Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, không xây dựng và phát triển nền dânchủ và nhà nước xã hội chủ nghĩa thì không thể thực hiện quyền lực, quyền dân chủ,quyền làm chủ và mọi lợi íc
DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Dân chủ và sự ra đời, phát triển của dân chủ
Thuật ngữ dân chủ là cách nói ngắn gọn cho khái niệm chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ Trong đó, chế độ dân chủ là chế độ chính trị mà toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện do nhân dân bầu ra.
Khái niệm dân chủ là đặc điểm đặc trưng của các chế độ dân chủ xuyên suốt quá trình lịch sử Dân chủ được thể hiện rõ ràng nhất ở chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu tốt đẹp là để xoá bỏ chế độ người bóc lột người, tạo ra ngày càng nhiều hơn các điều kiện thuận lợi để thực hiện triệt để công bằng xã hội, dân chủ, văn minh, công lí cho mọi người, bình đẳng thực sự giữa nam và nữ, giữa các dân tộc.
“Để thế giới không còn sự tham lam, hận thù và tàn nhẫn Để những thành tựu khoa học có thể làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn Hỡi những người chiến sĩ, chúng ta hãy cùng thống nhất như một nền dân chủ.” 2
2 https://www.goodreads.com/quotes/tag/democracy, tham khảo ngày 23/06/2021
Qua quá trình nghiên cứu các chế độ dân chủ trong lịch sử và thực tiễn lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, dân chủ là kết tinh, thành quả của toàn bộ quá trình đấu tranh giai cấp cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, là một hình thức tổ chức nhà nước và là một trong những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội.
Dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin có các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về phương diện quyền lực, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ nhân của nhà nước Dân chủ là quyền lợi của nhân dân, quyền lợi căn bản nhất của nhân dân chính là quyền lực nhà nước thuộc sở hữu của nhân dân, của xã hội Bộ máy nhà nước phải vì nhân dân, vì xã hội mà phục vụ Chỉ khi mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì khi đó mới có thể đảm bảo về căn bản việc nhân dân được hưởng quyền làm chủ với tư cách một quyền lợi Thái độ với chính quyền, mức độ quan tâm, chăm lo xây dựng, củng cố chính quyền là biểu hiện trực tiếp của sự giác ngộ về dân chủ – dân là chủ và dân làm chủ.
Thứ hai, trên phương diện chế độ xã hội và trong lĩnh vực chính trị, dân chủ là một hình thức hay hình thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ Xét dân chủ với tư cách là một chế độ nhà nước, thì đó là sự tổng hợp những hình thức và phương thức tổ chức quyền lực nhà nước Dân chủ luôn gắn liền với phương thức phân phối lợi ích trong xã hội, dân chủ không chỉ là nhu cầu khát vọng cá nhân với tư cách là cái riêng, mà dân chủ trở thành khát vọng chung, cái chung phù hợp với hình thức tổ chức quyền lực, văn hóa, chính trị của Nhà nước Do đó, dân chủ là phạm trù lịch sử, hình thành, phát triển và mất đi cùng với Nhà nước.
Thứ ba, về phương diện tổ chức và quản lý xã hội, dân chủ là một nguyên tắc.
Nguyên tắc này kết hợp với nguyên tắc tập trung để hình thành nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và quản lý xã hội.
Tại Việt Nam, trên cơ sở quan điểm dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về chế độ dân chủ: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đầy tớ trung thành của nhân dân” 3 , Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng chế độ dân chủ xã hội nghĩa, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đem lại công bằng, bình đẳng cho mọi người, từ đó làm nền tảng để phát triển đất nước tốt đẹp
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của dân chủ
Dân chủ có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại 4 Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên tại Athena, Hy Lạp trong thế kỷ thứ V TCN với cụm từ “demoskratos”, được ghép từ chữ demos, "nhân dân" và kratos, "quyền lực" vào khoảng giữa thế kỷ thứ V đến thứ IV trước Công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành bang Hy Lạp Nổi bật nhất là Anthena sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN 5 Cụ thể, hình thức nhà nước này được Quốc vương Theseus - vị vua khai quốc của thành bang Athena - áp dụng lần đầu tiên trong thời kỳ thượng cổ, chính phủ đó được xem là hệ thống dân chủ đầu tiên.
Chế độ dân chủ đã được thành lập từ rất sớm từ thời chiếm hữu nô lệ ở nhà nước Cộng hòa Aphia, đánh giá sự phát triển tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người Khi xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp chủ nô đã lập ra Nhà nước, và lấy tên là Nhà nước dân chủ, tức là Nhà nước dân chủ chủ nô thống trị đại đa số người lao động là giai cấp nô lệ Và khi đó thì Nhà nước chủ nô mới chính thức sử dụng từ “dân chủ” Có nghĩa là Nhà nước dân chủ chủ nô có “quyền lực của nhân dân” Nhưng dân ở đây theo quy địng của giai cấp chủ nô gồm giai cấp chủ nô, tăng lữ, thương gia, một số tri thức và người tự do, còn đại đa số nhân dân trở thành nô lệ thì không được gọi là dân Thực chất, đây là giai cấp tư hữu, áp bức bóc lột đầu tiên lập ra Nhà nước và Luật pháp của Nhà nước để chiếm quyền lực thực sự của nhân dân lao động
Chế độ dân chủ chủ nô tiếp tục tồn tại cho đến khi chế độ độc tài phong kiến chuyên chế xuất hiện Do ý thức về dân chủ và tự do của người dân thời kỷ này còn kém, họ đã bị thống trị và cho rằng đó là bổn phận cùa mình theo ý nguyện của các thế lực siêu nhiên, đấng tối cao.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, tập 6, tr.515.
4 John Dunn, Democracy: the unfinished journey 508 TCN - 1993 CN, Nxb Oxford University Press,
1994 5 Kurt A Raaflaub, Origin of Democracy in Ancient Greece, Nxb University of California Press, 2007
Dưới chế độ phong kiến, nhà nước chuyên chế thi hành chính sách bóc lột bằng thế quyền và thần quyền Tuy người nông dân có khá hơn người nô lệ ở chỗ họ trở thành thực thể tự do, không còn bị coi là vật sở hữu của riêng giai cấp địa chủ nữa, nhưng vẫn là người có nghĩa vụ phục vụ vô điều kiện cho giai cấp địa chủ và nhà nước phong kiến Bởi vì họ không có tư liệu sản xuất trong tay và bị lệ thuộc về kinh tế, chính trị, tư tưởng, xã hội vào nhà nước phong kiến Đối với các nhà nước phong kiến thì bộ máy nhà nước là công cụ phục vụ và bảo vệ quyền lợi của vua chú phong kiến và địa chủ, đồng thời, là công cụ trấn áp giai cấp nông dân và những người lao động khác trong xã hội.
Cùng với thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản ở các nước châu Âu, chế độ dân chủ tư sản ra đời – một bước tiến lớn của loài người mà từ đây góp phần xóa bỏ chế độ phong kiến, tạo động lực thúc đẩy cho sự phát triển toàn diện của chủ nghĩa tư bản Đó cũng là thành quả chung của sự phát triển của loài người trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và sau nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển, nền dân chủ tư sản đã đạt tới một trình độ mới với những thành quả to lớn đó là xây dựng một xã hội công dân và một thể chế xã hội thúc đẩy cho sản xuất hàng hóa – thị trường tư bản chủ nghĩa phát triển Tuy có vai trò lớn như vậy nhưng dân chủ tư sản vẫn là hình thức thống trị chính trị của giai cấp tư sản, là chế độ dân chủ hình thức, bị cắt xén, chế độ dân chủ dành cho thiểu số Còn đa số nhân dân lao động nghèo khổ thì bị hạn chế trong thực thi các quyền dân chủ đã được tuyên bố trong các hiến pháp tư sản Mặc dù quyền lực “thuộc về nhân dân lao động” được tuyên bố mạnh mẽ và ghi nhận một cách phổ biến trong Hiến pháp của các nước cộng hòa dân chủ tư sản nhưng trên thực tế nó chỉ mang tính hình thức và được thực thi hạn chế, quyền lực chính trị thực sự thuộc về giai cấp tư sản, mà đằng sau là các tập đoàn tư bản lớn.
Khi cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng lợi (1917), thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mở ra Sự ảnh hưởng của cách mạngTháng Mười Nga đã giúp nhân dân lao động ở nhiều quốc gia giành được quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội, thiết lập nhà nước công – nông, thiết lập nền dân chủ vô sản để thực hiện quyền lực của đại đa số nhân dân Bắt đầu hình thành nên nền dân chủ thực sự.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa
Ý tưởng về một xã hội công bằng, bình đẳng và bác ái đã xuất hiện từ lâu Ý tưởng đó xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân lao động muốn thoát khỏi sự bất công, bạo lực và chuyên chế, ước mơ xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó những giá trị chân chính của con người được tôn trọng, mọi người đều có điều kiện để tự do phát triển với tất cả mọi năng lực của mình Những cuộc đấu tranh không ngừng của nhân dân lao động trong lịch sử đã chứng minh cho điều đó.
Tuy nhiên, mãi đến cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, tư tưởng về chủ nghĩa xã hội (mới là chủ nghĩa xã hội không tưởng) mới được hình thành rõ nét Thomas More
(1478 - 1535), một trong những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội không tưởng, trong tác phẩm nổi tiếng "Utôpia" (Xứ không tưởng) đã phê phán chế độ chính trị - xã hội đương thời ở Anh, đồng thời phác họa một mô hình xã hội, ở đó chế độ nhà nước được xây dựng dựa trên sự bình đẳng và tự do của mọi người, tất cả những nhà chức trách đều do nhân dân bầu ra, phải báo cáo trước nhân dân và phải hoạt động vì lợi ích của nhân dân Trong xã hội như vậy, chế độ công hữu thống trị và lao động mang tính bắt buộc Sau Thomas More, Tomado Campanela (1568 - 1639), tác giả của tác phẩm
"Thành phố mặt trời" và "Luận về thể chế nhà nước tốt nhất", đã tiếp tục phát triển tư tưởng của Th.More và đi đến kết luận rằng, chế độ chính trị - xã hội lý tưởng mang lại quyền lợi cho những người lao động đó là chế độ dựa trên sở hữu xã hội Những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa của xã hội lý tưởng sẽ kéo theo cả sự thay đổi tính chất của chế độ chính trị T.Campanela cũng đã có tư tưởng về giáo dục trong xã hội lý tưởng đó là, giáo dục gắn liền với lao động sản xuất và đề cao vai trò của sự phát triển khoa học.
Mặc dù thấm đượm tư tưởng tiến bộ, chủ nghĩa xã hội của Th.More và T.Campannela còn nhiều điểm không tưởng Cả hai ông cùng chưa hình dung được một cách cụ thể và có căn cứ khoa học về việc tạo lập một xã hội mới tốt đẹp hơn, chưa nhận thức được một cách đúng đắn vai trò của những tiền đề chính trị, kinh tế và tư tưởng để xây dựng chủ nghĩa xã hội Hai ông còn lẫn lộn giữa pháp luật với đạo đức, chưa đoạn tuyệt được hoàn toàn với hệ tư tưởng tôn giáo
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học, trên cơ sở tổng kết thực tiễn đấu tranh cách mạng và những phát hiện khoa học mới về quy luật phát triển khách quan của xã hội, đã đưa ra một lý thuyết khoa học về xã hội chủ nghĩa với lý tưởng dân chủ, công bằng và nhân đạo, chỉ ra con đường và các biện pháp để tạo lập xã hội đó.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người Sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, phù hợp với các quy luật vận động và phát triển của xã hội Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những tiền đề kinh tế, chính trị và xã hội đã phát sinh trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa.
Thực tế lịch sử đã chứng minh, từ sau năm 1917 khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, nhà nước Xô Viết ra đời thì nền dân chủ xã hội mới chính thức được thành lập Sự xuất hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã đánh dấu bước đột phá của nền dân chủ thế giới Nó trở thành nhân tố có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của xã hội, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cách mạng trong nhiều nước, trong đó có những nước dân tộc thuộc địa và các nước chế độ tư bản chủ nghĩa chưa phát triển, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã diễn ra trong nhiều nước và giành được thắng lợi Nhiều nước đã tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Nhưng cách mạng vô sản sẽ diễn ra với kết quả như thế nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Vì vậy, bên cạnh việc nghiên cứu những nguyên nhân khách quan dẫn đến sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa, còn cần phải nghiên cứu những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng vô sản, về việc tổ chức và thực hiện chính quyền của giai cấp vô sản sau khi cách mạng thành công Theo chủ nghĩa Mác – Lênin: “Giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, nếu họ không được chuẩn bị để tiến tới cuộc cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho dân chủ Và vì thế chủ nghĩa xã hội không thể duy trì và thắng lợi, nếu không thực hiện đầy đủ tính dân chủ” 6
6 Lênin, Toàn tập, Nxb CTQG – Sự thật (2005), Tập 33, Tr 34-35
Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị của các nền dân chủ trước đó, trước hết là nền dân chủ tư sản Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội Càng hoàn thiện bao nhiêu, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu Thực chất của sự tiêu vong này theo V.I.Lênin, đó là tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi trên cơ sở không ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền lực của nhân dân, tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội (xã hội tự quản).
Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội để đến lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất đi tính chính trị của nó.
Do đó, có thể hiểu dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân chủ có trong lịch sử nhân loại, là nền dân chủ mà ở đó, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ; dân chủ và pháp luật nằm trong sự thống nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Cũng cần lưu ý rằng, cho đến hiện tại, sự ra đời của nên dân xã hội chủ nghĩa mới chỉ trong một thời gian ngắn, ở một số nưrớc có xuất phát điểm về kinh tế, xã hội rất thấp, lại thường xuyên bị kẻ thù tấn công, gây chiến, do vậy, mức độ dân chủ được ở những nước này hiện còn hạn chế ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Ngược lại, sự ra đời, phát triển của nền dân chủ tư sản có thời gian cả mấy trăm năm, lại ở hầu hết các nước phát triển (do điều kiện khách quan chủ quan) Hơn nữa, trong thời gian qua, để tồn tại và thích nghi, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều lần điều chỉnh về xã hội, trong đó quyền con người đã được quan tâm ở một mức độ nhất định (tuy nhiên, bản chất của chủ nghĩa tư bản không thay đổi) Nền dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, song nó vẫn bị hạn chế bởi bản chất của chủ nghĩa tư bản.
Mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhằm xóa bỏ tệ nạn người bóc lột người và tạo ra ngày càng nhiều điều kiện để thực hiện triệt để công bằng xã hội, công lí cho mọi người, bình đẳng thực sự giữa nam với nữ, giữa các dân tộc, tạo cơ hội cho mọi công dân mưu sinh và mưu cầu hạnh phúc Vì vậy, để xây dựng và ngày một hoàn thiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi cần nhiều yếu tố như trình độ dân trí, xã hội công dân, việc tạo dựng cơ chế pháp luật đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền làm chủ nhà nước và quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nước, điều kiện vật chất để thực thi dân chủ.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nền dân chủ của xã hội loài người tiến bộ trong tương lai.
1.2.2 Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Bản chất của dân chủ là một chế độ xã hội mà ở đó, dân chủ được hiểu là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân Từ đó trở thành mục tiêu của sự phát triển xã hội, được thực hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Được thiết lập sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền về tay của mình và nhân dân lao động thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY DÂN CHỦ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Các chủ trương xây dựng dân chủ trong lĩnh vực kinh tế ở nước ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, việc kiến thiết nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta “có bốn vấn đề chú ý đến; cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa” 9 Để dân là chủ, dân làm chủ trên thực tế cần phải có những cơ sở, điều kiện, môi trường và không gian dân chủ tương ứng Nói riêng về thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở nước ta, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải:
Một là, tôn trọng, bảo đảm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều loại hình sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau, trong đó, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trong chế độ dân chủ mới có năm loại kinh tế khác nhau: kinh tế quốc doanh; các hợp tác xã; kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước 10 Có những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất cơ bản như: sở hữu nhà nước (toàn dân); sở hữu của hợp tác xã (tập thể nhân dân lao động); sở hữu của những người lao động riêng lẻ; sở hữu của nhà tư bản 11 Trong đó, “kinh tế quốc doanh lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa” 12 Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:“Chế độ kinh tế xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, cách bóc lột tư bản chủ nghĩa được xoá bỏ dần, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện Do đó, nhân dân ta có điều kiện thực sự tham gia quản lý nhà nước” 13 Và như thế, nhân dân ta, “từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ việc quản lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động” 14
9 Hồ Chí Minh, Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, H.1981, Tr 517.
10 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H.2000, Tr 279.
11 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H.2000, Tr 588.
12 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H.2000, Tr 590.
13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H.2000, Tr 592.
14 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H.2000, Tr 568.
Hai là, chú trọng tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế để thoát đói nghèo và vươn lên giàu có Xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nòng cốt là kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác.
Không ngừng cải thiện đời sống nhân dân Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh dân chủ xã hội chủ nghĩa là làm cho nhân dân thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm no và sống cuộc đời hạnh phúc Người nhấn mạnh, cùng với thực hành tiết kiệm, tăng gia sản xuất, là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội 15 Phải giải phóng sức sản xuất, phát triển sản xuất, trong đó chú ý tăng cường các hình thức hợp tác phù hợp để mang lại no đủ, giàu có, thịnh vượng, công bằng, tiến bộ, hạnh phúc cho đa số nhân dân lao động.
Ba là, về mặt tổ chức, quản lý kinh tế, quản lý sản xuất phải có kế hoạch thống nhất, dân chủ và hợp lý Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là kế hoạch dân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, nghĩa là Chính phủ trung ương có kế hoạch cho toàn quốc, địa phương căn cứ vào kế hoạch toàn quốc mà đặt kế hoạch thích hợp với địa phương, cho đến mỗi ngành, mỗi gia đình, mỗi người có kế hoạch riêng của mình, ăn khớp với kế hoạch chung” 16 Cán bộ phải biết lao động và phải tham gia lao động; người lao động phải biết quản lý và tham gia quản lý.
Bốn là, thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng, hợp lý “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng, những người già yếu, tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom” 17 Các quan hệ lợi ích phải được giải quyết hài hòa, cá nhân và tập thể, nhà nước và nhân dân… phải đều có lợi.
2.1.2 Quan điểm của Đảng về thực hiện dân chủ trong kinh tế ở nước ta Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), khi phân tích về tình trạng buông lỏng trong quản lý kinh tế xã hội, tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, dân chủ biến thành vô chủ, dân chủ hình thức đã cho rằng, nguyên nhân của mọi nguyên nhân là những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ Để khắc phục khuyết điểm, xoay chuyển tình hình, Đảng phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy, trong đó có đổi mới tư duy, nhận thức về vấn đề xây dựng các điều kiện để thực hiện
15 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Sđd, Tr 349.
16 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Sđd, Tr 434.
17 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H.2000, Tr 75. dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là trên lĩnh vực kinh tế Muốn vậy, “phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh…” 18 , trong đó có tư tưởng, lý luận về dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở lý luận dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội VI đặt vấn đề giải phóng sức sản xuất; bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu tư; xây dựng, hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; khẳng định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong đánh giá, đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Đảng đưa ra chủ trương: đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trên cơ sở đổi mới cơ cấu kinh tế, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần và chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa; kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý có kế hoạch theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Theo đó, “cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế Những quy định có tính nguyên tắc phải trở thành pháp luật để mọi người yên tâm, mạnh dạn kinh doanh” 19 Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3/1989) khẳng định: “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo luật pháp” 20
Sau 5 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) khẳng định sản xuất hàng hóa là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, nó không những không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà còn tất yếu cần thiết với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội khẳng định: “chúng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” 21
Với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X (01/2008) Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức lý luận của Đảng về
18 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Sđd, Tr 341.
19 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Sđd, Tr 545.
20 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 49, Nxb CTQG, H.2010, Tr 595.
21 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, Nxb CTQG, H.2010, Tr 19. cơ sở, điều kiện kinh tế của dân chủ xã hội chủ nghĩa có những bước tiến mới, mạnh mẽ và sâu sắc hơn Đảng ta nhấn mạnh: tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất; nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước bằng sự đồng bộ của hệ thống pháp luật
Tổng kết 25 năm đổi mới, văn kiện Đại hội XI tiếp tục bổ sung, điều chỉnh nhận thức về cơ sở, điều kiện kinh tế của dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trong đó, đáng chú ý là: đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh, bền vững; phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, tiếp tục tạo nền tảng cho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế; phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn; phát triển các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao; tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; phát triển kinh tế - xã hội hài hòa giữa các vùng, đô thị và nông thôn…
Trong gần 30 năm đổi mới, Đảng ta đã hình thành một hệ thống quan điểm lý luận mới về xây dựng điều kiện kinh tế để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế của đất nước Đó là, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại thông qua đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; thiết lập quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp bằng cách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ sở, điều kiện, nền tảng kinh tế, là cơ chế, phương thức cơ bản và là con đường tất yếu để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đây chính là sự trở về, tiếp tục, vận dụng và phát triển lý luận dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin
(nhất là Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin) và tư tưởng dân chủ của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong điều kiện mới ở Việt Nam Đây được xem là sáng tạo lý luận quan trọng có ý nghĩa thực tiễn to lớn, sâu sắc của Đảng ta trong tiến trình đổi mới.
Thực trạng phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam thời gian qua
Trong bài viết mới nhất của mình về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dực chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và tri thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội” 22 Từ đó chúng ta có thể thấy được Đảng và nhân dân ta luôn cố gắng thực hiện dân chủ trong mọi vấn đề trong suốt
35 năm đổi mới Công cuộc thực hiện dân chủ đó đã diễn ra trên toàn bộ hệ thống không chỉ dân chủ trong chính trị, văn hóa, xã hội… mà còn đạt được nhiều thành tựu to lớn cả trong kinh tế - lĩnh vực giữ vai trò nền tảng trong sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, trong suốt quá trình đó vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế tồn đọng trong lĩnh vực kinh tế mà Đảng và Nhân dân ta cần phải đồng sức đồng lòng để tìm hướng giải quyết trong thời gian tới để hướng tới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thành công Qua những gì tìm hiểu được, nhóm đã rút ra được những góc nhìn về thực trạng thực hiện dân chủ trong lĩnh vực kinh tế của nước ta trong thời gian qua.
2.2.1 Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay
Từ khi dành được độc lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức được dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Đó là nhận thức nhất quán của Đảng ta về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Tính nhất quán đấy được thể hiện rõ ràng và cụ thể ở
22 GS.TS Nguyễn Phú Trọng (16/05/2021) Một số vấn đề lý luận thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Truy cập từ: https://www.moha.gov.vn/tin-noi-bat/bai-viet- cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-ve-con-duong-di-len-cnxh-46173.html các văn kiện, nghị quyết Đại hội Đảng và những hoạt động chỉ đạo trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước Đại hội IV năm 1976 của Đảng đã khẳng định: “Để đưa cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” 23 Đại hội cũng đã chỉ rõ:
“Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động có tổ chức, mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo Để xây dựng quyền làm chủ tập thể về kinh tế, Đảng yêu cầu phải xoá bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa và cải tạo chế độ sở hữu cá thể, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể bằng những phương pháp và bước đi thích hợp” 24
Kỳ Đại hội tiếp theo năm 1982 cũng đã khẳng định một lần nữa: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa…” 25 Đại hội V còn nhấn mạnh: “Đường lối chung và đường lối kinh tế là một thể thống nhất hoàn chỉnh, trong đó có mấy vấn đề cần đặc biệt chú ý là: Nắm vững chuyên chính vô sản, xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa” 26
Tuy nhiên những chính sách đấy đã không thực sự đưa được vào thực tiễn đời sống của nhân dân, trong khi nền kinh tế chưa đủ điều kiện cơ sở vật chất để tiến lên chủ nghĩa xã hội thì Nhà nước lại thực thi chế độ quan liêu bao cấp Nhà nước loại bỏ dần thành phần kinh tế tư nhân thay vào đó là nền kinh tế do Nhà nước chỉ huy Việc
23 Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Nxb Sự thật, Hà Nội,
24 Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Nxb Sự thật, Hà Nội,
25 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, t.1 Nxb Sự thật, Hà Nội,
26 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, t.1 Nxb Sự thật, Hà Nội,
1982, tr.49. giao thương mua bán trên thị trường hoặc vận chuyển tự do hàng hóa từ địa phương này đến địa phương khác bị hạn chế đến tối đa Nhà nước có độc quyền phân phối hàng hóa theo chế độ tem phiếu và hạn chế trao đổi bằng tiền mặt Hậu quả là nước ta đã lâm vào giai đoạn nghèo khổ cùng cực, nhân dân thiếu đói nặng nề, sức lao động không được giải phóng Và kinh tế là lĩnh vực đã bị thiệt hại nặng nề nhất Để tổng kết lại thực trạng của xã hội Việt Nam thời đó, Giáo sư Trần Văn Thọ có viết như sau: "Mười năm sau 1975 là một trong những giai đoạn tối tăm nhất trong lịch sử Việt
Nam Chỉ nói về mặt kinh tế, là một nước nông nghiệp (năm 1980, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân) nhưng Việt Nam thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài Lượng lương thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến 1979, sau đó tăng trở lại nhưng cho đến năm 1981 vẫn không hồi phục lại mức năm 1976 Công thương nghiệp cũng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sống của người dân vô cùng khốn khó Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam Nguy cơ thiếu ăn kéo dài và những khó khăn cùng cực khác làm phát sinh hiện tượng "phá rào" trong nông nghiệp, trong mậu dịch và trong việc quyết định giá cả lương thực đã cải thiện tình hình tại một số địa phương Nhưng phải đợi đến đổi mới (tháng 12/1986) mới có biến chuyển thực sự Do tình trạng đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam trong 10 năm trước đổi mới chỉ tăng 35%, trong thời gian đó dân số tăng 22% Như vậy, GDP đầu người trung bình tăng chỉ độ 1% (mỗi năm)" 27
Từ thực tiễn đói khổ, cùng cực trong đời sống của nhân dân trong suốt 10 năm ròng rã Đảng ta đã có những nhận định phù hợp với tình hình thực tế để điều chỉnh chính xác và kịp thời để đưa đất nước ra khỏi tình cảnh lâm nguy Bước ngoặc đã đến vào năm 1986 Trên cơ sở là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và thực trạng của Việt Nam thời bấy giờ, đại hội VI đặt vấn đề giải phóng sức sản xuất; bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu tư; xây dựng, hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới
27 Việt Nam 40 năm qua và những năm tới: Cần một nền kinh tế thị trường định hướng phát triển , Trần Văn Thọ, tapchithoidai, số 33, tháng 7 năm 2015 Truy cập từ: https://vi.wikipedia.org/wiki/Thời_bao_cấp phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; khẳng định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xóa bỏ những thành kiến lệch lạc trong đánh giá, đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Những cải cách đó gọi chung là “Đổi mới” và được tiếp tục bổ sung những cải cách mới vào các kỳ Đại hội tiếp theo để đưa ra định hướng phát triển toàn diện cho đất nước về nhiều khía cạnh khác nhau Trong đó, những cải cách về kinh tế là trọng tâm và chiếm vai trò quan trọng nhất Nhà nước ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng đã bắt đầu chấp nhận sự tồn tại bình đẳng và hợp pháp của nhiều thành phần kinh tế trong xã hội, sau này đại hội IX đã quy định có 6 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; và có nhiều hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp Tuy vậy để đảm bảo phát triển đúng theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì kinh tế nhà nước vẫn phải đóng vai trò chủ đạo Nhờ những chính sách đó mà tin thần dân chủ trong kinh tế của nhân dân được thể hiện rõ nét hơn: “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo luật pháp” 28
Sau 5 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, với những chuyển biến bước đầu và cho thấy sự hiệu quả đúng đắn của nước đi này, Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 đã khẳng định lại sản xuất hàng hóa là thành tựu của văn minh nhân loại, không những nó không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà còn là yếu tố cần thiết tất yếu trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Từ đó Đại hội đã đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu xây dựng hoàn thiện cơ bản cở sở của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh Nhưng Cương lĩnh cũng không quên nhấn mạnh: “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường Mục tiêu của chặng đường đầu là: thông
28 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 49, Nxb CTQG, H.2010, tr.595. qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau” 29 Đến Đại hội XI năm 2011 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được bổ sung, phát triển thêm để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn cũng như đảm bảo được kịp với xu thế thay đổi của thế giới.
Nhiệm vụ cốt lõi của Cương lĩnh vẫn là soi đường, định hướng cho Đản, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và nhân dân ta cùng nhau tiến đến thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong những thập kỷ tiếp theo Với hi vọng nếu thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước ta sẽ nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc Dưới ngọn cờ của Cương lĩnh “chúng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” 30 Với những quyết sách đó nền kinh tế nước ta đã chuyển biến rõ rệt về nhiều mặt, nhưng dễ nhận thấy nhất là về mặt kinh tế đã có những chuyển biến hết sức tích cực: “Qua 35 năm, từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản, như: cà phê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ và sản phẩm từ gỗ luôn duy trì ở mức cao Các mặt hàng xuất khẩu khác cũng có bước tiến lớn Đặc biệt, trong bối cảnh bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch COVID-19 khiến hoạt động thương mại và đầu tư thế giới suy giảm, các nước nhập khẩu ngày càng siết chặt hàng rào phi thuế quan, bảo hộ trong nước gia tăng, thì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2020 vẫn đạt 543,9 tỷ USD, tăng 5,1% so với năm 2019; xuất siêu 19,1 tỷ USD - cao nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016 Với kim ngạch xuất nhập khẩu ấn tượng đã đưa Việt Nam xếp thứ 22 thế giới về quy mô kim ngạch và năng lực xuất khẩu, đứng thứ 26 về quy mô thương mại quốc tế Đây chính là bước tạo đà, tạo lực bứt phá cho hoạt động xuất nhập khẩu trong giai đoạn tới” 31 Hơn hết nhân dân đã được ấm no sung túc và tinh thần dân chủ trong kinh tế được thể hiện rõ nét hơn.
Giải pháp phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam thời gian tới32 KẾT LUẬN
Nhận ra một số vấn đề cũng như thách thức mà nước ta đang đối mặt, điều cần thiết là mau chóng đưa ra những giải pháp để khắc phục những thiếu sót Phát huy dân chủ trong kinh tế, lấy trọng tâm làm theo tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể áp dụng một số giải pháp như sau:
Một là,kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện mới của đất nước và tình hình thế giới Theo đó, cần nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt quan điểm dân là chủ, dân làm chủ; việc có lợi cho dân phải hết sức làm, việc có hại đến dân phải hết sức tránh; thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn; dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm dân chủ trong kinh tế gắn liền với dân chủ trong chính trị, văn hóa, xã hội; xây dựng điều kiện kinh tế đồng bộ, hài hòa với các điều kiện về chính trị, văn hóa, xã hội của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền văn hóa xã hội chủ nghĩa tiên tiến đậm đà bản sắc Việt Nam.
Hai là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước phải làm tốt vai trò kiến tạo phát triển thông qua hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật phù hợp Trong đó, bảo đảm: 1)
Giải quyết hài hòa các quan hệ về lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế, các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa chủ và thợ, giữa lợi ích của công nhân, nông dân, trí thức, doanh nghiệp và lợi ích của nhà nước, lợi ích trước mắt và lâu dài, lợi ích quốc gia và quốc tế; 2) Kinh tế nhà nước thực sự “giữ những vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật” 32 ;
3) Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh theo pháp luật; trong đó, cần đa dạng hóa các hình thức hợp tác phù hợp để gia tăng sản xuất, phát triển sản xuất nhằm mang lại no đủ, giàu có, thịnh vượng, công bằng, tiến bộ, hạnh phúc cho đa số nhân dân lao động; 4) Các tổ chức xã hội có điều kiện hợp tác, hỗ trợ nhà nước, khi cần thiết có thể đấu tranh với các thế lực tự phát của thị trường để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân…
Ba là, tiếp tục tập trung đầu tư nghiên cứu bổ sung, phát triển, làm sáng tỏ về nhận thức lý luận, hoàn thiện về mặt thể chế và quyết liệt, đồng bộ trong tổ chức thực thi để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là những vấn đề hệ trọng của quốc gia nên việc tìm kiếm phương án tối ưu cũng như việc thực thi các phương án đó nhất thiết phải huy động được sức mạnh tinh thần và vật chất của toàn dân tộc Không thể thực hiện thành công việc tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng để hướng đến tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững thực sự chỉ dựa vào tài năng, trí tuệ, tâm huyết của một số ít người và nếu chỉ bảo đảm lợi ích của một số nhóm người nào đó Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói đại ý rằng: Trong một nước dân chủ thì ai ai cũng có quyền thảo luận, tranh luận để cùng nhau tìm ra chân lý Khi chân lý đã tìm thấy rồi thì quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý; và, chân lý thì rất giản dị, đó là tất cả những gì ích quốc, lợi dân 33 Dân ở đây là tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, trong đó công, nông, trí thức là những bộ phận cơ bản, là gốc, nền tảng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, cần bảo đảm những điều kiện tốt nhất trong nghiên cứu lý luận, trong đổi mới tư duy về kinh tế; bảo đảm dân chủ trong xây dựng và thực thi chính sách, thể chế kinh tế vừa là mục tiêu, nhiệm vụ vừa là phương thức, động lực và là giải pháp chiến lược cho vấn đề tạo lập cơ sở kinh tế để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế ở nước ta hiện nay.
32 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb CTQG, H.2005, Tr 721.
33 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 8, Sđ d, Tr 216.
Dân chủ là một thành tố cơ bản trong hệ đặc trưng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang ra sức xây dựng Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung quan trọng trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc Trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta coi dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ là một trong những nội dung thể hiện bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, mà còn là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Vì vậy việc nghiên cứu dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện Đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là yêu cầu nghiêm túc và rất quan trọng đối với nước ta hiện nay
Mặt khác, qua bài tiểu luận ta nhận thấy dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ gắn với bản chất chính trị, tư tưởng – văn hóa – xã hội mà còn cả về kinh tế – lĩnh vực giữ vai trò nền tảng của sự phát triển xã hội Do đó, muốn kinh tế phát triển, ắt hẳn phải đi đôi với phát huy dân chủ xã hội mà cụ thể là phải phát huy dân chủ xã hội trong lĩnh vực kinh tế
Dựa trên những tiền đề tiên quyết, Đảng và nhà nước ta lấy cơ sơ lý luận của Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm trọng tâm, đã xây dựng và phát triển một nền kinh tế mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo mọi điều kiện phát triển cho kinh tế nước ta Thực tế chứng minh, Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ trên thị trường kinh tế thế giới; quá trình dân chủ hóa đời sống kinh tế đã nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng, lạc hậu Những chính sách sáng suốt của Đảng ta đã đem đến nhiều thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế xã hội, ngày một nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân.
Song, dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ mới xuất hiện trong thời gian ngắn, hiển nhiên mọi sự tiếp cận đối với nó vẫn còn quá ít ỏi Do đó, nước ta không tránh khỏi những sai sót xảy ra trong quá trình phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, để phát huy sáng kiến và tư duy độc lập của cán bộ, đảng viên cần có quy định về chế độ cung cấp, cập nhật thông tin thường xuyên cho cán bộ, đảng viên, bảo đảm quyền được thông tin của đảng viên Là Đảng duy nhất cầm quyền, một số cán bộ, đảng viên không nhận thức đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ đã dẫn đến lạm quyền, bao biện, làm thay, độc đoán, gia trưởng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Do đóViệc này đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách nghiêm túc và lâu dài
Do đo, đây là vấn đề vô cùng cấp bách và thiết thực, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách nghiêm túc và lâu dài Việc này không chỉ cần sự quan tâm của những nhà cầm quyền mà còn là trách nhiệm chung của nhân dân, của toàn xã hội Cần phải phổ biến, tuyên truyền cho toàn dân và phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực kinh tế nói riêng và trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội nói chung.
Trong điều kiện mới, để tiếp tục đổi mới tư duy, phát triển nhân thức lý luận về dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cần tập trung giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn đặt ra trên cơ sở lý luận của các nhà chính trị, chủ nghĩa khoa học xã hội Ngày càng hoàn thiện và phát huy tối đa những thuận lợi mà dân chủ xã hội chủ nghĩa mang lại sẽ giúp đất nước ta ngày một phát triển trên thị trường thế giới.