then chốt giúp huy động trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị Một ý tưởng sáng tạo khó có thể đi vào thực tế khi thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức tham gia các quá trình lấy ý kiến phản biện, thẩm định, thẩm tra và thực thi pháp luật Dù quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định chặt chẽ, hiệu quả chưa cao vì rào cản phối hợp từ chính các cơ quan liên quan Quan niệm mỗi bộ, ngành tham mưu, trình chính sách tự chịu trách nhiệm đã dẫn tới tình trạng thiếu sự liên thông trong tham mưu Phối hợp trong xây dựng chính sách pháp luật là một phương thức quản lý; một chính sách pháp luật ra đời là kết quả của toàn bộ bộ máy và thể hiện sự đánh giá cao tính sáng tạo trong quá trình phối hợp liên ngành của nền hành chính, đồng thời phủ nhận những ý tưởng tiêu cực của cá nhân không biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.
Nguyên tắc trách nhiệm của người làm công tác tham mưu xây dựng chính sách pháp luật đòi hỏi họ phải chịu trách nhiệm trước kết quả tham mưu của mình; ngoài việc vận dụng khả năng và kiến thức, bản lĩnh tham mưu còn đòi hỏi người tham mưu chịu trách nhiệm chính trị và pháp lý trong quá trình xây dựng chính sách Cần xác định rõ ai là người chịu trách nhiệm chính trong tham mưu để các chính sách pháp luật ban hành đúng tiến độ và giảm thiểu hậu quả tiêu cực trong quản lý Hiện nay quy chế làm việc của các bộ, ngành và Chính phủ đã quy định trình tự, thủ tục trình các dự án, văn bản, nhưng chưa làm rõ trách nhiệm của người tham mưu xây dựng chính sách, dẫn đến thiếu một cơ chế chịu trách nhiệm cụ thể.
Việc tham gia của các chuyên gia và nhà khoa học trong quá trình đề xuất xây dựng chính sách pháp luật và thực thi pháp luật là yếu tố quyết định để đảm bảo tính khoa học và tính sáng tạo của các kết quả tham mưu; tính khoa học được thể hiện ở chỗ các vấn đề lý luận và thực tiễn phải tương hỗ lẫn nhau, lý luận có thể đi trước hoặc sau tổng kết thực tiễn nhưng các ý tưởng tham mưu cần được bổ sung cho nhau thông qua việc ứng dụng các công trình nghiên cứu khoa học; phản biện khoa học của các chuyên gia, nhà khoa học đóng góp thông tin khoa học cho tham mưu và đặc biệt cho quá trình đánh giá tác động của chính sách pháp luật; quá trình lấy ý kiến chuyên gia, nhà khoa học vừa cung cấp các phương án khác nhau khi xây dựng, vừa là sự kiểm nghiệm tính ổn định và khả thi của chính sách pháp luật trong quá trình thực thi.
Trong giai đoạn tiền đề của quá trình tham mưu xây dựng chính sách pháp luật, ý tưởng cần được nhận diện và định hình rõ ràng Ý tưởng có thể xuất hiện từ quá trình quản lý, điều hành kinh tế - xã hội của chủ thể có thẩm quyền, ví dụ như quan điểm về phát triển thương mại quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang diễn ra Chủ thể tham mưu có thể là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, hoặc chính là người làm công tác tham mưu Ý tưởng này phải căn cứ vào cơ sở chính trị, khoa học và pháp lý để phân tích và tham mưu cho cấp có thẩm quyền quyết định.
Hai là, phân tích chính sách pháp luật.
Giai đoạn này đòi hỏi chủ thể tham mưu xem xét chính sách pháp luật ở nhiều góc độ: tính phù hợp với đường lối và chủ trương của Đảng, tính hợp lý, tính thời sự cấp bách, tính khả thi và tính dự báo hiệu quả của chính sách khi có hiệu lực Quá trình phân tích bao gồm xác định rõ mục đích và yêu cầu của việc ban hành, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, thu thập tài liệu, lấy ý kiến chuyên gia và các nhà khoa học, khảo sát thực tiễn, xử lý tài liệu và thu thập, phân tích chính sách và đưa ra ý kiến về phân tích chính sách Lưu ý, khi phân tích cần loại bỏ ý chí chủ quan và đưa ra các phương án thực hiện chính sách (nếu có) và phải có lập luận cho từng phương án để trình cơ quan, người có thẩm quyền, nhằm tăng tính thuyết phục, khả thi và hiệu quả của chính sách pháp luật được ban hành.
Ba là, lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan đến chính sách pháp luật.
Tùy theo phạm vi của chính sách pháp luật do chủ thể tham mưu đề xuất, cơ quan có thẩm quyền hoặc đơn vị tham mưu phải gửi dự thảo chính sách tới các cơ quan liên quan, tổ chức xã hội và doanh nghiệp bị tác động để lấy ý kiến, tổ chức hội thảo hoặc hội nghị chuyên đề nhằm làm rõ nội dung và tác động của chính sách; đồng thời đề xuất điều kiện để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia góp ý kiến vào dự thảo Các ý kiến đóng góp được người làm công tác tham mưu nghiên cứu, tiếp thu và phản ánh trong quá trình chỉnh lý dự thảo chính sách pháp luật.
Bốn là, đánh giá tác động của chính sách pháp luật.
Chủ thể tham mưu xây dựng chính sách pháp luật phải thực hiện đánh giá tác động cho từng chính sách, xác định vấn đề cần giải quyết, nêu rõ mục tiêu của chính sách và các giải pháp thực thi Nội dung đánh giá tác động gồm phân tích chi phí và lợi ích của từng giải pháp, so sánh các phương án về chi phí–lợi ích và lựa chọn giải pháp tối ưu kèm lý do dựa trên đánh giá của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan; đồng thời đánh giá tác động thủ tục hành chính và tác động đối với bình đẳng giới (nếu có).
Năm là, tổ chức lấy ý kiến phản biện việc xây dựng chính sách pháp luật.
Trong quá trình tham mưu xây dựng chính sách pháp luật, chủ thể tham mưu có thể tổ chức lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia và nhà chuyên môn liên quan, với các ý kiến nêu rõ ưu điểm và hạn chế của dự thảo Khác với lấy ý kiến nhân dân, thủ tục phản biện chính sách pháp luật thường được tổ chức hẹp và tập trung, nhằm nâng cao tính khoa học và tính thực tiễn của chính sách Đây là kênh để các nhà khoa học có thể đưa ra luận cứ và phương án khác nhau, báo cáo với người có thẩm quyền Phạm vi phản biện đi sâu vào ý tưởng và nội dung quan trọng của dự thảo, đồng thời vận dụng các công cụ của khoa học chính sách công và khoa học quản lý hiện đại Về thực tiễn, các quy luật đã và đang tồn tại trong đời sống xã hội có thể được áp dụng để tăng cường tính khả thi và hiệu quả của pháp luật.
Sáu là, xây dựng dự thảo văn bản chính sách pháp luật.
Dựa trên ý tưởng và quy trình đã nêu, chủ thể tham mưu sẽ biên tập thành dự thảo văn bản hoặc giao cho tổ chức, cá nhân khác xây dựng, hình thành văn bản; hoặc thành lập một cơ quan chủ trì có sự phối hợp của các bộ, ngành liên quan để thực hiện công việc này Các ý kiến tham mưu xây dựng chính sách được thể hiện bằng dự thảo và trình theo quy chế làm việc của các cơ quan, tổ chức, trừ khi có yêu cầu trực tiếp từ cơ quan hoặc người có thẩm quyền.
Theo trách nhiệm công vụ, người tham mưu xây dựng chính sách pháp luật phải báo cáo cấp trên trực tiếp khi thực hiện nhiệm vụ; ví dụ Thủ tướng yêu cầu một chuyên viên cao cấp hoặc thứ trưởng, bộ trưởng tham mưu về một chính sách pháp luật nào đó thì họ phải báo cáo các cấp hành chính mà mình là thành viên (vụ trưởng, bộ trưởng) Đối với việc giao cho tập thể thực hiện (bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) thì bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải tiến hành các thủ tục nêu trên Ủy ban nhân dân các cấp cũng thực hiện quy trình này.
Bảy là, thẩm định, thẩm tra chính sách pháp luật.
Thẩm định, thẩm tra là quá trình đánh giá toàn diện nội dung chính sách pháp luật nhằm xác định sự phù hợp với mục đích, yêu cầu và phạm vi điều chỉnh; tính hợp hiến, hợp pháp và chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính (nếu có); tính hợp lý, khả thi của chính sách, đồng thời đánh giá nguồn tài chính và nguồn nhân lực để thực hiện Quá trình này cũng xem xét ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự soạn thảo chính sách pháp luật, lưu ý rằng theo thẩm quyền của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các hình thức văn bản được quy định chặt chẽ; riêng với các văn bản khác, chủ thể tham mưu có thể vận dụng linh hoạt nội dung thẩm định, thẩm tra để áp dụng vào quá trình tham mưu xây dựng chính sách pháp luật.
Tám là, trình ý kiến tham mưu xây dựng chính sách pháp luật.
Đánh giá chung
Có thể nói thực tiễn thực thi pháp luật ở nước ta hiện nay có những biểu hiện tương đối tốt Dựa trên đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của nhà nước và sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, cùng với công tác tuyên truyền pháp luật của các cơ quan chức năng, các yếu tố này đã giúp người dân có cái nhìn tổng quan và đúng đắn về pháp luật, từ đó chấp hành, tuân thủ và thực hiện pháp luật một cách tự giác, chủ động và nghiêm chỉnh Ví dụ, trong thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ tham nhũng liên quan đến đất đai và đóng góp của người dân, nhưng nhân dân đã khiếu nại, tố cáo và lên tiếng phản ánh Người dân ủng hộ nhiệt tình với các chủ trương của chính phủ trong việc xử lý kiên quyết, không né tránh dù đối tượng có cương vị cao đến đâu, điều này cho thấy nhu cầu công bằng xã hội được dư luận xã hội quan tâm, tán thành và ủng hộ Điều này không chỉ mang lại quyền lợi cho người dân mà còn thể hiện tính dân chủ của nhà nước, cho thấy nhận thức về pháp luật của người dân được củng cố và nâng cao.
Xã hội ngày nay ở mức độ tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội Điều này có được nhờ hoạt động thực thi pháp luật được đảm bảo, duy trì và giữ vững bởi toàn xã hội, nhằm xây dựng khung pháp lý rõ ràng và nhất quán Vì vậy, củng cố và tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật là nền tảng giúp bảo đảm an ninh trật tự, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh những kết quả tích cực của công tác thực thi pháp luật ở nước ta, thực tiễn vẫn tồn tại một số hạn chế và bất cập trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật Dù có sự chỉ đạo của các cơ quan chức năng và đường lối chính sách đúng đắn của Nhà nước, vẫn còn một bộ phận dân cư vi phạm pháp luật và có hành vi tội phạm Ý thức pháp luật của một bộ phận người dân còn yếu, họ thiếu tôn trọng pháp luật, có thái độ thờ ơ và thường lẩn tránh các quy định Việc tuỳ tiện chấp hành kỉ luật lao động, sinh hoạt và làm việc cũng diễn ra, làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi pháp luật và sự tuân thủ trong xã hội.
Ở Việt Nam, dân cư khu vực nông thôn chiếm tỉ lệ lớn trong ngành nông nghiệp, với hoạt động sản xuất và chăn nuôi diễn ra quanh năm Người dân sống dựa trên phong tục tập quán từ lâu đời và thực hiện trách nhiệm xã hội theo các chuẩn mực truyền thống Tuy vậy, nhận thức về hiểu biết và chấp hành pháp luật ở nhiều vùng nông thôn vẫn còn hạn chế Cần có các giải pháp đồng bộ như tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng cao năng lực thực thi để nâng cao ý thức pháp luật, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và cải thiện quyền lợi người dân.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện nay đa dạng về hình thức và đồ sộ về số lượng, nhưng vẫn chưa được rà soát và hệ thống hoá định kỳ, khiến người dân gặp khó khăn trong tiếp cận, tra cứu và tuân thủ đúng các quy định pháp luật.
Hệ thống pháp luật có tính ổn định thấp, đặc biệt ở các văn bản liên quan đến kinh tế tài chính, ngân hàng thường xuyên thay đổi Nguyên nhân khách quan gồm sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển nhanh và phức tạp của các quan hệ kinh tế - xã hội, cùng với biến động do khủng hoảng kinh tế toàn cầu và khu vực Nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ khả năng dự báo và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, và công tác hoạch định chính sách thiếu tầm nhìn chiến lược Những yếu tố này gây bất ổn cho hệ thống pháp luật và thách thức quá trình điều chỉnh, thi hành và phát triển văn bản pháp lý nhằm thích ứng với thực tiễn kinh tế - xã hội.
Chưa làm tốt việc tập hợp, hệ thống hóa các quy phạm pháp luật, nên văn bản mới ban hành dễ chồng chéo, thậm chí, có trường hợp mâu thuẫn với các văn bản đang có hiệu lực
Tổng kết phần 4
Quản lý xã hội bằng pháp luật và coi pháp luật là thượng tôn đặt nền tảng cho việc tổ chức thực hiện pháp luật một cách hiệu quả, hiệu lực Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật một cách hiệu quả nhất đồng thời tuyệt đối tuân thủ các quy định của pháp luật Hai yếu tố này có mối quan hệ tương hỗ: sự tuyệt đối tuân thủ pháp luật của Nhà nước là cơ sở để tổ chức thực hiện pháp luật đạt hiệu quả và hiệu lực, và ngược lại, tổ chức thực hiện pháp luật hiệu quả đòi hỏi Nhà nước phải tuân thủ tuyệt đối các quy định của pháp luật.
Trong những năm gần đây, công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở nước ta đã có nhiều tiến bộ dù vẫn còn một số hạn chế; Đảng và Nhà nước đã quan tâm, chỉ đạo và đầu tư cho hoạt động tuyên truyền pháp luật ở các cấp, ngành Các hoạt động tuyên truyền và phổ biến pháp luật này đã góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân, giúp phần lớn người dân hiểu rõ tầm quan trọng của pháp luật đối với đời sống hàng ngày và ngày càng tự giác chấp hành các quy định do Nhà nước đề ra.