1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

KỸ NĂNG bồi DƯỠNG lý LUẬN VH CHO HS

35 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Năng Bồi Dưỡng Lý Luận Văn Học Cho Học Sinh
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh
Trường học Trường THPT Chuyên Lào Cai
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Lào Cai
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 67,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KỸ NĂNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VỚI KIỂU BÀI LÍ LUẬN VĂN HỌC MÔN NGỮ VĂN TÊN TÁC GIẢ Nguyễn Thị Hạnh Đơn vị công tác Tổ Ngữ văn Trường THPT Chuyên Lào Cai MỤC LỤC Trang ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Lí do chọn sáng ki.

Trang 1

KỸ NĂNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VỚI KIỂU BÀI LÍ LUẬN VĂN HỌC

MÔN NGỮ VĂN

TÊN TÁC GIẢ: Nguyễn Thị Hạnh

Đơn vị công tác: Tổ Ngữ văn - Trường THPT Chuyên Lào Cai

Trang 2

1 Thông tin khái quát về những vấn đề nghiên cứu……….2

2 Phạm vi đối tượng của sáng kiến kinh nghiệm……….2

3 Phương pháp nghiên cứu……… 3

4 Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm……….3

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1 Khái niệm……… 3

2 Nội dung, tính chất của lí luận văn học……….3

2.1 Lí luận văn học là một bộ phận của nghiên cứu văn học……… 3

2.2 Nội dung của lí luận văn học……… 4

2.3 Tính chất của lí luận văn học……… 5

3 Lí luận văn học ở trường THPT………6

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 1 Trang bị những kiến thức về một số vấn đề lí luận văn học……… 7

1.1 Dạy lí luận VH theo chuyên đề………7

1.2 Ôn tập hệ thống hóa kiến thức lí luận VH……… 8

2 Kĩ năng làm kiểu bài lí luận văn học………8

2.1 Xác định yêu cầu cần có……….8

2.2 Phương pháp làm bài………10

2.2.1 Phân tích đề……… 10

2.2.2 Giải quyết vấn đề……….11

2.3 Giới thiệu một số đề tham khảo……….17

Chương 3: VIẾT, CHẤM CHỮA BÀI VÀ GIỚI THIỆU BÀI VIẾT THAM KHẢO 3.1 Luyện viết bài……… 25

3.2 Chấm, chữa bài viết……… 27

Trang 3

3.3 Bài viết tham khảo………28

KẾT LUẬN………47 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….49

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1 1 Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm

Bồi dưỡng học sinh giỏi văn là một công việc khó, bồi dưỡng học sinh giỏi với kiểu bài Lí luận Văn học lại càng khó khăn và gian nan hơn gấp bội phần Như

Trang 4

Nguyễn Du đã từng nói: “ đã mang lấy nghiệp vào thân” Chúng tôi và các đồng chí

đều có chung một nghề gian nan, một nghiệp đầy thử thách Dạy môn Ngữ văn ở trường chuyên, cũng có nghĩa là thêm một trọng trách nữa là bồi dưỡng học sinh giỏi

và kiểu bài Lí luận văn học không thể thiếu trong bồi dưỡng đội tuyển Và như vậy, chúng ta không thể từ chối, không thể không trăn trở đi tìm con đường và những phương pháp, kỹ năng để dạy và bồi dưỡng với mong muốn đạt kết quả cao nhất

Lý luận văn học là một bộ môn chính trong khoa nghiên cứu văn học Nắm chắckiến thức Lí luận văn học chính là chìa khóa để chúng ta đi khám phá vẻ đẹp của văn chương nghệ thuật Với học sinh năng khiếu thì không thể không biết đến Lí luận Vănhọc Vì đây là môn cơ sở giúp các em phát triển năng khiếu học văn của mình

Lý luận văn học đối với học sinh phổ thông là những kiến thức mới mẻ và rất khó, song vận dụng những kiến thức ấy để làm một bài văn còn khó khăn, nan giải hơn nhiều Nhưng công việc của người giáo viên dạy học sinh giỏi theo chúng tôi là phải biết cách hướng dẫn học sinh có kỹ năng làm bài thuộc dạng này

Từ việc xác định rõ mục tiêu của các lớp chuyên Văn, chúng tôi đã xây dựng cho mình một hệ thống, quy mô đào tạo học sinh giỏi, nhất là kiểu bài Lí luận văn học nhằm mục đích nâng cao thành tích trong các kì thi học sinh giỏi Văn

Riêng với học sinh giỏi đội tuyển Quốc gia, giáo viên chúng tôi lại chuẩn bị một chương trình tập huấn đặc biệt chặt chẽ Chúng tôi chia lượng kiến thức thành nhiều phân môn nhỏ: phần lí luận văn học; phần văn học sử; phần văn bản, tác phẩm cụ thể; phần rèn luyện ngôn ngữ và kĩ năng làm văn… Nhưng trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý rèn luyện kỹ năng viết văn nghị luận với kiểu bài Lí luận văn học Vì đây là kiểu bài thường xuất hiện trong các kỳ thi học sinh giỏi

2 TỔNG QUAN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Những vấn đề cần nghiên cứu

Kiến thức lí thuyết về Lí luận VH

Kỹ năng làm kiểu bài Lí luận VH

Viết văn và sửa lỗi

2.2 Phạm vi và đối tượng của sáng kiến kinh nghiệm

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề này là học sinh chuyên văn THPT

Trang 5

Học sinh năng khiếu các trường THPT trên toàn tỉnh.

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng là thống kê, phân tích, tổng hợp,

so sánh

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD

Phương pháp thực nghiệm cũng được áp dụng để xây dựng chuyên đề Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu áp dụng thử nghiệm và kiểm tra kết quả ở lớp 10,11,12 chuyên văn của nhà trường để đi đến kết luận và để ra những giải pháp được đề cập trong chuyên đề

2.4 Kết cấu của sáng kiến: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo,

chuyên đề được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Cơ sở thực tiễn – Kĩ năng bồi dưỡng học sinh giỏi với kiểu bài Lí

1.2 Nội dung, tính chất của lí luận văn học

1.2.1 Lí luận văn học là một bộ phận của nghiên cứu văn học

Lí luận khoa học về văn học lấy các hiện tượng văn học như tác phẩm, thể loại, nhà văn, quá trình sáng tác, sự tiếp nhận, quá trình pát triển của văn học,…làm đối tượng nghiên cứu Mục đích của lí luận văn học là rút ra các khái niệm, các quy luật

có tính phổ biến về văn học nhằm trả lời câu hỏi văn học là gì, tác phẩm có cấu tạo như thế nào, thế nào là tác phẩm hay,… từ đó giúp Người đọc thưởng thức, nghiên cứu văn học là một cách tự giác Lí luận văn học nghiên cứu văn học như một hoạt động sáng tạo tinh thần thẩm mỹ của con người, bao gồm các mặt hoạt động của các yếu tố, quan hệ tạo thành hoạt động đó Nó nghiên cứu các hiện tượng văn học cụ thể

Trang 6

để rút ra các khái niệm phổ biến về bản chất, tính chất, quy luật của văn học Chính vì vậy, nội dung của lí luận văn học là khái niệm, phạm trù văn học.

1.2.2 Nội dung của lí luận văn học

Lí luận văn học là lí luận khoa học về văn học, lấy văn học làm đối tượng nghiên cứu

Lí luận văn học có nhiệm vụ khái quát về bản chất, đặc trưng, cấu tạo, quy luật tồn tại

và phát triển của văn học, giúp con người hiêu được mọi hiện tượng văn học từ tác phẩm, tác giả, thể loại, trào lưu, phong cách,… Lí luận văn học có nhiệm vụ cung cấp một hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học chặt chẽ với tư cách là những công cụ

để người đọc và các nhà phê bình, các nhà văn học sử có thể vận dụng và nghiên cứu văn học một cách hữu hiệu

Đối tượng của lí luận văn học không phải là một vài tác phẩm, tác giả cụ thể, mà là toàn bộ văn học như một lĩnh vực nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội Đó là một đối tượng rộng, vừa thống nhất, vừa đa dạng, lại luôn đổi thay trong lịch sử, do đó lí luận văn học không dễ trả lời câu hỏi “ Văn học là gì?” nếu không xem xét một cách toàn diện

Lí luận văn học tất nhiên không thể không phân tích một số tác phẩm, tác giả cụ thể, nhưng nó nghiên cứu các hiện tượng đó như là những ví dụ Nói cách khác, nghiên cứu tác phẩm, tác giả cụ thể, lí luận văn học không nghiên cứu như nhà phê bình văn học và lịch sử văn học nhằm đánh giá ý nghĩa, vị trí từng tác phẩm, tác giả đó, mà là nhằm xem xét một trào lưu văn học, cuộc vận động của văn học Lí luận văn học vận dụng phương pháp luận triết học, từ tầm cao lí luận mà trình bày và phân tích tính chất, đặc điểm, quy luật của văn học, xây dựng nên các khái niệm, phạm trù Phạm vi của lí luận văn học ngày nay bao gồm các bộ phận sau: Một là bản chất, đặc trưng củavăn học, hai là cấu tạo của tác phẩm và thể loại, ba là quá trình sáng tác, bốn là tiến trình phát triển văn học, năm là sự tiếp nhận của văn học Năm bộ phận này bao quát hết các mặt quy luật của văn học Một bộ lí luận văn học đầy đủ phải bao gồm ngần

ấy bộ phận Mỗi bộ phận có những quy luật, phạm trù riêng Nhưng các bộ phận đều liên hệ mật thiết với nhau trong quá trình lịch sử Theo nhà lí luận Mỹ là M.H.Abramsthì có bốn yếu tố tạo thành đời sống văn học Đó là tác phẩm, nhà văn, thế giới, người đọc được sắp xếp theo mô hình dưới đây:

Trang 7

Tác phẩm

Nhà văn

Người đọc

1.2.3 Tính chất của lí luận văn học

Lý luận văn học là một bộ môn khoa học, là thành quả đúc kết, khái quát kinh nghiệmcủa văn học nhân loại Văn học càng phát triển phong phú thì khái niệm về lí luận vănhọc càng sâu sắc Lí luận văn học là sản phẩm của lịch sử, nó không ngừng phong phúthêm, và đổi thay cho sâu sắc hơn Là sự khái quát, đúc kết kinh nghiệm về văn học, líluận văn học chịu sự chi phối của trình độ phát triển của văn học và trình độ nhận thứccủa con người Chẳng hạn Aristote khi bàn đến bản chất của văn học chủ yếu chỉ nói đến bản chất “ bắt chước” của nó, còn bàn đến thể loại thì hầu như chưa nói gì đến thểloại trữ tình Ở phương Đông, lí luận Nho giáo nói đến văn học chủ yếu đề cập đến chức năng giáo hóa và không đánh giá cao các tác phẩm hư cấu… do đó lí luận văn học hôm nay là sự tổng kết thành quả của một quá trình nhận thức lâu dài về văn học của nhân loại Nhưng lí luận văn học không phải là số cộng giản đơn các kiến thức về văn học Từ kinh nghiệm nâng lên lí luận phải trải qua một quá trình kiểm nghiệm, sàng lọc, khái quát, hệ thống hóa Quá trình xây dựng lí luận văn học phải chịu sự chỉ đạo của một hệ thống thế giới khác quan và các phương pháp khoa học Bởi vì văn học là một hoạt động tinh thần của con người thông qua hình thức thẩm mĩ, hình thức đánh giá nhằm chiếm lĩnh thế giới, cho nên lí luận văn học không giản đơn là hệ thống kiến thức về văn học mà còn là hệ thống giá trị về văn học Lí luận văn học không chỉ giải thích văn học là gì mà còn phải cho biết văn học thế nào là hay, là tiến

bộ Lí luận văn học là bộ môn khoa học nhân văn, mang đậm bản chất nhân văn, nó nói lên mối quan hệ khăng khít giữa văn học và con người, thể hiện bản tính người của văn học Triết học Marx- Lenin là cơ sở khoa học vững chắc để xây dựng và phát triển lí luận văn học hiện đại Tất nhiên lí luận văn học mác- xít không hề gạt bỏ các thành quả lí luận văn học phong phú thuộc các trào lưu tư tưởng khác, mà hấp thụ chúng, phát triển chúng, làm cho lí luận văn học ngày càng sâu sắc và toàn diện Lí luận văn học mác- xít là một hệ thống mở

1.3 Lí luận văn học ở trường THPT

- Lí luận văn học là một bộ phận của phân môn Văn học, nhưng lại có tầm quan trọng

rất lớn đối với cả bộ môn và có quan hệ mật thiết với phân môn Văn học Những kiến thức Lí luận văn học sẽ giúp giáo viên trang bị cho học sinh những công cụ và phươngtiện cơ bản để từng bước hình thành năng lực văn

- Qua Lí luận văn học, học sinh có thể cảm thụ thẩm mỹ một cách có ý thức từ các phương diện của tác phẩm văn học như: ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu,… Đó cũng là

con đường khắc phục có hiệu quả hội chứng “ xã hội học dung tục” trong dạy học

văn Lí luận văn học cũng giúp học sinh nâng cao năng lực tư duy Đó là khả năng phát hiện vấn đề, đặt vấn đề trước một đối tượng, một hiện tượng nào đó của đời sống hiện thực hay đời sống văn học, khoa học Đặc biệt với học sinh giỏi Văn, kiến thức lí

Trang 8

luận văn học là chìa khóa giúp học sinh chủ động hơn trong việc tiếp nhận văn học, thể hiện năng lực hiểu và lí giải các vấn đề thuộc về bản chất, quy luật của văn học.

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1 Trang bị những kiến thức về một số vấn đề lí luận văn học

2.1.1 Dạy lí luận văn học theo chuyên đề

- Chuyên đề 1: Văn học – nhà văn và quá trình sáng tác

- Chuyên đề 2: Đọc hiểu văn bản văn học

- Chuyên đề 3: Thể loại văn học – thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch

- Chuyên đề 4: Tiếp nhận văn học

- Chuyên đề 5: Các mối quan hệ văn học

- Chuyên đề 6: Một số vấn đề về quá trình văn học ,…

Theo chúng tôi, đây là những chuyên đề cực kì quan trọng, vừa cung cấp kiến

thức lí luận văn học, vừa hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức về tác giả, tác phẩm, vừa rèn kĩ năng… cho học sinh Bởi vậy, giáo viên không được chủ quan bỏ bất kì một chuyên đề nào Hơn nữa, cần phải có sự bố trí, sắp xếp một cách hợp lí vị trí của các chuyên đề này trong chương trình Theo chúng tôi, không nên dạy toàn bộ các chuyên

đề của từng khối lớp vào đầu hoặc cuối năm học, mà nên dạy vào cuối mỗi phần, mỗi giai đoạn, thời kì văn học, mỗi tác gia … mà chuyên đề đó có liên quan Có như vậy thì việc dạy các chuyên đề mới thực sự có tác dụng Nếu dạy vào đầu năm học, học sinh chưa được đọc – hiểu các tác giả, tác phẩm cụ thể, chưa có cái nhìn toàn diện vềvăn học của từng thời kì, giai đoạn, trào lưu, thể loại… thì chẳng khác nào đánh đố học sinh, bắt học sinh phải công nhận Còn nếu dạy vào cuối năm, sau khi đã học xong toàn bộ chương trình, thì chắc chắn tác dụng, hiệu quả cũng không cao Vì, giữa các chuyên đề (có tính tổng hợp, khái quát) và phần kiến thức cụ thể về tác giả, tác phẩm … có liên quan là cả một khoảng cách khá xa

Song, theo chúng tôi, ở từng chuyên đề, dù rất quan trọng, giáo viên cũng không nhất thiết phải tung ra một lượng kiến thức quá rộng, quá sâu, quá hàn lâm, mà nên cung cấp và chốt lại những đơn vị kiến thức thật cơ bản, để tránh cho học sinh cảm giác choáng ngợp, tâm lí nặng nề, hoang mang…

Ngay trong Hướng dẫn nội dung dạy – học các môn chuyên trường THPT

chuyên do Bộ ban hành từ năm học 2001-2002 cũng đã nêu rõ : Phần lí luận văn học mới chỉ yêu cầu học sinh nắm được những kiến thức sơ đẳng Ngoài ra, khi dạy những bài văn học sử hay giảng văn, giáo viên nên có ý thức cung cấp cho học sinh một số khái niệm, thuật ngữ lí luận văn học cơ bản, đặc biệt là khắc sâu thêm những kiến thức lí luận đã được học, biến lí luận trở thành một bộ phận hữu cơ của môn Văn học.

Trang 9

2.1.2 Ôn tập hệ thống hóa kiến thức Lí luận VH

Chúng tôi là yêu cầu học sinh đọc thật kĩ sách giáo khoa Khi tập huấn thi tỉnh, nhất

là tập huấn thi Quốc gia, học sinh phải đọc đi, đọc lại, giáo viên giảng giải và chốt lại những đơn vị kiến thức cơ bản nhất, then chốt nhất ở từng bài

(GV hệ thống theo sơ đồ tư duy để học sinh dễ theo dõi)

2.2 Kĩ năng làm kiểu bài lí luận văn học

2.2.1 Hướng dẫn học sinh kỹ năng viết bài thuộc dạng lý luận văn học

2.2.1.1 Xác định yêu cầu cần có

1 Học sinh phải có vốn nhất định về tác phẩm, tác giả , về lí luận văn học… Những kiến thức lí luận cần trang bị cho học sinh là: đặc trưng, chức năng, thể loại, nhà văn

và quá trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật, tiếp nhận văn học…

2 Học sinh phải có khả năng suy nghĩ trừu tượng, khái quát để hiểu được luận điểm khoa học được đề cập đến trong bài, bởi các vấn đề lí luận thường được nhà văn, nhà nghiên cứu nói một cách hình ảnh, thậm chí là rất trừu tượng và không thật dễ hiểu với học sinh

Ví dụ:

- Câu nói của Biêlixki “Như một hạt giống vô hình, tư tưởng gieo vào tâm hồn nghệ

sĩ và từ mảnh đất màu mỡ ấy, nó triển khai và phát triển thành một hình thức xác định, thành các hình tượng tràn đầy vẻ đẹp và sức sống, cuối cùng nó là một thế giới hoàn toàn đặc thù, nhất quán” (Sự hình thành tác phẩm văn học).

- Câu nói của Ngô Thì Nhậm “Thơ không phải là toà lâu đài mà là cái bóng của toàn lâu đài dưới nước” (Cái đẹp độc đáo của thơ, cách phản ánh hiện thực của thơ)

- Chế Lan Viên:

“Có nên chăng

Ta nói mãi cái hồn nhiên, cái truyền thống, cái nghìn năm

Để nỗi bó tay chả làm gì được nữa”

Lần khác ông lại viết:

“Cuộc đời đẻ ra nhiều hình thức

D ù là ngọc thì cũng nhiều viên ngọc

Cứ đâu phải cứ xanh xanh vĩnh viễn một màu trời”

(Tiếp thu tinh hoa của văn học truyền thống và sự sáng tạo không ngừng, văn học luônđòi hỏi sự đa dạng)

3 Có khả năng trình bày lại và vận dụng các kiến thức lí luận văn học để giải quyết các vấn đề đặt ra

4 Có kĩ năng viết, trình bày các luận điểm rõ ràng và vận dụng các kiến thức về tác giả, tác phẩm để làm rõ luận điểm chính

2.2.1.2.Phương pháp làm bài

Trang 10

Để giúp học sinh đạt được yêu cầu đó người dạy học sinh giỏi phải tốn rất nhiều công sức, tập cho các em từ khâu phân tích đề, tìm hướng giải quyết vấn đề.

(1) Phân tích đề

- Đọc kĩ đề, gạch dưới những từ chứa đựng nội dung đề, xem hình ảnh mà nhà văn dùng chứa đựng ý niệm gì rồi đẩy nó về phạm trù lí luận văn học mà đề đặt ra

- Tiếp đó phải biết đẩy từ ngữ, hình ảnh đó lên tầm khái quát Ví dụ Về thơ, Xuân

Diệu cho rằng “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác”, Tố Hữu lại quan niệm “Thơ hay là không thấy câu thơ chỉ thấy tình người” Suy nghĩ của em?

+ Câu của Xuân Diệu: Những từ ngữ và hình ảnh cần tập trung: hồn, xác, câu thơ, tình người; hình ảnh hay cả hồn lẫn xác, không thấy câu thơ chỉ thấy tình người Hồn: cái bên trong, còn phong kín (cảm xúc, ý tưởng nhà thơ gửi gắm- nội dung của

thơ), hồn được thể hiện qua xác

Xác: là cái diện mạo bên ngoài của thơ (ngôn ngữ, nhịp điệu, hình ảnh…- hình thức

thức); Tình người là đề tài, chủ đề, cảm xúc thơ (nội dung) Theo quan niệm của Tố

Hữu một bài thơ, câu thơ được coi là hay khi người đọc không thấy dụng công nghệ thuật của tác giả chỉ còn lại tình người, cảm xúc tác động đến trái tim người đọc Tố Hữu đề cao nội dung nhưng không tách khỏi nghệ thuật

+ Nâng cao: Quan niệm của hai ông không chỉ đúng với thơ mà với mọi tác phẩm

nghệ thuật nói chung Một tác phẩm là hay phải là “một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”

Như vậy, phạm trù đưa ra để lí giải cho quan niệm này là: Mối quan hệ giữa nội dung

và hình thức trong tác phẩm văn học

Ví dụ 2: Trong tác phẩm Việt Hán văn khảo, Phan Kế Bính viết “Ngồi trong xó nhà

mà lịch lãm suốt các nơi danh lam thắng cảnh của thiên hạ, xem trêm mảnh giấy mà tinh tường được hết các việc hay dơ của thế gian; sinh ra sau mấy nghìn năm mà tựa

hồ như đối diện và nghe được tiếng bàn bạc của người sinh về trước mấy nghìn năm, cũng là nhờ có văn chương cả”

+ Các từ cần lưu ý: xó nhà, lịch lãm, danh thắng, thiên hạ, xem mảnh giấy, tinh

tường, đối diện và được nghe…

+ Bản chất của câu nói: vai trò, tác dụng to lớn của văn chương đối với con ngườiPhạm trù lí luận cần có: chức năng của văn học (nhận thức), đặc trưng văn học (ngôn ngữ phi vật thể)

(2) Xây dựng giải quyết vấn đề

Theo tôi, với bất kì đề ra thuộc kiểu bài lí luận văn học, người làm đều phải sử dụng các thao tác: giải thích, chứng minh, bình luận Giải thích để hiểu được thực chất nội dung vấn đề ở đây là gì? Chứng minh là làm rõ hơn cho vấn đề cả về mặt lí luạn văn

Trang 11

học và thực tế văn học Bình luận là nhìn vấn đề đó dưới nhiều góc độ khác nhau để bàn luận sự đúng, sai, để tìm hiểu ý nghĩa của quan điểm lí luận văn học đó với đời sống văn học, với người cẩm bút và họ phải làm gì để trở thành một nhà văn có chỗ đứng trong lòng độc giả.

a Giải thích

- Giải thích khái niệm: từ ngữ, hình ảnh của nhận định (nghĩa đen, nghĩa chuyển đặc biệt là nghĩa hàm ẩn được thể hiện trong cái vỏ bọc từ ngữ, hình ảnh, các nói trừu tượng của nhà văn

- Giải thích ý nghĩa: xem bản chất của câu nói ấy là gì? (Xem phần hướng dẫn phân tích đề)

- Mở rộng tới các câu nói tương tự của các tác giả khác…

b Đề xuất nhận định, đánh giá, mở rộng

- Tất nhiên các vẫn đề lí luận đưa cho học sinh làm bài thường là đúng, học sinh ít khi phải nghĩ ra một cái gì thật mới mẻ mà thường là khẳng định vấn đề đúng và đúngđến đâu, và dựa vào sự hiểu biết về lí luận văn học mà giải thích rõ rồi dùng thực tế văn học mà mình đã học, đã biết để chứng minh cho sự đúng đắn của nhận định

- Ví dụ ở đề văn trên (Ví dụ 1)

+ Cách hiểu của hai nhà thơ tưởng như mâu thuẫn nhưng thực ra lại hoàn toàn thống nhất bởi hai ông đều có nét tương đồng trong quan niệm thơ hay: Thơ là một chỉnh thểnghệ thuật được kết hợp bởi hai yếu tố: nội dung và hình thức nghệ thuật Vì vậy, thơ hay phải đạt đến sự hài hoà đến mức như là máu thịt, như là thể xác và linh hồn.+ Đây là một quan niệm đúng đắn Quan niệm này có cơ sở cả về mặt lí luận và thực

tế văn học:

Cơ sở triết học: cặp phạm trù nội dung và hình thức của mọi hiện tượng trong đời

sống

Cơ sở lí luận văn học: nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học Tác phẩm văn

học là một hiện tượng xã hội nên những tác phẩm có giá trị, nội dung và hình thức phải luôn thống nhất chặt chẽ Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức tạo nên sức mạnh tư tưởng, nghệ thuật của chỉnh thể tác phẩm văn học

Thực tế văn học cho thấy: nếu chỉ coi trọng nội dung thì thơ chỉ có nội dung tư tưởng cao, chỉ đứng được một thời (Những bài thơ của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh: Bài

ca cách mạng,…) Ngược lại, nếu chỉ quan tâm tạo dựng cho một cái xác đẹp đẽ với

những sáo ngữ ồn ào, mà không chú ý đến phần hồn thì câu thơ chỉ làm cho người đọcsướng tai, vui mắt trong một khoảnh khắc nhất định, không lưu lại trong lòng một cái

gì, đọc câu thơ như ngắm một bông hoa có sắc mà không có hương Nhiều bài thơ hay

để đời là những bài thơ hay cả hồn lẫn xác không thấy câu thơ, chỉ thấy tình

người: Hoàng hạc lâu, Tôi yêu em, Đây thôn Vĩ Dạ…

c Ý nghĩa tác dụng và mở rộng vấn đề

- Đóng góp vào kho tàng lí luận phong phú của văn chương

- Bài học cho người cầm bút và người tiếp nhận

Đề bài luyện tập

Trang 12

Lê Quý Đôn cho rằng “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta”, còn Ngô Thì Nhậm lại nhấn mạnh “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” Từ ý kiến trên hãy nêu vai

trò của tình cảm trong thơ

Gợi ý

Hướng giải quyết vấn đề:

1 Giải thích

( ? ý nghĩa của hai câu nói là gì ? )

- Lê Quý Đôn (1726-1874) và Ngô Thì Nhậm (? – 1803) đều là những nhân sĩ Bắc Hàhọc rộng tài cao có nhiều đóng góp sắc sảo về thơ

- Lê Quý Đôn cho rằng: Thơ phát khởi từ trong lòng người ta “Lòng” là thế giới nội

tâm, là tâm hồn, tình cảm, cảm xúc của người làm thơ, khởi phát là từ xuất phát, là khởi đầu Theo Lê Quý Đôn thì thơ được ra đời, nảy mầm từ tâm hồn, tình cảm của con người Tình cảm, tâm hồn là cái gốc của thơ

- Ngô Thì Nhậm: Hãy xúc động hồn thơ cho ngòi bút có thần Xúc động hồn thơ là

cảm xúc, tình cảm của người làm thơ đạt đến độ rung động cao, ngọn bút có thần là ngọn bút tài hoa, tinh tế Ngô Thì Nhậm muốn nói: sự rung động mãnh liệt của người nghệ sĩ là tác nhân quan trọng cho bút lực họ sung mãn, thể hiện được cái thần, cái hồn của đối tượng trữ tình, khiến quỷ thần phải sợ

- Cả hai câu nói có tính chất bổ sung cho nhau nhằm khẳng định vai trò tình cảm trong sáng tác thơ: tình cảm là nơi bắt đầu của thơ và rung động mãn liệt là khởi điểm của sự sáng tạo nghệ thuật, là phút xuất thần của ngọn bút thi nhân

2 Phát biểu suy nghĩ về vai trò tình cảm trong thơ

- Tình cảm, cảm xúc là đặc trưng cơ bản của thơ Thơ không phải văn xuôi, thơ thuộc phạm trù trữ tình, thơ lấy điểm tựa ở sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ trước cuộc

đời “Ta nói trời xanh hôm nay nên thơ nhưng chính ra lòng chúng ta mang nỗi niềm vui buồn mà muốn làm thơ hoặc đọc thơ về trời xanh Mưa phùn buổi chiều gợi

những câu thơ nào nhớ nhung, nhưng chính nỗi nhớ nhung ấy gặp trời mưa mà muốn thì thầm những câu thơ chưa thành hình rõ” (Nguyễn Đình Thi) Bạch Cư Dị cũng đã cho rằng: đối với thơ, tình là gốc, lời là cành, thanh là hoa, nghĩa là quả” Không có

tình, thơ như cây không gốc, thơ không thể là thơ vì lời, thanh nghĩa của thơ không thể nảy mầm Tình là nơi nuôi dưỡng thơ mãi mãi xanh tươi như cây đời

- Tình cảm trong thơ không thể là tình cảm giả tạo gượng gạo, hời hợt, mờ nhạt Tình cảm nhạt nhoà, giả dối chỉ tạo nên những con chữ vô hồn, sự gào rú hỗn độn của âm

thanh và sự rỗng tuếch của nghĩa lí; Tình cảm trong thơ phải chân thành tự nhiên: “Thơ

là tiếng nói hồn nhiên nhất của tình cảm con người” (Tố Hữu), phải mãnh liệt và sâu

sắc Nhà thơ phải yêu, ghét, vui buồn đến tận độ, phải mang nghìn trái tim trong một

trái tim “Thơ muốn làm người ta khóc trước tiên mình phải khóc, muốn làm người ta cười trước tiên mình phải cười” (Chế Lan Viên) Có lẽ vậy mà Platôn gọi thơ là Thần hứng, Đecgavin lại cho thơ là ngọn lửa thần.

- Nhà thơ làm thơ là để giãi bày lòng mình với mọi người, để tìm sự đồng cảm “Thơ

là chuyện đồng điệu Nó là tiếng nói của người nào đó đối với người nào đó có sự cảm thông chung dựa trên cơ sở đồng ý, đồng tình, đồng chí” (Tố Hữu) Thơ dựa trên

Trang 13

cơ sở tri âm; Thơ đi từ trái tim đến với trái tim Vì vậy tình cảm trong thơ không thể làtình cảm chung của cá nhân nhà thơ là tình cảm có tính chất xã hội Từ nhịp đập của trái tim mình, nhà thơ phải vẽ lên nhịp đập của trái tim quần chúng.

- Có cảm xúc, tình cảm chưa đủ để có thơ, nghĩ ra thơ là tâm hồn làm ra thơ là tay Do vậy người nghệ sĩ phải có tay nghề thơ, có khả năng biến cảm xúc ý tưởng thành lời, nghĩa là phải có tài làm thơ Tài dù khéo đến đâu mà không có tình nuôi dưỡng thì nhà thơ chỉ tạo được những xác con chữ nằm bất động trên trang giấy Thi hào Gơt nổi tiếng

thế giới đã từng khuyên các nhà văn trẻ “Hãy đập vào tin anh thiên tài là ở đó” Chỉ khi nào con tim thi nhân “rẩy tựa dây đần” thì ngòi bút họ mới thăng hoa, xuất thần đến không ngờ, thơ sẽ như lửa gặp gió sẽ bốc cao Người đọc lúc ấy “không thấy câu thơ chỉ thấy tình người” (Tố Hữu) và câu thơ sẽ neo trụ mãi trong họ.

Thực tế văn học cho ta thấy rõ điều đó Thi thánh Đỗ Phủ đời nhà đường chưng cất từ nỗi đau rỉ máu của mình – của một ông quan do chiến tranh phong kiến bị đẩy tới chân trời tây nam của huyện Quỳ Châu xa xôi, nếm cuộc sống bần cùng của muôn dân

- để tạo nên những vần thơ khắc khoải nỗi nhớ quê ám ảnh người đọc bao thế kỷ:

“Nước mắt tuôn theo dòng lệ cũ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà”

Bạch Cư Dị với “Lệ ai chan chứa hơn người” trước thân phận bọt bèo của một tài nữ đánh đần trên bến Tầm Dương mà có một Tỳ bà hành lưu trước nhân gian bạn cùng

trăng sáng; Nguyễn Du tạo nên tuyệt tác truyện Kiều- và hình tượng Vương Thuý

Kiều bất hủ bởi tấm lòng Đau đớn thay phận đàn bà đến tê buốt của ông Hoàng Cầm

viết Bên kia sông Đuống, một tác phẩm để đời của ông chỉ trong có một đêm bởi cảm

xúc thơ xuất thần từ “tâm tư chồng chất nhớ thương với cảnh với người quê hương bị giặc tàn phá giết hại”.

3 Ý nghĩa tác dụng và mở rộng vấn đề

- Những ý kiến về vai trò tình cảm trong thơ của Lê Quý Đôn và Ngô Thì Nhậm đã đóng góp vào kho tàng lí luận phong phú của thơ ca và là định hướng, lời khuyên rất quý giá với người cầm bút

- Người cầm bút muốn có những đứa con tinh thần khoẻ mạnh có sức sống dẻo dai trong lòng người đọc và vượt qua được sự băng hoại của thời gian thì cần phải nuôi dưỡng cảm xúc, tâm hồn, tình cảm mình ngày một phong phú và tinh tế, phải tạo cho mình một phong cách riêng độc đáo Muốn vậy phải sống hết mình với cuộc đời, phải

tu tâm và dưỡng tài “Phải chịu đau đớn thì vẫn đốt cháy mình và đốt cháy những người khác” (Lep xtôn).

- Người tiếp nhận văn học cũng phải có một tâm hồn rộng mở, giàu tình cảm, cảm xúc,

Nói tóm lại: Trong các tiết làm văn, học sinh bước đầu đã có những hiểu biết nhất định về kiểu bài nghị luận để xác định được nghị luận nghĩa là phải bàn bạc, đánh giá, nhận xét, đưa ra ý kiến riêng của mình trên cơ sở giải thich, cắt nghĩa, lí giải, bỡnh luận những vấn đề chung

Để giải quyết vấn đề, cần lưu ý học sinh cách xem xét nó từ nhiều góc độ Cách đơn giản nhất là tập đặt ra và trả lời những câu hỏi Sau đây là một số dạng câu hỏi chính:

Trang 14

- Nó là gì?

- Nó như thế nào?

- Vì sao nó lại như thế?

- Như thế thì có ý nghĩa gì với cuộc sống, với con người?

Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi, có thể hình dung một bài văn nghị luận văn học

về kiểu bài Lí luận văn học cần được triển khai theo ba bước cơ bản sau:

1 Giải thích, cắt nghĩa

2 Bình luận, lý giải, chứng minh

3 Đánh giá, mở rộng

2.2.1.3 Giới thiệu một số đề luyện tập

Đề 1: "Nghệ thuật phải khơi gợi được niềm vui sống, lòng yêu đời Nhưng cũng rất

đúng nếu nói rằng: nghệ thuật bắt con người phải ngẫm nghĩ và xúc động, khơi gợi lên ở con người lòng trắc ẩn, sự phản kháng chống lại cái ác, phải gợi lên cho con người cái cớ để buồn, để thương, để khát khao khôi phục, bảo vệ những cái tốt đẹp trong cuộc sống đang bị chà đạp, lăng nhục" (T Aimatop).

Anh (chị) hãy bình luận quan niệm trên

Gợi ý:

* Bản chất vấn đề: bàn về chức năng, cụ thể là về giá trị, ý nghĩa xã hội của văn học

Có nét gặp gỡ với quan điểm "Văn học làm con người sống sâu sắc hơn, tinh tế hơn trong một thế giới ước lệ" và "Mỗi tác phẩm là một bặc thang nhỏ nâng tôi lên từ con thú thành một con người"

1 "Nghệ thuật phải khơi gợi niềm vui sống, lòng yêu đời":

- Là gì: nhiệm vụ, sứ mạng của văn học là giúp cho con người hiểu được ý nghĩa, giá trị của cuộc sống Chỉ khi con người hiểu ra ý nghĩa, giá trị của cuộc sống mới thấy cuộc sống là đáng sống Chỉ khi con người nhận ra những điều tốt đẹp trong cuộc đời con người mới có thể yêu đời

- Vì sao: vì văn học là một hoạt động tinh thần của con người, nó xuất phát từ những nhu cầu tinh thần của con người trong cuộc sống, cũng có nghĩa là nó hướng tới giải quyết những nhu cầu ấy Bản chất con người là luôn có khát vọng hướng tới những cáihoàn thiện, tới cuộc sống đích thực của con người (căn tính thiện vốn có trong con người) Văn chương chân chính đương nhiên phải hướng vào khát vọng đó

- Bằng cách nào:

Trang 15

+ Mô tả bức chân dung cuộc sống: vẻ đẹp (Vội vàng), tình người (Vợ nhặt), tình yêu (Sóng), nhân cách (Lão Hạc).

-> "Chao ơi, cuộc đời không hẳn là đáng buồn" (Lão Hạc) - nghĩa là nó đáng sống.+ Lý tưởng hóa những vẻ đẹp, những giá trị của đời sống

+Ý nghĩa: tạo nên giá trị nhân đạo, nhân văn, có tác dụng to lớn trong việc bồi đắp tâm hồn con người

2 "Nghệ thuật bắt con người phải ngẫm nghĩ và xúc động đang bị chà đạp, lăng nhục":

- Là gì: nhiệm vụ của văn học không chỉ là giúp con người biết đến những điều tốt đẹp, bởi nếu chỉ có thế văn học sẽ trở nên giản đơn trong sự đơn giản hóa con người

và cuộc sống Văn học cần giúp con người hiểu biết sâu sắc về cuộc sống: tốt - xấu, đúng - sai, thật - giả, thiện - ác để có thể nhìn thấy và nhìn thấu, để không chỉ biết phân biệt mà còn biết lựa chọn, không chỉ đi theo mà còn biết hành động

- Vì sao: vì sứ mạng rất quan trọng của văn học là giúp con người hiểu biết Biết mới chỉ là nấc đơn giản nhất của kiến thức, hiểu mới là cái đích cần vươn tới của con người để có thể sống với đúng nghĩa của từ này Sứ mạng rất quan trọng

- Bằng cách nào:

+ Tạo ra những cuộc đối thoại của lương tri Xây dựng những tấm gương để con người tự soi mình, tự đối chiếu và phán xét người khác cũng như chính bản thân mình

+ Cụ thể: phóng to cái tốt để nó trở nên lộng lẫy, cường điệu cái xấu để nó trở nên đáng ghê tởm, không chỉ phát hiện và lý giải những hiện tượng đời sống mà còn đặt ranhững câu hỏi để gợi mở những băn khoăn và kích thích ý thức tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi ấy

+ Ý nghĩa: giúp con người hiểu biết đầy đủ hơn để sống tốt hơn, nhân ái hơn, đẹp hơn lên

3 Bình luận:

- Tác giả của nhận định đã chỉ ra thiên chức thiêng liêng và con đường để văn chương chân chính thực hiện thiên chức ấy:

+ Thiên chức: nhân đạo hóa con người

+ Con đường: tác động vào nhận thức, song quan trọng hơn là tác động vào tình cảm bởi tình cảm là mục đích và cũng là con đường riêng của văn chương

- Từ nhận định này, người đọc có cơ sở để đánh giá và thưởng thức văn chương chân chính, nhà văn thấy được cái đích cần hướng tới để tạo nên những giá trị văn chương

Trang 16

Đề 2: Nhà văn L Tônxtôi đã viết: "Chỉ có những tác phẩm nghệ thuật nào truyền đạt

được cho mọi người những tình cảm mới mà họ chưa từng được thể nghiệm thì mới là tác phẩm nghệ thuật đích thực"

Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến trên? Hãy chứng minh rằng "Vội vàng" của XD là một

tác phẩm nghệ thuật đích thực

Gợi ý:

1 Nội dung ý kiến:

- Tình cảm: là sự rung động trong lòng trước một đối tượng nào đó

Văn học thuộc lĩnh vực tinh thần tình cảm - tác động bằng tình cảm và tác động đến tình cảm Văn học còn là lĩnh vực của sự sáng tạo Do đó, việc tác động, khơi dậy những tình cảm mới ở người đọc để bồi đắp và làm phong phú thêm cho đời sống tinhthần tâm hồn của con người là điều cần thiết

- Chưa từng được thể nghiệm: là điều hoàn toàn mới mẻ - sản phẩm của sự khám phá, sáng tạo ở nghệ sĩ

Văn chương rất cần đến cái mới, cái đẹp của hình thức song điều cốt yếu cuối cùng làm nên sức rung động mãnh liệt của văn chương chính là cái lõi tình cảm của nó Cái mới của tình cảm ở đây không nhất thiết là những tình cảm mới mà là những khía cạnh mới, chiều sâu mới của tình cảm hoặc những tình cảm mới hơn, khác đi đối với những đối tượng quen thuộc

- Tác phẩm nghệ thuật đích thực: tác phẩm nghệ thuật hoàn thành được sứ mạnh của văn chương chân chính, có giá trị thực sự đối với cu ộc sống của con người

Một tác phẩm nghệ thuật đích thực phải truyền đạt cho người đọc những tư tưởng mới, tình cảm mới, cách nhìn mới về cuộc đời và con người; cảm nhận mới về nhân sinh, về lẽ yêu - ghét; bồi dưỡng tình cảm, nâng cao sự hiểu biết và cũng nâng cao phẩm chất người của con người; phải truyền đạt một cách có nghệ thuật để gợi hứng thú mới mẻ cho người đọc

2 Phân tích bài thơ "Vội vàng":

- Bài thơ đã được khẳng định và thử thách qua thời gian, đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn theo quan niệm của Tônxtôi

- XD đã nêu ra một quan niệm về cuộc sống trần thế - hấp dẫn vô cùng, vô tận trong khi đời người ngắn ngủi, con người không thể thờ ơ, lãng phí thời gian Sống là niềm vui vô tận nên phải tận hưởng nó Thể hiện điều này, cảm xúc của nhà thơ đã đi đến giới hạn tận cùng của khao khát, ham muốn

- Bút pháp lãng mạn với giọng thơ sôi nổi, lời thơ táo bạo, tinh tế, một nghệ thuật thơ với nhiều cách tân mạnh mẽ tạo ra những câu thơ rất trẻ, rất sống, rất đẹp Nhiều từ

Trang 17

ngữ có tính hình tượng cao, có khả năng biểu đạt cảm giác mạnh mẽ, nhiều điệp từ được sử dụng tài tình để diễn tả mọi cung bậc của cảm xúc.

-> Đọc "Vội vàng" thấy cái tươi trẻ của một hồn thơ, đồng thời cũng thấy yêu hơn

sự sống, yêu hơn tuổi trẻ của con người "Vội vàng" khơi dậy cái khát vọng sống khiến nó rộn rực, trào dâng trong mỗi người để tâm hồn con người được thanh xuân

và tươi trẻ

Đề bài: Phong cách đối với nhà văn cũng như sắc màu với người họa sĩ, không phải

là vấn đề kĩ thuật mà là cách nhìn (Marcel Proust)

Suy nghĩ của Anh/ Chị về ý kiến trên?

1 Giải thích:

- Phong cách: Là nét riêng, nét độc đáo có sự thống nhất và vận động trong quá trình

sáng tác của nhà văn Biểu hiện tài nghệ của người nghệ sĩ ngôn từ trong việc đem đén cho người đọc 1 cái nhìn mới mẻ chưa từng có về cuộc sống, con người, thông qua hình tượng nghệ thuật độc đáo và những phương thức, phương tiện thể hiện đặc thù in đậm dấu ấn cá nhân của chủ thể sáng tạo Phong cách khi đã định hình thường

có tính bền vững

- Phong cách đối với nhà văn cũng giống như sắc màu đối với người họa sĩ: Marcel

Proust đã so sánh nét riêng nét đọc đáo của nhà văn với người họa sĩ – những người nghệ sĩ trên con đường sáng tạo nghệ thuật

- Không phải là vấn đề kỹ thuật mà là cách nhìn: phong cách tác giả không đơn thuần

là một vấn đề kỹ thuật hay chỉ là lớp vỏ ngoài trang trí cho tác phẩm văn chương mà

nó là cách nhìn rất riêng của mỗi người về thế giới, phân biệt với cách nhìn của nhữngngười khác

=> Như vậy, ý kiến của Marcel Proust đã khẳng định vai trò của cách nhìn trong việc hình thành, duy trì và phát triển nét riêng nét độc đáo trong quá trình sáng tác của người nghệ sĩ dù hoạt động ở bất kì lĩnh vực nghệ thuật nào, trong đó có văn học

2 Bình luận

* Khẳng định: Ý kiến hoàn toàn chính xác

* Lý giải

- Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo Nghệ thuật rất tối kỵ sự trừng lặp, “lúc

1 người không có cái gì là riêng của mình thì phải thấy ở người đó chẳng có gì hết” Bất cứ lĩnh vực lao động nào cũng ccần tính sáng tạo nhưng sự sáng tạo trong lao động nghệ thuật mang bản sắc riêng và trở thành 1 thuộc tính Bởi lẽ sản phẩm của laođộng là tác phẩm nghệ thuật, nó đáp ứng nhu cầu thưởng thức và nhu cầu thẩm mĩ chocon người, nó là đối tượng thẩm mĩ tác động trực tiếp vào đời sống tư tưởng của con

Ngày đăng: 26/10/2022, 22:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Đăng Mạnh, ô Núi ngắn về truyện rất ngắn ằ, Thế giới mới số 69/1993 6. Nhiều tác giả ( 2009), Lí luận văn học tập 1 : Văn học – nhà văn và bạn đọc, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học – nhà văn và bạn đọc
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
7. Nhiều tác giả ( 2009), Lí luận văn học tập : Tác phẩm và thể loại văn học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm và thể loại văn học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
8. Nhiều tác giả ( 2009), Lí luận văn học tập : Tiến trình văn học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình văn học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
9.Trần Đình Sử,( 2008) Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Lý luận và phê bình văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Trần Đình Sử : Thi pháp văn học trung đại.NXB. Giáo dục 1999 Khác
10. Nguyễn Đăng Manh ( 2020), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB Giáo dục Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w