1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng kinh tế chính trị mác lênin

160 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng kinh tế chính trị Mác Lênin
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin (4)
  • 1.2.2. Phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin (7)
  • 1.3. CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN (8)
    • 1.3.1. Chức năng nhận thức (8)
    • 1.3.2. Chức năng tư tưởng (9)
    • 1.3.3. Chức năng thực tiễn (9)
    • 1.3.4. Chức năng phương pháp luận (9)
  • Chương 2: HÀNG HÓA, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ (1)
    • 2.1. LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ HÀNG HÓA (10)
      • 2.1.1. Sản xuất hàng hóa (10)
      • 2.1.2. Hàng hóa (12)
      • 2.1.3. Tiền (17)
      • 2.1.4. Dịch vụ và một số hàng hóa đặc biệt (19)
    • 2.2. THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG (0)
      • 2.2.1. Thị trường (22)
      • 2.2.2. Vai trò của một số chủ thể chính tham gia thị trường (0)
  • Chương 3. SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 54 (10)
    • 3.1. LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƢError! Bookmark not defined. 1. Lý luận của C.Mác về giá trị thặng dƣ .................. Error! Bookmark not defined. 3.2. TÍCH LŨY TƢ BẢN 65 (39)
    • 3.3. CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƢ TRONG NỀN (55)
      • 3.3.2 Lợi tức (0)
      • 3.3.3. Địa tô 74 (0)
  • Chương 4. CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 78 (39)
    • 4.1. HAI LOẠI HÌNH CẠNH TRANH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CẠNH TRANH (65)
      • 4.1.1. Hai loại hình cạnh tranh cơ bản trong nền kinh tế thị trường (65)
      • 4.1.2. Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường (67)
    • 4.2. ĐỘC QUYỀN VÀ ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG (69)
      • 4.2.1. Lý luận của V.I.Lênin về độc quyền trong nền kinh tế thị trường (70)
      • 4.2.2. Lý luận của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước (0)
  • Chương 5. KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ Ở VIỆT NAM (65)
    • 5.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM (93)
      • 5.1.1. Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (93)
      • 5.1.2. Tính tất yếu kháh quan của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (0)
      • 5.1.3. Đặc trưng của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam (0)
    • 5.2. HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM (102)
      • 5.2.1. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (102)
      • 5.2.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (104)
      • 5.2.3. Những nhiệm vụ chủ yếu trong thực hiện hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (106)
    • 5.3. QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ Ở VIỆT NAM (0)
      • 5.3.1. Lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế 134 (110)
      • 5.3.2. Vai trò của nhà nước trong bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích 148 (0)
  • Chương 6. CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM (93)
    • 6.1. CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM (121)
      • 6.1.1. Khái quát về cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóaError! Bookmark not defined.4 (0)
      • 6.1.2 Tính tất yếu khách quan và nội dung CNH, HĐH của Việt Nam Error! Bookmark not defined.0 6.1.3. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ (4.0) ........................................ Error! Bookmark not defined.76 6.2. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM (0)
      • 6.2.1. Khái niệm và các hình thức Hội nhập kinh tế quốc tế (141)
      • 6.2.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển của Việt Nam (147)
      • 6.2.3. Phương hướng nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế trong phát triển của Việt Nam (149)

Nội dung

1 Chƣơng 1 ĐỐI TƢỢNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN Chƣơng 1 cung cấp những tri thức cơ bản về sự ra đời và phát triển của môn học kinh tế chính trị Mác Lênin, về.

Đối tƣợng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin

Xét về lịch sử, trong mỗi giai đoạn phát triển, các lý thuyết kinh tế có quan niệm khác nhau về đối tƣợng nghiên cứu của kinh tế chính trị:

- Chủ nghĩa trọng thương xác định đối tượng nghiên cứu là lưu thông (chủ yếu là ngoại thương)

- Chủ nghĩa trọng nông lại coi nông nghiệp là đối tƣợng nghiên cứu

- Kinh tế chính trị tƣ sản cổ điển Anh thì xác định nguồn gốc của của cải và sự giàu có của các dân tộc là đối tƣợng nghiên cứu

Mặc dù các quan điểm nêu trên chưa thực sự toàn diện, chúng có giá trị lịch sử và phản ánh trình độ phát triển của khoa học kinh tế chính trị trước thời C.Mác.

Kế thừa các thành tựu của khoa học kinh tế chính trị cổ điển Anh và dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ănghen khẳng định đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là các quan hệ sản xuất và trao đổi trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thành và phát triển.

Hộp 1.1 Quan niệm của A.Smith về đối tƣợng nghiên cứu của Kinh tế chính trị

Kinh tế chính trị là một lĩnh vực nghiên cứu liên quan tới hoạt động của chính khách và nhà lập pháp, hướng tới hai mục tiêu quan trọng: một là tạo điều kiện để người dân có nguồn thu nhập dồi dào và sinh kế ổn định, hay nói cách khác giúp người dân tự chủ tạo ra thu nhập và sinh kế cho bản thân; hai là đảm bảo nguồn ngân sách đầy đủ cho nhà nước và toàn dân để thực hiện các nhiệm vụ công Kinh tế chính trị hướng tới việc làm giàu cho cả người dân và quốc gia, đồng thời thúc đẩy sự phồn vinh và bền vững của nền kinh tế.

Nguồn: A.Smith (1776), An Inquiry in to the Nature and Causes of the Wealth of Nations

Với quan niệm như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử kinh tế chính trị học, đối tượng nghiên cứu của môn khoa học này được xác định một cách khoa học và toàn diện ở mức độ khái quát cao, đồng thời thống nhất biện chứng giữa sản xuất và trao đổi Điều này cho thấy sự phát triển vượt trội trong lý luận của C Mác so với các nhà tư tưởng kinh tế trước đó.

Mặt khác, về phạm vi tiếp cận đối tƣợng nghiên cứu, C.Mác và

Ph Ănghen còn chỉ ra, kinh tế chính trị có thể đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hoặc theo nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất và trao đổi trong một phương thức sản xuất nhất định

Theo nghĩa rộng, Ph.Ănghen cho rằng kinh tế chính trị là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất và sự trao đổi những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xã hội loài người Những điều kiện sản xuất và trao đổi thay đổi tuỳ từng nước và tuỳ từng thế hệ, nên không thể có một môn kinh tế chính trị duy nhất cho tất cả mọi nước và mọi thời đại lịch sử Về thực chất, kinh tế chính trị là một môn khoa học có tính lịch sử: nó nghiên cứu trước hết những quy luật đặc thù của từng giai đoạn phát triển của sản xuất và của trao đổi, và chỉ sau khi nghiên cứu như vậy xong nó mới có thể xác định ra một vài quy luật có tính chất chung và thích dụng cho sản xuất và trao đổi.

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị không phải là một lĩnh vực hay chỉ một khía cạnh của nền sản xuất xã hội, mà là một chỉnh thể gồm các quan hệ sản xuất và trao đổi Đây là hệ thống các quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất và trao đổi, đồng thời là các quan hệ ở mỗi khâu và giữa các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, được xem như sự thống nhất biện chứng của sản xuất, phân phối, lưu thông, trao đổi và tiêu dùng.

Kinh tế chính trị không nghiên cứu biểu hiện kỹ thuật của sự sản xuất và trao đổi mà xem đó là hệ thống các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi Nó phân tích cách quyền sở hữu, lực lượng sản xuất và quan hệ giai cấp hình thành, chi phối quá trình sản xuất và phân phối của cải trong xã hội Bằng cách ấy, kinh tế chính trị làm nổi bật vai trò của bối cảnh lịch sử và cấu trúc xã hội trong sự phát triển và biến đổi của nền kinh tế.

1 C.Mác và Ph Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.207, 208

V.I Lênin nhấn mạnh rằng kinh tế chính trị không nghiên cứu sự sản xuất như một hiện tượng riêng lẻ mà tập trung phân tích những quan hệ xã hội giữa con người trong quá trình sản xuất và chế độ xã hội của sản xuất Quan điểm này cho thấy bản chất của kinh tế chính trị nằm ở cách thức con người tương tác, phối hợp lao động, thiết lập quyền lực và phân bổ nguồn lực trong hệ thống sản xuất, tức là quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất quyết định cấu trúc xã hội Do đó, mục tiêu của kinh tế chính trị là hiểu rõ bản chất và sự vận hành của chế độ xã hội của sản xuất thông qua việc phân tích các quan hệ xã hội giữa người với người trong sản xuất.

Mặt khác, nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin nhấn mạnh rằng các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi phải được đặt trong mối liên hệ biện chứng với trình độ lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất đang nghiên cứu Sự tương tác giữa lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng quyết định cách thức tổ chức sản xuất, phân phối và trao đổi trong một giai đoạn lịch sử, đồng thời cho thấy sự biến đổi của phương thức sản xuất và xã hội nói chung.

Khái niệm của kinh tế chính trị Mác–Lênin nhấn mạnh đối tượng nghiên cứu là các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi, được đặt trong mối liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của một phương thức sản xuất nhất định.

Theo nội hàm nêu trên, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị trong giáo trình này được tiếp cận trọng tâm theo nghĩa hẹp, tập trung làm rõ những yếu tố cơ bản và quy luật chủ đạo chi phối hiện tượng kinh tế-xã hội Mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin được trình bày rõ ràng, nhằm làm sáng tỏ bản chất động lực và cấu trúc của nền kinh tế cũng như vai trò của các quan hệ sản xuất trong hệ thống xã hội.

Về mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị, C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng nhiệm vụ của nghiên cứu là tìm ra các quy luật kinh tế chi phối sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất Những quy luật này giúp hiểu rõ cách thức vận hành nền kinh tế và mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất qua các thời kỳ lịch sử.

Quy luật kinh tế là những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách quan, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế

Quy luật kinh tế mang tính khách quan và có bản chất là quy luật xã hội; sự tác động và vai trò của nó đối với sản xuất và trao đổi được thể hiện thông qua các hoạt động của con người trong xã hội với những động cơ lợi ích khác nhau Những động lực này định hình cách thức quy luật kinh tế tác động tới quá trình hình thành giá cả, phân bổ nguồn lực và các hoạt động trao đổi trên thị trường Vì vậy, hiểu quy luật kinh tế đồng nghĩa với nhận diện mối liên hệ giữa nhu cầu, nguồn lực và hành vi con người trong xã hội để giải thích cách nền kinh tế vận hành và phát triển.

Phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin

Với tư cách là một môn khoa học, kinh tế chính trị Mác–Lênin sử dụng phép biện chứng duy vật và nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội như trừu tượng hóa khoa học, logic kết hợp với lịch sử, quan sát thống kê, phân tích tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, hệ thống hóa và mô hình hóa để phân tích và giải thích các quy luật kinh tế - xã hội trong quá trình phát triển lịch sử.

- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học là cách thức thực hiện nghiên cứu bằng cách gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, những hiện tƣợng

Trong quá trình nghiên cứu, các hiện tượng tạm thời xuất hiện được phân tích và tách ra nhằm nhận diện những hiện tượng bền vững, mang tính điển hình và ổn định của đối tượng nghiên cứu Từ đó, ta nắm được bản chất của đối tượng, xây dựng các phạm trù phù hợp và phát hiện các quy luật, cũng như quy luật chi phối sự vận động của đối tượng nghiên cứu.

Trong quá trình áp dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, cần xác định rõ giới hạn của sự trừu tượng, tránh tùy tiện hay chủ quan loại bỏ những nội dung hiện thực của đối tượng nghiên cứu vì điều này làm sai lệch bản chất Việc tạm thời gạt bỏ các yếu tố cụ thể ngẫu nhiên trên bề mặt nền sản xuất xã hội phải đảm bảo tìm ra bản chất của các hiện tượng ở dạng thuần túy nhất mà vẫn giữ được nội dung hiện thực của các quan hệ được nghiên cứu.

Phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử là công cụ cho phép nghiên cứu sâu bản chất, nhận diện các xu hướng và quy luật kinh tế liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi Việc áp dụng phương pháp này giúp rút ra các kết quả nghiên cứu mang tính lôgíc từ quá trình lịch sử của các quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và trao đổi.

CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN

Chức năng nhận thức

Kinh tế chính trị Mác - Lênin cung cấp hệ thống tri thức khoa học về sự vận động của các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi, giải thích cơ chế hình thành và biến đổi của chúng qua các giai đoạn phát triển Nó chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa các quan hệ sản xuất và trao đổi với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng, và cách chúng tương tác để hình thành những nấc thang khác nhau của nền sản xuất xã hội.

Kinh tế chính trị Mác - Lênin cung cấp một hệ thống tri thức mở về những quy luật chi phối sự phát triển của sản xuất và trao đổi gắn với phương thức sản xuất, về lịch sử phát triển các quan hệ của sản xuất và trao đổi của nhân loại nói chung, và về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng quá trình hình thành và vận động của nó.

9 thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng

Kinh tế chính trị Mác – Lênin phát hiện và nhận diện các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, làm cơ sở lý luận cho việc nhận thức các hiện tượng kinh tế mang tính biểu hiện trên bề mặt xã hội Phương pháp tiếp cận này giúp phân tích sâu mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó làm sáng tỏ động lực, diễn biến và khuynh hướng của nền kinh tế trong thực tiễn xã hội.

Chức năng tư tưởng

Kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần tạo nên nền tảng tư tưởng cho những người lao động tiến bộ và yêu chuộng tự do, yêu chuộng hòa bình Nó củng cố niềm tin cho những ai phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.

Kinh tế chính trị Mác-Lênin đóng góp vào việc hình thành một thế giới quan khoa học cho những ai mong muốn xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp, hướng tới giải phóng con người và xóa bỏ dần những áp bức, bất công giữa con người với con người Thông qua phân tích khoa học về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, lý thuyết này giúp nhận diện nguồn gốc của bất bình đẳng xã hội và đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống nhằm xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ Việc áp dụng Kinh tế chính trị Mác-Lênin không chỉ phản ánh hiện thực lịch sử mà còn kích thích nhận thức và hành động hướng tới một tương lai nơi con người được phát triển tự do và được giải phóng khỏi mọi áp đặt và áp bức.

Chức năng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác–Lênin cho thấy các quy luật chi phối sự vận động của các quan hệ giữa con người trong sản xuất và trao đổi Những quy luật này giúp người lao động và các nhà hoạch định chính sách nhận diện và vận dụng hiệu quả các nguyên tắc kinh tế vào thực tiễn lao động cũng như quản trị quốc gia.

Việc vận dụng đúng các quy luật kinh tế khách quan thông qua việc điều chỉnh hành vi cá nhân và các chính sách kinh tế sẽ thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo hướng tiến bộ Theo nghĩa này, kinh tế chính trị Mác - Lênin mang chức năng cải tạo thực tiễn và thúc đẩy văn minh của xã hội.

HÀNG HÓA, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ

LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ HÀNG HÓA

2.1.1 Sản xuất hàng hóa a) Khái niệm sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa là hình thức tổ chức kinh tế mà ở đó người sản xuất tạo ra sản phẩm không nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính mình mà để trao đổi, mua bán trên thị trường Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa gồm sự phân công lao động và sự hình thành thị trường, khi các cá nhân có nhu cầu trao đổi và bán sản phẩm cho người khác thay vì sử dụng chúng ngay cho bản thân.

Sản xuất hàng hóa hình thành và phát triển, cần có hai điều kiện: Điều kiện thứ nhất, phân công lao động xã hội

Phân công lao động xã hội là quá trình phân chia lao động trong xã hội thành các ngành, lĩnh vực sản xuất khác nhau, từ đó hình thành sự chuyên môn hóa của người lao động và phân bổ họ vào các ngành nghề tương ứng Quá trình này góp phần tăng hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu xã hội bằng cách kết hợp các kỹ năng và lao động ở từng lĩnh vực khác nhau.

Phân công lao động xã hội khiến mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định, trong khi nhu cầu của họ lại đòi hỏi nhiều loại sản phẩm khác nhau Để thỏa mãn nhu cầu ấy, các bên sản xuất buộc phải trao đổi sản phẩm với nhau thông qua trao đổi hàng hóa Điều kiện thứ hai là sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa các ngành sản xuất, tạo nên mạng lưới quan hệ kinh tế phụ thuộc lẫn nhau.

Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất khiến họ độc lập với nhau và có lợi ích khác biệt Trong điều kiện đó, mỗi người muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác chỉ thông qua trao đổi kinh tế, tức là thông qua hoạt động mua bán sản phẩm Do đó, quá trình trao đổi diễn ra dưới hình thức hàng hóa để các bên có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mình thông qua sự thỏa thuận và thanh toán.

Trong lịch sử, sự tách biệt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất xuất hiện một cách khách quan dựa trên sự tách biệt quyền sở hữu Khi xã hội loài người càng phát triển, sự khác biệt về quyền sở hữu càng sâu sắc, và nền sản xuất hàng hóa vì thế ngày càng phát triển phong phú Ưu thế của sản xuất hàng hóa nằm ở khả năng phân công lao động, trao đổi trên thị trường, tích lũy vốn và nâng cao năng suất, từ đó thúc đẩy đổi mới, chuyên môn hóa và tăng trưởng kinh tế.

So với sản xuất tự nhiên, tự túc thì sản xuất hàng hóa có những ƣu điểm nổi bật sau:

Một là, tạo khả năng thỏa mãn tối đa các nhu cầu luôn phát triển của con người Sản xuất hàng hóa không bị hạn chế bởi nhu cầu hạn hẹp của người sản xuất; ngược lại, nhu cầu lớn và không ngừng tăng lên là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của sản xuất hàng hóa.

Hai là yếu tố kích thích sự năng động và sáng tạo của con người trong quá trình sản xuất Vì mục tiêu sản xuất là phục vụ nhu cầu của người mua hàng hóa, các nhà sản xuất phải không ngừng đổi mới, năng động và nắm bắt xu hướng tiêu dùng để có thể bán được hàng hóa.

Ba là, sản xuất hàng hóa thúc đẩy các quan hệ kinh tế luôn mở rộng và đóng góp cho sự tiến bộ và văn minh của con người Các quan hệ kinh tế không ngừng mở rộng, vượt qua giới hạn về không gian và thời gian nhờ quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa, từ đó tạo nên một mạng lưới kinh tế ngày càng thuận lợi và bền vững.

Cạnh bên những mặt tích cực của sản xuất hàng hóa, vẫn tồn tại nhiều mặt trái và tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội Sự phân hóa giàu nghèo giữa những người tham gia sản xuất làm suy giảm tính công bằng và gây áp lực lên an sinh xã hội Lợi ích cá nhân chi phối có thể làm tổn hại đến các giá trị đạo đức truyền thống và làm suy yếu niềm tin xã hội Hàng giả, hàng kém chất lượng và thậm chí hàng hóa độc hại có thể được lưu thông, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng và cộng đồng Sản xuất thiếu sự kiểm soát cũng tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối nguồn lực và thị trường.

Trong bối cảnh 12 khủng hoảng kinh tế và sự phá hoại môi trường sinh thái, các tác động tiêu cực có thể được hạn chế nếu có sự quản lý và điều tiết của nhà nước Việc kết hợp quản lý nhà nước hiệu quả, giám sát chặt chẽ và các chính sách bảo vệ môi trường sẽ giảm thiểu rủi ro, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và bảo đảm an toàn cho hệ sinh thái.

2.1.2 Hàng hóa a) Khái niệm hàng hóa

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán

Hàng hóa có thể được dùng để đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất, và tồn tại ở hai dạng cơ bản là hữu hình (hàng hóa vật thể) hoặc vô hình (hàng hóa phi vật thể) Trong bài viết này, hai thuộc tính của hàng hóa được trình bày nhằm làm rõ đặc trưng và cách phân loại, giúp người đọc nắm bắt vai trò của hàng hóa trong kinh tế và thị trường.

Bất kỳ hàng hóa nào cũng đều có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị

+ Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người; nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; cũng có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân, có thể là nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất

+ Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên hoặc các yếu tố cấu thành nên hàng hóa đó quy định Nền sản xuất càng phát triển, khoa học, công nghệ càng tiên tiến, càng giúp cho con người phát hiện ra nhiều và phong phú các giá trị sử dụng của hàng hóa khác nhau

Giá trị sử dụng của hàng hóa là khả năng đáp ứng nhu cầu và mục đích sử dụng của người mua, được thể hiện rõ nhất trong quá trình tiêu dùng Nó phản ánh mức độ phù hợp của hàng hóa với nhu cầu của người dùng, đồng thời thể hiện qua tính tiện dụng, chất lượng và hiệu quả mà hàng hóa mang lại để giải quyết các vấn đề thực tế Giá trị sử dụng tồn tại độc lập với giá cả và được xác nhận qua hành vi tiêu dùng và sự hài lòng của người mua sau khi sử dụng sản phẩm.

Các hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau nhưng vẫn có thể trao đổi với nhau vì chúng đều là sản phẩm của lao động xã hội Điểm chung cho phép chúng trao đổi là sự hao phí lao động được phản ánh trong mỗi hàng hóa; tức là mỗi mặt hàng mang một lượng lao động đã tiêu hao để sản xuất Do đó, trao đổi hàng hóa thực chất là sự trao đổi lượng lao động đã tiêu hao giữa các hàng hóa khác nhau, thể hiện dưới dạng giá trị trao đổi giữa chúng.

SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 54

LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƢError! Bookmark not defined 1 Lý luận của C.Mác về giá trị thặng dƣ Error! Bookmark not defined 3.2 TÍCH LŨY TƢ BẢN 65

3.1.1 Nguồn gốc của giá trị thặng dƣ

40 a) Công thức chung của tư bản

Theo Karl Marx, quan hệ lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức H - T - H (lưu thông hàng hóa giản đơn), tức hàng hóa được trao đổi lấy tiền rồi dùng tiền để mua lại hàng hóa, tạo nên chu trình trao đổi trực tiếp giữa hai loại hàng hóa thông qua tiền tệ Trong khi đó, lưu thông hàng hóa tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức T - H - T: tiền được dùng để mua hàng hóa nhằm mục đích sinh lời và tích lũy vốn, chu trình quay lại dưới dạng tiền tệ để tiếp tục đầu tư Sự khác biệt căn bản ở động lực và mục tiêu: lưu thông giản đơn nhắm tới trao đổi giữa người sản xuất và người tiêu dùng, còn lưu thông tư bản chủ nghĩa nhấn mạnh vai trò của vốn và lợi nhuận trong quá trình luân chuyển hàng hóa, thúc đẩy tích lũy và tăng trưởng kinh tế.

Xét về mục đích vận động của hai quá trình lưu thông đã nêu, lưu thông hàng hóa giản đơn chỉ nhằm khai thác giá trị sử dụng của hàng hóa; còn trong lưu thông T-H-T của tư bản chủ nghĩa, việc bỏ ra tiền để nhận lại đúng bằng số tiền ban đầu là vô nghĩa, nên thực chất quá trình này là T-H-T’ với T’ = T + ΔT ΔT chắc chắn là một giá trị dương và được gọi là giá trị thặng dư (ký hiệu m) Vì vậy, mục đích của lưu thông tư bản chủ nghĩa là giá trị thặng dư.

Công thức T – H – T’ gọi là công thức chung của tƣ bản là vì mọi tƣ bản đều vận động theo công thức khái quát này b) Hàng hóa sức lao động

Qua quá trình vận động T - H - T’, giá trị thặng dư xuất hiện Nguồn gốc của giá trị thặng dư được C.Mác chứng minh: mua và bán hàng hóa ở giá trị hoặc thấp hơn không tạo ra giá trị gia tăng; nếu mua với giá trị rồi bán cao hơn, lợi ích chỉ thuộc về người bán còn người mua sẽ chịu thiệt Trong nền kinh tế thị trường, mỗi người vừa là người bán vừa là người mua, do đó khi được lợi ở một phía sẽ gặp thiệt ở phía kia Vì vậy lưu thông không tự động tạo ra giá trị thặng dư xét trên phạm vi xã hội.

Trong hệ thống tư bản, bí mật ở đây là nhà tư bản mua một loại hàng hóa đặc biệt: hàng hóa sức lao động Trong quá trình sử dụng, giá trị của hàng hóa này không những được bảo toàn mà còn tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó, tức là giá trị thặng dư do lao động tạo ra.

Sức lao động hay năng lực lao động là tổng hợp các khả năng thể chất và tinh thần tồn tại trong một con người đang sống và được phát huy khi tham gia vào quá trình sản xuất Đây là nguồn lực bên trong giúp người lao động vận dụng trí tuệ, kỹ năng và động lực để tạo ra các giá trị sử dụng Năng lực lao động không chỉ bao gồm sức mạnh thể chất mà còn sự rèn luyện, sáng tạo và khả năng thích nghi với yêu cầu công việc Nhận diện và khai thác hiệu quả sức lao động là chìa khóa để nâng cao năng suất và chất lượng đầu ra, đồng thời phục vụ cho quản trị nguồn nhân lực và phát triển bền vững Hiểu rõ khái niệm sức lao động giúp các tổ chức tối ưu hóa hoạt động sản xuất và tạo lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.

3 C.Mác - Ph Ănghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1993, tr.251

Theo C.Mác hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa là:

Một là, người lao động được tự do về thân thể

Thứ hai, người lao động thiếu các tư liệu sản xuất thiết yếu để tự kết hợp với sức lao động của mình nhằm tạo ra hàng hóa để bán; vì vậy, họ buộc phải bán sức lao động của mình cho chủ sử dụng lao động để kiếm sống.

Khi sức lao động được xem như một hàng hóa, nó mang hai thuộc tính cơ bản giống như các hàng hóa khác: thuộc tính giá trị và thuộc tính giá trị sử dụng Thuộc tính giá trị cho biết lượng lao động xã hội cần thiết để tạo ra sức lao động và được đo bằng thời gian làm việc, trong khi thuộc tính giá trị sử dụng cho thấy công dụng và ứng dụng của sức lao động trong sản xuất và đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Giá trị của hàng hóa sức lao động được xác định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động đó; nói cách khác, giá trị này phụ thuộc vào lượng công sức xã hội cần để tạo ra và duy trì nguồn lao động, chứ không chỉ phản ánh công sức riêng lẻ của từng cá nhân.

Sức lao động là khả năng lao động tồn tại trong con người đang sống; để sống và tái sản xuất sức lao động, người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất sức lao động được quy đổi thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt mà người lao động tiêu dùng, và được gián tiếp đo lường thông qua giá trị của các tư liệu sinh hoạt đó Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, mang yếu tố tinh thần và lịch sử.

- Cấu thành giá trị của hàng hóa sức lao động bao gồm:

Một là, giá trị tƣ liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động;

Hai là, phí tổn đào tạo người lao động;

Ba là, giá trị những tƣ liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) nuôi con của người lao động

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua Trong quá trình sử dụng hàng hóa sức lao động — tức là khi người bán thực hiện lao động — người mua mong muốn nhận được giá trị lớn hơn chi phí bỏ ra, từ đó hình thành giá trị tăng thêm Chính sự gia tăng giá trị này làm cho hàng hóa sức lao động mang lại lợi ích cho người mua và thúc đẩy hoạt động sản xuất.

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt: khi được sử dụng, nó không những bảo tồn giá trị mà còn tạo ra lượng giá trị lớn hơn Phần lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động chính là giá trị thặng dư Đây chính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư và mối quan hệ giữa lao động và giá trị trong quá trình sản xuất.

Phần giá trị thặng dư được hình thành chủ yếu do hao phí sức lao động của người bán sức lao động (người làm thuê) tạo ra Nói cách khác, giá trị thặng dư là phần giá trị do công nhân bỏ ra vượt quá mức lương và chi phí tái sản xuất sức lao động của họ, do quá trình sản xuất tạo ra Ví dụ về sự sản xuất giá trị thặng dư cho thấy khi thời gian lao động vượt quá thời gian cần thiết để tái tạo sức lao động, phần lao động dư thừa đó được nhà tư bản giữ lại dưới dạng giá trị thặng dư.

Nghiên cứu về hàng hóa sức lao động cho thấy nguồn gốc của giá trị thặng dư xuất phát từ lao động của người làm thuê Quá trình tạo ra giá trị thặng dư diễn ra khi người lao động làm việc vượt quá thời lượng cần để tái tạo sức lao động và giá trị được tạo ra vượt qua khoản tiền lương được trả Để làm rõ cơ chế này, chúng ta xét một ví dụ về sản xuất giá trị thặng dư, từ đó thấy cách giá trị do lao động tạo ra được khai thác và chuyển hóa thành lợi nhuận trong quá trình sản xuất hàng hóa.

Ví dụ một nhà tư bản sản xuất sợi Để bắt đầu sản xuất, nhà tư bản bỏ ra 50 USD mua 50 kg bông, 3 USD chi phí hao mòn máy móc để kéo bông thành sợi và 15 USD trả cho lao động cho một ngày làm việc 8 giờ; như vậy tổng chi phí đầu tư ban đầu là 68 USD Trong quá trình sản xuất sợi, nhờ lao động cụ thể, người công nhân biến bông thành sợi; giá trị của bông và hao mòn máy móc được chuyển vào giá trị của sợi, còn nhờ lao động trừu tượng người công nhân tạo ra giá trị mới.

Giả định, trong 4 giờ lao động công nhân đã hoàn thành chuyển toàn bộ 50 kg bông thành sợi thì giá trị của sợi gồm:

Giá trị 50 kg bông chuyển vào : 50 USD Hao mòn máy móc: 3 USD Giá trị mới bằng giá trị sức lao động: 15 USD

Nhà tư bản ứng ra 68 USD và thu được 68 USD từ bán sợi; nếu quá trình lao động dừng ở điểm này thì không có giá trị thặng dư và số tiền ứng ra chưa trở thành vốn Để có giá trị thặng dư, thời gian lao động phải vượt quá mức cần để bù đắp giá trị sức lao động Nhà tư bản mua sức lao động của công nhân để dùng trong 8 giờ chứ không phải 4 giờ; công nhân phải làm thêm 4 giờ nữa và nhà tư bản phải bỏ thêm 50 USD để mua 50 kg bông và 3 USD hao mòn máy móc Quá trình lao động 4 giờ sau diễn ra như quá trình đầu; số sợi được tạo ra trong 4 giờ sau cũng có giá trị 68 USD Tổng chi phí đầu vào gồm 100 USD cho bông, 6 USD khấu hao máy móc và 15 USD trả công lao động, bằng 121 USD, trong khi đó số sợi sản xuất ra có giá trị 136 USD, do đó thặng dư giá trị là 15 USD.

USD Do đó, nhà tƣ bản thu đƣợc lƣợng giá trị thặng dƣ là 136 USD –

Giá trị hàng hóa tạo ra: 106c + (15v + 15m) = 136 (USD)

CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 78

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ Ở VIỆT NAM

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

Ngày đăng: 26/10/2022, 22:39

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w