1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục quốc phòng và an ninh học phần 1 đường lối quốc phòng và an ninh của đảng cộng sản việt nam

206 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 6,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã đề ra chủ trương, đường lối chiến lược xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh

Trang 1

NHÀ XUẤT BẢN

GIÁO DỤC QUỐC PHỊNG VÀ AN NINH

Trang 2

NGUYỄN ĐỨC THÀNH (Chủ biên)

GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022

HỌC PHẦN 1

Trang 3

NHÓM TÁC GIẢ BIÊN SOẠN

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị

về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trong tình hình mới; Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 về giáo dục quốc phòng và an ninh; Chỉ thị số 57/2007/CT- BGDĐT ngày 04/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trong ngành giáo dục, Trung tâm Giáo dục Thể chất và Quốc phòng, Trường Đại học Sư phạm

Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức biên soạn cuốn “Giáo dục quốc phòng và an ninh, Học phần 1” với nội dung về đường lối quốc phòng và

an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam, lưu hành nội bộ, dùng cho sinh viên đại học Nội dung, chương trình được cập nhật theo Thông tư số 05/2020/ TT-BGDĐT ngày 18/3/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót, tập thể tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, những nhà nghiên cứu và bạn đọc để tiếp tục giúp nhóm biên soạn từng bước hoàn thiện nghiên cứu của mình Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về “Trung tâm Giáo dục Thể chất Quốc phòng và An ninh”, Trường Đại học Sư phạm

Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: số 01, đường Võ Văn Ngân, phường Linh Chiểu, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Xin chân thành cảm ơn!

Nhóm biên soạn

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Bài 1 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu môn học Giáo dục

quốc phòng và an ninh 7

Bài 2 Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về chiến tranh quân đội và bảo vệ Tổ quốc 16

Bài 3 Xây dựng nền quốc phòng toàn dân an ninh nhân dân

bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa 31

Bài 4 Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội

Bài 5 Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân 58

Bài 6 Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng

cố quốc phòng và an ninh 68

Bài 7 Những vấn đề cơ bản về lịch sử nghệ thuật quân sự

Bài 8 Xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới

quốc gia trong tình hình mới 116

Bài 9 Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị

động viên và động viên công nghiệp quốc phòng 139

Bài 10 Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc 162

Bài 11 Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ

gìn trật tự, an toàn xã hội 182

Trang 8

BÀI 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

MỤC TIÊU Kiến thức: Người học nắm vững và quán triệt những vấn đề cơ bản

về đối tượng, phương pháp và nội dung nghiên cứu, đặc điểm môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh (GDQP&AN) Góp phần bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Kỹ năng: Sinh viên xác định trách nhiệm, thái độ đúng trong học

tập môn học GDQP&AN, tích cực tham gia xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ngay khi đang học tập, rèn luyện trong nhà trường và ở mỗi vị trí công tác tiếp theo

- Nghiên cứu đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nghiên cứu những quan điểm cơ bản có tính lý luận của Đảng về đường lối quốc phòng và an ninh gồm: Học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc Quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân Chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng và an ninh Một số nội dung cơ bản về lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam Xây dựng và

Trang 9

bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc gia Xây dựng lực lượng dân quân

tự vệ, lực lượng dự bị động viên và những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội

Trên cơ sở lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã đề ra chủ trương, đường lối chiến lược xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và tiến hành chiến tranh nhân dân bảo

vệ Tổ quốc Những quan điểm của Đảng về quốc phòng và an ninh có tính

kế thừa và phát huy những truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc “cả nước một lòng chung sức đánh giặc”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu chống mạnh” Đó cũng chính là đặc trưng nghệ thuật quân sự Việt Nam đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược Các quan điểm của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, xây dựng phong trào toàn dân bảo

vệ an ninh Tổ quốc đã bám sát thực tiễn, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị, kinh tế phát triển, bảo đảm an ninh trật tự, hội nhập quốc tế sâu rộng, vị thế nước

ta ngày càng cao trên thế giới

- Nghiên cứu về công tác quốc phòng và an ninh

Nghiên cứu về công tác quốc phòng và an ninh thực chất là nghiên cứu hệ thống quy phạm pháp luật của Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị Bao gồm, nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam Một số vấn đề về dân tộc, tôn giáo và đấu tranh phòng chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam Phòng chống vi phạm pháp luật về bảo

vệ môi trường Phòng chống vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông Phòng chống một số loại tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác An toàn thông tin và phòng chống vi phạm pháp luật trên không gian mạng An ninh phi truyền thống và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống ở Việt Nam

Mọi công dân đều có trách nhiệm tham gia công tác quốc phòng

an ninh, luyện tập quân sự, bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội Nghiên cứu và thực hiện tốt công tác quốc phòng và an ninh để xây dựng lòng tin chiến thắng trước mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam

- Nghiên cứu quân sự chung

Nghiên cứu các chế độ sinh hoạt, học tập, công tác trong ngày, trong

Trang 10

tuần Các chế độ xây dựng nề nếp chính quy, bố trí trật tự nội vụ trong doanh trại Hiểu biết chung về các quân, binh chủng trong Quân đội nhân dân Việt Nam Điều lệnh đội ngũ từng người có súng Điều lệnh đội ngũ đơn vị Hiểu biết chung về bản đồ địa hình quân sự Phòng tránh địch tiến công hỏa lực bằng vũ khí công nghệ cao và Ba môn quân sự phối hợp.

Nghiên cứu kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật

Sinh viên cần quan tâm nghiên cứu:

- Những kỹ năng cơ bản về kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK;

- Tính năng, cấu tạo và cách sử dụng một số loại lựu đạn thường dùng;

- Ném lựu đạn xa trúng đích;

- Từng người trong chiến đấu tiến công;

- Từng người trong chiến đấu phòng ngự và từng người làm nhiệm

vụ canh gác, cảnh giới

- Hiểu rõ bản chất các nội dung của kỹ thuật, chiến thuật bộ binh và các phương pháp thực hiện phù hợp, sát với thực tế Đồng thời làm cơ sở

để ứng dụng khi tham gia dân quân, tự vệ

1.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh

- Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu môn học

Cơ sở phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu bộ môn này là học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quá trình nghiên cứu, đẩy mạnh giáo dục quốc phòng và an ninh cần phải nắm vững

và vận dụng đúng đắn các quan điểm khoa học sau đây:

Trong cuốn “Đường Kách mệnh” Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết:

“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, kách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”

- Các quan điểm nghiên cứu

Quan điểm hệ thống: Đặt ra yêu cầu nghiên cứu, phát triển các nội

dung của giáo dục quốc phòng và an ninh một cách toàn diện, tổng thể trong mối quan hệ phát triển giữa các bộ phận, các vấn đề của môn học

Quan điểm lịch sử, logic: Trong nghiên cứu, phải nhìn thấy sự phát

triển của đối tượng, vấn đề nghiên cứu theo thời gian, không gian với những điều kiện lịch sử cụ thể để từ đó giúp ta phát hiện, khái quát, nhận thức đúng những quy luật, nguyên tắc của hoạt động quốc phòng và an ninh

Trang 11

Quan điểm thực tiễn: Phải bám sát thực tiễn xây dựng quân đội

nhân dân, công an nhân dân và xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phục

vụ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Là một bộ môn khoa học nằm trong hệ thống khoa học quân sự, phạm vi nghiên cứu rất rộng, nội dung nghiên cứu đa dạng, được cấu trúc theo hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và luôn có sự kế thừa, phát triển Vì vậy, việc tiếp cận nghiên cứu giáo dục quốc phòng - an ninh phải được thực hiện bằng nhiều phương pháp, phù hợp với tính chất của từng nội dung và vấn đề nghiên cứu cụ thể

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: gồm phân tích, tổng hợp, phân

loại, hệ thống hóa, mô hình hóa, giả thuyết,… nhằm thu thập thông tin, trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu về quốc phòng và an ninh để rút

ra kết luận cần thiết

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Quan sát điều tra, khảo sát thực

tế, nghiên cứu các sản phẩm quốc phòng và an ninh, tổng kết kinh nghiệm, thí nghiệm, thực nghiệm,… nhằm tác động trực tiếp vào đối tượng trong quốc phòng an ninh, từ đó khái quát bản chất, quy luật hoạt động của quốc phòng và an ninh, không ngừng bổ sung cũng như kiểm định tính đúng đắn của nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh

2 Đặc điểm, nội dung chương trình môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh

2.1 Đặc điểm môn học

Hình 1 Khai giảng môn học GDQP&AN tại cơ sở 2

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM

Trang 12

Giáo dục quốc phòng, an ninh là môn học được luật định, thể hiện

rõ đường lối giáo dục của Đảng được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Chương trình học có sự kế tục và phát huy kết quả thực hiện chương trình huấn luyện quân sự phổ thông (1961), môn học giáo dục quốc phòng (1991), quy chế giáo dục đào tạo trình độ đại học (2000) và nghị định của chính phủ về giáo dục quốc phòng năm 2007 Giáo dục quốc phòng, an ninh là môn học bao gồm kiến thức khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật quân sự, có

tỷ lệ lý thuyết chiếm trên 70% chương trình

Giáo dục quốc phòng, an ninh góp phần xây dựng, rèn luyện ý thức

tổ chức kỷ luật, tác phong khoa học ngay khi sinh viên đang học tập tại trường và khi ra công tác, góp phần đào tạo cho đất nước đội ngũ cán bộ

có ý thức, năng lực, sẵn sàng tham gia nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên mọi cương vị công tác

2.2 Chương trình Giáo dục quốc phòng và an ninh

Theo Thông tư số: 05/2020/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 3 năm 2020

của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình giáo dục quốc phòng

và an ninh gồm 4 học phần, thời lượng 165 tiết, cụ thể:

Học phần I: Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng (3 tín chỉ

= 45 tiết), gồm 11 nội dung:

- Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu môn học

- Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc

- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

- Chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

- Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

- Kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại

- Những vấn đề cơ bản về lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam

- Xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc gia trong tình hình mới

- Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên và động viên quốc phòng

- Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc

Trang 13

- Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật

- Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

- Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông

- Phòng, chống một số loại tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác

- An toàn thông tin và phòng, chống vi phạm pháp luật trên không gian mạng

- An ninh phi truyền thống và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống ở Việt Nam

Học phần III: Quân sự chung (1 tín chỉ = 30 tiết), gồm 8 nội dung:

- Chế độ sinh hoạt, học tập, công tác trong ngày, trong tuần

- Các chế độ nền nếp chính quy, bố trí trật tự nội vụ trong doanh trại

- Hiểu biết chung về các quân, binh chủng trong quân đội

- Điều lệnh đội ngũ từng người có súng

- Điều lệnh đội ngũ đơn vị

- Hiểu biết chung về bản đồ địa hình quân sự

- Phòng tránh địch tiến công hỏa lực bằng vũ khí công nghệ cao

- Ba môn quân sự phối hợp

Học phần IV: Kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật (2 tín chỉ =

60 tiết), gồm 7 nội dung sau:

- Kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK

- Tính năng, cấu tạo và cách sử dụng một số loại lựu đạn thường dùng

- Ném lựu đạn bài 1

- Từng người trong chiến đấu tiến công

- Từng người trong chiến đấu phòng ngự

Trang 15

ngoài; Học sinh, sinh viên đào tạo văn bằng 2, trình độ trung cấp chuyên nghiệp, đại học, cao đẳng.

- Đối tượng được miễn học và miễn thi các học phần: Sinh viên chuyển trường, sinh viên đào tạo liên thông hoặc hoàn thiện trình độ cao hơn được miễn học và thi các học phần đã học;

- Đối tượng được miễn học và miễn thi thực hành kỹ năng quân sự: Sinh viên là tu sĩ thuộc các tôn giáo; Sinh viên có thương tật, khuyết tật bẩm sinh, bị bệnh mãn tính làm hạn chế chức năng vận động, có giấy chứng nhận của bệnh viện cấp huyện và tương đương trở lên; Sinh viên

đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có giấy xuất ngũ do đơn vị quân đội có thẩm quyền cấp;

- Đối tượng được tạm hoãn học: Sinh viên Việt Nam đang học tập

ở nước ngoài hoặc đang học tập tại các trường của nước ngoài, trường liên doanh, liên kết với nước ngoài tại Việt Nam: Sinh viên bị ốm đau, tai nạn, thiên tai, hỏa hoạn; Sinh viên là phụ nữ đang mang thai và đang trong thời gian nghỉ thai sản theo quy định hiện hành; Hiệu trưởng các trường xem xét tạm hoãn cho các đối tượng quy định Hết thời gian tạm hoãn, các trường bố trí cho sinh viên vào học các lớp phù hợp để hoàn thành chương trình”.

Kết luận:

Giáo dục quốc phòng & an ninh cho học sinh, sinh viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện; qua đó tạo cho thế hệ trẻ có điều kiện tu dưỡng phẩm chất đạo đức

và rèn luyện năng lực thực tế để sẵn sàng thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP

1 Đối tượng nghiên cứu môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh?

2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh?

3 Đặc điểm, nội dung chương trình nghiên cứu môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh?

4 Đối tượng được miễn, giảm, tạm hoãn môn học Giáo dục quốc phòng

và an ninh?

Trang 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Thông tư số 05/2020/TT-BGDĐT ngày 18/3/2020 ban hành Chương trình giáo dục quốc phòng và an

ninh trong trường trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm và các cơ

Trang 17

BÀI 2 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN,

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH QUÂN ĐỘI

VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

MỤC TIÊU

* Kiến thức: Sinh viên nắm được những quan điểm cơ bản của chủ

nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

* Kỹ năng: Trên cơ sở kiến thức được cung cấp, người học có cơ

sở khoa học để nhận thức những quan điểm cơ bản của Đảng ta về chiến tranh, xây dựng quân đội, thực hiện tốt nghĩa vụ trách nhiệm của công dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay

NỘI DUNG

1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về chiến tranh

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về chiến tranh

1.1.1 Nguồn gốc của chiến tranh

Nguồn gốc của chiến tranh là vấn đề cơ bản của một cuộc chiến tranh Những người theo chủ nghĩa duy tâm cho rằng chiến tranh có nguồn gốc từ lực lượng siêu nhiên Đó có thể là do sự trừng phạt của Thượng đế, Thánh Ala hay Chúa trời giáng xuống loài người Một số nhà thần học, xã hội học thì lại cho rằng “chiến tranh là quà tặng của hai xứ sở đối lập là trời với người; chiến tranh là do quy luật sinh tồn bản năng; chiến tranh

do nguồn “nhân khẩu thừa”… Theo các lý giải này thì chiến tranh là hiện thực không thể loại trừ khỏi đời sống con người Đây là một trong những vấn đề rất phức tạp và có những nhận định khác nhau kể từ khi xuất hiện cho đến nay Từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại đã xuất hiện nhiều luận điểm, đánh giá của các nhà khoa học, chính trị, các tướng lĩnh hàng đầu của thế giới về chiến tranh Thời cổ đại ở Hy Lạp và La Mã, danh tướng La

Mã là I.G Caesar đã viết một số tác phẩm như bút ký về cuộc chiến tranh Gôlơ và bút ký về cuộc nội chiến, góp phần hình thành lý luận quân sự thời cổ đại Đến thời cận đại, nổi bật nhất trong nghiên cứu về chiến tranh

Trang 18

là nhà lý luận quân sự người Đức Carl Philipp Gottfried von Clausewitz

(1780-1831) Trong tác phẩm Bàn về chiến tranh, ông cho rằng chiến tranh

là công cụ của chính trị, nó nhất định phải mang tính chính trị Ông đã có một nhận định khoa học: Bất kỳ thời đại nào cũng có các cuộc chiến tranh riêng của nó Tuy nhiên vì ảnh hưởng của triết học duy tâm, Clausewitz đã không nhìn thấy mối liên hệ giữa chiến tranh với chính trị, kinh tế, xã hội, đối nội với đối ngoại nên bế tắc trong việc phân biệt và lý giải cội nguồn của chiến tranh… Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá cao sự đóng góp của C.Ph Clausewitz về chiến tranh Dẫu còn những hạn chế, nhưng C.Ph Clausewitz vẫn được đánh giá là một nhà lý luận quân sự hàng đầu của nhân loại

Kế thừa những thành tựu của nhân loại, các nhà lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đã lý giải chiến tranh là hiện tượng chính trị - xã hội có tính lịch sử Đó là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các giai cấp, nhà nước hoặc liên minh giữa các nước nhằm mục đích chính trị đề ra Trong chiến tranh, lực lượng vũ trang là công cụ chủ yếu Chiến tranh có tính lích

sử, chỉ tồn tại trong một giai đoạn nhất định Khác với những quan điểm

đã có, chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải nguồn gốc chiến tranh từ bức tranh hiện thực: chiến tranh xuất hiện khi xã hội có mâu thuẫn về kinh tế, chính trị, xã hội; chiến tranh xuất hiện khi xã hội có giai cấp, có nhà nước,

có chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Nhân loại đã sống hòa bình trong hàng vạn năm của chế độ cộng sản nguyên thủy Từ khi chế độ nô lệ xuất hiện với cuộc khởi nghĩa của Xpactacus, chiến tranh đã trở thành bạn đường của chế độ tư hữu Loài người hình như lúc nào cũng phải chứng kiến súng nổ, người chết, không nơi này thì ở nơi khác trên trái đất Chiến tranh là một hiện tượng có tính lịch sử Chiến tranh sẽ mất khi những tiền

đề gây ra nó không còn tồn tại Muốn loại bỏ chiến tranh khỏi đời sống nhân loại, phải xóa bỏ “chế độ tư hữu”, xóa bỏ đối kháng giai cấp, xây dựng một xã hội tự do, dân chủ, bình đẳng cho tất cả mọi người

1.1.2 Bản chất của chiến tranh

Bản chất của chiến tranh là một trong những nội dung cơ bản nhất của hiện tượng chiến tranh trong đời sống nhân loại Các cuộc chiến tranh xuất hiện có quy mô, thời gian, mục tiêu, rất khác nhau Vì vậy, việc nhận thức bản chất của một cuộc chiến tranh là rất khó khăn Trong lịch sử nhân loại, đã có nhiều nhà tư tưởng, các tướng lĩnh, chính khách đưa ra nhiều nhận định về bản chất của chiến tranh So với các quan điểm duy tâm tôn giáo về bản chất chiến tranh thì đây là những quan điểm có bước tiến nhất định Từ Aristotles đến G.Heghan rồi C.Ph Clausewitz đều thống nhất ở hai biểu hiện của chiến tranh là chính trị và bạo lực Sai lầm của các nhà

Trang 19

tư tưởng theo chủ nghĩa duy tâm là đồng nhất chính trị với chiến tranh mà

họ không lý giải được chính trị là một phạm trù hết sức rộng lớn mà chiến tranh chỉ là một bộ phận, một công đoạn trong một hệ thống chính trị, một quốc gia

Kế thừa và phát triển những thành quả của các nhà tư tưởng, chính sách, tướng lĩnh của các thế hệ trước, các nhà lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đã có những đóng góp vĩ đại cho nhân loại tiến bộ về bản chất của chiến tranh VI.Lênin đã chỉ rõ: Chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác Những biện pháp khác ở đây là bằng bạo lực

Do đó, chiến tranh về bản chất là một bộ phận của chính trị được thực hiện bằng bạo lực Trong đó chính trị chi phối toàn bộ cuộc chiến tranh, quyết định mục tiêu, kết quả của một cuộc chiến tranh Chiến tranh là một thách thức lớn nhất, toàn diện nhất đối với một chế độ chính trị, một nhà nước, một dân tộc Chiến tranh có tác động trở lại chính trị theo hai hướng tích cực và tiêu cực Trong quá khứ cho đến nay, các thế lực phản động quốc tế đều tìm cách che đậy nội dung chính trị để tiến hành chiến tranh với những chiêu bài như chống độc tài, gia đình trị hay để bảo vệ “thế giới tự do”, chống khủng bố Trong tình hình hiện nay, chiến tranh đã có nhiều thay đổi

về nhiều mặt như phương thức, vũ khí, lực lượng tham chiến, thời gian tiến hành Nhưng bản chất của các cuộc chiến tranh vẫn là sự tiếp tục chính trị của các quốc gia, dân tộc, giai cấp và các lực lượng chính trị mang nhiều màu sắc khác nhau trên phạm vi toàn thế giới

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh

1.1 Sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng

Kế thừa và phát triển lý luận Mác-Lênin về chiến tranh, Hồ Chí

Minh vận dụng vào thực tế Việt Nam Người chỉ rõ: “Trong cuộc đấu

tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền” [3, tr.304] Từ thực tế lịch sử của đất nước với sự bế

tắc và thất bại của các cuộc khởi nghĩa từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ

XX, Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng dân tộc, giành độc lập cho tổ quốc Bạo lực cách mạng, theo Hồ Chí Minh, gồm hai lực lượng: lực lượng chính trị toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân Mục đích của việc sử dụng bạo lực cách mạng là để giành độc lập, tự do, hòa bình Khi đã có độc lập, hòa bình, Hồ Chí Minh đã rất mềm dẻo trong các sách lược ngoại giao, đã có nhiều nhân nhượng để bảo

vệ độc lập, hòa bình Nhưng khi kẻ thù vẫn dùng bạo lực phản cách mạng

Trang 20

để tiếp tục mưu đồ xâm lược thì Người đã dứt khoát sử dụng bạo lực cách mạng để chiến đấu bảo vệ nền độc lập Trong khói lửa của chiến tranh, Người vẫn luôn kêu gọi đàm phán, có chính sách nhân đạo đối với hàng binh của kẻ thù Chiến tranh bằng bạo lực cách mạng gắn với tư tưởng nhân đạo, hòa bình là dấu ấn của Hồ Chí Minh

1.2 Chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập là chiến tranh chính nghĩa

Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản năm 1925

bằng tiếng Pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ bộ mặt xâm lược của chủ nghĩa thực dân Người khẳng định cuộc chiến tranh của thực dân Pháp là cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa Từ đó Người chỉ ra con đường cách mạng của nhân dân Việt Nam là phải đánh đổ thực dân, phong kiến, áp bức, bóc lột Đó là cuộc đấu tranh chính nghĩa để dành độc lập cho dân tộc Chỉ

ra tính chất phi nghĩa của thực dân Pháp và tính chất chính nghĩa của sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã góp phần cống hiến vào lý luận chiến tranh của nhân loại trong thế kỷ XX Từ thành quả lý luận này, Hồ Chí Minh luôn thể hiện tinh thần, thái độ chống chiến tranh xâm lược phi nghĩa, ủng hộ các cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ độc lập của các dân tộc bị áp bức trên thế giới

Bằng việc xác định tính chất xã hội của một cuộc chiến tranh, Hồ Chí Minh đã vạch trần tính chất phi nghĩa, vô nhân đạo của các cuộc chiến tranh xâm lược Đồng thời Người đã khẳng định tính nhân đạo, chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc, chống xâm lược Đây chính là cơ

sở để từ đó Hồ Chí Minh khơi dậy, thức tỉnh, huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào cuộc trường chinh vĩ đại 30 năm để thống nhất Tổ quốc trong độc lập, tự do, hòa bình và đi lên chủ nghĩa xã hội

1.3 Cuộc chiến tranh giải phóng là chiến tranh nhân dân dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Kế thừa lý luận Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân và những bài học chống ngoại xâm của các triều đại phong kiến Việt Nam trong lịch sử, Hồ Chí Minh khẳng định nhân tố con người là yếu tố quyết định thắng lợi một cuộc chiến tranh Vì vậy, phải tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Với nỏ thần là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hồ Chí Minh đã đưa Việt Nam từ trong bóng tối ra ánh sáng và vững bước trên con đường

mà Người đã chọn: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Vì vậy, khi tìm ra con đường cứu nước, chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã khẳng định:

Trang 21

đem sức ta mà tự giải phóng cho ta Phải huy động sức mạnh của toàn thể dân tộc để giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và bất công Với đường lối đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã huy động sức mạnh toàn dân tộc làm nên cuộc cách mạng tháng Tám 1945 Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp, Người đã nêu lên quan điểm chiến tranh toàn dân trong Lời kêu gọi

toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1046: hễ là người Việt Nam thì phải

đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc bằng tất cả các loại vũ khí

có trong tay Người khẳng định mỗi người dân là một người lính Để đảm bảo cho cuộc kháng chiến thắng lợi, Người khẳng định cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của dân tộc phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự dẫn dắt của chính phủ kháng chiến, cùng với lực lượng vũ trang làm nòng cốt Người cũng chỉ rõ là kháng chiến phải đi liền với kiến quốc, phải đánh địch trên tất cả các mặt trận từ quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao để giành thắng lợi Tư tưởng chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân của

Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận cho toàn bộ đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng để Việt Nam hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và đi lên chủ nghĩa xã hội

Học tập, kế thừa và phát triển, vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin vào hiện thực của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác định đúng con đường cách mạng của Việt Nam Con đường cách mạng này là cơ sở để hình thành

tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh Xác định cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc là cuộc chiến tranh chính nghĩa gắn với hòa bình và nhân đạo của nhân dân Việt Nam đã huy động sức mạnh toàn dân tộc và sức mạnh thời đại

để đưa cách mạng Việt Nam giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của thế kỷ XX Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam trong thế kỷ XXI

3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Sự ra đời của quân đội gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước, giai cấp, chế độ tư hữu Quân đội là một hiện tượng lịch sử, chính trị gắn liền với nhà nước Ăngghen nêu rõ: Quân đội là một tập đoàn người có vũ trang, có tổ chức do nhà nước xây dựng, là công cụ bạo lực chủ yếu nhất

Trang 22

để bảo vệ lợi ích, chủ quyền, lãnh thổ… Như vậy, chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành đối kháng giai cấp, là nguồn gốc ra đời của quân đội Lênin nhấn mạnh: trong điều kiện khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang độc quyền thì quân đội là phương tiện quân sự chủ yếu để tiến hành chiến tranh xâm lược các thuộc địa và duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản đối với nhân dân lao động Điều này khác với những quan điểm duy tâm về nguồn gốc quân đội từ sự phân tích cơ sở kinh tế - xã hội trong những điều kiện lịch sử, cụ thể Như vậy, quân đội là một hiện tượng lịch sử xã hội gắn với

sự phát triển, gắn với nhà nước, gắn với chế độ tư hữu, đối kháng giai cấp Quân đội chỉ mất đi khi giai cấp, nhà nước và những điều kiện lịch sử xã hội sinh ra nó tiêu vong

Cho đến nay, khi bàn về bản chất của quân đội vẫn còn không ít những quan điểm khác nhau “Phi chính trị hóa quân đội” là một trong những luận điểm của các học giả phương Tây rao giảng hiện nay Về bản chất, đây là luận điểm “không tưởng”, không có trong thực tế từ khi quân đội ra đời cho đến nay trên phạm vi thế giới Lý luận Mác-Lênin chỉ ra rằng: bản chất của quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một tập đoàn, một giai cấp, một nhà nước nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cho tổ chức nuôi dưỡng nó Vì vậy, bản chất của quân đội phụ thuộc vào bản chất của nhà nước tổ chức, xây dựng ra lực lượng vũ trang Quan điểm “trung lập hóa quân đội” chính là sự che đậy bản chất giai cấp của quân đội, che đậy tính chính trị của quân đội Đây là một trong những luận điểm phản động trong chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch hiện nay Kế thừa những luận điểm về lý luận quân sự của K Mác và Ph Ăngghen, bằng thực tiễn của cách mạng Nga năm 1917, Lênin là người đã

có những đóng góp cả về lý luận và thực tiễn cho học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin Đặc biệt, Lênin là người đã nêu lên những nguyên tắc quân đội kiểu mới và khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của đảng cộng sản đối với quân đội trong sự nghiệp chiến tranh bảo vệ tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

1.2 Sức mạnh của quân đội và nguyên tắc xây dựng quân đội theo lý luận Mác-Lênin

Các lý thuyết của nhiều nhà lý luận phương Tây đều sùng bái sức mạnh của vũ khí và lực lượng quân đội chính quy đông đảo, hùng mạnh, đầy đủ Quy luật của chiến tranh là mạnh thì thắng, yếu thì thua Vậy thì sức mạnh của quân đội ở đây phải chăng chỉ cần quân đông, súng lớn? Thực tế của chiến tranh không phải như vậy Khi biện minh cho thất bại của mình ở nước Nga xa xôi, Napoleon đổ lỗi cho giá lạnh của nước Nga

đã làm cho quân Pháp rút chạy

Trang 23

Kế thừa di sản của quá khứ, với trí tuệ siêu việt C Mác, Ph Ăngghen và đặc biệt là Lênin đã đưa ra những luận điểm khoa học về sức mạnh của quân đội Sức mạnh của quân đội phụ thuộc vào những yếu tố: con người, trang bị, kinh tế, chính trị, huấn luyện, tổ chức,… Theo Lênin, trong các yếu tố đó thì yếu tố chính trị - tinh thần giữ vai trò quyết định đến sức mạnh của quân đội Lênin khẳng định: trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng nhân dân đang đổ máu ở chiến trường Bảo vệ và phát triển lý luận của C Mác

và Ph Ăngghen về quân đội, Lênin đã có nhiều quyết sách lớn cả về lý luận và thực tiễn để xây dựng quân đội Xô viết trẻ tuổi Cách mạng muốn tồn tại và phát triển thì phải tự bảo vệ được chính mình Quan điểm đó của Lênin đã được thực hiện bằng việc nhà nước Xô viết giải tán quân đội Sa hoàng, lập nên quân đội công nông là Hồng quân Lênin cũng đã nêu lên những nguyên tắc để xây dựng Hồng quân là: Đảng lãnh đạo, tăng cường bản chất của Hồng quân, đoàn kết quân đội với nhân dân; xây dựng quân đội chính quy, tổ chức, phát triển các quân binh chủng, sẵn sàng chiến đấu; trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản Trong các nguyên tắc thì sự lãnh đạo của Đảng là cơ bản, quyết định nhất đến sức mạnh của quân đội Cho đến ngày nay, đây vẫn là những nguyên tắc xây dựng quân đội, là cơ sở lý luận cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam

4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội

1.1 Sự ra đời của quân đội là tất yếu, là quy luật của cách mạng Việt Nam

Được suy tôn là người cha thân yêu của lực lượng vũ trang Việt Nam, Hồ Chí Minh là người đã chuẩn bị lý luận quân sự và trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng quân đội Từ quan điểm sử dụng bạo lực cách mạng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng Muốn đánh chúng phải có lực lượng quân sự, phải có tổ chức Chính vì vậy, sau khi về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh đã bắt tay vào việc xây dựng căn cứ cách mạng và lực lượng vũ trang Sự ra đời của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 22/12/1944 là kết quả của một quá trình từ đấu tranh chính trị tiến tới đấu tranh vũ trang của phong trào giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước vận mệnh sống còn của Tổ quốc, việc tổ chức lực lượng vũ trang, đặc biệt là quân đội, là yêu cầu khách quan của cuộc kháng chiến Yêu cầu đó của cuộc kháng chiến, của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới đã được xác định trong hệ thống luật pháp Việt Nam, mà đặc biệt là trong Hiến pháp đầu tiên của nhà nước

Trang 24

Việt Nam: Hiến pháp 1946 Từ đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đã được

sự đầu tư quan tâm của Đảng chính phủ và nhân dân về mọi mặt để trở thành lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo

vệ nền độc lập, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

Sự hình thành và phát triển của quân đội là quy luật trong cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc ở giữa thế kỷ XX của dân tộc Việt Nam Quy luật đó đã

và đang giữ vai trò rất trọng yếu trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Hình 3 Lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam

niem-76-nam-ngay-thanh-lap-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-22-12-1944- 22-12-2020-lich-su-va-y-nghia-ngay-thanh-lap-quan-doi-nhan-dan-viet-

Hồ Chí Minh ở một đất nước vốn là thuộc địa của thực dân, đế quốc Trong bài viết “Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt” ngày 3/3/1952, Hồ Chí Minh khẳng định: Quân đội là quân đội nhân dân Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân Đánh giặc để giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ

Trang 25

quốc; để bảo vệ tự do, hạnh phúc của nhân dân Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác

Bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc là nguồn gốc sức mạnh vì phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam Sinh thời Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho việc thành lập lực lượng vũ trang là chính trị, tinh thần đi trước, con người là tiên quyết Vì thế, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đến tính chính trị, đến việc giáo dục những phẩm chất cách mạng làm cơ sở cho việc xây dựng quân đội, nâng cao bản chất giai cấp công nhân để quân đội vững mạnh toàn diện Hồ Chí Minh nêu lên một quan điểm hết sức cơ bản: “Người trước, súng sau” Con người chiến sỹ có bản lĩnh chính trị,

có ý thức giai cấp, dân tộc, phấn đấu cho lý tưởng của Đảng và khát vọng giải phóng dân tộc Đây là một trong những “đặc sản” mà Quân đội nhân dân Việt Nam sở hữu Đây đồng thời cũng là một “nỏ thần” để quân đội ta chiến thắng các loại kẻ thù hung bạo nhất trong thế kỷ XX

1.3 Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và nhiệm vụ, chức năng cơ bản của Quân đội nhân dân Việt Nam

Trung thành với những nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm đến tổ chức, lãnh đạo công cụ đặc biệt này Ngay từ khi ra đời, sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội được xác định là nguyên tắc đầu tiên, triệt để, trực tiếp, toàn diện Công tác Đảng, công tác chính trị được thực hiện từ cấp chỉ huy cao nhất đến tận các cơ sở của quân đội Chế độ chính

ủy, chính trị viên, chi ủy, chi bộ trong quân đội được tổ chức chặt chẽ từ cấp trung đoàn quân binh chủng đến bộ đội địa phương, các nhà trường, học viện Các chế độ học tập nâng cao bản lĩnh chính trị, nhận thức lý luận cho sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ được thực hiện thống nhất trong toàn quân

Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo bồi dưỡng ý thức chính trị và xây dựng bản

lĩnh chính trị cách mạng cho quân đội Người nêu rõ: “Quân sự mà không

có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” [4, tr.318].

Khi mới thành lập quân đội, Hồ Chí Minh ưu tiên cho công tác tuyên truyền, chính trị hàng đầu Khi xây dựng và phát triển quân đội, Người nêu lên những nhiệm vụ của quân đội là: một đội quân chiến đấu, một đội quân công tác, một đội quân sản xuất; trong đó, nhiệm vụ chiến đấu là chủ yếu nhất Những nhiệm vụ này của quân đội càng làm rõ nguồn gốc, sức mạnh, mục đích của quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, xây dựng Sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam gắn liền với Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam Bộ đội Cụ Hồ là những thế hệ nối

Trang 26

tiếp nhau của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cùng cả dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, vai trò của quân đội hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến an ninh, an toàn cho đất nước, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, trước những thách thức của an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Cùng với những phẩm chất cách mạng đã được tôi luyện qua chiến đấu

và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cần nhanh chóng đi lên hiện đại, nâng tầm khoa học quân sự tiên tiến để nâng cao khả năng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, là nòng cốt của sự nghiệp bảo

vệ tổ quốc Việt Nam hôm nay

5 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về bảo vệ tổ quốc

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về bảo vệ tổ quốc

1.1.1 Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là tất yếu, là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân tộc

Với các dân tộc trên thế giới, tổ quốc là thiêng liêng Tuy nhiên, dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân không có tổ quốc Đây là luận điểm nổi tiếng của C Mác và Ăngghen trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản Khi giai cấp tư sản nắm chính quyền, giai cấp công nhân là người làm thuê,

không có tổ quốc C.Mác và Ăngghen chỉ dẫn: “Giai cấp công nhân không

có tổ quốc Người ta không thể cướp của họ cái họ không có Vì vậy, giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” [1, tr.105].

Đến cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 Lênin, bằng thực tiễn cách mạng sôi động của nước Nga, đã bổ sung cho chủ nghĩa Mác những quan điểm khoa học về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Sau Cách mạng tháng

10 năm 1917, nhà nước giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thành lập, thì tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu hình thành Giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ tổ quốc của mình Cùng với trọng trách là tổ chức cho nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà nước đồng thời phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trước sự thách thức của thế lực phản động quốc tế Sau ngày Cách mạng tháng 10 năm 1917 thành công, 14 nước đế quốc đã tập trung để tiêu diệt chế độ xã hội chủ nghĩa ngay khi mới hình thành lần đầu tiên trên thế giới Như vậy, nhiệm vụ bảo

vệ tổ quốc xuất hiện song hành với nhiệm vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa Đây là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn chặt với nhau trong quá trình hình thành và phát triển của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động

Trang 27

1.1.2 Tăng cường tiềm lực quốc phòng gắn với phát triển kinh tế,

sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc

Để bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa,VI Lênin đã lãnh đạo tổ chức lại quân đội, trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật để đủ sức chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược V.I Lênin đã đề ra những nguyên tắc, những yêu cầu cho việc xây dựng quân đội đủ năng lực bảo vệ tổ quốc trong thời

kỳ mới Hồng quân được Lênin xây dựng đã thể hiện sức mạnh của mình trong quá trình bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa non trẻ đầu tiên trên thế giới trước nạn thù trong giặc ngoài Trong muôn vàn khó khăn thử thách ban đầu của một nhà nước kiểu mới, V.I Lênin đã thực hiện nhiều chính sách mới để phát triển kinh tế - xã hội Chính sách cộng sản thời chiến xuất hiện để tập trung nguồn lực cho cuộc chiến đấu trên chiến trường Sau khi đã ổn định tình hình, V.I Lênin đưa ra chính sách Kinh tế mới (NEP) để giải phóng năng lực sản xuất của xã hội, tạo nguồn lực kinh tế cho quốc phòng

Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, Lênin đã cho tiến hành thực hiện chế độ chính ủy trong quân đội Đội ngũ cán bộ chính trị được giới thiệu từ những đại biểu ưu tú của giai cấp công nông bổ sung cho quân đội Thực chất, đó là đại diện của Đảng, thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội để bảo vệ tổ quốc Học thuyết Mác-Lênin về bảo vệ tổ quốc là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng chiến lược bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

6 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa 1.1 Bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là tất yếu, là nghĩa

vụ và là trách nhiệm của mọi công dân

Sự nghiệp bảo vệ tổ quốc được thực hiện ở lời căn dặn của Chủ tịch

Hồ Chí Minh: Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước Ý chí của Người cũng là của dân tộc Bảo vệ tổ quốc là tất yếu vì đó là bảo vệ chính mình Tính tất yếu đó của việc bảo vệ Tổ quốc

là được Hồ Chí Minh dứt khoát Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi! Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa

vụ và trách nhiệm của mỗi công dân Mất nước, mất độc lập là mất tất cả Nước mất thì dân tộc nô lệ Tư tưởng bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi công dân được Hồ Chí Minh nêu lên trong Tuyên ngôn độc lập và được hiến định trong bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa năm 1946: “Điều thứ 4: Mỗi công nhân phải: Bảo vệ Tổ quốc

Tôn trọng hiến pháp Tuân theo pháp luật Điều thứ 5 Công nhân Việt Nam có nghĩa vụ phải đi lính” [5, tr.9]

Trang 28

Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc phát triển thành tư tưởng bảo

vệ Tổ quốc, xuyên suốt trong tư duy và hành động của Hồ Chí Minh Đó chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác-Lênin vào việc bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của

toàn dân Tinh thần đó được Hồ Chí Minh chỉ rõ trong Lời kêu gọi toàn

quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Lời kêu gọi toàn quốc chống Mỹ cứu nước Chân lý không có gì quý hơn độc lập tự do của người là chân lý

của cả dân tộc; trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc là của toàn dân tộc Học tập

và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, bước vào công cuộc đổi mới, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc được Đảng khẳng định là nhiệm

vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, giữ vững môi trường hòa bình ổn định để phát triển” [2, tr 25]

1.2 Xây dựng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc

Hồ Chí Minh đã chỉ ra sức mạnh chiến thắng của Việt Nam là: chúng

ta có chính nghĩa, có truyền thống và sự đoàn kết Bắc Nam, có sự đồng tình và ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và bầu bạn trên thế giới Khơi dậy và phát huy, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhân dân Việt Nam đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng Đó là vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa tìm kiếm sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các dân tộc đang đấu tranh cho hòa bình, độc lập để thúc đẩy cuộc kháng chiến Tiến hành các hoạt động đấu tranh ngoại giao để đi đến kết thúc chiến tranh bằng Hiệp định Giơnevơ ngày 21/7/1954 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh cùng với toàn Đảng, toàn dân đã khơi dậy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đã tranh thủ sức mạnh thời đại, sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới để giành thắng lợi Trong những giai đoạn lịch sử cụ thể, sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã trở thành đặc sản của dân tộc Việt Nam trên con đường từ bóng tối bước ra ánh sáng để khẳng định vị thế của mình trên bản đồ chính trị thế giới Đây cũng là cơ sở để chúng ta tiếp tục sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới với rất nhiều thách thức, biến động hết sức bất ngờ, không lường trước được

1.3 Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Từ khi Đảng chưa ra đời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: cách mạng muốn thắng lợi thì phải có đảng cách mạng dẫn đường, chỉ lối Khi cách mạng thành công, Đảng trở thành đảng cầm quyền lãnh đạo sự nghiệp kháng

Trang 29

chiến, kiến quốc, Hồ Chí Minh lại khẳng định mọi thắng lợi của cách mạng do sự lãnh đạo của Đảng Trong thời kỳ mới, kế thừa chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung của nhà nước đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh” [2, tr.25] Từ thực tế đất nước và tình hình khu vực, thế giới hiện nay, cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau đây:

Tập trung xây dựng tiềm lực đất nước, đặc biệt là tiềm lực kinh tế, làm cơ sở cho việc hiện đại hóa quân đội trong thời kỳ mới

Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân gắn với xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trong từng địa phương và trên

cả nước

Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, chủ động chiến đấu trong mọi hoàn cảnh với mọi loại hình chiến tranh, phải có kế sách ngăn ngừa xung đột từ sớm, từ xa

Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp sự nghiệp quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc của Đảng trong mọi hoàn cảnh, trong tất

cả các tình huống và trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Kết luận:

Chiến tranh quân đội và bảo vệ Tổ quốc là vấn đề xưa cũ nhưng vẫn luôn song hành với sự phát triển của cuộc sống và của nền quốc gia dân tộc cũng như toàn nhân loại Theo Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Thụy Điển, kể từ khi nhân loại có các cuộc chiến đến nay khoảng 3500 năm thì thời gian hòa bình chỉ khoảng vài trăm năm, còn lại là những cuộc chiến tranh lớn, nhỏ liên tục diễn ra Một trong những thế kỷ đẫm máu của nhân loại là thế kỷ XX với hai cuộc chiến tranh tầm thế giới đã làm chết hàng trăm triệu người Nhân loại đang ở vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ 3 với những thách thức không hề giảm: Tình hình chính trị, an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn ra rất phức tạp, rất khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng,… tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực.Trong khu vực Đông Nam Á, Biển Đông đang trở thành điểm nóng và đứng trước những nguy

cơ bất ổn vì sự tranh chấp lợi ích của nhiều nước trên thế giới Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục chống phá Việt Nam với nhiều cách thức hết sức phức tạp Vì vậy, việc chuẩn bị về mọi mặt cho đất nước để giữ vững hòa bình, phát triển là yêu cầu cơ bản, hàng đầu, cấp bách và lâu dài

Trang 30

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội, bảo vệ Tổ quốc là nội dung cơ bản mang ý nghĩa nền tảng cho chiến lượt bảo vệ đất nước Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về quân đội và bảo vệ Tổ quốc, là nguyên tắc sống còn,

là nền tảng vững chắc để bảo vệ đất nước Trước những biến cố lịch sử xuyên qua hai thế kỷ, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc vẫn vẹn nguyên giá trị và tiếp tục là kim chỉ nam tỏa sáng trong thực tiễn cách mạng sôi động của đất nước Để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không bị động và bất ngờ thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị của đất nước phải nắm vững và cụ thể hóa những nội dung cốt lõi này vào các mục tiêu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống đặt ra

Sinh viên là tầng lớp trí thức trẻ, là những người quyết định trực tiếp cho sự phát triển của đất nước cần chủ động học tập, nhận thức đúng đắn những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà đặc biệt là những hiểu biết về chiến tranh, quân sự và bảo vệ Tổ quốc,0 từ đó hình thành cho bản thân ý thức trách nhiệm công dân trước những vấn đề liên quan đến vận mệnh và sự sống còn của đất nước, của chế độ xã hội Đây chính là nền tảng cơ sở đầu tiên để thế hệ trẻ, đặc biệt

là trí thức trẻ, hình thành niềm tin, trách nhiệm và có những hành động tích cực góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP

1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc, bản chất chiến tranh?

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội?

3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa?

4 Tại sao chiến tranh là bạn đường của chủ nghĩa đế quốc?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] C.Mác và Ăngghen (2008), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tái bản), NXB Chính trị quốc gia Sự Thật

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự Thật

Trang 31

[3] Hội đồng xuất bản - Hồ Chí Minh toàn tập lần thứ ba (2011), Hồ Chí Minh: Toàn tập - Tập 12, NXB Chính trị quốc gia.

[4] Hội đồng xuất bản - Hồ Chí Minh toàn tập lần thứ ba (2011), Hồ Chí Minh: Toàn tập - Tập 6, NXB Chính trị quốc gia

[5] Quốc hội (2020), Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ (các bản hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013), NXB Chính trị quốc gia

Sự Thật

Trang 32

BÀI 3 XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN,

AN NINH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC

VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

MỤC TIÊU Kiến thức: Sinh viên nắm được vị trí, đặc trưng, mục đích, nhiệm

vụ, nội dung cơ bản và các biện pháp chủ yếu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; hiểu rõ bản chất của nền quốc phòng toàn dân,

an ninh nhân dân của Việt Nam khác với các quốc gia trên thế giới

Kỹ năng: Trên cơ sở kiến thức được trang bị, xây dựng ý thức trách

nhiệm cao, tự giác tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh để bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tin tưởng vào nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân nói riêng

và sự nghiệp cách mạng nói chung mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đang xây dựng

NỘI DUNG

1 Vị trí, đặc trưng của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân 1.1 Khái niệm, vị trí của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân

1.1.1 Một số khái niệm

Quốc phòng toàn dân

Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể

các hoạt động đối nội, đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, của nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù

và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, quy mô

“Quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng mang tính chất “vì dân,

của dân”, phát triển theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập tự chủ, tự lực,

tự cường và ngày càng hiện đại; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng,

an ninh và đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực đế quốc, phản động, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[2, tr 848]

Trang 33

An ninh nhân dân

An ninh, khái niệm an ninh không phải là một khái niệm tĩnh mà

là một khái niệm động và trải qua nhiều thay đổi về cách hiểu cũng như cách tiếp cận Ban đầu, khái niệm an ninh xoay quanh các chủ đề về quân

sự, chiến tranh và bạo lực cũng như tập trung góc nhìn vào nhà nước Tuy nhiên, khái niệm này với những kết nối mới đã ngày càng mở ra nhiều xuất phát từ các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị, đối ngoại, tư tưởng - văn hóa, xã hội,… Đặc biệt là sự xuất hiện của những “hình thái

an ninh” mới như an ninh phi truyền thống (an ninh mạng, khủng bố, tội phạm có tổ chức, năng lượng, lương thực, môi trường,…); thậm chí cũng cần phải bàn đến an ninh chính quyền, an ninh chế độ, an ninh con người Tuy nhiên, việc đi đến một khái niệm chung là cần thiết, theo đó, an ninh

có thể hiểu một cách tổng quát là “trạng thái ổn định an toàn, không có

dấu hiệu nguy hiểm để đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của toàn xã hội Bảo vệ an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân và của cả hệ thống chính trị do lực lượng an ninh làm nòng cốt; bảo vệ an ninh luôn kết hợp chặt chẽ với củng cố quốc phòng”[ 3, tr.680]

An ninh nhân dân là sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân tiến hành,

lực lượng an ninh nhân dân làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước Kết hợp phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng chuyên trách, nhằm đập tan mọi

âm mưu, hành động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, cùng với toàn dân bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Nền an ninh nhân dân là sức mạnh về tinh thần, vật chất, sự đoàn kết

và truyền thống dựng nước, giữ nước của toàn dân tộc được huy động vào

sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó lực lượng chuyên trách bảo vệ

an ninh nhân dân làm nòng cốt

1.1.2 Vị trí nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh

là tạo ra sức mạnh để ngăn ngừa, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu, hành động xâm hại đến mục tiêu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đảng ta khẳng định:“Trong khi đặt trọng

tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng -

an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”[6, tr.39] Đây là

một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, xây dựng và

bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trang 34

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục chỉ rõ: “Củng

cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó quân đội nhân dân, công an nhân dân là nòng cốt” [5, tr.156]

2 Đặc trưng của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân 1.1 Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chỉ có mục đích duy nhất là tự vệ chính đáng

Đây là đặc trưng thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng, an ninh của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các quốc gia khác Chúng ta xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh là để tự vệ chính đáng, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Không

đi xâm lược, đánh thuê hoặc thôn tính nước khác Đặc biệt hiện nay nền quốc phòng, an ninh của chúng ta không chỉ bảo vệ, gìn giữ hòa bình trong nước, khu vực mà còn tham gia có trách nhiệm, hiệu quả cao trong việc gìn giữ hoàn bình trên phạm vi thế giới

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn tính chất cơ bản của nền quốc phòng Việt Nam là hòa bình và

tự vệ Chính sách quốc phòng của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược Sách trắng lần này Việt Nam đã bổ sung chính sách quốc phòng từ “ba không” thành “bốn không” gồm: (1) không tham gia liên minh quân sự; (2) không liên kết với nước này để chống nước kia; (3) không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam

để chống lại nước khác; (4) không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế Chiến lược quốc phòng Việt Nam gắn kết chặt chẽ hòa bình, lợi ích quốc gia - dân tộc với hòa bình, an ninh, ổn định của khu vực và thế giới Đồng thời với mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, Việt Nam tích cực, chủ động tham gia bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới

1.2 Nền quốc phòng, an ninh vì dân, của dân và do nhân dân tiến hành

Đây là đặc trưng thể hiện truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta

Trang 35

trong lịch sử dựng nước và giữ nước Đặc trưng này đã cho phép ta huy động mọi người, mọi tổ chức, mọi lực lượng xây dựng nền quốc phòng, an ninh và đấu tranh quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc.

Đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân Văn kiện

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Củng

cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa vào dân, thực hiện tốt công tác vận động quần chúng tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc”[6, tr 280].

Trong quá trình tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, phải quán triệt sâu sắc tính chất, nội dung, yêu cầu về nền quốc phòng, an ninh của dân, do dân, vì dân, toàn diện, tự lực, tự chủ, tự cường và hiện đại Đây chính là tư tưởng xuyên suốt quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh trong giai đoạn hiện nay

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng

định: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ

thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”[7, tr 155, 156]

1.4 Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được xây dựng toàn diện, từng bước hiện đại

Sức mạnh quốc phòng, an ninh không chỉ ở sức mạnh quân sự, an ninh mà phải huy động được sức mạnh của toàn dân về mọi mặt Phải kết hợp hữu cơ giữa quốc phòng, an ninh với các mặt hoạt động xây dựng đất

Trang 37

1.5 Nền quốc phòng toàn dân gắn chặt với nền an ninh nhân dân

Nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân của chúng ta đều được xây dựng nhằm mục đích tự vệ, chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Giữa nền quốc phòng toàn dân với nền an ninh nhân dân chỉ khác nhau về phương thức tổ chức lực lượng, hoạt động cụ thể, theo mục tiêu cụ thể được phân công mà thôi Kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh phải thường xuyên và tiến hành đồng bộ, thống nhất từ trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch xây dựng hoạt động của cả nước cũng như từng vùng, miền, địa phương, mọi cấp, mọi ngành Trong đó hai lực lượng Quân đội và Công an là nòng cốt và

được ví như hai thanh “Bảo kiếm” để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân

và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

2 An ninh nhân dân vững mạnh để bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.1 Mục đích xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh hiện nay

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh nhằm mục đích: Tạo sức mạnh tổng hợp cả về chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ…Tạo thế chủ động cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế

độ xã hội chủ nghĩa Bảo vệ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc Bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá, xã hội Giữ vững

ổn định chính trị và môi trường hoà bình để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

1.2 Nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh hiện nay

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnhtrong thời kỳ mới cần tập trung xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Lực lượng quốc phòng, an ninh là những con người, tổ chức và những cơ sở vật chất, tài chính đảm bảo cho các hoạt động đáp ứng yêu cầu của quốc phòng, an ninh Lực lượng quốc phòng, an ninh của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân bao gồm lực lượng toàn dân (lực lượng chính trị)

và lực lượng vũ trang nhân dân

Lực lượng chính trị bao gồm: các tổ chức trong hệ thống chính trị,

Trang 38

các tổ chức chính trị- xã hội và những tổ chức khác trong đời sống xã hội

đã được phép thành lập và quần chúng nhân dân

Lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm quân đội nhân dân, công an nhân dân và dân quân tự vệ

Xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh là xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân đáp ứng yêu cầu của quốc phòng,

an ninh, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

3 Nội dung cơ bản xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh để bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa 1.1 Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh ngày càng vững mạnh

Tiềm lực quốc phòng, an ninh là khả năng về nhân lực, vật lực, tài chính có thể huy động được để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Tiềm lực quốc phòng an ninh được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng tập trung nhất ở tiềm lực chính trị, tinh thần; tiềm lực kinh tế; tiềm lực khoa học công nghệ; tiềm lực quân sự… Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh là tập trung xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần; tiềm lực kinh tế; tiềm lực khoa học, công nghệ; tiềm lực quân sự, an ninh

1.1.1 Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần

Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần là thành tố cơ bản của tiềm

lực quốc phòng, chứa đựng trong tố chất con người, trong truyền thống lịch sử - văn hoá dân tộc và trong hệ thống chính trị Đây là khả năng tiềm tàng về chính trị tinh thần có thể huy động nhằm tạo ra sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Tiềm lực này biểu hiện ở nhận thức,

ý chí, niềm tin, tâm lý, tình cảm của nhân dân và lực lượng vũ trang trước nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước

Tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là khả năng về chính trị, tinh thần có thể huy động tạo nên sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Tiềm lực chính trị tinh thần được biểu hiện ở năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước; ý chí quyết tâm của nhân dân, của các lực lượng vũ trang nhân dân sẵn sàng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo

vệ Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh, tình huống Tiềm lực chính trị tinh thần

là cơ sở, nền tảng của tiềm lực quân sự, an ninh

Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần cần tập trung vào những nội dung cơ bản gồm: xây dựng tình yêu quê hương đất nước, niềm tin đối với

sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, đối với chế độ xã hội chủ

Trang 39

nghĩa Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; nâng cao cảnh giác cách mạng; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Thực hiện tốt giáo dục quốc phòng, an ninh.

1.1.2 Xây dựng tiềm lực kinh tế

Tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là khả năng về kinh tế của đất nước có thể khai thác, huy động nhằm phục vụ cho quốc phòng, an ninh Xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là tạo nên khả năng về kinh tế bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực của đất nước Tiềm lực kinh tế tạo nên sức mạnh vật chất cho nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, là cơ sở vật chất cho các tiềm lực khác

Xây dựng tiềm lực kinh tế tập trung vào những nội dung cụ thể: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại; phát triển công nghiệp quốc phòng, trang bị kỹ thuật hiện đại cho quân đội và công an

Xây dựng tiềm lực kinh tế phục vụ quốc phòng còn là đầu tư thích đáng cho công nghiệp quốc phòng Nền công nghiệp quốc phòng phải thực

sự là bộ phận công nghiệp quốc gia do Bộ Quốc phòng quản lý Công cuộc đổi mới nâng cao năng lực công nghiệp quốc phòng được tiến hành theo hướng lưỡng dụng hoá, bảo đảm sửa chữa, sản xuất, cải tiến, nâng cấp vũ khí, trang bị theo yêu cầu nhiệm vụ phát triển mới của lực lượng vũ trang nhân dân trên các vùng chiến lược; đồng thời chú trọng phát huy năng lực quốc phòng của các địa phương

1.1.3 Xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ

Tiềm lực khoa học, công nghệ của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân là khả năng về khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn,…) và công nghệ của quốc gia có thể khai thác, huy động

để phục vụ cho quốc phòng, an ninh Tiềm lực khoa học, công nghệ được biểu hiện ở: số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cơ

sở vật chất kỹ thuật có thể huy động phục vụ cho quốc phòng, an ninh và năng lực ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học có thể đáp ứng yêu cầu của quốc phòng, an ninh

Xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là tạo nên khả năng về khoa học, công nghệ của

Trang 40

quốc gia có thể khai thác, huy động phục vụ cho quốc phòng, an ninh Do

đó, phải huy động tổng lực các nguồn khoa học, công nghệ quốc gia, trong

đó khoa học quân sự, an ninh làm nòng cốt để nghiên cứu các vấn đề về quân sự, an ninh, về sửa chữa, cải tiến, sản xuất các loại vũ khí trang bị Đồng thời phải thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật

1.1.4 Xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh

Xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh là khả năng về vật chất và tinh

thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh trong cả thời bình và thời chiến Tiềm lực quân sự, an ninh là nòng cốt của tiềm lực quốc phòng, được xây dựng trên nền tảng của tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế và tiềm lực khoa học và công nghệ Tiềm lực quân sự không chỉ thể hiện ở khả năng duy trì, hoàn thiện

và không ngừng phát triển sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang mà còn biểu hiện ở nguồn dự trữ về sức người, sức của phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh

Nhà nước Việt Nam xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh theo kế hoạch chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Năng lực chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang thể hiện ở tổ chức, biên chế, trang bị, cơ sở bảo đảm hậu cần, nghệ thuật quân sự và khoa học - kỹ thuật thường xuyên được quan tâm duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển, đáp ứng các yêu cầu của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc

Tiềm lực quân sự, an ninh bao gồm cả hai yếu tố cơ bản là con người

và vũ khí, trang bị, trong đó con người là yếu tố quyết định Tiềm lực quân

sự còn thể hiện ở khả năng động viên công nghiệp, nông nghiệp, khoa học

- kỹ thuật, giao thông vận tải và các ngành dịch vụ công cộng khác để đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh Xây dựng tiềm lực quân sự được gắn chặt với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Các thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ, văn hoá tư tưởng, là cơ sở

để xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự Nhà nước Việt Nam chủ trương gắn việc xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh với việc xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học và công nghệ, coi đó là yêu cầu tất yếu trong xây dựng tiềm lực của nền quốc phòng, an ninh, bảo đảm khả năng huy động tạo thành sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc

Tổ quốc trong mọi tình huống

Ngày đăng: 26/10/2022, 23:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w