Bối cảnh Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và các phong trào yêu nước trước khi Đảng ra đời Tình hình thế giới tác động đến cách mạng Việt Nam:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI
TIÊN ĐẾN CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆ T NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
Trang 2MỤC LỤC MỤC LỤC 1 PHẦN MỞ ĐẦU 2 PHẦN NỘI DUNG 3
KHAI THÁC THUỘC ĐỊA C A THỦ ỰC DÂN PHÁP VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH
TRỊ ĐẦU TIÊN C ỦA ĐẢNG 3
1.1 Bối cảnh l ch s 3ị ử1.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên 11
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 14
MẠNG GI I PHÓNG DÂN T C (1930 - 1945) 15Ả Ộ2.1 Luận cương chính trị 152.2 S hoàn chự ỉnh đường l i cách m ng gi i phóng dân tố ạ ả ộc từ năm 1939 đến năm 1945 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 38
ĐƯỜNG L I CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN 39Ố3.1 Bối cảnh l ch s và nị ử ội dung Chính cương Đảng Lao động Vi t Nam 39ệ3.2 S b sung, hoàn chự ổ ỉnh đường l i cách m ng Dân t c Dân ch Nhân dân 44ố ạ ộ ủ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 50 PHẦN K ẾT LUẬ N 50 TÀI LIỆU THAM KH O 53Ả
Trang 3Nhiệm v c ụ ủa đề tài
(1) Làm rõ được đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai thác thuộc đ a c a thị ủ ực dân Pháp và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng; (2) Phân tích được nội dung của Luận cương chính trị với những ưu điểm và hạn chế và quá trình khắc phục h n ch vạ ế ề đường l i cách m ng gi i phóng dân tố ạ ả ộc của Đảng; (3) Làm rõ n i dung cộ ủa Chính cương Đảng Lao động Vi t Nam và s hoàn chệ ự ỉnh đường lối cách mạng Dân t c dân ch nhân dân cộ ủ ủa Đảng
(4) Làm rõ giá tr c a vi c hoàn chị ủ ệ ỉnh đường lối cách m ng Dân t c Dân ch ạ ộ ủ Nhân dân đối với sự phát tri n c a toàn bể ủ ộ cách m ng Vi t Nam ạ ệ
1 Cương lĩnh chính trị là văn kiện chỉ rõ mục tiêu, đường l i, nhi m vố ệ ụ, phương hướng hoạt động… trong một giai đoạ n l ch s ị ử nhất đị nh của m ột chính đả ng ho c của mộ ổ ặ t t chức chính trị; là tuyên ngôn chính tr c ị ủa Đảng; là lời hiệu triệu; là văn bản có tính chiến lược lâu dài , phản ánh cô đọ ng nhất nhận thức c ủa Đả ng về chủ nghĩa xã hộ i và
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ i
Trang 41.1.1 Bối cảnh Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp và các phong trào yêu nước trước khi Đảng ra đời
Tình hình thế giới tác động đến cách mạng Việt Nam:
Nửa sau thế kỉ XIX chủ nghĩa tư bản thế giới chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, yêu cầu về thị trường cao (hàng hóa, tiền tệ, lao động,…) vì quy mô sản xuất ngày càng lớn, dư hàng hóa, xuất khẩu và đem tiền về cho quốc gia, sau đó thì cho vay với lãi suất Kết quả là thiếu nguyên liệu trầm trọng
Từ thế kỉ XIX, phong trào công nhân ở các nước tư bản phát triển mạnh mẽ, nhà nước muốn điều hòa mâu thuẫn như tăng lương, giảm giờ làm, chăm lo an sinh xã hội,… nhưng lại ảnh hưởng đến lợi nhuận của các nhà tư bản, họ muốn có lợi nhuận tối đa nên đi xâm lược thuộc địa để đem lợi nhuận về cho chính quốc và đặc biệt có nguồn lao động giá rẻ Tích lũy tư bản thời kì này rất lớn và họ sẽ điều hòa mâu thuẫn với công nhân ở chính quốc
Từ đó, cho ta thấy thuộc địa là mầm sống của chủ nghĩa tư bản
Cuối thế kỉ XIX, đám mây đen chủ nghĩa tư bản bao trùm toàn thế giới Khi áp bức dân tộc càng nhiều thì các dân tộc thuộc địa càng phản kháng quyết liệt và mạnh mẽ Cách mạng tháng 10 thành công đã mở ra trước mắt các dân tộc bị áp bức “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phónng dân tộc” Lần đầu tiên chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành hiện thực Lần đầu tiên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới chính thức được xác lập Nước nào có công nhân thì sẽ thành lập Đảng Cộng sản ở đó (Hungari, Mông Cổ, Trung Quốc,…)
và từ đó tác động đến cách mạng Việt Nam
Trang 5❖ Bối cảnh Việt Nam
Sau 30 năm xâm lược, Pháp đã chinh phục Việt Nam về mặt quân sự (1858 – 1884)
và thực hiện chính sách bình định (1885 – 1896)
1858: triều đình ký hàng các khế ước với Pháp như hiệp ước Hắc măng (1883) và hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884) đã dâng toàn bộ Việt Nam cho Pháp, làm cho nước ta bị thực dân Pháp chinh phục hoàn toàn Từ đó, không thể chấp nhận khôi phục lại triều đại phong kiến
-vì giai cấp này không còn là giai cấp đại diện cho nhân dân Việt Nam
Sau khi thống trị Việt Nam, Pháp thực hiện hàng loạt chính sách để áp bức nhân dân
ta như chia để trị, ngu dân (đóng tất cả trường học ở nông thôn, mở hạn chế trường học tại
đô thị, các hoạt động trụy lạc, rượu chè, mê tín dị đoan được khuyến khích,…) Kết quả là làm cho hơn 90% dân số mù chữ đến năm 1945
❖ Tác động của chính sách khai thác thuộc địa đối với kinh tế xã hội Việt Nam-
Về kinh tế: Cuộc khai thác c a Pháp làm xu t hi n n n công nghi p thuủ ấ ệ ề ệ ộc địa mang yếu tố thực dân; thành thị theo hướng hiện đại ra đời; bước đầu làm xu t hi n n n kinh t ấ ệ ề ếhàng hoá, tính ch t t cung t c p c a n n kinh tấ ự ự ấ ủ ề ế cũ bị phá v , ỡ tuy nền công nghiệp khai thác thuộc địa phát triển nhưng nền công nghiệp sản xuất hàng hóa vẫn còn lạc hậu Dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của Pháp, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm
nặng nề, phát triển chậm chạp, què quặt, phiến diện, phụ thuộc Pháp
Về xã hội: Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam Trước khi Pháp xâm chiếm nước ta, Việt Nam là một xã hội phong kiến thuần túy chỉ có hai giai cấp: nông dân và địa chủ Hai giai cấp này luôn luôn mâu thuẫn với nhau về mặt lợi ích kinh tế nhưng không gay gắt vì nếu nông dân dường như không có ruộng đất thì địa chủ tài sản cũng không nhiều Nếu so sánh địa chủ của các nước thuộc địa phương Đông với địa chủ phương Tây thì cũng chỉ là những kẻ lùn tịt bên cạnh một người khổng lồ phương Tây trùng tên với mình mà thôi Địa chủ và nông dân sẽ dễ dàng bắt tay nhau khi có giặc ngoại xâm vào nước
ta, từ đó mâu thuẫn được điều hòa Sau khi bị Pháp cai trị, giai cấp địa chủ bị phân hóa, một bộ phận địa chủ phong kiến mờ mắt vì tiền, làm tay sai cho Pháp, quyền lực tăng thêm đáng kể Bộ phận địa chủ còn lại có tinh thần dân tộc và mâu thuẫn với Pháp Giai cấp nông dân ngày càng bị bần cùng hóa, số lượng nông dân mất ruộng đất ngày càng lớn do rơi vào
Trang 6tay Pháp và một bộ phận địa chủ Việt Nam, phải trở thành lực lượng không có tư liệu sản xuất là công nhân, ra đời ngay trong lần khai thác thuộc địa đầu tiên của Pháp và số lượng tăng lên đáng kể trong lần khai thác thuộc địa thứ II Giai cấp tư sản ra đời từ một bộ phận địa chủ sau chiến tranh thế giới lần thứ I bán hết ruộng đất và về đô thị kinh doanh, sản xuất, tiềm lực kinh tế không lớn Giai cấp tư sản được chia ra thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tư sản mại bản đi ngược lại với lợi ích dân tộc, làm tay sai cho Pháp, còn tư sản dân tộc có tinh thần yêu nước Tất cả các giai cấp đều có chung mâu thuẫn với
đế quốc theo các mức độ khác nhau trừ bộ phận đại địa chủ và tư sản mại bản
Thực tiễn lịch sử Việt Nam đặt ra hai đều cấp bách cần phải làm: thứ nhất là phải đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập và tự do dân tộc, thứ hai là phải xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất Trong đó giải phóng dân tộc
là nhiệm vụ hàng đầu bởi vì nông dân và địa chủ phong kiến chỉ mâu thuẫn với nhau về
mặt lợi ích kinh tế, dễ dàng điều hòa mâu thuẫn khi có giặc xâm lược tràn vào nước ta Các phong trào yêu nước trước khi Đảng ra đời
Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến: Khi thực dân Pháp xâm lược đến những nǎm hai mươi của thế kỷ XIX đã có hơn 300 cuộc đấu tranh hết sức anh dũng của dân tộc ta chống đế quốc Pháp xâm lược Nhưng cuối cùng đều không giành được thắng lợi vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn Phong trào yêu nước theo hệ phong kiến như phong trào Cần Vương đã chấm dứt với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê
do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1896) và thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Thế dưới sự lãnh đạo của cụ Hoàng Hoa Thám Khi các phong trào trên chấm dứt thì cuộc khủng hoảng
đường lối cứu nước ở nước ta bộc lộ sâu sắc
Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản: Sau khi từng bước ly khai con đường giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến, từ những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam chịu ảnh hưởng của trào lưu dân chủ tư sản Tiêu biểu là khuynh hướng bạo động của cụ Phan Bội Châu Cụ Phan Chu Trinh tiêu biểu cho xu hướng cải cách dân chủ tư sản (1789), v.v… Song, vì đường lối chính trị không rõ ràng, nhất là không dựa vào quần chúng lao động, mà dựa vào uy tín cá nhân, nên không tạo ra được sự thống nhất trong
Trang 7những người đề xướng phong trào Vì vậy, khi thủ lĩnh bị đế quốc Pháp bắt thì phong trào
cũng tan rã theo
Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công đã đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử nhân loại Đảng cộng sản Pháp được thành lập (1920), sự kiện lịch sử này không chỉ là thắng lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp, mà còn là thắng lợi của các dân tộc thuộc địa Pháp Đồng thời, với những chuyển biến trên thế giới, cách mạng Việt Nam lúc này cũng bắt đầu có những chuyển biến mới
1.1.2 Khái quát về quá trình phát triển của các phong trào yêu nước theo khuynh
hướng vô sản và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
❖ Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản và xây dựng lý luận về cách mạng giải
phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc
Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, vượt lên hạn chế của các bậc yêu nước đương thời, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước để rồi trở về nước giúp đồng bào cởi ách xiềng xích nô lệ Từ năm 1911 1916, Người nghiên -cứu lý luận và khảo sát thực tiễn Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái về quyền con người của các cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Mỹ (1776) và cách mạng Pháp (1789),… và nhận ra hạn chế của cách cuộc cách mạng này là “chưa đến nơi” vì nhân dân vẫn đói khổ Sau gần 10 năm bôn ba ở nhiều nước, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện một chân lý: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ của giai cấp công nhân với nhân dân lao đồng ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa Dưới ánh sáng Cách mạng tháng Mười năm 1917 và sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất nhữung luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin và ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác Lênin, chân lý cách mạng của thời đại đã sớm được khẳng định trong nhận - thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc Từ đó Người xác định con đường giải phóng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam là: giải phóng giai cấp vô sản mới thực sự giải phóng được dân tộc;
cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách
mạng thế giới
Trang 8Tháng 12 nǎm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn
Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và chủ trương thành lập Đảng cộng sản Pháp Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
Quá trình chuẩn bị về tư tưởng - chính trị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt
Nam (1921-1929)
Hồ Chí Minh vân dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, xây dựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc cho Việt Nam Những quan điểm về cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện qua các sách báo, tài liệu gửi về Việt Nam như: Báo người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân, thanh niên, Bản án chế đọ thực dân Pháp, Đường cách mệnh,…
-Nội dung những tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc
Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau Đối tượng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc không phải là giai cấp tư sản mà là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam – thực dân Pháp
Lực lượng cách mạng bao gồm “sỹ, nông, công, thương”, trong đó công – nông là
“chủ cách mệnh”, “là gốc cách mệnh”,…Ở Việt Nam ngoài nông dân và nông dân chống Pháp thì có lực lượng sỹ và thương, nếu ở phương Tây mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ rất căng thẳng nhưng ở Việt Nam lại không như thế vì nền kinh tế nước ta rất lạc hậu Lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản Đảng này không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân mà là của cả dân tộc Việt Nam vì nó là sự kết hợp giữa lý luận Mác-Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam của nông dân, phong kiến, tư sản, tiểu tư sản,…
Quan h v i cách m ng th giệ ớ ạ ế ới: Cách m ng gi i phóng dân t c n m trong quạ ả ộ ằ ỹ đạo của cách mạng vô s n thả ế gi i Cách mớ ạng gi i phóng dân tả ộc ở thuộc địa có quan h mệ ật thiết và bình đẳng v i cách m ng vô sớ ạ ản ở chính quốc, nhưng phải ch ủ động và có kh ả năng giành th ng lắ ợi trước cách m ng vô s n chính quạ ả ở ốc
Trang 9Về phương pháp cách mạng thì Người khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vì v y phậ ải động viên, tổ chức và lãnh đạo đông đảo qu n chúng Qu n chúng mầ ầ ột khi được giác ngộ, có tổ chức và lãnh đạo sẽ là lực lượng cách mạng vô địch
Tất cả những quan điểm trên là bản thảo cho Cương lĩnh chính trị đầu tiên
Sự chuẩn bị về tổ chức
Cuối năm 1924, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu, Trung Quốc để tìm hiểu về tình hình hoạt động của những người yêu nước Việt nam sinh sống tại đây, đặc biệt người tiếp xúc với các thanh niên trong tổ chức “Tâm tâm xã” Từ đó, lựa chọn một số thanh niên tích cực để tuyên truyền giác ngộ và thành lập Cộng sản đoàn
Dựa trên nhóm “Cộng sản đoàn” được thành lập tháng 2 1945, Người lại đứng ra - thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6 -1925) – một tổ chức có tính chất cách mạng và quần chúng rộng rãi Ngay từ khi ra đời Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã chủ trương thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc rồi tiến lên làm cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa, thành lập chính phủ công – nông – binh, phát triển sản xuất, xóa bỏ tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và trên thế giới Với những hoạt động tích cực sau khi thành lập, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lênin, luận giải phóng dân tộc và tổ chức, vận động nhân dân đấu tranh đã dấy lên một phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào công nhân
Sự phát triển của phong trào công nhân
Trước năm 1925: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 thường có quy mô nhỏ hẹp do sự yếu thế của giai cấp công nhân và chưa có chủ trương cách mạng đúng đắn Mục đích chủ yếu tập trung vào nội dung kinh tế và hầu hết các phong trào đều diễn ra tự phát, chỉ có duy nhất 1/25 cuộc đấu tranh là có lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ, ví dụ như cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son 8-1925
Sau năm 1925: Trong năm 1926, hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ ra mạnh
mẽ như: cuộc bãi công của công nhân ở nhà máy sợi Nam Định, xi măng Hải Phòng ,… đặc biệt là 2 cuộc đấu tranh với quy mô lớn như các đồn điền Cam Tiêm, Phú Riềng ở phía Nam Số lượng các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân từ 1926 1927 là 27 cuộc Năm -
Trang 101928-1929 là giai đoạn đỉnh cao của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản với hơn 40 cuộc đấu tranh có quy mô và chất lượng rất lớn Sự bùng nổ của phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản đã mở ra một con đường mới, một chân lý mới cho phong trào đấu tranh của dân tộc ta
Sự ra đời của nhiều của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam
Từ những nǎm 1920 trở đi, phong trào cách mạng Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ Cuối năm 1929, phong trào cách mạng nước ta phát triển mạnh mẽ nhất, yêu cầu thành lập Đảng được đặt ra Dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tổ chức tiền Cộng sản như: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn Trong đó, Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên tiếp thu những quan điểm của Hồ Chí Minh
và phát triển mạnh ở trong nước, đã góp phần làm cho cách mạng theo khuynh hướng vô sản phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam Cuối năm 1929, Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên
đã bị phân hóa thành Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng Còn Tân Việt cách mạng Đảng là Đảng theo khuynh hướng tư sản nhưng đứng trước làng sóng cách mạng vô sản mạnh mẽ thì một bộ phận tiến bộ tách ra thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn
Những tổ chức yêu nước cách mạng ra đời trong năm 1929 đã có tác dụng nhất định trong việc truyền bá tư tưởng mới, giáo dục lòng yêu nước và tập hợp số quần chúng thanh niên trí thức, tiểu tư sản Nhưng, họ chưa vạch ra được một đường lối cách mạng phù hợp với yêu cầu của dân tộc Từ đó, những người yêu nước trong các tổ chức này chưa thể xác định được một đường lối cách mạng đúng đắn Thực tiễn yêu cầu rất cần một Đảng duy nhất để lãnh đạo nhân dân thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc
Đến năm 1929, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp của nhân dân yêu nước Việt Nam đã phát triển, kết thành một làn sóng dân tộc dân chủ ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản Vai trò của những tổ chức đã đến lúc kết thúc, để tiến lên thành lập một tổ chức cao hơn Yêu cầu đó tác động vào các tổ chức tiền cộng sản, dẫn đến cuộc đấu tranh nội bộ và sự phân hoá tích cực trong những tổ chức này, hình thành nên các tổ chức cộng sản ở Việt Nam
Trang 11❖ Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Cuối năm 1929, cần thiết và cấp bách phải thành lập một đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc quyết định rời Xiêm về Trung Quốc và tới nơi ngày 23-12-1929 Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, Người triệu tập đại biểu của hai nhóm Đông Dương cộng sản đảng và An nam cộng sản đảng họp Hội nghị hợp nhất tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc)
Hội nghị bắt đầu họp ngày 6-1-1930 Ngoài Nguyễn Ái Quốc là đại biểu Quốc tế Cộng sản, Dự Hội nghị có hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng
Nội dung của Hội nghị:Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm c ng s n ộ ả ở Đông Dương; định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam; thảo luận Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng; định kế hoạch thực hiện việc thống nhất
trong nước; cử một Ban chấp hành Trung ương lâm thời
Sau khi nghe Nguyễn Ái Quốc nói về lý do họp Hội nghị, phân tích những sai lầm của sự chia rẽ và nhiệm vụ phải thành lập Đảng Cộng sản, các đại biểu đều đồng ý thống nhất vào một đảng
Nhận xét
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của quá trình đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới, là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Sự ra đời của Đảng đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng về lãnh đạo cách mạng, làm cho cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới Sự ra đời của Đảng là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam
Trang 121.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên
Phương hướng chiến lược cách mạng: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” , nghĩa là về phương hướng chiến lược cách mạng thì 1cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, trước hết là giải quyết ruộng đất, mâu thuẫn kinh tế sau đó đi tới chủ nghĩa cộng sản Về quyền độc lập cho dân tộc thì phải chống đế quốc, quyền tự quyết và dân chủ thì phải chống đế quốc và phong kiến Nhưng chống phong kiến chỉ về phương diện chính trị, không liên quan đến kinh tế
vì Việt Nam là thuộc địa với tàn tích nặng nề Ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ không gay gắt vì Việt Nam có nền kinh tế lạc hậu, nếu nông dân dường như không
có gì thì địa chủ cũng không có tài sản lớn nên mâu thuẫn giữa hai giai cấp này không gay gắt như ở phương Tây dù trong quá khứ hay hiện tại nên trong văn kiện này đặt thổ địa cách mạng ra khỏi cuộc cách mạng này, và cũng có nhiều địa chủ yêu nước ở Việt Nam nên vấn đề dân tộc phải đặt lên hàng đầu Tùy vào thực tiễn thì ta mới tập trung vào thổ địa cách mạng
Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền
Về chính trị: đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, sau đó xóa bỏ chế độ phong kiến lập nên chính phủ mới đó là chính phủ và lực lượng công – nông – binh
Về kinh tế: Tịch thu sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp giao cho chính phủ công nông binh; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công và chia cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp, nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo… mà không tịch thu ruộng đất của phong kiến Vì ta cũng đang thực hiện chiến lược cách mạng đặt thổ địa cách mạng ra khỏi cuộc cách mạng tư sản dân quyền
Về văn hóa – xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền,… phổ thông
giáo dục theo công nông hóa
1 Đả ng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr ị Quốc gia, Hà Nội, tr 95
Trang 13Cuộc cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến trong lĩnh vực chính trị và chống đế quốc trong lĩnh vực kinh tế là hoàn toàn phù hợp vì mâu thuẫn nông dân – địa chủ phong kiến không sâu sắc
Phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ trung lập,… tranh thủ kéo họ về phe ta, chỉ bộ phận ra mặt phản động ta mới đánh đổ
Lãnh đạo cách mạng
Lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản Khi xác định lực lượng tham gia cách mạng
là toàn thể dân tộc, lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản và đảng này không chỉ là của giai cấp công nhân mà còn là của cả dân tộc Việt Nam
Theo lý luận Mác–Lênin, Đảng Cộng sản là của giai cấp công nhân, sự ra đời Đảng Cộng sản ở phương Tây là sự kết hợp giữa lý luận Mác–Lênin và phong trào công nhân Còn ở Việt Nam giai cấp công nhân rất ít ỏi và lực lượng tham gia cách mạng là toàn thể dân tộc Theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp giữa lý luận Mác–Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam (nông dân, phong kiến, tư sản và tiểu tư sản) và những người ưu tú sẽ tham gia vào Đảng Cộng sản
Trí thức–tiểu tư sản, điền chủ nhỏ,… là “bầu bạn cách mệnh của công nông”, còn giai cấp công–nông là gốc cách mệnh Cho nên, nói Đảng Cộng Sản Việt Nam là của giai cấp
vô sản là sai, nó chỉ dựa trên hệ tư tưởng của Mác–Lênin mà thôi, có thể lãnh đạo Đảng là trí thức,… khi trí thức tập họp lực lượng cách mạng thì nên nhớ giai cấp công nhân là chủ
và là gốc cách mạng Không được hi sinh lợi ích của công – nông mà đi thỏa hiệp với Pháp
Trang 14Lợi ích dân tộc phải đặt lên hàng đầu khi sự phân hóa giai cấp nước ta không rõ ràng và mâu thuẫn giai cấp không sâu sắc
Quan hệ với cách mạng thế giới
Cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới… nhất là vô sản Pháp Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có quan hệ mật tiết với cách mạng vô sản ở chính quốc, nhưng phải chủ động và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc
Quốc tế Cộng sản cho rằng: đối với các quốc gia phương Đông phải vừa chống đế quốc và còn chống phong kiến nên chỉ có khả năng chống đế quốc thành công khi với điều kiện cách mạng vô sản ở chính quốc thành công trước Trên cơ sở vận dụng lý luận Mác,
Hồ Chính Minh cho rằng: Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết, giai cấp công nhân muốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình thì phải tự làm cách mạng và mối quan hệ giải phóng dân tộc ở thuộc địa và chính quốc là mối quan hệ bình đẳng vì nếu ví chủ nghĩa tư bản là một con đỉa thì con đỉa ấy sẽ có hai vòi, một vòi bám vào giai cấp công nhân và nhân dân lao động tại chính quốc và vòi kia hút máu ở thuộc địa, nếu chặt vòi ở chính quốc thì con đỉa này không chết, nó sẽ mọc ra trở lại và nó sẽ tiếp tục hút máu và mủ nhân dân thuộc địa và chính quốc nên Người cho rằng phải đồng thời cắt đứt cả hai vòi Ở đâu bị bóc lột nặng nè thì ở đâu có phản kháng mạnh mẽ nên cuộc đấu tranh ở thuộc địa diễn ra quyết liệt mạnh mẽ Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, có quan
hệ mật thiết, nhưng bình đẳng với cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa và có thể giành thắng lợi trước
Nhận xét
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử và nguyện vọng độc lập tự do của quần chúng nhân dân Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã quy tụ được lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc, nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam, làm dấy lên một cao trào cách mạng trên quy mô cả nước, mang tính thống nhất, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú và quyết liệt
Trang 15và của cách mạng thế giới
Qua quá trình chuẩn bị về tư tưởng chính trị và chuẩn bị về mặt tổ chức - cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra Hội nghị thành lập đảng có ý nghĩa như một đại hội Sự ra đời của
Đảng v i t ớ ổ chức th ng nhố ất và Cương lĩnh chính trị đúng đắn đã chấm dứt tình tr ng ạkhủng ho ng vả ề đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm đầu th k ế ỷ XX; đưa cách mạng Vi t Nam h i nh p vào nhệ ộ ậ ững trào lưu cách mạng trên thế giới Đó là sự chuẩn
bị t t yấ ếu đầu tiên cho nh ng th ng lữ ắ ợi và những bước phát tri n nh y v t c a cách ể ả ọ ủmạng Vi t Naệ m về sau
Trang 16Chương 2
LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 - 1945)
2.1 Luận cương chính trị
2.1.1 Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị
Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa mới ra đời với đường lối cách mạng đúng đắn đã lãnh đạo quần chúng nhân dân dấy lên phong trào đấu tranh cách mạng rộng lớn chưa từng có ở giai đoạn trước đó.” Khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo và năng lực lãnh đạo cách mạng của giai cấp vô sản mà đại biểu là Đảng ta; ở chỗ nó đem lại cho nông dân niềm tin vững chắc vào giai cấp vô sản, đồng thời đem lại cho đông đảo quần chúng công nông lòng tin ở sức lực cách mạng vĩ đại của mình ”1
Đang lúc phong trào cách mạng phát triển đến đỉnh cao, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng Trung Quốc (từ ngày 14 đến -ngày 31-10-1930) Thì quan điểm của Quốc tế Cộng sản chủ yếu về nhận thức mâu thuẫn chủ yếu của xã hội, lực lượng tham gia cách mang, phạm vi thực hiện cách mạng ở Đông Dương và một bộ phận lớn thanh niên những người làm cách mạng chịu ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai cấp trong khoảng thời gian này Dẫn đến Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, thông qua Điều lệ Đảng và Điều lệ các tổ chức quần chúng Hội nghị đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương Hội nghị cử ra Ban thường vụ Trung ương và cử đồng chí Trần Phú làm Tổng bí thư Hội nghị thảo luận và thông qua bản Luận cương chính trị của Đảng
2.1.2 Nội dung của Luận cương chính trị
1 Lê Du n (1975), ẩ Dưới lá c v vang cờ ẻ ủa Đảng vì độ ậ ực l p t do, vì ch ủ nghĩa xã hộ ế i ti n lên giành nh ng th ng lữ ắ ợi mới, Nxb Sự thậ t, Hà N ội.
Trang 17Đặc điểm tình hình thế giới và Đông dương
Về thế giới
“Từ sau khi chiến thế giới thứ nhất( 1914 1918) tình hình thế giới chia làm 3 thời kỳ:
-Trong thời kỳ thứ nhất (1918-23), kinh tế tư bổn vì chiến tranh mà tiêu điều, khủng
hoảng, vô sản Âu châu nhiều chỗ nổi lên tranh đấu cướp chính quyền Rút cuộc, một mặt thì vô sản Nga dẹp được bọn đế quốc vây đánh ở ngoài và bọn phản cách mạng phá phách
ở trong mà đặt vững nền vô sản chuyên chánh; nhưng một mặt thì vô sản Tây Âu bị thất bại (như vô sản Đức năm 1923)
Trong thời kỳ thứ hai (1923-28), các đế quốc chủ nghĩa nhơn vô sản Âu châu vừa thất
bại, hết sức tiến công mà bóc lột vô sản giai cấp và dân thuộc địa, làm cho kinh tế đế quốc được tạm thời ổn định Vô sản giai cấp ở các nước để quốc vì thất bại trong thời kỳ trước cho nên chỉ lo tranh đấu mà giữ thế thủ Ở các thuộc địa thì cách mạng nổi lên Ở Liên bang
Xô Viết thì kinh tế trở nên vững vàng, làm cho ảnh hưởng cộng sản lan khắp thế giới.”1Trong thời kỳ thứ ba có những đặc điểm chính:
Một là: Các nước đế quốc rơi vào khủng hoảng, nên việc xảy ra chiến tranh tranh giành thuộc địa là điều tất yếu không thể tránh khỏi
Hai là: Sự phát triển của Liên bang Xô Viết lên quá trình độ các nước đế quốc trước
lúc chiến tranh, đã gây dựng xã hội chủ nghĩa, làm các nước đế quốc căm tức, muốn đánh
đổ
Ba là:Ở các nước đế quốc giai cấp vô sản đấu tranh kịch liệt, do sự bóc lột quá mức
đền bù đắp thiệt hại cho tham chiến chiến tranh thế giới của bọn đế quốc Các cuộc cách mạng này phát triển đến trình độ cao
Chính vì những điều kiện lịch sử thế giới vừa có những điều kiện thuận lợi( sự phát triển của hệ thống Liên bang Xô Viết, sự phát triển của các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản góp phần thúc đẩy quá trình cách mạng) bên cạnh đó còn nhiều mặt khó khăn( các nước đế quốc tăng cường khai thác thuộc địa và tăng cường quyền kiểm soát các nước thuộc địa)
Về Đông Dương
1 Đả ng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr ị Quốc gia, Hà Nội, tr 92
Trang 18Xứ Đông Dương( Việt Nam, Cao Miên, Lào) là thuộc địa của đế quốc Kinh tế bị lệ thuộc vào đế quốc nên cần phải phát triển một cách độc lập, nhưng vì là thuộc địa cho nên không phát triển độc lập được Sự mâu thuẫn giai cấp càng ngày càng kịch liệt: một bên thì thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một bên thì địa chủ, phong kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa
Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội
Về kinh tế
Nông nghiệp thì phần lớn làm ra cho đế quốc đem bán ở nước ngoài những vẫn chịu dưới lốt phong kiến, dân cày nghèo phải thuê đất từ địa chủ và nộp địa tô rất cao( chung cả
ba nước Đông Dương)
Đế quốc đem các công nghệ nặng đến xứ Đông dương nhưng chỉ là những công nghệ
để phục vụ việc khai thác, buôn bán, thống trị thuộc địa( như đường xe lửa, xưởng đóng tàu nhỏ, ) còn các công nghệ nặng có thể ảnh hưởng đến độc quyền tuyệt nhiên là không Bởi lẽ mục đích chính của các nước đế quốc là biến các nước thuộc địa phải phụ thuộc kinh
tế vào các nước đế quốc
Việc giao thương xuất cảng là địa bàn của tư bản Pháp, nên mọi giao thương đều thuộc quyền kiểm soát của Pháp.Chúng thu mua nông, lâm sản với giá rẻ mạt, độc quyền phân phối muối, bán ép rượu.Ở các khu vực bến cảng xuất hiện thêm tầng lớp tiểu thương khá đông đảo nhưng phần lớn chỉ làm trung gian mua bán trao đổi cho Pháp Hoạt động giao thương càng nhộn nhịp bao nhiêu là bấy nhiêu của cải khai thác từ thuộc địa bị lấy đi
“Kinh tế Đông Dương cũng vẫn là kinh tế nông nghiệp, mà trong kinh tế ấy thì những lối phong kiến lại chiếm địa vị trọng yếu Tất cả những điều kiện ấy làm cho kinh tế Đông Dương không có thể phát triển độc lập được.”1
Về giai cấp
“Đế quốc chủ nghĩa Pháp liên hiệp với bọn địa chủ, bọn lái buôn và bọn cho vay bổn
xứ mà bóc lột dân cày một cách rất độc ác.”2 “Ở các sản nghiệp và các dồn điền, mỏ, hầm, bọn tư bổn bóc lột đè nén thợ thuyền một cách rất dã man Tiền lương thì không đủ ăn lại
1 Đả ng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr ị quốc gia, Hà Nội, tr 95
2 Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Sđd, tr 95
Trang 19bị cúp ngực, cúp xuôi Ngày làm thì trung bình cũng 11, 12 giờ Thường thường lại bị chửi
bị đánh Lúc ốm đau đã không được thuốc thang mà lại còn bị đuổi Công nhân không có chút xã hội bảo hiểm nào cả Ở trong các đồn điền và hầm mỏ, bọn chủ nhốt thợ thuyền trong trại và không cho đi ra khỏi chỗ làm Chúng nó dùng giấy giao kèo mà một người chở
đi chỗ khác rồi tự do cai quản lấy thợ thuyền, thậm chí có quyền xử phạt thợ thuyền”1 Mâu thuẫn giai cấp trong văn kiện đặc biệt tập trung nhấn mạnh đến mâu thuẫn giữa địa chủ phong kiến và nông dân nghèo nhưng điều này đúng với thực tiễn nhưng chỉ đúng một phần, bởi lẽ chỉ có một số nhỏ địa chủ bắt tay với đế quốc cùng với chính sách bóc lột thuộc địa làm mâu thuẫn lên cao, những vẫn còn đó nhiều địa chủ yêu nước, ủng hộ cho các phong trào cách mạng trước đây Vả lại bác đã từng nói rằng “nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt Người thì nhẫn nhục chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình Sự xung đột về quyền lợi của
họ được giảm thiểu Điều đó, không thể chối cãi được” Còn giai cấp công nhân vốn ra đời 2
từ giai cấp nông bị mất hết ruộng đất lại tiếp tục rơi vào cảnh túng quẩn Trong lợi ích kinh
tế thì tư sản và địa chủ là những giai cấp bóc lột, đối lập với lợi ích cơ bản của công nhân
và nông dân Nhưng, xét về lợi ích dân tộc, trước hết là độc lập dân tộc, thì tư sản và địa chủ là những giai cấp không thuần nhất Một bộ phận đi hẳn về phía thực dân, đế quốc (tư sản mại bản hay “đại tư sản” và đại địa chủ) Trong khi một bộ phận khác (tư sản dân tộc, phú nông, trung địa chủ, tiểu địa chủ, tiểu tư sản,v.v ) có thể đồng hành cùng dân tộc, họ
“tuy hai mà một, một mà hai”3
“Bọn tư bổn đối với đế quốc chủ nghĩa có vị trí không đều nhau: bọn tư bổn thương mại vì có lợi quyền dính dáng với đế quốc cho nên đứng về một phe với đế quốc chủ nghĩa
và địa chủ mà chống cách mạng Bọn tư bổn công nghệ vẫn có lợi quyền trái với đế quốc
1 Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr qu c gia, Hà N ị ố ội , tr 96
2 H Chí Minh (2011), ồ Hồ Chí Minh Toàn t p, t p 1,1912-1924 ậ ậ , Nxb: Chính tr ị quố c gia, Hà N i, tr 466 ộ
3 H Chí Minh (2011), ồ Hồ Chí Minh Toàn t p, t p 3,1930-1945ậ ậ , Sđd, tr 138
Trang 20chủ nghĩa Khi phong trào cách mạng nổi lên thì chúng sẽ theo phe đế quốc” “ Bọn tiểu 1thương gia có quan hệ với cách bóc lột như là buôn bán và cho vay nặng lời, bởi vậy chúng
nó muốn giữ lấy chế độ ấy, vì thế mà chúng nó không tán thành cách mạng.” “Bọn thủ 2công nghiệp này cũng có ác cảm với phong trào cách mạng vô sản, vì chúng nó muốn giữ lấy cách bóc lột những thợ học nghề với chúng nó Vì sự mâu thuẫn ấy mà thái độ chúng
nó đối với cách mạng rất do dự.” “Bọn trí thức, tiểu tư sản, học sinh, v.v là bọn xu hướng 3quốc gia chủ nghĩa, chúng nó đại biểu quyền lợi cho tất cả giai cấp tư bổn bổn xứ, chớ không phải chỉ bênh vực quyền lợi riêng cho bọn tiểu tư sản mà thôi Trong thời kỳ chống
đế quốc chủ nghĩa thì bọn ấy cũng hãng hái tham gia, nhưng chỉ lúc đầu mà thôi; chúng nó không thể bênh vực quyền lợi cho dân cày được, vì chúng nó phần nhiều có dây dướng với bọn địa chủ.” Còn “Các phần tử lao khổ ở thành phố như là bọn bán rao ngoài đường, bọn 4 thủ công nghiệp nhỏ không muốn thợ, bọn trí thức thất nghiệp, v.v vì sanh hoạt cực khổ cho nên đều theo cách mạng cả.”5
Những nhận định chênh lệch giai cấp trong khía cạnh kinh tế của Quốc tế cộng sản tuy đúng nhưng chỉ đúng một phần Quốc tế cộng sản dồn chung tất cả những tầng lớp cho
là có hại đối với cách mạng vô sản thành một bên nhưng quên mất điều căn bản rằng không phải mọi đối tượng trong các tầng lớp mấy điều đúng theo những nhận định trên Nhưng không thể trách hoàn toàn Quốc tế cộng sản trong việc đề phòng quá mức này bởi lẽ: Quốc
tế Cộng sản đặc biệt chú trọng tới những sự biến ở những nước lớn và đông dân nhất thế giới lúc bấy giờ là Trung Quốc và Ấn Độ Với sự phản bội của giai cấp tư sản dân tộc ở Trung Quốc và Ấn Độ, Quốc tế Cộng sản xem đây là một bài học xương máu đối với cách mạng các nước thuộc địa, Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân không thể hợp tác, liên minh với giai cấp tư sản dân tộc Đây là những lý lẽ của dựa trên góc nhìn chủ quan mà chưa đi sâu vào thực tiễn
1 Đả ng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr ị quốc gia, Hà Nội , tr 99
2 Đả ng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr ị quốc gia, Hà Nội, tr 100
3 Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Sđd, tr 100
4Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Sđd, tr 100
5Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Sđd, tr 101
Trang 21Phương hướng chiến lược cách mạng
“Tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”1 “Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh, nhưng
vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được” Bởi lẽ trong thời gian 2đầu cách mạng chưa có thể trực tiếp giải quyết những vấn đề gốc rễ của xã hội: sức kinh tế còn yếu, các di tích phong kiến còn tồn tại nhiều và một bộ phận bị đế quốc chi phối, giai cấp vô sản nhìn chung chưa đủ sức mạnh và bị chủ nghĩa đế quốc áp bức Qua đó Quốc tế cộng sản xác định thời kỳ cách mạng chỉ có tính chất thổ địa và phản đế
Thổ địa cách mạng và phản đế là hai mặt đấu tranh có liên hệ mật thiết với nhau “Có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa Muốn thực hành được những điều cốt yếu ấy thì phải dựng lên chính quyền Xô Viết công nông Chỉ có chính quyền Xô viết công nông mới là cái khí cụ rất mạnh mà đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, phong kiến, địa chủ, làm cho dân cày có đất mà cày, làm cho vô sản có pháp luật bảo hộ quyền lợi cho mình.”3
“Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền” Xuất phát từ sai lầm 4 trong nhận thức mâu thuẫn giai cấp trên tình hình thực tế ở thuộc địa Đông Dương.Trong khi mâu thuẫn giữa di tích của phong kiến cũ với xã hội thực tại chưa đến mức quá gay gắt một mất một còn trong tình thế đất nước bị chiếm, toàn dân tộc chịu áp bức Quốc tế cộng sản cho để cách mạng tư sản dân quyền thành công hoàn toàn thì phải thực hiện đồng thời thổ địa cách mạng trước và phản đế, đặt vấn đề thổ địa trước phản đế, nghĩa là phải giải quyết vấn đề giai cấp, vấn đề ruộng đất trước vấn đề dân tộc Điều này là không hợp lý đối với thực tiễn ở Đông Dương lúc bấy giờ nói chung và Việt Nam nói riêng
1 Đả ng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Sđd , tr 97
2 Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr ịQuố c gia, Hà N i ộ , tr 98
3Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Sđd, tr 98
4Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002) Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Sđd, tr 101
Trang 22toàn thế giới và phong trào cách mạng thuộc địa và bán thuộc địa
Về kinh tế:Tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bốn xứ và các giáo hội giao ruộng đất ấy cho trung và bản nông, quyền sở hữu ruộng đất về chính phủ công nông Sung công hết thảy các sản nghiệp lớn của bọn tư bổn ngoại quốc Bỏ các sưu thuế hiện thời, lập ra thuế luỹ tiến Ngày làm công tám giờ, sửa đổi sự sanh hoạt cho thợ thuyền
“Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương (hơn 90 phần 100 (90%)), họ
là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền Nhưng dân cày ở Đông Dương không phải là nhứt luật như nhau cả Trong lúc tranh đấu chống địa chủ và đế quốc chủ nghĩa thì vô sản có thể kéo hết thảy dân cày về phe cách mạng, nhưng lúc sự phân hoá giai cấp ở thôn quê càng rộng càng sâu, cuộc thổ địa cách mạng càng bành trướng, thì bọn phú nông càng mau bước sang phe phản cách mạng.”1
Vô sản giai cấp ở Đông Dương phần nhiều do dân cày hoặc là thủ công thất nghiệp
mà hoá ra, giai cấp này tuy còn nhiều hạn chế về trình độ nhận thức, những số lượng ngày càng lớn mạnh Trước sự bóc bột rất tàn nhẫn của theo lối thuộc địa nên giai cấp vô sản
1 Đả ng Cộng Sản Việt Nam (2002), Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr ị quốc gia, Hà Nội , tr 101
Trang 23ngày càng phát triển và trở thành động lực chính của cách mạng ở Đông Dương Nên đây
là đại bộ phần cần phải dựa vào, lãnh đạo nông dân là cách mạng ruộng đất, đứng lên đấu tranh, “đồng minh của giai cấp vô sản là bọn trung và bần nông”1
“Tư bổn bổn xứ chia làm hai bộ phận; một bộ phận thì đã hợp tác với đế quốc chủ nghĩa (dự vào các cơ quan chính trị và kinh tế), một bộ phận nữa (bọn Huỳnh Thúc Kháng, bọn Phạm Quỳnh, bọn Ngọ Báo, v.v.) hiện còn tìm cách thoả hiệp với đế quốc; chúng nó lợi dụng phong trào cách mạng để yêu cầu đế quốc những quyền lợi riêng của chúng nó, đồng thời để lừa gạt quần chúng (ngoài mặt thì chúng nó làm bộ đòi những sự cải cách, nhưng kỳ thật chúng nó kiếm cách phá hoại phong trào cách mạng của công nông Chiến lược của Đảng là phải chỉ rõ cái tánh chất quốc gia cải lương của bọn này ra Mục đích của bọn này là cốt làm cho quần chúng sanh mộng tưởng mà quên con đường cách mạng.”2Còn đối với giai cấp tiểu tư sản thì cho rằng các đảng phái ấy đều dính dáng với giai cấp địa chủ và tư bổn bổn xứ và chỉ theo cách mạng trong thời gian đầu, khi đến vấn đề thổ địa cách mạng và công nông chuyên chính thì giai cấp này sẽ bỏ cách mạng Nên cần phải phân tách rõ ràng về mặt chính trị và tổ chức khi mới hình thành, đánh đổ những xu hướng tiểu tư sản( ám sát, không tín nhiệm quần chúng, ) ngay từ trong nội bộ Đảng
Phú nông, trung tiều địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng ít lâu Phải để các đối tượng ấy ra mặt đấu tranh chống đế quốc, không cản trở sự cổ động tuyên truyền cộng sản trong quần chúng công nông thì mới có thể tạm thời hợp tác Chú ý không để bọn phú nông xen vào nông hội và ảnh hưởng đến trung và bần nông Phải luôn chỉ trích những hành động không triệt để không quả quyết theo hướng chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi giữ cho phong trào công nông có tính chất có tính chất giai cấp
Phương pháp cách mạng
Trong sử dụng bạo lực cách mạng, Đảng ta đã kết hợp chặt chẽ cả hai lực lượng chính trị, vũ trang; sử dụng kết hợp hai hình thức đấu tranh (đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang) để hình thành nên phương pháp bạo lực cách mạng hiệu quả Trong đó, đấu tranh chính trị được xác định là hình thức đấu tranh cơ bản, có ý nghĩa quyết định trong mọi thời
1Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002), Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Sđd, tr 102
2 Đả ng Cộng Sản Việt Nam (2002), Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr ị quốc gia, Hà Nội, tr 102
Trang 24kỳ cách mạng, có sức tiến công và tạo ra thế uy hiếp địch rất to lớn về mặt chính trị tinh thần Đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh cơ bản có tác dụng trực tiếp tiêu hao sinh lực địch, đập tan những âm mưu và hành động chính trị, quân sự của chúng, thắng lợi của đấu tranh quân s c ng l ự ũ à tiền đề để đấu tranh ch nh tr ph t trií ị á ển Như vậy mới tạo ra được phương pháp cách mạng hoàn chỉnh để đánh bại mọi âm mưu của kẻ thù
Sử dụng bạo lực cách mạng xem võ trang bạo động là một nghệ thuật Tổ chức khuếch trương đấu tranh theo các cách đấu tranh như: bãi công, bãi công vừa thị oai, bãi công vừa
võ trang thị oai, tổng bãi công bạo động “Võ trang bạo động không phải là một việc thường, chẳng những là theo hình thế trực tiếp cách mạng, mà lại phải theo khuôn phép nhà binh, cho nên cần phải chú ý Trong khi không có tình thể trực tiếp cách mạng cũng cử kịch liệt tranh đấu; nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải là để tổ chức những cuộc manh động, hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt là để suy động đại quần chúng ra thị oai, biểu tình bãi công, v.v., để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này.” Chính thái độ nhất 1 quyết không thỏa hiệp này đã góp phần lớn trong cuộc cách mạng “Thời kì toàn dân khởi nghĩa chưa tới Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không
đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới Nhưng phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch
sẽ tập trung đối phó Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự Phải tìm một phương thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên”2
Lãnh đạo cách mạng
Đảng lãnh đạo ở Đông Dương“Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng
ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường chính trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành Đảng
là đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc mà đại biểu quyền lợi chánh và lâu dài, chung cho cả giai cấp vô sản ở Đông Dương, và lãnh đạo vô sản giai cấp Đông Dương ra tranh đấu để đạt được mục đích cuối cùng của vô sản là chủ nghĩa cộng sản.”3Đây là một trong những điểm ưu việt trong nhận thức làm cách mạng
1 Đả ng Cộng Sản Việt Nam (2002), Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Nxb: Chính tr ị quốc gia, Hà Nội, tr 106
2 Võ Nguyên Giáp.(2006), Từ nhân dân mà ra, Nxb: Quân đội nhân dân, tr 110
3 Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002), Văn Kiện Đảng toàn tập, tập 2, 1930, Sđd, tr 106
Trang 25Tổ chức công xưởng ủy viên hộ, đặc biệt chú ý tổ chức của công nhân ở đồn điền,
mỏ, thợ thuyền chịu ảnh hưởng của bọn phản động hoặc cải lương để thâu phục quần chúng nhân dân tham gia Nhấn mạnh sự nhất thiết của các tổ chức công hội công nhân nông nghiệp đề họ trở thành người lãnh đạo quần chúng nhân dân trong cuộc cách mạng Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp
Quan hệ với cách mạng thế giới
Liên lạc với vô sản và dân thuộc địa thế giới.Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp, sau đó mở rộng với quần chúng cách mạng các nước thuộc địa và bán thuộc địa như Tàu, Ấn độ
Phản đối đế quốc tiến hành cách cuộc chiến tranh Thời kỳ này là thời kỳ khủng hoảng khắp cả các nước đế quốc sau cuộc chiến tranh thế giới, phong trào công nhân ở các nước
và ở Đông Dương nổi lên rất mạnh Cái nguy cơ chiến tranh của các đế quốc càng ngày càng gần Bởi vậy Đảng phải hết sức khoách trương công tác "phản đối bình bị", và một mặt tổ chức trong quân đội, một mặt tổ chức đội tự vệ của công nông,
Nhận xét
Luận cương chính trị khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược của cách mạng mà Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã nêu: Phương hướng chiến lược cách mạng: vẫn là phương hướng cách mạng tử sản dân quyền với hai vấn đề cốt lõi là thổ địa và phản đế; Xác định 2 nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến là hai nhiệm vụ nhất thiết cần thực hiện để tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; Lực lượng cách mạng là vẫn chính là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân; Phương pháp cách mạng: kết hợp vũ trang bạo động nói không với thỏa hiệp; Quan hệ với cách mạng thế giới: gắn bó chặt chẽ với giai cấp vô sản thế giới; Lãnh đạo cách mạng: Nhấn mạnh điều cốt yếu trong sự thành công cách mạng là vai trò của đảng Lãnh đạo với giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo
Trang 26Những ưu điểm bước đầu khẳng định một số vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam Luận cương còn xác định thêm con đường đúng đắn tiến lên giành chính quyền phải là con đường cách mạng bạo lực của quần chúng
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồn đọng nhiều hạn chế trong nhận thức thực tiễn như: Mâu thuẫn chủ yếu dẫn đến cách mạng đặc biệt là mâu thuẫn giai cấp Phân chia giai
cấp địa chủ ra thành đại, trung, tiểu Nhưng quên rằng cho dù là đại địa chủ thì tư sản cũng chẳng bao nhiêu, chẳng có vốn liếng gì lớn, huống hồ một số bộ phận đại địa chủ vẫn có tư tưởng yêu nước góp sức trong các cuộc cách mạng theo lối phong kiến trước đây cùng với nông dân, tuy thất bại nhưng vẫn cho thấy lòng trung thành dân tộc của họ Chỉ có một số
bộ phận địa chủ tha hóa chạy theo đế quốc Bởi lẽ vậy nên mâu thuẫn giữa phong kiến và nông dân vốn dĩ là một mâu thuẫn có thể điều hòa giải, tạm thời gác qua một bên để giải quyết vấn đề cốt lõi là giải phóng dân tộc
Mối quan hệ giữa 2 nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến Nhấn mạnh ý cho rằng phải thực hiện cách mạng thổ địa rồi mới tính đến vấn đề phản đế Tư duy chính dựa trên quan điểm “có thực mới vực được đạo” phải giải quyết vấn đề ruộng đất trước hết và tiên quyết mà bị sao nhãng mục tiêu giải phóng dân tộc phải nên được đặt lên hàng đầu Lực lượng cách mạng là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân vẫn chưa nhận thấy được khả năng cách mạng của các giai cấp phong kiến tri thức, tư sản, tiểu tư sản Biến các giai cấp này thành các giai cấp đối lập gần như hoàn toàn cần phải tiêu diệt loại bỏ để tiến hành trên còn đường cách mạng
Giải quyết vấn đề dân tộc trên phạm vi toàn Đông dương Vấn đề này tồn đọng từ trong thành viên ban chấp hành vốn danh nghĩa là tên gọi ba nước Đông Dương nhưng các thành viên đều là người Việt, có thể tạo thành liên minh đánh đuổi đế quốc nhưng khi ảnh hưởng trực đến những lợi ích riêng cho mỗi nước thì đây là một trong những hạn chế cần phải khắc phục Trên thực tế chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc đến vấn đề này ngay từ ban đầu
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do nhận thức chưa nắm vững đặc điểm, tình hình xã hội Việt Nam nói riêng cũng như ba nước Đông Dương nói chung và chịu ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh của Quốc tế Cộng Sản, nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai
Trang 27cấp đang tồn tại trong Quốc tế Cộng sản và một số Đảng Cộng sản trong thời gian đó Những hạn chế của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, giữa hai nhiệm vụ giải phóng dân tộc và cách mạng ruộng đất, cũng như trong việc tập hợp lực lượng cách mạng Tuy nhiên những hạn chế này đã được Đảng nhận ra và khắc phục trong quá trình hoàn thiện của Đảng sau này.
2.2 Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945 2.2.1 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939
2.2.1.1 B ối cả nh l ch sị ử giai đoạn 1936 – 1939
Tình hình th gi i ế ớ
Cuộc kh ng ho ng kinh t trong nhủ ả ế ững năm 1929 – 1933 ở các nước tư bản chủ nghĩa
đã làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt và phong trào cách mạng c a qu n chúng dâng cao Ch ủ ầ ủ nghĩa phát xít đã xuất hiện và thắng thế ở một số nơi, chúng ti n hành chiế ến tranh xâm lược, bành trướng và nô dịch các nước khác, chúng cũng ráo ri t chu n bế ẩ ị chiến tranh để chia l i thạ ị trường th gi i và th c hiế ớ ự ện mưu đồ tiêu diệt Liên Xô thành trì cách m ng th gi - nh m hy v– ạ ế ới ằ ọng đẩy lùi phong trào cách m ng vô ạsản đang phát triển mạnh mẽ Nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế giới đe dọa nghiêm tr ng n n hòa bình và an ninh quọ ề ốc tế
Trước tình hình đó, Đại h i l n th VII c a Qu c t c ng s n h p tộ ầ ứ ủ ố ế ộ ả ọ ại Matxcơva (tháng 7/1935), xác định kẻ thù nguy hiểm trước mắt của giai c p vô sấ ản và nhân dân lao động thế giới lúc này chưa phải là chủ nghĩa đế quốc nói chung, mà là chủ nghĩa phát xít Nhiệm vụtrước mắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới lúc này chưa phải là đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, giành chính quyền, mà là đấu tranh ch ng ch ố ủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ dân chủ và hòa bình Đố ới các nưới v c thuộc địa và nửa thuộc địa, Đại hội chỉ rõ: do tình hình thế giới và trong nước thay đổi nên vấn đề lập mặt trận
thống nhất chống đế quốc có tầm quan trọng đặc biệ t
Tình hình trong nước
Từ 1/9/1939, Chi n tranh th gi i th hai bùng n ế ế ớ ứ ổ đã ảnh hưởng mạnh mẽ và tr c ti p ự ếđến Đông Dương và Việt Nam Ngày 28/9/1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định