Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng mô hình trị liệu kết hợp và đánh giả hiệu quả can thiệp GAD ở người lớn bằng liệu pháp Nhận thức - hành vi kết hợp thuốc hóa dược tại Bệnh viện Tâ
Trang 1CAN THIẸP ROI LOẠN
Trần Văn Minh1
Nguyễn Thị Minh Hằng2
Đặng Trong1
Trần Thu Hương2
Nguyễn Thị Minh Truyền1
'Bệnh viện Tâm thần tỉnh Quảng Ngãi; 2Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
TÓM TẮT
Rối loạn lo âu là một vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp, bao gồm nhiều dạng khác nhau, trong đó rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) là một trong những chẩn đoán phổ biến nhất, về can thiệp GAD, có hai phương pháp chính gồm can thiệp tám lý và can thiệp thuốc hỏa dược Tuy nhiên ờ Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về mô hình và hiệu quả của can thiệp phổi hợp tâm lý trị liệu và thuổc hóa dược đổi với GAD Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng mô hình trị liệu kết hợp và đánh giả hiệu quả can thiệp GAD ở người lớn bằng liệu pháp Nhận thức - hành vi kết hợp thuốc hóa dược tại Bệnh viện Tâm thân tình Quảng Ngãi Kêt quả nghiên cứu cho thây, mô hình điêu trị kêt hợp kéo dài trong 6 tháng với 12 phiên tâm lý trị liệu là có hiệu quá đối với bệnh nhãn GAD ở nhiều khía cạnh: giảm thời gian lo âu, giảm triệu chứng khó kiểm soát
lo âu, giảm các triệu chứng phổi hợp, giảm mức độ lo âu, giảm biêu hiện/triệu chứng trầm cảm kèm theo.
Từ khóa: Rối loạn lo âu; Rối loạn lo âu lan tỏa; Can thiệp tâm lý; Can thiệp thuốc hóa dược; Trị liệu nhận thức - hành vi.
Ngày nhận bài: 17/3/2022; Ngày duyệt đăng bài: 25/3/2022.
1 Đặt vấn đề
Rối loạn lo âu lan tỏa (GeneralizedAnxiety Disorder - GAD) là một dạng
rối loạn lo âu phổ biến ở mọi cộng đồng, quốc gia và nền văn hóa Các nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ mắc GAD ở Hoa Kỳ khoảng 5,7% (Kessler và Wang, 2008)
Trang 2Có 3%dân sốAnhmắcGAD trên cơ sởcác tiêu chí sàng lọc và chỉ 8%trong số đó
được chẩn đoán vàđược điều trị(Bebbington và cộng sự, 2000).Tại Canada, tỷ lệ
mắc GAD trong cuộc đời là 8,7% và tỷ lệ mắctrong 12 tháng là 2,6% (Watterson
và cộng sự, 2017) Một nghiên cứu ở các vùng đô thị Trung Quốc cho thấy, có 5,3% người trưởng thành có GAD (tỷ lệ này thay đổi từ 2,4% đến 8,9% của mỗi vùng đô thị trên toàn Trung Quốc) (Yu và cộng sự, 2018) Đặc biệt,trong bối cảnh dịchbệnh hiện nay, tỷ lệ các vấn đề sức khỏe tâmthần nói chung và GAD nói riêng đều gia tăng so với trước đại dịchCovid-19ởcác nhóm cộng đồng cũngnhư nhóm
lâm sàng người lớn (Bendau và cộng sự,2021; Cordaro vàcộng sự,2021; Hyland
vàcộng sự, 2020; Li và cộng sự, 2020;Vahratian và cộng sự, 2021)và cả ởtrẻ em
và vị thành niên (Akgũl và Ergin, 2021; Hawes và cộng sự, 2021; Jiao vàcộng sự, 2020; Qinvàcộng sự, 2021; Smimivà cộng sự, 2020)
ỞViệt Nam, rối loạn lo âuđược báo cáo với những tỷ lệ khác nhau trên các nhóm mẫu khác nhau: 5 - 8% dân số trong suốt cuộc đời (Bùi Quang Huy, 2017),
19% ởnhóm đồngtính nam bán dâm có biểuhiện lo âu từmứcđộ trung bình đến
nặng (Goldsamt và cộng sự, 2015), 4,3% ở nhóm nam giới bị lệ thuộc vào rượu (Fisher và cộng sự, 2012) Trongđại dịch Covid-19,tỷlệnhững người mắc rốiloạn
lo âu gia tăng đángkể: 7% (Le và cộng sự, 2020) và 8,5% (Nam và cộng sự, 2021) tại các nhóm mẫu cộngđồng Đặc biệt, các nghiên cứu trên nhóm mẫu lànhân viên
y tế đưa ra tỷ lệ mắcrối loạn lo âu rấtbáo động: 26,84% (Tuan và cộng sự, 2021),
33,1% (Quang và cộng sự, 2021)và 33,5% (Than và cộng sự, 2020)
Khái niệm
Rối loạnlo âu lan tỏa đặc trưng bởinhững mối lo lắngdai dẳng, lan tỏa, tản mạn, không khu trú vào một sự kiện hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanhhoặc có
liên quan với những sự kiện đã qua không còn tính thời sựnữa, tiến triển thay đổi nhưngcóxu hướng mạn tính (WHO, 1992) Các triệu chứng lo lắngquámức luôn phối hợp với các triệu chứng cơ thể như căng cơ, dễ bị kích thích, khó vào giấc
ngủ và bồn chồn Ngườibệnh không thể kiểm soát được các lo lắng này, giảmkhả
năng lao động, sinh hoạt và các chức năng khác (BùiQuang Huy, 2017) Nỗi sợ hãi hoặc lo lắng của người bệnh không tương xứng với tình huống thựctế hoặc không
phù họp với độ tuổi và cản trở rõ rệt khả năng hoạt động bình thường của chủ thể (APA, 2013; Philip, 2021)
về rối loạn kèm theo, ở nữgiới phần lớn chỉ giới hạn trong các rối loạn lo
âu và trầm cảm đơn cực, trong khi ở nam giới, rối loạn đi kèm phổ biến nhất là nghiện chất (APA, 2013) Rối loạn lo âucũng có mối liên hệ với sự gia tăng tỷ lệ
mắcbệnh và tử vong, đặc biệt liênquan đến bệnh tim mạch và suygiảm nhận thức (Andreescu và cộng sự, 2020)
Trang 3Đặc điểm giới tỉnh và tuổi
Rối loạn lo âu lan tỏa phổ biến ở nữ giới hơn ởnam giới với tỷ lệ gấp đôi,
sự ghi nhận chẩnđoán đỉnh điểmvào độ tuổi trung niên và giảm dần theo những
năm cuối đời (APA, 2013) Rối loạn lo âu lantỏa thường gặp hơn ở nữ giớivà độ
tuối trung niên, từ 35 - 54 tuổi (Watterson và cộng sự, 2017) Người bệnh thường đến khám lần đầu ởđộ tuổi 20 và chỉ có 1/3 số người bệnh đến khámvà điều trị đúng chuyên khoa (Bùi Quang Huy, 2017) Trong gánh nặng bệnhtật năm2008 tạiViệt Nam, rối loạn lo âu là gánh nặngcao thứ 7 ở nữ giới (Bộ Y tế, 2011) Một nghiên cứu khác báo cáotỷ lệnừ/nam là 2/1, độ tuôi trungbình là 43,2 tuổi và lứa tuổi 46 đến 55 chiếm tỷ lệ caonhất (TrầnNguyềnNgọc, 2018)
Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng
Yeu tổ sang chấn tâm lý và môi trường giữ vai trò là nguyên nhân trực tiếp
hoặc là nhân tố thúc đẩy gây ra GAD Sự xuất hiện của mộthoặc nhiều sự kiện,
tìnhhuống bất lợi làm tăng nguy cơ xuất hiện GAD (Blazer và cộng sự, 1987)
Các đối tượng sống trongmôitrường khắc nghiệt, căng thẳng, nhiều trảinghiệm
đau thương có tỷ lệ mắc GAD, trầm cảm cao hơn (Hoge và cộng sự, 2004)
Ngoài ra, nguyên nhân khởi phát và duy trì tình trạng mạn tính của GAD là do
sự gia tăng các yếu tố gây căng thẳng như các vấn đề giađình, nhà ở, tài chính, công việc, học tập, bệnh tật và sức khỏe (Brantley và cộng sự, 1999) GAD có liên quan đến các yếu tố như độc thân, góabụa hoặc ly hôn, thu nhập thấp, thất
nghiệp (Watterson và cộng sự, 2017) Ngoài ra, nguy cơ mắc GAD tăng cao ở
những môitrường giađình mà cha mẹ, họ hàngcó các vấn đề bệnh lýnhư GAD, trầm cảm hoặc môi trường bố mẹ sử dụng rượu và lạm dụng chất gây nghiện, bất hòa, ly hôn, trẻ bị bỏ bê và ngược đãi, bị bạo hành, bị mồ côi sớm (McLaughlin
và cộng sự, 2008; Moffitt và cộng sự, 2007)
Yếu tổ sinh học và nhân cách đóng vai trò quyết định hình thành GAD Rối loạn lo âu lan tỏa thường xuất hiện ở những người có loại hình thần kinh không on định (Bourgeois và Brown, 2015; Hettemavà cộng sự, 2004) Nghiên cứucủa Trần Nguyễn Ngọc (2018) cho thấyđa số người bệnh GAD có kiểu hình thần kinh hướng nội và không ổn định (tỷ lệ 77,2%) Nhiều bằng chứng cho
thấy yếu tố di truyền có tác động đáng kế đến GAD Khoảng 1/3 nguy cơ mắc
GAD là do di truyền và những yếu tố di truyền này trùng lặp với nguy cơ mắc các rối loạn cảm xúc và lo âukhác, đặc biệt là rối loạn trầm cảm chủ yếu (APA, 2013) Nghiên cứu phả hệ trên từng cá nhân trong gia đình và trên các cặp sinh đôi cho tỷ lệ di truyền GAD lần lượt là 19,5% và 30% (Stein và cộng sự, 2009) Theo Duval (2015), sự suy giảm tín hiệu vùng vỏ não trước trán trước những
“sợ hãi bình thường” dần tới thiếu hụt khả năng ức chế của vỏ não trước trán
với các vùng não cảm xúc Người bệnh ít có khả năng phán đoán giữathông tin
Trang 4về mối nguy hiểm và sự an toàn (Duval và cộng sự, 2015) Nghĩa là, giảm khả năng nhận thức đối với các “kích thích an toàn” từ các tình huống hay vấn đề bình thường trong cuộc sống hàng ngày (Aldao và cộng sự, 2010; Cha và cộng
sự, 2014; Duval và cộng sự, 2015) Vì vậy, sự suy giảm khả năng kiểm soát của
vỏ não trước trán có thể lànguyên nhân xuất hiện và duy trì GAD (Duvalvàcộng
sự, 2015; Etkin và cộng sự, 2010)
Đánh giá và can thiệp
Trong lâm sàng, để đánh giá GAD các bác sỳtâm thần và các nhà tâm lý
lâm sàng thường sử dụng kết hợp đánh giá bằng các tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD-10 (WHO, 1992) hoặc DSM-V (APA, 2013) kết hợp với các trắc nghiệm/
thang đo tâm lý Thang Đánh giá lo âu Zung (The Zung Self Rating Axiety
Scale - SAS) do William Zung xây dựng vàonăm 1971, là thang lượnggiá mức
độ lo âu ở người trưởngthành, có thể sử dụng để hỗ trợchẩn đoán Theo Zung
(1980), SAS nhạy cảm ởmức 89% ởcác nhóm mầu lâm sàng,do vậy, SAS cũng được sử dụng để theo dõi sự thay đổi của bệnh nhân trong quá trình can thiệp
Ở ViệtNam, Bộ Ytế đã đưa SAS vào danh mục kỹ thuật trắc nghiệm tâm lý từ năm 2013 (Bộ Y tế, 2013)
Trong đánh giá GAD, các nhà chuyên môn cũng thường sử dụng thêm các công cụ để sàng lọc các biểuhiện lâm sàng củatrầm cảm, stress có thế kèm theo ở bệnh nhân GAD Với mục đích đó, thang đo Trầm cảm, Lo âu, Stress (DASS) của
Lovibond và Lovibond (1995) được sử dụng kháphổbiếndocóđộ tin cậy cao và ổn định trên hầu hết các nhómmẫu (Nguyền Thị Minh Hằngvà cộng sự, 2021)
Các phươngpháp can thiệp chủ yếu đối với GADbao gồm tâm lý trị liệu,
canthiệp hóadượchoặckếthợp cả hai (Bandelow, 2017) Đốivới GAD, canthiệp hóa dược thường được khuyến cáo không nên là lựa chọn đầu tiên, chỉ cânnhắc sử
dụng cho trường hợp rối loạn lo âu nặng, có nhiều triệu chứngcơthể,kếthọp với
can thiệp tâm lý (Trần Diệp Tuấnvà Phạm Thị Minh Châu, 2017) Thông thường bác sỹ chọn một số nhóm thuốc thế hệ mới, được sử dụng phổ biến hiện nay như:
nhóm thuốc chống trầm cảm 3 vòng; nhóm thuốc ức chế tái hấp thụ chọn lọc serotonin và nhóm thuốcbenzodiazepin (Nguyễn Văn Nuôi, 2005)
Tâm thần học và tâm lý học lâm sàng hiệnnaytương đối thống nhấttrong
việc côngnhận điều trị kết họp hóa dược và tâm lý trị liệu là phương phápcó hiệu
quả đối với GAD (Bandelow và cộng sự, 2007; Wetherell và cộng sự, 2013) Tuy
vậy, các bằng chứng vẫn còn ít và thiếu nhất quándo còn ít các nghiên cứu về lĩnh
vực này (Bandelow và cộng sự, 2007) Riêng về can thiệp tâm lý cho rối loạn lo
âu nói chung, tiếp cậnNhậnthức - Hành vi(CBT) thường có hiệu quả hơn các tiếp
cận khác và được khuyến nghị áp dụng trước tiên (Kaplan, 2013; Trần Diệp Tuấn
và Phạm Thị Minh Châu, 2017) CBT được sử dụng nhằm giúp người bệnh nhận
Trang 5diện những ý nghĩ tựđộng của mình, tìm cácbằng chứng ủnghộ và bác bỏ cácgiả định phi chức năng, thách thức cácniềm tin phi lý, trải nghiệm hành vi mới và cuối cùng là lựa chọn để thay đối CBT có hiệu quả với GAD khi chúng có cả 3 chiến
lượcchủ chốt gồm: (1) cải tổ nhận thức những ý nghĩgây lo âu, (2) luyện tập thư giãnvà (3) huấn luyện để đối mặt và vượtqua lo âu (Paul Bennet, 2010)
Chỉ dẫn hiện nay của can thiệp hóa dược đối với rối loạn lo âu là duy trì ít nhất 6 tháng sau khi các triệu chứng ổn định (Nguyễn Văn Nuôi, 2005; Bandelow và cộng sự, 2017) về can thiệp tâm lý, một liệu trình CBT thông thường kéo dài từ 5 đến đến 20 phiên (NHS England, 2019) Trong các nghiên
cứu sử dụng CBT cho rối loạn trầm cảm và lo âu có thời lượng trung bình từ
12 đến 16 phiên, cách tuần hoặc mồi tuần 1 phiên (Rygh và Sanderson, 2004)
Tại Việt Nam, việc can thiệp rối loạn lo âu phần lớn vẫn bằng thuốc hóa dược là chủ yếu Những nghiên cứu đánh giá hiệu quả của can thiệp tâm lý hoặc
phối hợp bằng can thiệp thuốc hóa dược và tâm lý trị liệu cho người bệnh GAD cònrấtít Tác giảTrầnNguyễnNgọc thực hiện nghiên cứucanthiệp GAD tại Viện Sức khỏe tâmthần Bạch Mai với 20 buối canthiệpbằng liệu pháp thư giãn trong thời gian 4 tuần (Trần Nguyễn Ngọc, 2018) Tác giảNguyễn Thị Kim Tiến (2016)
nghiên cứu về can thiệp rối loạnloâu bằng thuốcchổng trầm cảm Amitriptylinkết
hợp 12 phiêncan thiệp bằngCBT diễn ra trong 12 tuần Kết quả củahainghiên cứu trên đều cho thấy các phương pháp can thiệpnhư vậy làm giảm triệu chứng lâm
sàng trên bệnh nhân Tuy nhiên, hai nghiên cứu này cũng có những hạn chế nhất
định Cụ thế, nghiên cứu của Trần Nguyễn Ngọc tiến hành trong thời gian ngắn (chi 4 tuần) và chỉ sử dụng liệu pháp thư giãn mà không vận dụng đầy đủ cácbước
và các kỹ thuật của CBT Nghiên cứu củaNguyền Thị Kim Tiến cótiến hànhcan
thiệp hóa dược nhưng lại chỉ dừng lại ở mức 12 tuần so với khuyến nghị là 6 tháng
(24 tuần); nghiên cứu cũng chỉ đưa ra nhận xét chung về hiệu quả can thiệp mà chưa trình bàyrõđộ tin cậy cùa các kết quả bằng các chỉ sốthống kê
Trên cơ sở những luận điểm lý thuyết và bối cảnh thực tiền trong điều trị GAD như đã trình bày trên đây cũng như tỷ lệ GAD có xu hướng ngày càng gia
tăngvà có liên quan đặc biệt với đại dịch Covid-19, chúng tôiđã thực hiện nghiên
cứucan thiệp kết hợp hóadược và tâm lýtrị liệu (CBT) chonhómbệnh nhân người
lớn được chẩn đoánGAD
2 Khách thể và phương pháp nghiên cứu
2.1 Khách thê nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trên 30 người bệnh trưởng thành, từ 18-79 tuổi (M = 52,23; SD = 15,02), đã được chẩn đoán mắc GAD theo DSM-V, đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Quảng Ngãi Trong số khách thể nghiên
Trang 6cứu có 8 người mắc thêm các rối loạn đồng diễn khác như trầm cảm, lo âu khác, rối loạn nhân cách vàcó hànhvi sử dụng chất Tuy nhiên, các triệu chứng GAD ở
tất cả khách thể nghiên cứu nổi trội nhất và ảnh hưởngrõ rệt đến hoạt động chức
năng của họ Vì vậy, chúng tôi lựa chọn can thiệp GAD trước hết cho bệnh nhân, điều này cũng đảm bảocác nguyên tắc đạo đức trong canthiệp trị liệutheo hướng
dẫncủaAPA (2013)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiêncứu khảo sát triệu chứng lâm sàng bằng thăm khám lâm sàng và các
tiêu chuẩn chấn đoán của DSM-V Can thiệp lâm sàng,theo dõi điều trị trong thời
gian 6 tháng, so sánh trước,trong và sau điều trị bằng phươngpháp nghiên cứu can thiệp tiến cứu Thời giannghiên cứu là 6 tháng, từ tháng 3/2021 đến tháng 9/2021
Địađiểm nghiên cứu là Bệnh việnTâm thần tỉnh Quảng Ngãi
2.2.2 Quy trình và đạo đức nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, việc can thiệp GAD bằng CBT kết hợp thuốc
Fluoxetin kéodàitrong24 tuần, với thờilượng can thiệp tâm lý là 12 phiên Khách
thể được bác sỹ chuyên khoa tâm thần khám và điều trị bàng thuốc và được can thiệp tâm lý cánhân bởi chuyên viên tâm lý lâmsàng Liệutrình can thiệp tâm lý gồm 12 phiên cách tuần(2 tuần một buổi), thời lượng một phiên kéo dài60 phút
Các chuyên gia thuộc nhóm nghiên cứu đã tập huấn cho bác sỹ điều trị và
cán bộtâm lý (thành viên tham gia nghiên cứu) để tiến hành can thiệp cho người bệnh Đe đảm bảo đạo đức nghiên cứu, các nhà nghiên cứukhôngtrực tiếp tham gia vào quá trình can thiệp mà chỉ tiến hành đánh giá khách quan hiệu quả can
thiệp Tiêu chí đểđánh giá hiệu quả can thiệp là mứcđộ cải thiện triệu chứng lâm sàng và hoạt độngchứcnăng
Nghiên cứu được thực hiện theo 4bước nhưsau:
Bước 1: Lựachọn người bệnh mắc GAD và mời thamgiavào nghiên cứu
Bước 2: Thăm khámvà mô tả đặc điểm lâm sàng GAD (tại thời điểmTO) Khách thể được thăm khám bởi bác sỹ chuyên khoa tâm thầnvà chuyên viên tâm
lý Các công cụ được sử dụng gồm DSM-V, SAS,DASS-42 và bệnh ánnghiên cứu
Bước 3: Can thiệptâmlý bằng CBT kếthợp điềutrị hóa dượcbangFluoxetin
trong thời gian24 tuần;
Bước 4: Đánh giá hiệu quả can thiệp thông qua: a) sự đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán và đánh giá các triệu chứng lâm sàng; b) đánh giá điểm số và mức độ lo âubằng SAS vàc) đánh giá các biểu hiện stress - trầm cảm kèm theo bàng DASS-42
Trang 7Đánh giá lần 1 trong khi can thiệp (T1): sau khi tiến hành can thiệp được 2 tuần, khách thê được đánh giátriệu chứnglâm sàng và thang SAS, DASS-42, căn
cứ bởi nhómthuốc chốngtrầm cảm thường có hiệu quả sau 2 tuần điềutrị
Đánh giá lần 2 trong khi can thiệp (T2): sau khi tiến hành can thiệp được
12 tuần, kháchthế được đánh giá triệu chứng lâm sàngvàthang SAS, DASS-42
Đảnh giả lần 3 trong khi can thiệp (T3): sau khi tiến hành can thiệp được
24 tuần, kháchthe được đánh giá triệu chứng lâm sàng và khảo sát lại bàng SAS, DASS-42 Đây là thời điểm mà điều trị hóa dược đã được 6 tháng, đạt thời gian khuyến cáo điều trị tối thiểu đối với GAD, đồng thời kháchthể đã trải qua 12 phiên trị liệu CBT
Các giai đoạn can thiệp tâm lý bang CBT:
- Giai đoạn 1: Xây dựngmối quanhệ lâm sàng,đánh giábanđầu, định hình
trườnghợp (2 buổi trị liệu)
- Giai đoạn 2: Can thiệp tâm lý nhằm giảm các triệu chứng lo âu(7 buổi trị liệu) Các kỹ thuật được sử dụng gồm: thư giãn tĩnh có tưởng tượng, căng chùng
cơtuầntự,tậpluyệnthể dụcthểthao, tái cấu trúc nhậnthức, giáo dục sứckhỏe,tập
luyện các kỳ năng cần thiếtvề nhận diện và quảnlý cảmxúc, kỹ năng làm việc và giải quyết vấnđề, kỳ năng giao tiếpvà kích hoạt các hành vi thíchứng khác trong
công việc, cuộc sống, giao tiếp và gia đình
- Giai đoạn 3: Kết thúc can thiệp vàtheodõi sau can thiệp (3 buổi trị liệu)
Can thiệp hóa dược: Bệnh nhân tham gia nghiên cứu được điều trị bằng Fluoxetin Bácsỳ chuyên khoa tâmthần tiến hànhđiều trị và điều chỉnh liều lượng cho từng bệnh nhântrong suốt quá trìnhđiều trị tại Bệnhviện
2.2.3 Các công cụ đo lường
- Tiêu chuẩn chấn đoán GAD theo DSM-V, chẩn đoán và đánh giá vào các thời điếm TO, Tl, T2, T3 để chẩn đoán xác định GAD, đánh giá sự có mặt/vắng mặt của cáctriệu chứng lâm sàng
- Thang đánh giá lo âu Zung (SAS): Thực hiện đánh giá 4 lần vào các thời
điếm TO,Tl,T2,T3, nhằm đánh giátìnhtrạng roiloạn lo âu vàbiệt định mức độ lo âu
- Thang đánh giá Trầm cảm - Lo âu - Stress của Lovibond và Lovibond
(1995) phiên bản đầy đủ (DASS-42): Thực hiện đánh giá 4 lần vào các thời điểm
TO,Tl, T2, T3,nhằm đánh giátìnhtrạng các biểu hiện trầm cảm và stress kèm theo
cáctriệu chứng GAD
2.2.4 Phân tích dừ liệu nghiên cứu
Dừ liệu nghiên cứu được xử lý bàngphần mềm IBM SPSS Statistics 20
Trang 8- Mô tả đặc điếm nhân khâu học, đặc điểm lâm sàng: Áp dụng các phương pháp thốngkê mô tả: tính tần số và tỷ lệ phần trăm, tính điếm trung bình, độ lệch
chuẩn (SD), xác định giá trị nhỏ nhất, lớnnhất
- Đánh giá hiệu quả can thiệp: Áp dụng các phương pháp thống kê mô tả:
tính tần số và tỷ lệ phần trăm của một số biến số, tính điểm trung bình, độ lệch
chuẩn, xác định giá trị lớn nhất, giá trị nhỏnhất, sử dụng các thuật toán thống kê
phân tích
- Kiểm định so sánh: Với các biến định tỉnh:phép so sánhkhi bình phương
(Chi-squaredtest) được sửdụng với mức ý nghĩap < 0,05 Trongtrường hợp giá trị mong đợinhỏ hơn 5 sử dụng test Fisherexact Với các biển định lượng: xácđịnh giá trị trungbình và độ lệch chuẩn Sử dụng Paired Sample T-test để đánh giá sự khác biệtvềhiệu quả can thiệp giữa các thời điểmđánh giá so với thời điểm ban đầu (TO) trên nhóm nghiêncứu
3 Ket quả nghiên cứu
3.1 Đặc điểm chung của khách thể nghiên cứu
Chúng tôi khảo sát một số đặcđiểmcủakháchthể nghiên cứu như giới tính,
tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế để thấybức tranh chung
về mẫu nghiên cứu (bảng 1) Tuy nhiên, vì cỡ mẫu nhỏ nên các biếnsố này không
được xem là các tiêu chí để phântíchvà so sánh kết quả nghiên cứu, mặcdù vậy, những thông tin này cũng có giá trịnhất định đểso sánh với các nghiên cứu khác
Bảng 1: Các đặc điểm nhân khẩu - xã hội của khách thể nghiên cứu (n = 30)
Trang 93.2 Một số đặc điếm tiền sử, bệnh sử của khách thể nghiên cứu
Bảng 2: Một sổ vấn đề sức khỏe tâm thần đồng diễn
Một số vấn đề tâm thần kết hợp
Nam (n = 14)
Nữ (n = 16)
Chung (N = 30)
Rối loạn tâm
thần kết hợp
Sử dụng
thường
xuyên chất
gây nghiện
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sụ liên quan giũa sang chấn tâm lý đối với sự khởi phát và duy trì GAD và người bệnh GAD cũng thường gặp các vấn
đề/rối loạn đồng diễn như trầm cảm, lo âu khác, rối loạn hành vi, nghiện và lạm dụng chất
Cụ the, có 19bệnhnhân (chiếm 63,3%) có sang chấn tâmlý Trong số đó chỉ
cómột người có sang chấn cấptính, 17 người có sang chấn trườngdiễn và 1 người
có cả hai loại sang chấn này Chủ đề sang chấn của bệnh nhân liên quannhiều nhất
đến gia đình (43,3%), đến công việc/học tập (20%), tai nạn bệnh tật (13,3%) và ít nhất là chủ đề xã hội (3,3%) Dữ liệu trong bảng 2 cho thấy, nếu như bệnh nhân
nữ có các rối loạn cảm xúc kèmtheo nhiều hon bệnhnhân nam thìbệnh nhân nam
lại gặpcác vấn đề hành vi liên quan đến chấtgây nghiệnnhiều hon bệnh nhân nữ
3.3 Kết quả thăm khám lâm sàng và kết quả sàng lọc bằng các thang đo
Thăm khám lâm sàng và đối chiếu với các tiêu chuẩn chẩn đoán trong DSM-Vchúng tôi thấyràng, 100% bệnh nhân có cáctriệu chứng lo âuquá mức và
tất cả họ đều có các dấu hiệu mấtkiểm soát lo âu
Các triệu chứng khác kèm theo GAD bao gồm: rối loạn giấc ngủ (90%) (trong đó, khó vào giấc ngủ - 76,7%, khó giữ giấc ngỉi - 56,7%, khó chịu khi thức giấc - 30%); mất thưgiãnhoặc cảm giác kích động, bực bội (70%); dễ bị mệt mỏi (63,3%); khó tập trungchú ýhoặc đầu óc trống rồng (56,7%); dễ cáu gắt (43,3%); căngcứngcơ bắp (40%)
Trang 10Điểm trung bình lo âuđo bằng thang SAS của cả mẫu nghiên cứu là 57,3 (SD = 4,36) Các mức độ rối loạn lo âu được phân chia theo SAS như sau: 2
người (chiếm 6,7%) mức độnhẹ, 20 người (chiếm 66,7%) mức độ trung bình và
8 người (chiếm 26,7%) mức độ nặng Kếtquảđánhgiábằng thang DASS-42cho thấy có 10 người (chiếm 33,3%) có biểu hiện trầm cảm và 6 người (chiếm 20%)
có biểu hiện stress
3.4 Đánh giá hiệu quả can thiệp
Đánh giá hiệu quảcan thiệpcho thấy, điều trị kết họp thuốc và tâm lý trị liệu
đã mang lại hiệu quả ở cả ba khía cạnh: (1) giảmsốlượngbệnh nhân đápứng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-V và giảm các triệu chứng cụthể; (2) giảm điểm số và
mức độ lo âu đo lường bằng SAS và (3) giảm các biểu hiện triệu chứng trầmcảm
và stress đo lường bang DASS Sau đây làkết quả cụ thể
3.4.1 Đánh giá hiệu quả can thiệp theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-V
Tỷ lệ khách thể nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoản:
Ở khía cạnh thứ nhất, trước hết chúng tôi đánh giá số lượng khách thể
nghiên cứu đápứng tiêu chuẩnchẩnđoán theo DSM-V, sau đó đánh giá sự thuyên
giảm các triệu chứng cụ thể quacác thời điểm Theo dữ liệu nghiên cứu, số lượng bệnh nhânđáp ứngtiêu chuẩn chẩn đoán GAD giảm dần qua các lầnđo Theo đó, tại thời điểmkết thúc 12phiên trị liệu(T3)chỉ còn 3 bệnh nhânđáp ứng tiêu chuẩn
chẩn đoán GAD theo DSM-V (bảng 3)
Bảng 3: Tỷ lệ bệnh nhản đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán GAD tại các thời điểm
Đáp ứng
GAD theo
DSM-V
TO TI T2 T3
p (T0 -Tl)
p (T0 -T2)
p (T0 -T3)
N % n % n % N %
0,011 <0,001 < 0,001
Dữ liệutrên cũng ghi nhận một kếtquả thú vị làtốc độ giảm sốlượng bệnh
nhân đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán nhanhnhất trong khoảng TI đến T2, nghĩa là
từ sau2 tuần sử dụng thuốc cộng với ít nhất một phiên tâm lý trị liệu đến sau 12 tuần sử dụng thuốc vàít nhất6 phiêntâm lý trị liệu