1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dự báo của các yếu tố trường học đến sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên phổ thông = prediction of school factors on teachers job satisfation

12 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yểu tố lãnh đạo quản lý, đồng nghiệp, tố chức khỏa bồi dưỡng chuyên môn và học sinh cũng như cha mẹ có khả năng ảnh hưởng đến sự hài lòng nghề nghiệp của

Trang 1

Dự BÁO CỦ A CÁC YẾU TỐ

Phan Thị Mai Hương

Viện Tâm lý học.

Trần Hoàng Thị Diễm Ngọc

Trường Đại học Thăng Long.

TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện nhằm chỉ ra khả năng dự bảo của các yếu tố trường học đến hài lòng nghề nghiệp của giáo viên Mau nghiên cứu gồm 656 giáo viên phố thông các trường công lập Bảng hỏi gồm thang đo Hài lòng nghề nghiệp, các yếu tổ trường học và các thông tin cá nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy các yểu tố lãnh đạo quản lý, đồng nghiệp, tố chức khỏa bồi dưỡng chuyên môn và học sinh cũng như cha

mẹ có khả năng ảnh hưởng đến sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên Nghiên cứu cũng chỉ ra 4 yếu tố mạnh nhất trong dự bảo cho hài lòng nghề nghiệp của giáo viên

là sự quan tâm của phụ huynh đến việc học của con, đồng nghiệp nhiệt huyết với đối mới giáo dục, học sinh cỏ thái độ học tập tốt và tính hiệu quả cùa các khỏa bồi dưỡng chuyên môn Ỷ nghĩa của kết quả nghiên cứu và hạn chế của nghiên cứu cũng được bàn luận trong bài viết.

Từ khóa: Giảo viên phổ thông; Hài lòng nghề nghiệp; Yểu tổ trường học Ngày nhận bài: 18/6/2021; Ngày duyệt đăng bài: 25/3/2022

1 Mở đầu

Phạm vi khái niệm về sự hài lòng trong công việc khá rộng, nó bao gồm tất cả các đặc điểm của công việc và môi trường làm việc mà người lao động thấy có ích và thỏa mãn (Churchill và cộng sự, 1974; Snipes và cộng sự, 2005)

Từ góc độ này có thể đánh giá sự hài lòng nghề nghiệp được hình thành khi người lao động thỏa mãn với các chiều cạnh khác nhau của nghề O góc độ khác, nhiều nhà nghiên cứu lại xem xét hài lòng công việc xuất phát từ quá trình nhận thức của người lao động về vai trò nghề nghiệp mà mình đảm nhiệm Chẳng hạn như, Ho và Au (2006) cho rằng sự hài lòng trong giảng dạy bao gồm một quá trình nhận thức, phán đoán được đo lường bằng trạng thái cảm xúc của giáo viên

Trang 2

Hay nói cách khác, sự hài lòng đối với công việc của một giáo viên phụ thuộc rất nhiều vào mức độ cảm nhận về các vai trò do người sử dụng lao động quy định Một khi các vai trò được nhận thức, giáo viên sẽ có những kỳ vọng của riêng mình đối với công việc từ các cơ quan quản lý có liên quan (Wangai, 2012)

Nghiên cứu về sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên được quan tâm bởi vai trò của chính sự hài lòng đó với hiệu quả làm việc của họ Sự hài lòng trong công việc ảnh hưởng đến nhiệt tình trong công việc và sức khỏe tâm thần, góp phần cải thiện sức khỏe tống thế của giáo viên (Cherrington, 1994), thậm chí là “yếu tố quyết định” thái độ và hiệu quả làm việc của giáo viên (Caprara và cộng sự, 2003)

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã xác nhận các nhóm yếu tố liên quan đến

sự hài lòng của giáo viên phổ thông Một mặt, đó là cảcyểu tổ động lực, ví dụ như nhu cầu và động lực bên trong (Ellis, 1984), tính chủ động, kỳ năng, tự do và độc lập, sự sáng tạo (Pastor, 1982) Bên cạnh đó, các yểu to môi trường cũng có góp phần quan trọng đến sự hài lòng của giáo viên, ví dụ: năng lực và tính công bằng của người lãnh đạo (Flippo, 1984); các vai trò do người sử dụng lao động quy định (Wangai, 2012), kinh nghiệm tổ chức của lãnh đạo, tạo không khí làm việc, tạo

cơ hội cho giáo viên, cung cấp nhiều nguồn tài nguyên giảng dạy và khuyến khích giáo viên (Demirtas, 2010; Sargent và cộng sự, 2005); sự tương tác với đồng nghiệp

và học sinh, với phụ huynh (Huang và Van de Vliert, 2004; Yetim và Yetim, 2006; Demirtas, 2010); điều kiện làm việc, đồng nghiệp, thu nhập và năng lực chuyên môn (George và cộng sự, 2008) Kyriacou (2001) đã nhận định giáo viên trong các trưởng học có sự giao tiếp tốt vói đồng nghiệp và tinh thần tập thể cao sẽ có mức

độ căng thẳng thấp hơn và mức độ cam kết làm việc tốt cũng như sự hài lòng trong công việc cao hơn

Có thể thấy sự hài lòng nghề nghiệp của người lao động nói chung, giáo viên nói riêng phụ thuộc vào đa dạng các yếu tố tổ chức và cá nhân, trong đó có cả các yếu tố mang đặc trưng của hoạt động nghề Trong đổi mới giáo dục, giáo viên

là người phải truyền tải các thông điệp giáo dục mang tinh thần đổi mới đến học sinh Vì thế, họ sẽ chịu rất nhiều áp lực khác nhau Trong bối cảnh đó, việc quan tâm đến sự hài lòng nghề nghiệp của các thầy cô là điều cần thiết Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi: (1) Các yếu tố trường học có liên quan như thế nào với sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên phổ thông; (2) Trong số đó, yếu tố nào có thể dự báo mạnh nhất cho sự hài lòng nghề lòng nghề nghiệp của họ?

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Mau nghiên cứu

Mầu nghiên cứu gồm 656 giáo viên các trường tiểu học, THCS và THPT công lập được chọn theo cách thuận tiện tại các lóp tập huấn nghiệp vụ mùa hè

Trang 3

năm 2019 cho giáo viên tổ chức tại Thành phố Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nằng, Buôn

Ma Thuột (Đắk Lắk) và tại một số trường học tại Thừa Thiên - Huế và Thành phố

Hồ Chí Minh Họ là những giáo viên đang trực tiếp dạy học, tuổi trung bình là 37,

độ lệch chuẩn (SD) là 7 năm; nam chiếm 22,3%; nừ chiếm 77,7%; giáo viên tiều học: 20,6%; THCS: 24,6% và THPT: 54,9%

2.2 Công cụ nghiên cứu

Thang Hài lòng nghề nghiệp của giáo viên gồm 8 mục (item) liên quan đến nghề nghiệp của giáo viên (nghề giáo nói chung, đồng nghiệp, môi trường văn hóa nhà trường, thu nhập, năng lực chuyên môn, cơ hội thăng tiến, học sinh, phụ huynh) Người trả lời được đề nghị đánh giá mức độ hài lòng của mình về những khía cạnh đó trên thang điêm tù’ 0 đến 10, trong đó, 0 là hoàn toàn không hài lòng

và 10 là hài lòng mỹ mãn

10 item là các yếu tố môi trường học đo lường 4 nhóm yếu tố: lãnh đạo - quản lý, đồng nghiệp, học tập chuyên môn và đối tượng làm việc của giáo viên phổ thông là học sinh và cha mẹ học sinh Các câu có dạng như: “Ớ trường tôi, những giảo viên tốt đều được khen một cách xứng dang", “Nội dung các khóa tập huân nghiệp vụ không hấp dẫn". Thang điểm nhị phân (1/0) trong đó 1 là “có” và 0 là

“không” để đo lường các yếu tố này

2.3 Phân tích

Cách tính điểm: mức độ hài lòng nghề nghiệp chung được tính bằng trung bình cộng của sự hài lòng về từng khía cạnh nghề nghiệp Các tham số thống kê mô

tả được sử dụng trong giới thiệu biến phụ thuộc và các biến độc lập trong nghiên cứu

Hồi quy tuyến tính được áp dụng để phân tích dự báo của các yếu tố trường học đối với hài lòng nghề nghiệp Có 5 mô hình hồi quy bội được xây dựng, trong

đó 4 mô hình xem xét khả năng dự báo của 4 nhóm yếu tố: đặc điểm người quản

lý, thái độ học tập chuyên môn của đồng nghiệp, cách thức tổ chức học tập nghiệp

vụ, đặc điểm học sinh và phụ huynh và một mô hình tống họp đế xác định mức độ

dự báo của các yếu tố trường học có ý nghĩa nhất đối với sự hài lòng nghề Kiềm định các giả định cần thiết của phép phân tích hồi quy bội đã xác nhận không có hiện tượng đa cộng tuyến (với hệ số phóng đại phương sai dao động trong khoảng

từ 1,013 đến 1,600 trong các mô hình) và không có hiện tượng tự tương quan (Hệ

số Dubin-Watson từ 1,823 đến 1,828)

3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận

3.1 Thống kê mô tả các biến phụ thuộc và biến độc lập

Điểm trung bình của biến phụ thuộc (sự hài lòng chung về nghề nghiệp của giáo viên phổ thong) là 6,79 - một mức điểm trên trung vị, với độ lệch chuẩn là 1,44 Với độ nghiêng -0,25 cho thấy dừ liệu dù có chút nghiêng nhẹ về bên trái

Trang 4

nhưng có xu hướng gần với điểm 0 Điểm thấp nhất của phân bố là 3,63 và cao nhất

là 10 cho thấy bên cạnh những giáo viên rất hài lòng cũng có những giáo viên ít hài lòng với nghề của mình Phân bố tập trung xung quanh điểm 7 và dốc đều sang hai bên cho thấy phân bố tiệm cận chuẩn

Các yếu trường học trong nghiên cứu này được tập trung nhiều hom vào hoạt động nghề nghiệp của giáo viên trong bối cảnh đoi mới giáo dục: hành vi liên quan công tác quản lý của người lãnh đạo, các yếu tố đồng nghiệp liên quan đến thái

độ làm việc/học tập, các yếu tố liên quan đen công tác tô chức học tập nghiệp vụ của giáo viên đe đáp ứng yêu cầu đôi mới giáo dục và các đối tượng mà nghề giáo cần quan tâm là học sinh và phụ huynh Tỷ lệ cho các câu trả lời “có” của các yếu

tố trường học được xem xét trong nghiên cứu này dao động từ 30,8% (Ở trường tôi, giáo viên ít hào hứng với việc bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn) đến 88,7% (Ở trường tôi, giáo viên luôn được khuyến khích học tập chuyên môn) Chi tiết ở bảng 1

Bảng 1: Phân bố của các yếu tổ trường học (tỷ lệ %) (N = 680)

Yếu tố lãnh đạo - quản lý Có Không

Trong trường, giáo viên luôn được khuyến khích đi học nâng cao trình độ

Hiệu trưởng thường có yêu cầu cao đối với giáo viên 78,9 21,1 Trong trường, những giáo viên tốt đều được khen một cách xứng đáng 85,4 14,6 Ban giám hiệu thể hiện rõ quyết tâm phải đôi mới việc dạy và học trong

nhà trường theo tinh thần của đổi mới giáo dục 87,3 12,7

Yếu tố đồng nghiệp

Nhìn chung, giáo viên trong trường ít hào hứng với việc bồi dường

Các đồng nghiệp trong trường tôi đều trong trạng thái nhiệt huyết thực

hiện các yêu cầu mà đối mới giáo dục đặt ra 59,2 40,8

Yêu tô tô chức học tập chuyên môn

Nội dung các khóa tập huấn thường không hấp dẫn đối với giáo viên 39,8 60,2 Các khóa bồi dưỡng chuyên môn thường không hiệu quả như giáo viên

Yêu tố học sinh và cha mẹ học sinh

Học sinh lớp tôi dạy phần lớn là những học sinh ngoan, có thái độ học

Phụ huynh lớp tôi dạy, phần lớn, quan tâm đến việc học hành của con cái 73,0 27,0

Trang 5

3.2 Dự bảo của yếu tố trường học đối với sự hài lòng nghề nghiệp của

giáo viên phố thông

3.2.1 Dự báo của các yếu tổ lãnh đạo - quản lý

Vai trò của người lãnh đạo - quản lý trong trường phổ thông góp phần quan trọng trong việc xây dựng môi trường giáo dục toàn diện thế hiện qua tầm nhìn, phong cách lãnh đạo cũng như cách ứng xử, giải quyết công việc trong trường học

Ở đây chúng tôi xem xét một số đặc điểm người lãnh đạo - quản lý có liên quan đến sự hài lòng nghề nghiệp của người dưới quyền hay không

Bảng 2: Mô hình hồi quy nhỏm yểu tố quản lỷ đến hài lòng nghề nghiệp

của giáo viên phô thông

Mô hình 1 B Beta t p

Trong trường, giáo viên luôn được khuyến khích

đi học nâng cao trình độ nghề 0,496 0,114 2,758 0,006 Hiệu trưởng thường có yêu cầu cao đối với giáo

Trong trường, những giáo viên tốt đều được khen

Ban giám hiệu thể hiện rõ quyết tâm đổi mới việc

dạy và học trong nhà trường theo tinh thần của đổi

mới giáo dục

0,170 0,050 1,218 0,224

R2 hiệu chỉnh = 0,037; F = 6.972; p < 0,001

Kết quả phân tích hồi quy được hiển thị ở bảng 2 cho thấy, mô hình các yếu tố lãnh đạo - quản lý có ý nghĩa thống kê trong việc dự báo cho hài lòng nghề nghiệp của giáo viên (p < 0,001) Tập hợp các biến số trong mô hình có thể giải thích được 3,7% cho biến phụ thuộc, tức là biên độ tác động của mô hình này đến biến phụ thuộc là khá nhỏ Trong mô hình, biến số “Ban Giảm hiệu thể hiện rõ quyết tâm đoi mới việc dạy và học trong nhà trường theo tỉnh thần của đổi mới giáo dục" không có ý nghĩa đáng kể đối với sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên (p = 0,224 > 0,05) Các biến số còn lại có ý nghĩa thống kê trong dự báo cho biến phụ thuộc với p < 0,05, trong đó, việc người hiệu trưởng có yêu cầu cao đối với giáo viên có khả năng khiến mức độ hài lòng của giáo viên giảm đi (B = -0,266; p = 0,017) so với người không có yêu cầu cao, còn việc giáo viên được khuyến khích học tập hoặc được khen xứng đáng có khả năng làm cho giáo

Trang 6

viên hài lòng hơn với nghề của mình (B = 0,496 và 0,317 tương ứng p < 0,05) so với người không được khen/không được khuyến khích học tập Trong mô hình, khi

bị kiếm soát bởi các biến số khác, việc người lãnh đạo khuyến khích giáo viên học tập chuyên môn có vai trò tác động mạnh hơn cả đến sự hài lòng nghề nghiệp của

họ (0 = 0,114; p = 0,006)

Có thể thấy, yếu tố lãnh đạo - quản lý, cụ thể là các đặc điểm của người lãnh đạo như khuyến khích, khen khi giáo viên xứng đáng, có yêu cầu cao với giáo viên có thê khiến người dưới quyền hài lòng hơn hoặc kém hài lòng hơn với nghề nghiệp của mình

Leithwood và Jantzi (2000) đã xác định sáu đặc diêm chính của các nhà lãnh đạo giáo dục mang tính chuyển đôi: xây dựng tầm nhìn và mục tiêu cùa nhà trường, thúc đẩy giáo viên nâng cao nghiệp vụ, duy trì khen thưởng, đổi mới các hoạt động chuyên nghiệp có ý nghía, thể hiện kỳ vọng hoàn thành và phát triển

kế hoạch để đáp ứng và tham gia vào các quyết định của trường Nếu người quản

lý làm tốt các vai trò này có thế mang đến sự hài lòng nghề nghiệp cho giáo viên Nghiên cứu này cũng xác nhận việc người lãnh đạo - quản lý nhà trường có cách thức thích hợp thúc đay giáo viên sẽ làm cho giáo viên hài lòng với nghề hơn, nhưng đưa ra các yêu cầu cao cho giáo viên thì có tác động theo hướng ngược lại Dường như, hài lòng hơn khi được khen, được khích lệ là đặc điểm chung cùa mọi người, dù đó là người Việt hay người nước ngoài, nhưng với giáo viên trên mẫu nghiên cứu này, trước những yêu cầu cao trong công việc, hay có thể hiểu là bị rơi vào tình huống phải nồ lực hơn để thực hiện yêu cầu thì sự hài lòng nghề nghiệp có the bị giảm sút Neu như được khen/ được khuyến khích và thực hiện yêu cầu cao

là hai vế cần tương đương nhau thì rõ ràng người lãnh đạo sẽ gặp khó trong trường họp này để người dưới quyền hài lòng hơn

Vai trò của lãnh đạo cũng như các đổi tượng nghề nghiệp khác của giáo viên đối với sự hài lòng nghề cũng xuất hiện trong nghiên cứu của Greenglass và Burke (2003) Ket quả cho thấy việc giảng dạy có thể mang lại sự hài lòng cho giáo viên, nhưng nó cũng mang lại căng thăng với những yêu cầu từ ban giám hiệu, đồng nghiệp, học sinh và phụ huynh cộng với tình trạng quá tải công việc, hành vi sai trái của học sinh và sự thiểu công nhận đối với thành tích Từ đây, nhiều nghiên cứu cần được tiến hành để xác định sâu sắc hơn vai trò của yếu tố lãnh đạo - quản

lý đối với sự hài lòng nghề của giáo viên

3.2.2 Dự báo của các yêu tô đông nghiệp

Đồng nghiệp là một yếu tố đa chiều trong một tổ chức Đó có thể là quan

hệ giữa đồng nghiệp trong đời sống nói chung, hoặc/và trong công việc nói riêng Đó cũng có thể là tấm gương về nhiều mặt trong tập thể: thái độ làm việc, năng suất lao dộng Đó cũng có thể là những người tạo nên môi trường làm việc,

Trang 7

không khí làm việc Ở đây, trong bối cảnh đổi mới giáo dục, chúng tôi quan tâm đến thái độ học tập và làm việc theo tinh thần đổi mới của đồng nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên

Dữ liệu ở bảng cho thấy mô hình các yếu tố đồng nghiệp có ý nghĩa thống kê trong dự báo cho sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên phổ thông và giải thích được 4,9% cho biến phụ thuộc (p < 0,001) Kết quả cho thấy, được làm việc với các đồng nghiệp nhiệt huyết với đổi mới có thể tăng cường mức độ hài lòng (B = 0,341; p < 0,001) nhưng làm việc với những đồng nghiệp ít hào hứng với việc nâng cao nghiệp vụ có thế làm giảm sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên (B =-0,353; p - 0,001)

Bảng 3: Dự báo của yếu tố đồng nghiệp cho hài lòng nghề nghiệp

của giảo viên phố thông

Mô hình 2 B Beta t p

Giáo viên ít hào hứng với việc bồi dưỡng nghiệp vụ -0,353 -0,141 -3,494 0,001 Các đồng nghiệp nhiệt huyết với đổi mới 0,341 0,146 3,615 < 0,001

R2 hiệu chỉnh = 0,049; F = 17,048; p< 0,001

Có thể thấy, đối với sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên, thái độ học tập nghề nghiệp của đồng nghiệp có vai trò khá quan trọng

3.2.3 Dự bảo của yểu tố tố chức học tập nghề nghiệp

Trong hoạt động giảng dạy, dù có dạy theo phương pháp truyền thống hay đổi mới thì việc giáo viên hiểu sâu kiến thức, nắm vững kỹ năng luôn giữ vai trò chủ đạo, quyết định đến thành công của quá trình dạy học, từ đó khiến họ hài lòng với nghề nghiệp của mình Một đặc trưng của khối phố thông là giáo viên thường xuyên được bồi dường kiến thức chuyên môn Đây là cách để giáo viên được cập nhật kiến thức, bổ sung những nội dung mới Nhất là trước yêu cầu của đổi mới giáo dục, được tập huấn phương pháp giảng dạy, cách thức tổ chức lớp học lấy người học làm trung tâm, cách thức soạn bài giảng theo chương trình mới là điều rất quan trọng để giáo viên nắm vững về chuyên môn, tự tin hơn khi lên lớp

Ở đây chúng tôi xem xét vai trò của cách thức tổ chức các khóa bồi dưỡng này có liên quan đến sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên hay không

Kết quả bảng 4 cho thấy, mô hình có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 99,9% (p < 0,001) Biên độ giải thích cho biến phụ thuộc của mô hình này là

Trang 8

5,1% là một tỷ lệ khá khiêm tốn cho cả mô hình Cả hai biến số trong mô hình đều có thế khiến sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên giảm đi, trong đó tính kém hiệu quả của khóa tập huấn có khả năng làm giảm sự hài lòng mạnh hơn (Beta =-0,162)

Bảng 4: Dự báo của yên tô liên quan tô chức học tập nghê nghiệp cho hài lòng

nghê nghiệp của giảo viên phô thông

Mô hình 3 B Beta t p

Nội dung các khóa tập huấn nghiệp vụ không hấp

Các khóa bồi dưỡng chuyên môn không hiệu quả

R2 hiệu chỉnh = 0,051; F = 17.649; p < 0,001

3.2.4 Dự báo của yếu tố học sinh và cha mẹ học sinh

Học sinh và cha mẹ học sinh là hai đối tượng làm việc của giáo viên Nếu như học sinh là đối tượng giáo dục mà giáo viên cần làm việc hàng ngày thì cha mẹ học sinh là đối tượng phối hợp Dù ít gặp trực tiếp hơn, nhưng giáo viên vẫn liên lạc với cha mẹ học sinh khi cần thiết Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của 2 đối tượng này đến sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên

Bảng 5: Dự báo của yếu tổ học sinh và phụ huynh cho hài lòng nghê nghiệp cùa giáo viên phô thông

Mô hình 4 B Beta t p

Học sinh phần lớn ngoan, có thái độ học tập tốt 0,404 0,166 3,545 <0,001 Phụ huynh quan tâm đến việc học hành của con cái 0,428 0,166 3,534 <0,001

R2 hiệu chinh = 0,084; F = 29.676; p < 0,001

Khả năng tác động của nhóm yếu tố học sinh và phụ huynh đến hài lòng nghề nghiệp của giáo viên phổ thông được quan tâm thể hiện qua các biến số

Trang 9

gồm: Học sinh phần lớn ngoan, có thái độ học tập tốt và Phụ huynh quan tàm đến việc học hành của con cái

Kết quả ở bảng 5 cho thấy nhóm yếu tố học sinh và phụ huynh có khả năng dự báo hài lòng nghề nghiệp của giáo viên (p < 0,001), với tỷ lệ giải thích

là 8,4% Như thế, khi học sinh ngoan, có thái độ học tập tốt và phụ huynh quan tâm đen việc học hành cùa con cái thì giáo viên sẽ thêm hài lòng với nghề dạy học của mình Kết quả này gần với phát hiện của Sulak và cộng sự (2018), trong

đó, tác giả chỉ ra rằng, sự hài lòng với nghề nghiệp của giáo viên có liên quan đến sự hài lòng của học sinh và cha mẹ với nhà trường Trên một bình diện khác, kết quả của Klassen và Chiu (2010) cũng cho thấy, thái độ tiêu cực của học sinh trong giờ học có thể khiến giáo viên tăng căng thẳng và có thể làm cho hiệu quả giảng dạy bị giảm sút

3.2.5 Dự báo của các yếu tổ mạnh nhât cho hài lòng nghề nghiệp

Tổng hợp các yếu tố có khả năng dự báo có ý nghĩa thống kê cho hài lòng nghề nghiệp của giáo viên qua 4 mô hình trên vào mô hình tổng họp cho thấy, khi

bị kiểm soát bởi các yếu tố khác thì các yếu tố quản lý, một yếu tố đồng nghiệp và một yếu tố tổ chức việc học tập nghiệp vụ, chuyên môn không còn khả năng tác động có ý nghĩa thống kê đến sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên Bốn yếu tố còn lại được tổng họp vào mô hình 5

Bảng 6: Dự báo của các yếu tố mạnh nhất cho hài lòng nghề nghiệp

của giáo viên phô thông

Mô hình 5 B Beta t p

Các đồng nghiệp nhiệt huyết với đổi mới 0,299 0,129 30,325 0,001 Các khóa bồi dưỡng chuyên môn không hiệu quả như

Học sinh phần ỉớn ngoan, có thái độ học tập tốt 0,261 0,108 2,250 0,025 Phụ huynh quan tâm đến việc học hành của con cái 0,436 0,169 3,616 < 0,001

R2 hiệu chinh = 0,127; F = 23.250; p < 0,001 Kết quả cho thấy, mô hình có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) và giải thích được 12,7% cho sự biến thiên của hài lòng nghề nghiệp Trong mô hình, khi các biến số khác không thay đổi, sự nhiệt huyết với đoi mới giáo dục của đồng nghiệp (B = 0,299; p = 0,001), học sinh có thái độ học tập tốt (B = 0,108; p = 0,261), phụ huynh quan tâm đến việc học của con (B = 0,436; p < 0,001) có thể làm cho

Trang 10

giáo viên hài lòng với nghề của mình hơn, còn tính không hiệu quả của các khóa tập huấn chuyên môn cho giáo viên có thể khiến mức độ hài lòng nghề nghiệp của

họ bị giảm đi (B = -0,344) Đây chính là những yếu tố có khả năng tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của giáo viên với nghề dạy học của mình Mô hình 4 cũng cho thấy, vai trò nôi trội hơn cả của sự đồng hành của phụ huynh với học hành của con cái, phối họp với nhà trường cùng dạy dỗ con (P = 0,169; p < 0,001) Điều này cũng cho thấy, yếu tố cha mẹ học sinh thực sự quan trọng, góp phần nâng đờ trạng thái tinh thần tích cực của người giáo viên trong bối cảnh hiện nay dù họ không là đói tượng trực tiếp của hoạt động giáo dục của giáo viên

4 Kết luận *

Tổng họp kết quả nghiên cứu, có thể thấy một số điểm sau đây:

Thứ nhất, các yếu tố lãnh đạo - quán lý, đồng nghiệp, tổ chức học tập chuyên môn và đối tượng làm việc (học sinh và phụ huynh) đều có khả năng có thể tác động đến mức độ hài lòng nghề nghiệp của giáo viên Tuy nhiên, biên độ tác động của các nhóm yếu tố này đến hài lòng nghề nghiệp là tương đối nhỏ

Thứ hai, nghiên cứu chỉ ra mô hình các yểu tố trường học có khả năng tác động mạnh nhất đến sự hài lòng nghề nghiệp của giáo viên Cụ thể, được làm việc trong môi trường mà ở đó có các đồng nghiệp ủng hộ đổi mới giáo dục bằng các hành động nhiệt huyết của mình, được dạy dỗ những học sinh ngoan, có thái độ học tập tốt, được phối họp làm việc với những phụ huynh quan tâm đến việc học của con, giáo viên sẽ có mức độ hài lòng với nghề nghiệp cao hơn Ngược lại, việc

tố chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn không hiệu quả sẽ làm giảm mức độ hài lòng nghề nghiệp của thầy cô

Thứ ba, trong bối cảnh đôi mới giáo dục, yếu tổ có khả năng tác động mạnh nhất đến mức độ hài lòng cùa giáo viên với nghề là cha mẹ học sinh

Ket quả nghiên cứu đã góp phần cung cấp những hiểu biết sâu hơn về các yếu tố có thể khiến giáo viên hài lòng hơn hoặc suy giảm sự hài lòng với nghề Đây

là cơ sở khoa học đê các nhà quản lý giáo dục xem xét khi đưa ra những quyết định trong trường học, góp phần làm chất lượng cuộc sống nghề nghiệp của giáo viên ngày càng được nâng cao trước áp lực của những yêu cầu cần thay đổi đối với giáo viên trong công cuộc đổi mới giáo dục

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả trên, nghiên cứu cũng có một số hạn chế

về mẫu chọn Nghiên cứu sử dụng mầu thuận tiện chứ không phải mầu đại diện, nên khả năng khái quát hóa kết quả còn hạn chế Bên cạnh đó, các yếu tố trường học trong nghiên cứu này cũng chỉ giới hạn trong những khía cạnh có liên quan đến đổi mới giáo dục chứ chưa bao quát toàn bộ các yếu tố trường học nói chung

Ngày đăng: 26/10/2022, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w