BPTNMT : Bệnh phổi tắc nghẽ mãn tính Chronic obstructive pulmonary disease CAT : Thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống người mắc BPTNMT The BPTNMT Assessment Test DASS-21 : Thang điểm
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm nhân khẩu học của người chăm sóc
Bảng 3.2 Đặc điểm của người chăm sóc Đặc điểm của người bệnh Người chăm sóc n %
Tình trạng hôn nhân Độc thân 5 5,2
Góa/ Ly dị/ Ly thân 1 1,0
Tiểu học, trung học cơ sở, Phổ thông trung học 73 76,0
Trung câp, cao đẳng 20 20,8 Đại học 3 3,1
Gánh nặng tài chính do chăm sóc người bệnh
Tỷ lệ thời gian chăm sóc/ngày
Tuổi trung bình người chăm sóc (tuổi) 48,4 ± 14,1 (20 – 75) Thời gian chăm sóc người bệnh (giờ) 6,15 ± 3,49
Nhận xét: Nghiên cứu của nhóm nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ người chăm sóc có độ tuối dưới 50 tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất với 51,0%, và thấp nhất là độ tuổi lớn hơn 70 tuổi chiếm tỷ lệ 7,3% Giới tính của người chăm sóc tương đối tương đồng khi nam giới chiếm tỷ lệ 50,5% còn nữ giới chiếm tỷ lệ 49,5% Người chăm sóc đã kết hôn chiếm tỷ lệ cao nhất với 93,8%, trong khi đó nhóm người chăm sóc đang trong tình trạng góa/ ly dị/ ly thân chiếm tỷ lệ thấp nhất là 1,0% Nghiên cứu của nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận 76% người chăm sóc có trình độ học vấn từ bậc trung học phổ thông trở xuống, chiếm tỷ lệ cao nhất, nhóm người chăm sóc có trình độ đại học chỉ chiếm 3,1% và không có người chăm sóc nào có trình độ sau đại học
Người chăm sóc tham gia nghiên cứu có tỷ lệ làm việc toàn thời gian là 44,8% chiếm tỷ lệ cao nhất và tỷ lệ làm việc tại nhà là 32,3%, thấp nhất là nhóm làm việc thời vụ chiếm tỷ lệ 22,9% Người chăm sóc có gánh nặng tài chính do chăm sóc người bệnh chiếm tỷ lệ 87,5%, trong khi nhóm không có gánh nặng chỉ chiếm 12,5% Người chăm sóc có thời gian chăm sóc/ngày chiếm trên 20% tổng thời gian chiếm tỷ lệ 65,6% cao gấp 2 lần so với nhóm đối tượng có thời gian chăm sóc nhỏ hơn 20% tổng thời gian/ngày Tuổi trung bình của người chăm sóc là 48,4 ± 14,1 tuổi, trong đó người nhỏ tuổi nhất là 20 tuổi và cao tuổi nhất là 75 tuổi Thời gian chăm sóc người bệnh trung bình của người chăm sóc là 6,15 ± 3,49 (giờ).
Quan hệ giữa người chăm sóc và người bệnh
Bảng 3.3 Quan hệ giữa người chăm sóc và người bệnh Quan hệ với người bệnh
Khởi phát sớm ≤ 65 tuổi Khởi phát muộn ≥ 65 tuổi Tổng số n (%) n n n %
Anh/ chị/ em ruột, cháu 3 7 10 10,4%
Nhận xét: Nghiên cứu của nhóm nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ người chăm sóc cao nhất ở nhóm người là con của người bệnh, nhóm này chiếm tỷ lệ 57,3%, tiếp đó là vợ hoặc chồng của người bệnh chiếm tỷ lệ 32,3% và thấp nhất là nhóm có quan hệ họ hàng chiếm tỷ lệ 10,4% Trong đó, người chăm sóc là con trai của người bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất là 32,3%, tiếp theo là vợ chiếm tỷ lệ 30,2%. Đặc điểm của người mắc BPTNMT
Bệnh đồng mắc trên người bệnh
Bảng 3.4 Bệnh đồng mắc trên người bệnh
Hội chứng chuyển hóa và tiểu đường
Nhận xét: Nghiên cứu của nhóm nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ người bệnh mắc bệnh tim mạch kèm theo là cao nhất với 49,0%, sự khác biệt giữa nhóm khởi phát sớm và khởi phát muộn không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Người bệnh tham gia nghiên cứu mắc các bệnh chuyển hóa hoặc bệnh ung thư chiếm tỷ lệ thấp nhất với 2,1%, sự khác biệt giữa nhóm khởi phát sớm và khởi phát muộn không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Bảng 3.5 Số lượng bệnh đồng mắc của người bệnh Bệnh đồng mắc
Nhận xét: Nghiên cứu của nhóm nghiên cứu ghi nhận người bệnh mắc ít
Mức độ khó thở của người bệnh
Bảng 3.6 Mức độ khó thở của người bệnh Mức độ khó thở
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 50% người bệnh tham gia nghiên cứu có mức độ khó thở theo thang điểm mMRC ở mức 3 – 4 điểm, không có người bệnh nào khó thở ở mức 5 điểm Tỷ lệ khó thở nặng của người bệnh nhóm khởi phát sớm cũng thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p = 0,001) so với nhóm khởi phát muộn.
Chất lượng cuộc sống của người bệnh
Bảng 3.7 Chất lượng cuộc sống của người bệnh Chất lượng cuộc sống
Khởi phát sớm ≤ 65 tuổi Khởi phát muộn ≥ 65 tuổi Tổng số n (%) p n n n % Ảnh hưởng ít 8 10 18 18,8%
0,011 Ảnh hưởng trung bình 7 38 45 46,9% Ảnh hưởng nặng 2 21 23 24,0% Ảnh hưởng rất nặng 0 10 10 10,4%
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 34,4% người bệnh tham gia nghiên cứu bị ảnh hưởng chất lượng cuộc sống ở mức nặng và rất nặng trong khi nhóm bị ảnh hưởng chất lượng cuộc sống ít chỉ chiếm 18,8% Tỷ lệ người bệnh bị ảnh hưởng chất lượng cuộc sống nặng ở nhóm khởi phát sớm thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p 0,011) so với nhóm khởi phát muộn
Bảng 3.8 Đặc điểm tâm lý của người bệnh theo thang DASS-21
Phân loại theo DASS-21 Người bệnh n %
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy người bệnh có mức độ căng thẳng nặng và rất nặng chiếm tỷ lệ 67,7% và không có người bệnh nào không có căng thẳng và mức điểm căng thẳng theo thang điểm DASS-21 trung bình là 24,4 ± 5,36 (điểm) Tình trạng lo âu của người bệnh tham gia nghiên cứu ở mức nặng và rất nặng cũng chiếm tỷ lệ rất cao với 94,8% và không có người bệnh nào có mức độ lo âu ở mức nhẹ hoặc không có lo âu và mức điểm lo âu theo thang điểm DASS-21 trung bình là 27,6 ± 4,81 (điểm) Tình trạng trầm cảm theo thang DASS-21 của người bệnh tham gia nghiên cứu ở mức độ nặng và rất nặng cũng chiếm tỷ lệ 58,3% và chỉ có 2,1% người bệnh không có tình trạng trầm cảm và mức điểm trầm cảm theo thang điểm DASS-21 trung bình là 22,6 ± 6,11 (điểm).
Trầm cảm, lo âu, căng thẳng của người chăm sóc
Bảng 3.9 Đặc điểm tâm lý của người chăm sóc theo thang DASS-21
Phân loại theo DASS-21 Người chăm sóc n %
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy người chăm sóc có mức độ căng thẳng nặng và rất nặng chiếm tỷ lệ 32,3%, tỷ lệ người không có căng thẳng là 10,4% và mức điểm căng thẳng theo thang điểm DASS-21 trung bình là 22,2 ± 5,60 (điểm) Tình trạng lo âu của người chăm sóc tham gia nghiên cứu ở mức nặng và rất nặng cũng chiếm tỷ lệ cao với 74,0%, tỷ lệ người chăm sóc không có lo âu chiếm tỷ lệ 5,2% và mức điểm lo âu theo thang điểm DASS-21 trung bình là 18,5 ± 6,54 (điểm) Tình trạng trầm cảm theo thang DASS-21 của người chăm sóc tham gia nghiên cứu ở mức độ nặng và rất nặng cũng chiếm tỷ lệ 27,1%, chỉ có 8,3% người bệnh không có tình trạng trầm cảm và mức điểm trầm cảm theo thang điểm DASS-21 trung bình là 17,0 ± 5,64 (điểm)
Bảng 3.10 Đặc điểm người bệnh theo thang điểm hỗ trợ xã hội Đặc điểm người bệnh Người bệnh
Sự hỗ trợ từ gia đình 6,36 ± 0,41
Sự hỗ trợ bạn bè 4,82 ± 0,86
Sự hỗ trợ từ người khác 2,75 ± 1,66
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy mức điểm về sự cần thiết hỗ trợ từ gia đình của người bệnh là 6,36 ± 0,41 (điểm), sự cần thiết hỗ trợ từ bạn bè là 4,82 ± 0,86 (điểm), và sự cần thiết hỗ trợ từ người khác là 2,75 ± 1,66 (điểm) Gánh nặng chăm sóc người bệnh đợt cấp BPTNMT
Chỉ số gánh nặng chăm sóc
Bảng 3.11 Chỉ số gánh nặng chăm sóc ZBI Phân loại mức độ
Không hoặc gánh nặng nhẹ (0 đến 20 điểm) 2 2,1%
Gánh nặng trung bình (21 đến 40 điểm) 38 39,6%
Gánh nặng nghiêm trọng (41 đến 60 điểm) 54 56,2% Gánh nặng rất nghiêm trọng (61 đến 88 điểm) 2 2,1%
Mức điểm trung bình (điểm) 42,1 ± 9,82
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy gánh nặng chăm sóc người bệnh tham gia nghiên cứu ở mức nghiêm trọng và rất nghiêm trọng chiếm tỷ lệ 58,3%, trong khi nhóm có gánh nặng chăm sóc ít hoặc không chỉ chiếm tỷ lệ 2,1% Mức điểm trung bình gánh nặng chăm sóc theo ZBI là 42,1 ± 9,82 (điểm)
Các yếu tố liên quan đến gánh nặng chăm sóc
Liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và đặc điểm chung của người chăm sóc 32 3.4.2 Liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và đặc điểm chung của người bệnh
Yếu tố Gánh nặng chăm sóc ZBI n 𝐗 SD P
Người chăm sóc duy nhất
Anh/ chị/ em ruột, cháu 10 38,6 10,89
Trình độ học vấn Đại học 3 42,3 10,3
Tình trạng hôn nhân Độc thân 5 43,2 5,36
Ly thân/ Ly hôn/ Góa 6 42,8 6,11
Nhận xét: Gánh nặng chăm sóc trung bình của người bệnh tham gia nghiên cứu là 49,38 điểm với độ lệch chuẩn là 14,75 điểm
- Theo nhóm tuổi của người chăm sóc chúng ta thấy rằng nhóm có gánh nặng chăm sóc cao nhất là trên 70 tuổi với gánh nặng chăm sóc trung bình là 45,4 ± 11,0 (điểm), và nhóm có gánh nặng chăm sóc thấp nhất là 60 – 69 tuổi với mức điểm trung bình là 36,1 ± 10,9 (điểm) Sự khác biệt về gánh nặng chăm sóc theo nhóm tuổi của người chăm sóc có ý nghĩa thống kê (p = 0,012)
- Kết quả nghiên cứu cho thấy gánh nặng chăm sóc theo giới tính của người chăm sóc của nhóm nam giới cao hơn nhóm nữ giới tuy nhiên sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (p = 0,238)
- Theo quan hệ trong gia đình chúng ta thấy rằng người chăm sóc là con trai có gánh nặng chăm sóc là cao nhất, tiếp theo đó là con rể, thấp nhất là gánh nặng chăm sóc với vợ Tuy nhiên, sự khác biệt về gánh nặng chăm sóc theo quan hệ không có ý nghĩa thống kê (p = 0,058)
- Thời gian chăm sóc người bệnh/ngày càng nhiều thì gánh nặng chăm sóc của người chăm sóc càng tăng Theo đó với nhóm có thời gian chăm sóc trên 60% thời gian/ngày có mức điểm trung bình là 51,3 ± 8,05 (điểm) và thấp nhất là nhóm có thời gian chăm sóc nhỏ hơn 20% thời gian/ngày với mức điểm tương ứng là 40,1 ± 8,59 (điểm) Sự khác biệt về gánh nặng chăm sóc theo thời gian chăm sóc có ý nghĩa thống kê (p = 0,001)
3.4.2 Liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và đặc điểm chung của người bệnh
Bảng 3.13 Phân bố người bệnh theo đặc điểm nhân khẩu học Đặc điểm Gánh nặng chăm sóc ZBI n 𝐗 SD P
Tình trạng hôn nhân Độc thân 0 - -
Kết hôn 87 41,7 9,91 Đặc điểm Gánh nặng chăm sóc ZBI n 𝐗 SD P
Góa / Ly hôn/ Ly thân 9 46,4 8,17
Thời gian bị bệnh (năm) 96 9,14 4,40 -
Nhận xét: Gánh nặng chăm sóc theo độ tuổi của người bệnh có thể thấy rằng người bệnh có độ tuổi càng cao thì gánh nặng chăm sóc của người bệnh càng lớn hơn Sự khác biệt gánh nặng chăm sóc theo nhóm tuổi của người bệnh có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
3.4.3 Mối liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và chất lượng cuộc sống của người bệnh
Biểu đồ 3.1 Mối liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và chất lượng cuộc sống Biểu đồ 3.1 cho thấy nếu cứ tăng 1 điểm của thang CAT liên quan đến giảm chất lượng cuộc sống của người mắc BPTNMT thì sẽ tăng thêm 0,82 điểm gánh nặng chăm sóc (ZBI), với tương quan khá chặt chẽ (r = 0,67) Mối tương quan giữa điểm chất lượng cuộc sống của người mắc BPTNMT (CAT) và diểm gánh nặng chăm sóc (ZBI) có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
Biểu đồ này cũng cho thấy thời gian mắc bệnh tăng lên cũng tương ứng với mức tăng của điểm của thang CAT (thang đánh giá mức giảm chất lượng cuộc sống của người mắc BPTNMT) và gánh nặng chăm sóc tương ứng
Người mắc BPTNMT nhóm A và C là nhóm ít triệu chứng thì có CAT thấp hơn tương ứng với gánh nặng chăm sóc cũng thấp hơn tương ứng, ở chiều ngược lại người bệnh nhóm B và D có mức điểm CAT cao hơn và gánh nặng chăm sóc cũng cao hơn tương ứng
3.4.4.Mối liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và tình trạng căng thẳng của người chăm sóc
Biểu đồ 3.2 Mối liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và tình trạng căng thẳng của người chăm sóc Biểu đồ 3.5 cho thấy nếu cứ tăng 1 điểm của gánh nặng chăm sóc (ZBI) người mắc BPTNMT thì sẽ tăng thêm 0,22 điểm liên quan đến tình trạng căng thẳng của người chăm sóc theo thang DASS-21, tương quan giữa hai yếu tố ở mức trung bình (r = 0,39) Mối tương quan giữa gánh nặng chăm sóc (ZBI) và điểm căng thẳng theo thang điểm DASS-21 có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
Biểu đồ này cũng cho thấy thời gian mắc BPTNMT tăng không có tương quan rõ ràng với mức độ căng thẳng của người chăm sóc
Người bệnh nhóm B và C với biểu hiện nhiều triệu chứng cũng làm tăng mức độ căng thẳng với người chăm sóc nhưng tác động này không thực sự rõ ràng khi có cả người bệnh nhóm B và C tương ứng với mức độ căng thẳng thấp của người chăm sóc
3.4.5.Mối liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và tình trạng lo âu của người chăm sóc
Biểu đồ 3.3 Mối liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và tình trạng lo âu của người chăm sóc Biểu đồ 3.1 cho thấy nếu cứ tăng 1 điểm của gánh nặng chăm sóc (ZBI) người mắc BPTNMT thì sẽ tăng thêm 0,32 điểm liên quan đến tình trạng lo âu của người chăm sóc theo thang DASS-21, tương quan giữa hai yếu tố ở mức trung bình (r = 0,48) Mối tương quan giữa gánh nặng chăm sóc (ZBI) và điểm lo âu theo thang điểm DASS-21 có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
Biểu đồ này cũng cho thấy thời gian mắc BPTNMT tăng không có tương quan rõ ràng với mức độ lo âu của người chăm sóc
Người bệnh nhóm B và C với biểu hiện nhiều triệu chứng cũng làm tăng mức độ lo âu với người chăm sóc nhưng tác động này không thực sự rõ ràng khi xuất hiện nhiều người bệnh nhóm B và C tương ứng với mức độ lo âu thấp của người chăm sóc
3.4.6 Mối liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và tình trạng trầm cảm của người chăm sóc
Biểu đồ 3.4 Mối liên quan giữa gánh nặng chăm sóc và tình trạng trầm cảm của người chăm sóc Biểu đồ 3.2 cho thấy nếu cứ tăng 1 điểm của gánh nặng chăm sóc (ZBI) người mắc BPTNMT thì sẽ tăng thêm 0,28 điểm liên quan đến tình trạng trầm cảm của người chăm sóc theo thang DASS-21, tương quan giữa hai yếu tố ở mức trung bình (r = 0,48) Mối tương quan giữa gánh nặng chăm sóc (ZBI) và điểm trầm cảm theo thang điểm DASS-21 có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
Biểu đồ này cũng cho thấy thời gian mắc bệnh BPTNMT tăng không có tương quan rõ ràng với mức độ trầm cảm của người chăm sóc
Người bệnh nhóm B và C với biểu hiện nhiều triệu chứng cũng làm tăng mức độ trầm cảm với người chăm sóc nhưng tác động này không thực sự rõ ràng khi xuất hiện nhiều người bệnh nhóm B và C tương ứng với mức độ trầm cảm thấp của người chăm sóc
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 96 thân nhân và người mắc BPTNMT được điều trị tại Khoa Hô hấp – Bệnh viện Phổi Nam Định từ tháng 9/2020 đến tháng 6/2021 nhằm đánh giá gánh nặng bệnh tật của người mắc BPTNMT và tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của thân nhân và bản thân người bệnh Từ kết quả nghiên cứu nhóm nghiên cứu có đưa ra luận giải, bàn luận kết quả nghiên cứu như sau:
Bàn luận về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người mắc BPTNMT