1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu huấn luyện an toan hoa chat ANH CƯỜNG

118 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với diện tích bề mặt phổi 90m2 ở một người lớn khỏe mạnh; trong đó có 70 m2 là diện tích tiếp xúc của phế nang; ngoài ra còn có một mạng lưới mao mạch với diện tích 140 m2, dòng máu qua

Trang 1

CÔNG TY TNHH MTV ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ECO

VIỆN ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ECO

TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN AN TOÀN HÓA CHẤT

Trang 2

CHUYÊN ĐỀ 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

TRONG HOẠT ĐỘNG HÓA CHẤT

1 GIỚI THIỆU CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ HÓA CHẤT

- Luật hóa chất năm 2007;

- Nghị định 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 của Chính phủ Quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất;

- Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón và vật liệu nổ côngnghiệp;

- Nghị định số 115/2016/NĐ-CP ngày 08/7/2016 sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón và vật liệu nổ côngnghiệp;

- Thông tư 32/2017/TT-BCT ngày 28/12/2017 của Bộ Công Thương quy định

cụ thể và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hóa chất và Nghị định113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Luật Hóa chất;

- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5507:2002 về Hóa chất nguy hiểm - Quy phạm

an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành

Trang 3

CHUYÊN ĐỀ 2: CÁC YẾU TỐ NGUY HIỂM TRONG SẢN

XUẤT, KINH DOANH, BẢO QUẢN VÀ SỬ DỤNG HÓA CHẤT

CỦA CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG HÓA CHẤT

1 TÁC HẠI CỦA HÓA CHẤT ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Trong những năm gần đây, vấn đề được quan tâm ngày càng nhiều là ảnh

hưởng của hóa chất đến sức khỏe con người, đặc biệt là người lao động

Nhiều hóa chất đã từng được coi là an toàn nhưng nay đã được xác định là có

liên quan đến bệnh tật, từ mẩn ngứa nhẹ đến suy yếu sức khỏe lâu dài và ung thư

Do vậy cần thiết phải quan tâm tới tất cả các hóa chất

1 Sự độc hại của hóa chất

Các yếu tố quyết định mức độ độc hại của hóa chất, bao gồm độc tính, đặc

tính vật lý của hóa chất, trạng thái tiếp xúc, đường xâm nhập vào cơ thể và tính

mẫn cảm của cá nhân và tác hại tổng hợp của các yếu tố này

1.1.1 Đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thể con người

Hóa chất có thể đi vào cơ thể con người theo 3 đường:

- Đường hô hấp: khơi hít thở các hóa chất dưới dạng khí, hơi hay bụi

- Hấp thụ qua da: khơi hóa chất dây dính vào da

- Đường tiêu hóa: do ăn, uống phơi thức ăn hoặc sử dụng những dụng cụ ăn

đã bị nhiễm hóa chất

a Qua đường hô hấp

Hệ thống hô hấp bao gồm đường hô hấp trên (mũi, mồm, họng); đường thở

(khí quản, phế quản, cuống phổi) và vùng trao đổi khí (phế nang), nơi ôxy từ

không khí vào máu và đioxit cacbon từ máu khuyếch tán vào không khí

Đối với người lao động trong công nghiệp, hít thở là đường vào thông thường

và nguy hiểm nhất Với diện tích bề mặt phổi 90m2 ở một người lớn khỏe mạnh;

trong đó có 70 m2 là diện tích tiếp xúc của phế nang; ngoài ra còn có một mạng

lưới mao mạch với diện tích 140 m2, dòng máu qua phổi nhanh và nhiều tạo điều

kiện dễ dàng cho sự hấp thu qua phế nang vào mao mạch của các chất có trong

không khí; và bình thường một người lao động hít khoảng 8,5m3 không khí trong

một ca làm việc 8 giờ Vì vậy, hệ thống hô hấp thực sự là đường vào thuận tiện cho

hóa chất

Trang 4

Trong khi thở, không khí có lẫn hóa chất vào mũi hoặc mồm, qua họng, khíquản và cuối cùng tới vùng trao đổi khí, tại đó hóa chất lắng đọng lại hoặc khuếchtán qua thành mạch vào máu

Một hóa chất khi lọt vào đường hô hấp sẽ kích thích màng nhầy của đường hôhấp trên và phế quản - đây là dấu hiệu cho biết sự hiện diện của hóa chất Sau đó,chúng sẽ xâm nhập sâu vào phổi gây tổn thương phổi hoặc lưu hành trong máu

Mức độ thâm nhập của các hạt bụi vào cơ thể phụ thuộc vào kích thước hạt vàtính tan của chúng Chỉ những hạt nhỏ (đường kính nhỏ hơn 1/7000 mm) mới tớiđược vùng trao đổi khí Những hạt bụi này sẽ lắng đọng ở đó hoặc khuếch tán vàomáu tùy theo độ tan của hóa chất Những hạt bụi không hòa tan gần như được loạitrừ bởi bộ phận làm sạch của phổi Những hạt bụi lớn hơn sẽ được lông mũi giữ lạihoặc lắng đọng dọc theo khí, phế quản, cuối cùng chúng sẽ được chuyển tới họng

và nuốt, ho, hay khạc ra ngoài

b Hấp thụ hóa chất qua da

Một trong những đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thểlà qua da Độ dàycủa da cùng với sự đổ mồ hôi và tổ chức mỡ ở lớp dưới da có tác dụng như mộthàng rào bảo vệ chống lại việc hóa chất xâm nhập vào cơ thể và gây các tổnthương cho da

Hóa chất dây dính trên da có thể có các phản ứng sau:

- Phản ứng với bề mặt của da gây viêm da xạ phát;

- Xâm nhập qua da, kết hợp với tổ chức protein gây cảm ứng da

- Xâm nhập qua da vào máu

Những hóa chất có dung môi thấm qua da hoặc chất dễ tan trong mỡ (như cácdung môi hữu cơ và phenol) dễ dàng thâm nhập vào cơ thể qua da Những hóa chấtnày có thể thấm vào quần áo làm việc mà người lao động không biết Điều kiệnlàm việc nóng làm các lỗ chân lông ở da mở rộng hơn cũng tạo điều kiện cho cáchóa chất thâm nhập qua da nhanh hơn Khi da bị tổn thương do các vết xước hoặccác bệnh về da thì nguy cơ bị hóa chất thâm nhập vào cơ thể qua da sẽ tăng lên

c Qua đường tiêu hóa

Do bất cẩn để chất độc dính trên môi, mồm rồi vô tình nuốt phải hoặc ăn,uống, hút thuốc trong khi bàn tay dính hóa chất hoặc dùng thức ăn và đồ uống bị

Trang 5

nhiễm hóa chất là những nguyên nhân chủ yếu để hóa chất xâm nhập vào cơ thể

qua đường tiêu hóa

Ngoài ra, có một số hạt bụi từ đường thở lọt vào họng và sau đó theo nước bọt

vào đường tiêu hóa

Hệ tiêu hóa bao gồm thực quản, dạ dày, ruột non và ruột già Sự hấp thụ thức

ăn và các chất khác (gồm c hóa chất nguy hiểm) ban đầu xảy ra ở ruột non

Thông thường hóa chất hấp thụ qua đường tiêu hóa ít hơn so với 2 đường

trên, hơn nữa tính độc sẽ giảm khơi qua đường tiêu hóa do tác động của dịch dạ

dày và dịch tụy

1.1.2 Loại hóa chất tiếp xúc

Đặc tính lý, hóa của hóa chất quyết định khả năng xâm nhập của nó vào cơ

thể con người, chẳng hạn: các hóa chất dễ bay hơi sẽ có khả năng tạo ra trong

không khí tại nơi làm việc một nồng độ cao; các chất càng dễ hòa tan trong dịch

thể, mỡ và nước thì càng độc

Do các phản ứng lý hóa của chất độc với các hệ thống cơ quan tưng ứng mà

có sự phân bố đặc biệt cho từng chất:

+ Hóa chất có tính điện ly như chì, bari, tập trung trong xương, bạc vàng ở

trong da hoặc lắng đọng trong gan, thận dưới dạng phức chất

+ Các chất không điện ly loại dung môi hữu cơ tan trong mỡ tập trung trong

các tổ chức giầu mỡ như hệ thần kinh

+ Các chất không điện ly và không hòa tan trong các chất béo khả năng thấm

vào các tổ chức của cơ thểkém hơn và phụ thuộc vào kích thước phân tử và nồng

độ chất độc

Thông thường khi hóa chất vào cơ thể tham gia các phản ứng sinh hóa hay là

quá trình biến đổi sinh học: ôxy hóa, khử ôxy, thủy phân, liên hợp Quá trình này

có thể xảy ra ở nhiều bộ phận và mô, trong đó gan có vai trò đặc biệt quan trọng

Quá trình này thường được hiểu là quá trình phá vỡ cấu trúc hóa học và giải độc,

song có thể sẽ tạo ra sản phẩm phụ hay các chất mới có hại hơn các chất ban đầu

Tùy thuộc vào tính chất lý, hóa, sinh mà một số hóa chất nguy hiểm sẽ được

đào thải ra ngoài:

+ Qua ruột : chủ yếu là các kim loại nặng

Trang 6

+ Qua mật: Một số chất độc được chuyển hóa rồi liên hợp sunfo hoặcglucuronic rồi đào thải qua mật

+ Qua hơi thở có thể đào thơi một số lớn chất độc dưới dạng khí hơi

+ Chất độc có thể còn được đào thải qua da, sữa mẹ

Đường đào thải chất độc rất có giá trị trong việc chẩn đoán và điều trị nhiễmđộc nghề nghiệp

1.1.3 Nồng độ và thời gian tiếp xúc

Về nguyên tắc, tác hại của hóa chất đối với cơ thể phụ thuộc vào lượng hóachất đã hấp thu Trong trường hợp hấp thu qua đường hô hấp, lượng hấp thu phụthuộc chính vào nồng độ của hóa chất trong không khí và thời gian tiếp xúc Thôngthường, khi tiếp xúc trong thời gian ngắn nhưng với nồng độ hóa chất cao có thểgây ra những ảnh hưởng cấp tính (nhiễm độc cấp), trong khi đó tiếp xúc trong thờigian dài nhưng với nồng độ thấp sẽ xảy ra hai xu hướng: hoặc là cơ thể chịu đựngđược, hoặc là hóa chất được tích lũy với khối lượng lớn hơn, để lại ảnh hưởng mãntính

1.1.4 Ảnh hưởng kết hợp của các hóa chất

Hoạt động nghề nghiệp thường không chỉ tiếp xúc với một loại hóa chất Hầunhư cùng một lúc, người lao động phơi tiếp xúc với hai hoặc nhiều hóa chất khácnhau ảnh hưởng kết hợp khơi tiếp xúc với nhiều hóa chất thường thơiếu thông tin.Mặt khác, khơi xâm nhập vào cơ thể giữa hai hay nhiều hóa chất có thể kết hợp vớinhau tạo ra một chất mới với những đặc tính khác hẳn và sẽ có hại tới sức khỏehơn tác hại của từng hóa chất thành phần (cũng có thể là tác hại sẽ giảm) Chẳnghạn như khơi hít phơi tetra clorua cacbon (CCl4) trong một thời gian ngắn sẽ không

bị nhiễm độc nhưng khi đã uống dù chỉ một lượng nhỏ rượu etylic (C2H5OH) thì sẽ

bị ngộ độc mạnh có thể sẽ dẫn tới tử vong

Dù thế nào đi nữa cũng nên tránh hoặc giảm tới mức thấp nhất việc tiếp xúcvới nhiều loại hóa chất tại nơi làm việc

1.1.5 Tính mẫn cảm của người tiếp xúc

Có sự khác nhau lớn trong phản ứng của mỗi người khi tiếp xúc với hóa chất.Tiếp xúc với cùng một lượng trong cùng một thời gian một vài người bị ảnh hưởngtrầm trọng, một vài người bị ảnh hưởng nhẹ, có thể có một số người nhìn bên ngoàikhông thấy có biểu hiện gì

Trang 7

Phản ứng của từng cá thể phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính và tình trạng sức

khỏe

Thí dụ: trẻ em nhạy cảm hơn người lớn; bào thai thường rất nhạy cảm với hóa

chất Do đó với mỗi nguy cơ tiềm ẩn, cần xác định các biện pháp cẩn trọng khác

nhau với các đối tượng cụ thể

1.1.6 Các yếu tố làm tăng nguy cơ người lao động bị nhiễm độc

- Khí hậu:

+ Nhiệt độ cao: làm tăng khả năng bay hơi của chất độc, tăng tuần hoàn, hô

hấp do đó làm tăng khả năng hấp thu chất độc

+ Độ ẩm không khí tăng: làm tăng sự phân giải của một số hóa chất với nước,

tăng khả năng tích khí lại ở niêm mạc, làm giảm hơi độc bằng mồ hôi, do đó cũng

làm tăng nguy cơ bị nhiễm độc

- Lao động thể lực quá sức làm tăng tuần hoàn, hô hấp và tăng mức độ nhiễm

độc

- Chế độ dinh dưỡng không đủ hoặc không cân đối làm giảm sức đề kháng

của cơ thể

1.2 Tác hại của hóa chất đến cơ thể con người

Như đã giải thích ở trên, những ảnh hưởng của hóa chất có thể là cấp tính

hoặc mãn tính tùy thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc Hóa chất cũng gây ra

những phản ứng khác nhau do kiểu và dạng tiếp xúc khác nhau Theo tính chất tác

động của hóa chất trên cơ thể con người có thể phân loại theo các nhóm sau đây:

- Kích thích gây khó chịu

- Gây dị ứng

- Gây ngạt

- Gây mê và gây tê

- Tác động đến hệ thống các cơ quan chức năng

- Gây ung thư

- Hư bào thai

- Ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai (đột biến gien)

- Bệnh bụi phổi

Trang 8

Tác động kích thích của hóa chất ở đây có nghĩa là làm cho tình trạng phần cơthể tiếp xúc với hóa chất bị xấu đi Các phần của cơ thể thường bị tác động này là

da, mắt và đường hô hấp

a) Kích thích đối với da

Khơi một hóa chất tiếp xúc với da, có thể

chúng sẽ làm biến đổi các lớp bảo vệ khiến cho

da bị khô, xù xì và đau xót Tình trạng này

được gọi là viêm da (hình 1) Có rất nhiều hóa

chất gây viêm da

Hình 1: nhiễm hóa chất gây viêm dab) Kích thích đối với mắt

Hóa chất nhiễm vào mắt có thể gây tác động từ khó chịu nhẹ, tạm thời tớithương tật lâu dài Mức độ thương tật phụ thuộc vào lượng, độc tính của hóa chất

và các biện pháp cấp cứu Các chất gây kích thích đối với mắt thường là: axít, kiềm

Trang 9

theo đường thở gây ra viêm phế quản, đôi khi gây tổn thương trầm trọng đường thở

và mô phổi

Các hóa chất ít tan trong nước sẽ xâm nhập vào vùng trao đổi khí Các chất

này ít xuất hiện ở nơi làm việc song những tổn thương mà chúng gây ra đối với

người lao động thì rất nghiêm trọng Phản ứng của hóa chất với mô phổi gây ra

phù phổi (dịch trong phổi) và có thể xuất hiện ngay lập tức hoặc sau vài giờ Triệu

chứng bắt đầu với việc rất khó chịu trong phổi, tiếp theo là ho, khó thở, xanh tím

và khạc nhiều đờm Các hóa chất này thường là: Đioxít, ozon, photgen

1.2.2 Dị ứng

Dị ứng có thể xảy ra khi cơ thể tiếp xúc trực tiếp với hóa chất Người lao

động khi mới tiếp xúc có thể không bị dị ứng, nhưng nếu tiếp xúc thường xuyên,

ngay cả với lượng nhỏ thì có thể thường sẽ phản ứng và da hoặc đường hô hấp sẽ

bị dị ứng

a) Dị ứng da

Da bị dị ứng có tình trạng giống như viêm da (mụn nhỏ hoặc là phỏng nước)

Hiện tượng này có thể không xuất hiện ở nơi tiếp xúc mà ở một nơi nào đó trên cơ

thể Những chất gây dị ứng thường gặp là nhựa epoxy, thuốc nhuộm azo, dẫn xuất

nhựa than đá, axít cromic

b) Dị ứng đường hô hấp

Đường hô hấp nhạy cảm là căn nguyên của bệnh hen nghề nghiệp Những

triệu chứng của căn bệnh này là ho nhiều về đêm, khó thở, thở khò khè và ngắn

Các hóa chất gây tác hại này là: Toluen đisoxianat, fomaldehit

1.2.3 Gây ngạt

Sự ngạt thở là biểu hiện của việc đưa không đủ ôxy vào các tổ chức của cơ

thể Có hai dạng: ngạt thở đn thuần và ngạt thở hóa học

a Ngạt thở đơn thuần

Chất gây ngạt đơn thuần thường ở dạng khí như: CO2, CH4, N2, C2H6, H2 ;

khi lượng các khí này tăng sẽ làm giảm tỷ lệ ôxy trong không khí và gây ngạt thở;

nếu không được cấp cứu kịp thời có thể sẽ dẫn đến tử vong Bình thường không

khí chứa khoảng 21% ôxy, nếu nồng độ ôxy hạ xuống dưới 17% thì không đủ để

đáp ứng nhu cầu của các tổ chức cơ thể và xuất hiện các triệu chứng hoa mắt,

Trang 10

chóng mặt, buồn nôn và rối loạn hành vi Tình trạng này có thể xảy ra ở nơi làmviệc chật hẹp, ở dưới các giếng và trong các hầm lò.

b Ngạt thở hóa học

Chất gây ngạt hóa học ngăn cản máu vận chuyển ôxy tới các tổ chức của cơthể Một trong những chất này là ôxít cácbon (gây cacboxyhemoglobin) Chỉ cần0,05% ôxít cácbon trong không khí là đã có thể giảm đáng kể khả năng mang ôxycủa máu tới các mô của cơ thể Các chất khác như hyđro xianua, hoặc hyđrosunfua cản trở khả năng tiếp nhận ôxy của tế bào, ngay cả khi máu giàu ôxy

1.2.4 Gây mê và gây tê

Tiếp xúc với nồng độ cao một trong các hóa chất như: etanol, propanol (ancolbéo), axeton và metyl-etyxeton (xeton béo), axetylen, hyđrocacbon, etyl vàisopropyl ete có thể làm suy yếu hệ thần kinh trung ưng, gây ngất thậm chí dẫnđến tử vong Những chất này gây ảnh hưởng tương tự như say rượu Khơi tiếp xúcthường xuyên với các hóa chất này ở nồng độ thấp một số người bị nghiện chúng.1.2.5 Gây tác hại tới hệ thống các cơ quan của cơ thể

Cơ thể con người được tạo nên bởi nhiều hệ cơ quan nhiễm độc hệ thống liênquan tới tác động của hóa chất tới một hoặc nhiều cơ quan trong cơ thể, làm ảnhhưởng tới toàn bộ cơ thể Ảnh hưởng này không tập trung ở một điểm nào hoặcvùng nào của cơ thể

Nhựa thông, etanol, toluen, xylen sẽ làm hỏng dần chức năng của thận

Hệ thần kinh có thể bị tổn thương do tác động của các hóa chất nguy hiểm, ví

dụ như:

- Tiếp xúc lâu dài với các dung môi sẽ dẫn tới các triệu chứng mệt mỏi, khóngủ, đau đầu và buồn nôn; nặng hơn sẽ là rối loạn vận động, liệt và suy tri giác

- Tiếp xúc với hecxan, mangan và chì sẽ làm tổn thương hệ thần kinh ngoại

vi, để lại hậu quả liệt rủ cổ tay

- Tiếp xúc với các hợp chất có photphat hữu cơ như parathơion có thể gây suygiảm hệ thần kinh; còn với cacbon đisunphua có thể dẫn đến rối loạn tâm thần

Một số hóa chất nguy hiểm có thể tác động tới hệ sinh dục, làm mất khả năngsinh đẻ ở đàn ông và sẩy thai ở phụ nữ đang mang thai Các chất như: etylenđibromua, khí gây mê, cacbon đisunphua, clopren, benzen, chì, các dung môi hữucơ có thể làm giảm khả năng sinh sản ở nam giới Tiếp xúc với thuốc gây mê thể

Trang 11

khí, glutaranđehit, clopren, chì, các dung môi hữu cơ, cacbon đisunphua và vinyl

clorua có thể sẩy thai

1.2.6 Ung thư

Khi tiếp xúc lâu dài với một số hóa chất có thể tạo sự phát triển tự do của tế

bào, dẫn đến khối u - ung thư Những khối u này có thể xuất hiện sau nhiều năm

tiếp xúc với hóa chất Giai đoạn này có phạm vi từ 4 - 40 năm Vị trí ung thư nghề

nghiệp trong cơ thể cũng rất khác nhau và thường không chỉ giới hạn ở vùng tiếp

xúc Các chất như asen, amiăng, crom, niken, bis-clometyl ete (BCME) có thể

gây ung thư phổi Bụi gỗ và bụi da, niken crom, dầu isopropyl có thể gây ung thư

mũi và xoang Ung thư bàng quang do tiếp xúc với benziđin, 2-naphtylamin và bụi

da Ung thư da do tiếp xúc với asen, sản phẩm dầu mỏ và nhựa than Ung thư gan

có thể do tiếp xúc vinyl clorua đơn thể, trong khi ung thư tủy xương là do benzen

1.2.7 Hư thai (quái thai)

Dị tật bẩm sinh có thể là hậu quả của việc tiếp xúc với các hóa chất gây cản

trở quá trình phát triển bình thường của bào thai Trong thời gian 3 tháng đầu của

thời kỳ mang thai, thai nhi dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các tổ chức cơ quan trọng của

não, tim, tay và chân đang hình thành Các nghiên cứu nối tiếp nhau đã chỉ ra rằng

sự có mặt của hóa chất như thủy ngân, khí gây mê, các dung môi hữu cơ có thể cản

trở quá trình bình thường của việc phân chia tế bào, gây biến dạng bào thai

1.2.8 Ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai

Một số hóa chất tác động đến cơ thể người gây đột biến gen tạo những biến

đổi không mong muốn trong các thế hệ tương lai Thông tin về vấn đề này rất

hiếm Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm cho thấy 80

-85% các chất gây ung thư có thể tác động đến gen

1.2.9 Bệnh bụi phổi

Một số hóa chất tác động đến cơ thể người gây đột biến gen tạo những biến

đổi không mong muốn trong các thế hệ tương lai Thông tin về vấn đề này rất

hiếm Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm cho thấy 80

-85% các chất gây ung thư có thể tác động đến gen

2 NHỮNG SỰ CỐ HÓA CHẤT

Đa số hóa chất đều tiềm ẩn các nguy cơ gây cháy nổ Việc sắp xếp, bảo quản,

vận chuyển, sử dụng hóa chất không đúng cách đều có thể dẫn đến tai nạn từ một

Trang 12

2.1 Cháy

Con người muốn tồn tại phơi có ít nhất 3 yếu tố cơ bản là thức ăn, ôxy vànhiệt Các yếu tố này cũng phải ở trong một tỷ lệ tưng ứng Quá nhiều hay quá ítthức ăn, ôxy, nhiệt đều có thể dẫn đến khó chịu, ốm đau và chết Cũng như vậy, để

có sự cháy cần 3 yếu tố: nhiên liệu (chất cháy), ôxy và một nguồn nhiệt Nhữngyếu tố này phải ở trong một tỷ lệ, hoàn cảnh thích hợp trước khơi bắt lửa và gâycháy nhiên liệu bắt đầu cháy ở một nhiệt độ xác định là điểm chớp cháy Phải đủnhiệt để đưa nhiên liệu tới điểm chớp cháy song cũng cần phải có đủ ôxy để xảy ra

và duy trì sự cháy Bình thường để bắt lửa và bốc cháy môi trường không khí cần

có nồng độ ôxy từ 15 - 21%

2.1.1 Nhiên liệu

Để kiểm soát các nguy cơ cháy nổ do hóa chất, việc đầu tiên là xác định rõ

hóa chất đang sử dụng và những đặc tính riêng của nó Hầu hết hóa chất đều là

nguồn nhiên liệu - một trong 3 yếu tố gây cháy nổ

a) Nhiên liệu lỏng

* Điểm chớp cháy của chất lỏng

Điểm chớp cháy (nhiệt độ bùng cháy) của chất lỏng là nhiệt độ thấp nhất mà tại nhiệt độ đó chất lỏng hóa hơi tạo thành hỗn hợp cháy với không khí và bốc

cháy khơi có nguồn lửa

Bảng 1: Nhiệt độ bùng cháy của một số chất lỏng thông thường

Hóa chất Nhiệt độ bùng cháy oC

Ghi nhớ: Hóa chất có điểm chớp cháy thấp hơn thì nguy hiểm hơn

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đạt tới điểm chớp cháy của chấtlỏng, chẳng hạn như dầu lửa khi được phun nó sẽ bùng cháy ngay cả khi nhiệt độxung quanh thấp hơn điểm chớp cháy của nó; một chất lỏng có thể bị nóng lên tớiđiểm chớp cháy của nó do một chất khác (có điểm chớp cháy thấp hơn) đang cháy

Trang 13

ở gần nó Cần đặc biệt lưu ý vấn đề này khi tiến hành các công việc có liên quan

tới các chất dễ cháy nổ Nếu nhiệt độ chất lỏng đạt tới nhiệt độ bốc lửa (bình

thường chỉ một vài độ trên điểm chớp cháy) hơi cháy sẽ tiếp tục được sinh ra và

tiếp tục cháy mặc dù đã tách bỏ nguồn lửa nhiệt độ bùng cháy thường có trong các

tài liệu an toàn hóa chất

b) Nhiên liệu rắn

Một vài hóa chất ở trạng thái rắn (thí dụ: Magiê) sẽ cháy một cách nhanh

chóng khơi bắt lửa và sẽ rất khó dập tắt

Một số loại bụi, bột cũng có khả năng bốc cháy và gây nổ khơi đạt một tỷ lệ

nhất định trong không khí Khi trộn và nguồn lửa xuất hiện, nhiên liệu dạng bột sẽ

cháy tạo tiếng nổ liên tục bởi lượng nhiên liệu bị kích thích cháy nổ thêm vào

c) Nhiên liệu khí

Phần lớn các khí như C2H2, C2H6, CH4 được dùng trong công nghiệp đều dễ

cháy nổ khơi có nồng độ ôxy thích hợp và khơi nguồn lửa xuất hiện Phải đặc biệt

thận trọng đối với các khí nén lưu giữ trong các bình chịu áp lực, cháy nổ có thể

xảy ra khơi bình chứa có các khuyết tật và thường dẫn đến các tai nạn nghơiêm

trọng

2.1.2 Nhiệt

Nhiệt - yếu tố thứ 2 của bộ ba gây cháy nổ nhiệt là yếu tố để đưa nhiên liệu

tới điểm chớp cháy (nếu điểm chớp cháy ở trên nhiệt độ xung quanh) và kích thích

hỗn hợp cháy bùng cháy Nguồn nhiệt có thể là các dòng điện, tĩnh điện, phản ứng

hóa học, quy trình nhiệt, sự ma sát, ngọn lửa trần, nhiệt bức xạ và tia lửa điện

a) Dòng điện

Nhiệt sinh từ dòng điện theo 3 cách:

+ Khi dòng điện đi qua một sợi dây có tiết diện không đủ lớn để tải điện hoặc

các mối nối, các điểm tiếp xúc không chặt, kết quả hoặc là tóe lửa, đoản mạch hoặc

dây điện nóng lên nhiệt độ của dây điện có thể đạt tới điểm đủ để kích thích hơi

cháy có trong không khí hoặc gây cháy các vật liệu dễ bắt lửa hay nâng nhiệt độ

của các hóa chất ở gần đó tới điểm chớp cháy và cháy

+ Hồ quang điện thường được tạo ra khi chập trong công tắc hoặc trong hộp

nối do dây điện bị đứt hoặc mất vỏ bọc giữa dây dương và dây âm hậu quả là phát

Trang 14

sinh nhiệt, kích thích hơi dễ cháy gây cháy Thép nóng cháy bởi hồ quang điện cóthể cũng kích thích các vật liệu dễ cháy, và làm nóng các hóa chất dễ cháy

+ Tia lửa điện là một trong các nguồn nhiệt thường gặp nhất trong côngnghiệp, nhiệt độ của tia lửa thường cao hơn rất nhiều so với nhiệt độ bùng cháy củanhiên liệu

b) Tĩnh điện

Điện tích của tĩnh điện có thế hiệu cao và có thể phát ra tia lửa rất nguy hiểm.Tĩnh điện có thể tập trung trên bề mặt các vật rắn, trên mặt các chất lỏng, ở các mặttrong của các máy chế biến nhào trộn, thùng chứa Tĩnh điện có thể tạo ra khơi 2

bề mặt khác nhau đến gần nhau, sau đó tách ra Thí dụ: trong các máy sản xuấtphơim và sản xuất tấm vật liệu, vật liệu cách điện trở thành vật được nạp điện saukhơi qua máy Nếu những vật liệu như vậy liên tục được sản xuất ra trong môitrường có khí dễ cháy thì cần có biện pháp trung hòa điện tích, tránh để phát tia lửađiện Sự tích điện cũng có thể xẩy ra khơi các chất lỏng dễ cháy chuyển từ thùngchứa này tới thùng chứa khác mà không có dây nối đất

c) Nhiệt sinh khối pha trộn 2 hóa chất

Khi hai hay nhiều hóa chất pha trộn, ảnh hưởng kết hợp có thể nguy hiểm hơntổng những ảnh hưởng riêng rẽ, tức là cũng có thể dẫn tới một nguy cơ cháy nổ caohơn Chẳng hạn:

- Việc pha trộn tạo ra hợp chất có điểm cháy và điểm sôi thấp hơn, khi đó sẽ

dễ dàng kích thích hơi hợp chất đó cháy

- Khi hai hóa chất phản ứng có thể sinh nhiệt, làm cho các hóa chất bị nóngđến nhiệt độ nguy hiểm và phản ứng cháy dây chuyền xảy ra có thể để lại nhữnghậu quả thảm khốc

d) Nhiệt sinh do ma sát

Khi hai bề mặt cọ sát vào nhau có thể sinh ra nhiệt Đó là nhiệt sinh do sự masát Sự cọ sát của dây cua roa với vật che đỡ hoặc giữa hai mặt kim loại có thể phátsinh một lượng nhiệt đủ để kích thích hơi cháy bùng cháy Nguyên nhân sự cọ sátthường là do thiếu sự bảo dưỡng cần thiết dẫn đến mất vật che chắn hoặc không đủdầu mỡ bôi trn bề mặt kim loại tiếp xúc với nhau Tia lửa cũng có thể xuất hiện khimột hòn đá găm vào đế giầy cọ sát với bề mặt bê tông

e) Bức xạ nhiệt

Trang 15

Nhiệt từ lò nung, bếp lò và các bề mặt nóng khác có thể ðốt cháy hõi cháy.

Quá trình sản xuất bình thường của nhà máy cũng có thể tạo ra lượng nhiệt đưa các

hóa chất cất giữ ở gần đó tới điểm cháy và đốt cháy hơi cháy Những tia nắng trực

tiếp hoặc tự nó hoặc được phóng đại bởi nhựa hoặc thủy tinh có thể cũng có ảnh

hưởng này

f) Ngọn lửa trần

Ngọn lửa không được che chắn, bảo vệ sinh ra bởi thuốc lá, diêm, lửa hàn và

động cơ đốt trong là nguồn nhiệt rất quan trọng Khơi kết hợp đủ nhiên liệu và ôxy,

chúng có thể gây ra cháy nổ

2.1.3 Ôxy

Ôxy là yếu tố thứ 3 của bộ ba gây cháy nổ Hầu hết nhiên liệu cần ít nhất 15%

ôxy để cháy, vượt quá 21% ôxy có thể tự cháy và dẫn tới nổ Nguồn ôxy, ngoài

lượng có trong môi trường không khí còn gồm cả bình chứa ôxy dùng trong các

hoạt động cắt hàn, ôxy được cung cấp bởi một ống dẫn dùng cho quá trình hoạt

động và ô xy tạo ra trong các phản ứng hóa học ôxy có thể thoát ra khơi một hóa

chất (thường là chất ôxy hóa) bị đốt nóng

Bảng 2: Một vài hóa chất có thể thoát ra ôxy khi bị đốt nóng

Hỗn hợp nhiên liệu với ôxy chỉ nổ khi ở trong giới hạn nhất định về nồng độ

Lượng nhiên liệu quá mức với một lượng ôxy không đủ (có nghĩa là hóa chất đó

quá nhiều), hay ngược lại nồng độ ôxy cao và một lượng nhiên liệu không đủ (có

nghĩa là chất đó quá ít) đều không thể nổ được Giới hạn mà ở đó một chất sẽ nổ

tính theo nồng độ so với ôxy (hoặc không khí) được gọi là giới hạn nổ trên và dưới

và thường có trong các tài liệu an toàn hóa chất

Bảng 3: Giới hạn nổ của một số nhiên liệu lỏng xác định ở 200oC, áp suất 1at, tính

nồng độ so với không khí

Trang 16

(ký hiệu) thể tích)

Dưới Trên

Dầu hỏa KO-20 CLDC 0,55 5

CLDC: Chất lỏng dễ cháy CLC: Chất lỏng cháy CCK: Cháy chất khí.

Bảng 4: Giới hạn nổ của một số loại bụiLoại bụi Nồng độ g/m

3Tối thiểu Tối đa Lưu huỳnh 7 13,7 Bột amidon 7 13,7 Than đá 17,2 34,4Bảng 5: Chỉ số cháy nổ của một số chất khí nguy hiểm

Loại khí Tính chất nổ

(ký hiệu)

Nhiệt độ bùng cháy

Giới hạn nổ (% thể tích)Dưới Trên

Trang 17

CHUYÊN ĐỀ 3: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HÓA CHẤT

NGUY HIỂM

1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

- Hóa chất: Là đơn chất, hợp chất, hỗn hợp chất được con người khai thác

hoặc tạo ra từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, nguyên liệu nhân tạo

- Chất: Là đơn chất, hợp chất kể cả tạp chất sinh ra trong quá trình chế biến,

những phụ gia cần thiết để bảo đảm đặc tính lý, hóa ổn định, không bao gồm các

dung môi mà khi tách ra thì tính chất của chất đó không thay đổi

- Hỗn hợp chất: Là tập hợp của hai hoặc nhiều chất mà giữa chúng không

xảy ra phản ứng hóa học trong điều kiện bình thường

- Hoá chất nguy hiểm: Là những hoá chất trong quá trình sản xuất, kinh

doanh, sử dụng, bảo quản, vận chuyển và thải bỏ có thể gây ra cháy, nổ, ăn mòn,

khó phân huỷ trong môi trường gây nhiễm độc cho con người, động thực vật và ô

nhiễm môi trường

- Hoá chất dễ cháy, nổ: Là những hoá chất có thể/hoặc tự phân giải gây

cháy, nổ hoặc cùng các chất khác tạo thành hỗn hợp cháy, nổ trong điều kiện nhất

định về thành phần, nhiệt độ, độ ẩm, áp suất (Các chất dễ cháy, nổ được phân

nhóm theo nhiệt độ bùng cháy và theo giới hạn nổ)

- Hoá chất ăn mòn: Là những hoá chất có tác dụng phá huỷ dần các dạng vật

chất như: kết cấu xây dựng và máy móc, thiết bị, đường ống huỷ hoại da và gây

bỏng đối với người và súc vật

- Hoá chất độc: Là những hoá chất gây độc hại, ảnh hưởng xấu trực tiếp hoặc

gián tiếp đến người và sinh vật Hoá chất độc có thể xâm nhập vào cơ thể qua da,

qua đường tiêu hoá, qua đường hô hấp, gây nhiễm/ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính,

gây nhiễm độc cục bộ hoặc toàn thân; có thể là những hoá chất có khả năng gây

ung thư, dị tật

- Chất thải nguy hại: Là chất thải có chứa các đơn chất hoặc hợp chất có một

trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, nổ, gây ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ

gây ô nhiễm môi trường và các đặc tính nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất

khác gây nguy hại tới môi trường, động thực vật và sức khoẻ con người

2 PHÂN LOẠI HÓA CHẤT NGUY HIỂM

Việc phân loại các chất độc cũng có ý nghĩa trong việc phòng chống, dựa vào

Trang 18

- Nhóm 1: Chất gây bỏng, kích thích da và niêm mạc như: axít đặc, kiềm đặc

và loãng (vôi tôi, amoniac, HNO3, gây bỏng nhanh nhất

- Nhóm 2: Chất kích thích đường hô hấp: clo, NH3, SO2, HCl, hơi flo,

- Nhóm 3: Chất gây ngạt có chất đơn thuần như khí CO2, êtan, mêtan do làm

loãng dưỡng khí, và chất gây ngạt hóa học như khí CO hòa hợp với hêmoglobintạo thành Hb.CO2, hợp chất amin và nitrô của benzen, đều làm mất khả năng vậnchuyển oxy của hồng cầu gây rối loạn hô hấp

- Nhóm 4: Chất tác dụng chủ yếu liên hệ thần kinh trung ương gây mê, gây tê

là các hợp chất hydrocacbua, các loại rượu, H2S, xăng,

- Nhóm 5: Chất gây độc cho hệ thống cơ quan (một hay nhiều cơ quan) như

các loại hydrocacbua, halogen, clorua mêtyl, brômua mêtyl, chất gây tổn thương hệtạo máu: benzen, phenol gây thiếu máu, mất máu như chì, asen, các loại kim loại

và á kim độc là thủy ngân, phốt pho,

Ngoài ra căn cứ vào đặc tính nguy hiểm hoá chất nguy hiểm được phân loạithành các dạng sau:

3 CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TÁC DỤNG CỦA CHẤT ĐỘC

Tác dụng của chất độc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bản chất (tính chất lýhọc, hóa học) của chất độc, quá trình công nghệ, nhiệt độ và độ ẩm, nồng độ, thờigian tác dụng và trạng thái cơ thể công nhân,

4 BẢN CHẤT CỦA CHẤT ĐỘC

Bản chất của chất độc sẽ xác định mức độ các hoạt tính sinh học

Các khí dễ dàng hấp thụ thông qua hệ thống hô hấp, đặc biệt thông qua phổi

để đi vào máu và các phản ứng của cơ thể đối với các chất khí này thường là phảnứng cục bộ (đối với ôzon) hay hệ thống (đối với các chất khí dùng gây mê)

Hơi nước và các hạt bụi lỏng cũng có thể dễ dàng được hấp thụ từ hệ thốngkhí quản và tạo ra những nguyên vật liệu cho phản ứng và gây nên những tổn

Trang 19

thương cục bộ như hơi formaldehyde, SO2, NOx Các hạt bụi có thể di chuyển đến

phế nang và hạn chế sự trao đổi khí ở đây

Các hóa chất và ngay cả các vi sinh vật cũng có thể được hấp thụ vào các hạt

bụi rồi đi vào cơ thể và gây ra những phản ứng mang tính cục bộ hay mang tính hệ

thống Các protein bị chuyển hóa trong hệ thống tiêu hóa và thông thường chúng

mất hết hoạt tính

Cấu trúc hóa học quyết định đến tính chất lý hóa và hoạt tính hóa học của độc

chất Những tính chất trên lại quyết định đến hoạt tính sinh vật học của độc chất

Các quy luật hoạt động các chất hóa học dựa vào cấu trúc hóa học:

- Các hợp chất cacbonhydro có tính độc tăng tỷ lệ thuận với số nguyên tử

cacbon có trong phân tử

Thí dụ: Pental (5C) độc hơn butan (4C).

Butylic (4C) độc hơn etylic (2C)

- Trong những hợp chất có cùng số nguyên tố, những hợp chất chứa ít nguyên

tử độc hơn các hợp chất chứa nhiều nguyên tử

Thí dụ: NO2 độc hơn NO3

CO độc hơn CO2

- Khi nguyên tố halogen thay thế cho hydro nhiều bao nhiêu trong các hợp

chất hữu cơ thì độc tính tăng lên bấy nhiêu

Thí dụ: CCl4 (tetracloruacarbon) độc hơn CHCl3 (chlorofoc)

- Gốc (- NO2) và gốc (- NH2) thay thế cho H trong các hợp chất cacbua vòng

nhiều bao nhiêu thì độc tính tăng lên bấy nhiêu

Thí dụ: C6H5NO2 (nitrobenzen) độc hơn C6H6 (benzen)

5 MỘT SỐ HÓA CHẤT NGUY HIỂM THƯỜNG GẶP

Khí Clo (Cl2): Ở nồng độ thấp khí Clo kích thích niêm mạc và đường hô hấp,

gây nên những cơn ho Nhiễm độc cấp tính khí Clo gây nên những biến chứng

nguy hiểm ở phổi, với nồng độ 3,2 mg/l gây chết người đột ngột Với nồng độ

0,03 mg/l khí Clo gây kích thích mạnh khí quản Với nồng độ 0,16 mg/l tiếp xúc

trong 30 phút sẽ gây nên phù phổi nguy hiểm

Khí Oxyt Cacbon (CO): Khí CO tách ra trong quá trình đốt nhiên liệu như

than, dầu, khí… là sản phẩm của sự cháy không hoàn toàn, khí CO cũng là sản

Trang 20

mùi và nhẹ hơn không khí Khí CO xâm nhập vào cơ thể người, chiếm chỗ củaO2 liên kết với Hemoglobine trong máu tạo thành HbCO (Carboxy Hemoglobin),gây giảm hồng cầu, giảm huyết sắc tố Hít thở phải một lượng nhỏ CO, cảm thấynhức đầu, chóng mặt; hít thở CO với nồng độ cao gây đau đầu, choáng váng, hôn

mê, bất tỉnh, loạn nhịp tim và có thể tử vong Nhiễm độc CO làm tổn thương cơtim, hệ thần kinh, gây cơn đau tim Giới hạn nồng độ cho phép tiêu chuẩn vệ sinh(TCVS) trong sản xuất của khí CO là 30 mg/m3

Khí Oxyt Nitơ (NO 2): Khí NO2 kích thích mạnh đường hô hấp Khi ngộ độccấp tính NO2, thường gây ho dữ dội, nhức đầu, kèm theo rối loạn tiêu hóa Trườnghợp ngộ độc mãn tính NO2, gây viêm phế quản, kích thích niêm mạc mắt Thờigian đầu cơ thể có cảm giác mệt mỏi, tăng thân nhiệt, da tái xanh, kèm theo cáccơn rét run Có thể phát hiện NO2 trong không khí, khi cơ quan hô hấp bị kíchthích, sau vài giờ cảm thấy tức ngực, ho, khó thở, dần dần nghẹt thở Giới hạnnồng độ cho phép TCVS trong sản xuất của NO2 là 5 mg/ m3

Khí Sunfua Hydro (H2S): Khí Sunfua Hydro là sản phẩm của các chất hữu

cơ bị phân hủy H2S là khí không màu, mùi trứng thối, có thể cảm nhận, phát hiệnkhi ở nồng độ rất thấp Với nồng độ thấp trong không khí, H2S gây chảy nước mũi,hoa mắt Ở nồng độ cao làm tổn thương đường hô hấp trên, gây ho và ngạt thở, cóthể gây phù phổi dẫn đến tử vong H2S cũng gây tổn thương hệ thần kinh trungương với các triệu chứng: đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, ù tai.Giới hạn nồng độcho phép TCVS của H2S là 10 mg/ m3

Khí Amoniac (NH 3): Khí Amoniac được sử dụng trong sản xuất phân bón,

chất dẻo, dệt, nhuộm và công nghệ lạnh Khí Amoniac là khí không màu, có mùikhai, mùi sốc mạnh Khí Amoniac gây kích thích niêm mạc của đường hô hấp hấptrên và mắt Trong trường hợp bị ngộ độc, nạn nhân bị đau - xổ mũi, hắt hơi, khô -rát và đau cổ họng, khàn - mất tiếng, ho và mệt toàn thân Trường hợp ngộ độc vớinồng độ cao NH3 gây bỏng nặng niêm mạc đường hô hấp trên, bỏng mắt nặng Vớinồng độ cao hơn nữa gây phù phổi, có thể dẫn đến tử vong Giới hạn nồng độ chophép TCVS của NH3 là 20 mg/ m3

Khí Anhydrit Sunfuarơ (SO2): Khí SO2 là khí không màu, có mùi nồng nặc,

tỷ trọng so với không khí là 2,264 Khí SO2gây tác hại đối với toàn bộ đường hôhấp, đồng thời tác hại đến các cơ quan tạo máu (tủy xương, lá lách) Ở nồng độthấp dưới TCVS đã có thể ngừi thấy mùi; nồng độ vượt 2~3 lần TCVS gây khé cổ

Trang 21

họng; nồng độ vượt 5 lần TCVS gây ho Hít thở phải nồng độ cao gây khản tiến,

đau-tức ngực, viêm nhánh khí quản Nồng độ rất cao gây thở dốc, da xanh, viêm

khí quản nặng và rối loạn nhanh trí não, dẫn đến tử vong do ngạt thở Hít thở

SO2 nồng độ không cao, nhưng vượt TCVS cho phép kéo dài gây nên bệnh mãn

tính đường hô hấp, có thể cả bệnh dạ dày, mắt, răng và các bệnh về máu, gan Khí

SO2có thể gây biến chứng giãn phế quản và phù phổi Giới hạn nồng độ cho phép

TCVS của SO2 là 0,01 mg/l

Formaldehyde: (Dạng khí: Methanol, Methyl aldehyde, Methylene Oxide;

dạng dung dịch: Formalin 30 - 50% Formaldehyde, 6 - 12% Methanol)

Formaldehyde được sử dụng làm chất sát trùng, chất diệt nấm, bảo quản da; làm

dịch ướp, sử dụng trong sản xuất sản phẩm cách điện, gỗ ép, hoặc làm dung môi,

keo dán Formaldehyde gây tác hại đến hệ hô hấp, da và mắt Ở dạng khí

Formaldehyde gây kích thích mũi, miệng, họng; ở nồng độ cao có thể gây phù phổi

hoặc co thắt khí quản dẫn đến tử vong Ở dạng lỏng Formaldehyde kích thích da,

gây tê, bỏng, bỏng nặng dẫn đến tổn thương vĩnh viễn, gây bỏng mắt, tổn thương

bỏng thường đến chậm sau vài giờ Tác hại mãn tính: Formaldehyde gây đột biến

gen, gây ung thư, gây dị ứng da, hen (khó thở, ho, đau thắt ngực), gây viêm phế

quản

Acid clohydric (HCl): HCl là acid mạnh hòa tan được phần lớn kim loại trừ

Au, Ag, Pt,… và một vài kim loại khác Ngộ độc xảy ra thường không phải HCl ở

trạng thái khí mà mù acid tạo ra do sự tương tác với hơi nước của không khí Mù

acid tạo ra khi đun nóng, dung dịch gây bỏng đối với da Nó không gây ra bỏng

nặng như acid H2SO4 và HNO3, nếu khi rơi vào da không rửa ngay lập tức, acid sẽ

làm phồng rộp và gây viêm da

Acid flohydric (HF): Dung dịch HF là chất gây bỏng da Điều trị các vết

bỏng do HF gây ra ở mắt, da bằng dung dịch canxigluconate 10% Khí HF tác hại

đối với cơ thể nguy hiểm hơn gấp 10 lần so với HCl Muối NaF cũng là chất dễ

gây ra loét ở da và nếu kéo dài thời gian sẽ dẫn đến rối loạn máu

Các chất kiềm ăn da (NaOH, KOH Ca(OH) 2): là chất ăn mòn mạnh Nguy

hiểm hơn nữa là tổn thương bởi chất kiềm gây ra sẽ tiếp tục gây hủy hoại cơ thể

theo chiều sâu và dẫn tới nhiễm trùng KOH độc hơn NaOH và có tác dụng tới tim

Khi thao tác kim loại Natri, Kali phải rất thận trọng vì kim loại Na, K gặp nước sẽ

Trang 22

tay vào Natri kim loại Khi thao tác phải có găng tay và kính bảo vệ, không để rơivãi Na kim loại lên bàn hoặc vứt vào chậu rửa (vì khí hydro có thể thoát ra tạo nênhỗn hợp nổ).

Acid nitric (HNO 3 ): Acid nitric là một acid rất mạnh, tác dụng với tất cả mọi

kim loại, trừ Au, Pt, Rh, Ir) HNO3 mang tính oxy hóa mạnh, dưới tác dụng củaánh sáng phân hủy thành NO2 và H2O; HNO3 tác dụng với vật liệu hữu cơ, mùncưa, sinh ra NO2 ; rượu và dầu khí pha loãng với HNO3 gây ra nổ Khi tác dụngtrực tiếp với da gây ra bỏng, Trong khói chứa NO2, N2O5 và mù acid HNO3 kíchthích đường hô hấp, ngoài ra còn phá hủy răng, màng tiếp hợp mắt và gây nhiễmđộc mắt

Acid sulphuric (H 2SO4): Acid sulphuric là loại hóa chất sử dụng rộng rãi

trong công nghiệp hóa chất Nó rất háo nước, acid đặc khi phản ứng tỏa ra mộtlượng nhiệt lớn.Vì vậy khi đổ acid vào nước cần phải rót từ từ Hít phải hơi acidgây kích thích đường hô hấp trên, ho khó thở, gây co thắt cổ họng Tuy nhiên nguyhiểm nhất vẫn là đổ, bắn acid vào da, niêm mạc mắt vì nó là một acid gây bỏngnặng sẽ chiếm lấy carbon, chiếm lấy nước trên da Thường xảy ra, nguy hiểmnghiêm trọng là bắn acid vào mắt khi pha acid với nước

Thủy ngân (Hg): Khi làm việc với thủy ngân có thể bị kích thích làm giảm

năng suất lao động, mất ngủ, kém trí nhớ, buốt đầu, run tay chân Hơi thủy ngânkhi hít vào phổi xâm nhập vào máu có thể tích tụ trong cơ thể ở những bộ phậnkhác nhau (gan, lá lách, thận), dù sau này không thao tác tiếp xúc với thủy ngân thìtại nơi tích tụ trước đây có thể tái phát gây ra ngộ độc cơ thể

Oxít Chì – PbO: Chì xâm nhập vào cơ thể bằng đường hô hấp, đường tiêu

hóa, gây độc chủ yếu cho hệ thần kinh, hệ tạo máu, gây rối loạn tiêu hóa, viêmthận và áp huyết cao, (mãn tính) Gây nhiễm độc cấp tính Phát hiện nhiễm độc

nhờ khám sức khỏe định kỳ, xét nghiệm tìm chì trong máu và nước tiểu.

Phenol (C 6H5OH): Phenol bay hơi ở nhiệt độ bình thường mặc dù độ nóng

chảy của nó ở 40,9oC, nhiệt độ sôi là 181oC Phenol dễ bốc hơi, ngưng tụ nên dễdàng gây nhiễm độc Phenol là chất kích thích và ăn da, thường gây ra những vếtloét bỏng trên da, tiếp xúc lâu có thể tác hại đến hệ thống thần kinh Giới hạn nồng

độ hơi cho phép trong nhà sản xuất là 5 mg/m3

Trang 23

Benzen và đồng đẳng: Benzen và đồng đẳng (toluen, xylen) được sử dụng

trong sản xuất hóa chất, hóa dược, xăng dầu, làm dung môi trong sản xuất sơn, keo

dán…

Tác hại cấp tính: liều thấp gây kích thích mắt, mũi, họng; liều cao gây choáng

váng, đau đầu, chóng mặt nôn mửa, mê man; nồng độ cao hơn gây hôn mê, co giật,

có thể gây tử vong

Tác hại mãn tính: gây rối loạn thần kinh (nhức đầu, chuột rút); gây tổn thương

cơ quan tạo máu (tủy xương, lách); gây xuất huyết niêm mạc, xuất huyết dưới da,

xuất huyết tại gan, thận, lách, não; gây thiếu máu giảm và biến dạng hồng cầu,

giảm bạch cầu; gây ung thư (bệnh bạch huyết); gây quái thai, sảy thai, đẻ non;

Benzen tích lũy ở não và tủy xương

Các dung môi hữu cơ (DMHC) khác:

DMHC béo và mạch thẳng (dẫn xuất của xăng dầu): gây kích thích niêm mạc,

khô da, tiêu mỡ, suy nhược thần kinh, viêm phổi

DMHC có halogen: DMHC có Clo tác động vào thần kinh trung ương, viêm

da mãn tính, tiêu mỡ, gây tổn thương gan, thận; Clorua methylen gây tổn thương

thần kinh trung ương, kích thích da, niêm mạc, gây ung thư; Trichloroethylene gây

kích thích niêm mạc, gây tổn thương tế bào gan và tế bào ống thận

Rượu: Rượu methylic gây kích thích da, niêm mạc, rối loạn thị giác, mù lòa,

liều cao gây hôn mê và tử vong; Ethylen glycol gây tổn thương phủ tạng, suy thận

cấp, liều cao gây tử vong

Ete: gây suy nhược thần kinh trung ương; Ethylen oxyde gây kích thích da,

niêm mạc, liều cao gây bệnh não, nhiễm độc tinh trùng, sinh quái thai, đột biến gen

và ung thư ở súc vật

6 Bảng thống kê ảnh hưởng của một số hóa chất nguy hiểm đến con người

Khả năng một hóa chất có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe phụ thuộc vào hai

yếu tố: độc tính của hóa chất và mức độ phơi nhiễm Độc tính là một đặc tính vốn

có của hóa chất Tuy nhiên một hóa chất sẽ gây tổn thương hoặc gây bệnh tật chỉ

khi người lao động bị phơi nhiễm thực sự với chúng

Dung môi

Trang 24

Acetone Ngắn hạn: Ngứa mắt và niêm mạc; ức chế hệ

thần kinh tung ương khi tập trung cao

Benzene Ngắn hạn: Nhức đầu; đau đầu; đau bụng; co giật

Dài hạn: tổn hại hệ thống tạo máu

Dài hạn: Hư gan

Methanol Ngắn hạn: Buồn nôn; đau bụng; đau đầu; ngứa mắt,

mũi, và họng; mù lòa hay tử vong với liều lượng cao

Dài hạn: gây tổn hại cho tim, thận, gan

Methyl ethyl ketone (MEK) Ngắn hạn: đau đầu; ngứa họng, mũi và mắt; tê ngón

tay và cánh tay;

Dài hạn: làm hư gan; hư hệ thần kinh

Methylene chloride Dài hạn: Có thể gây ung thư

Trichloroethylene (TCE) Ngắn hạn: đau đầu; tinh thần lẫn lộn; uể oải; chóng

mặt; nhịp tim không đều

Dài hạn: làm hư gan; có thể gây ung thư

Toluene Ngắn hạn: Mệt mỏi; lẫn lộn; đau đầu; buồn nôn

Dài hạn: có thể gây dị tật bẩm sinh với nồng

độ cao; gây hại cho thận và gan; mất cảm giác ăn ngon; thay đổi tính tình

Kim loại

Chì

Ngắn hạn: Rất hiếm gặp (chỉ thấy trong trường hợp

mức độ tiếp xúc nhiều) Triệu chứng tương tự như trường hợp Dài hạn

Dài hạn: Gây hại cho não bộ, hệ thần kinh (run, cơ

bắp yếu, không phối hợp tốt); gây hại cho hệ sinh sản(cả nam và nữ); các vấn đề về dạ dày; thiếu máu; hư thận

Khí

Carbon monoxide Ngắn hạn: đau đầu; chóng mặt; có vấn đề về khả

năng tập trung; mất ngủ; mệt mỏi

Trang 25

Dài hạn: bệnh tim

cho phổi và sức khỏe tại nồng độ cao

Các chất khác

Acrylics Ngắn hạn: Ngứa mắt, mũi, và họng; phản ứng dị

ứng; vấn đề về dạ dày

Dài hạn: Hư phổi

Dài hạn: Ung thư phổi, dạ dày, và thực quản;

rỗ phổi

Epoxy resins Ngắn hạn: ngứa mắt, mũi, và họng.

Dài hạn: hen suyễn

Formaldehyde Ngắn hạn: Ngứa mắt, mũi, họng và da; hen suyễn và

phản ứng dị ứng

Dài hạn: Có thể gây ung thư

Glycol ethers Dài hạn: có thể gây dị tật bẩm sinh; gây hại

cho tinh trùng; thiếu máu

Isocyanates Ngắn hạn: ngứa họng, mũi, họng; hen suyễn, bệnh

phổi; mẫn cảm

Dài hạn: có thể gây ung thư

Hóa chất gây ung thư

Hóa chất Người lao động bị ảnh hưởng/nơi làm việc Ung thư

Thạch tín và Hợp

chất có thạch tín

Công nghiệp bán dẫn, luyện kim; sản xuất thuốc nhuộm; sản xuất kính; sử dụng thuốc trừ sâu trừ nấm; sản phẩm phụ của quy trình nung chảy quặng đồng

Da, phổi, gan

A-mi-ăng Xây dựng (sản phẩm có xi măng); công nhân

đóng tầu (vật liệu xây dựng); cơ khí (má phanh); khai khoáng quặng a-mi-ăng; sử dụngtấm lợp cách điện và cách nhiệt

Phổi; màng phổi; hệ tiêu hóa

Trang 26

tẩy nhờnCadmium Mạ điện; chất bán dẫn; sản xuất thuốc nhuộm;

nhuộm và in

Tuyến tiền liệt;thận

Chloroform Quy trình làm ảnh; giặt khô; sản xuất

fluorocarbon; sử dụng làm dung môi

Gan, thận, tuyến giápChromium VI

(hexavalent

chrome)

mạ điện; công nghiệp thép Phổi

Ethylene Oxide Sử dụng như thuốc phun trừ sâu; triệt sản

trong bệnh viện

Dạ dày, bạch cầu

Formaldehyde Sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất tấm lợp,

sợi cao su, và thuộc da

hô hấp mẫn cảm

Phản ứng Methylating; bọt chất dẻo; sản xuất

tủ lạnh

Nghiên cứu trên động vật cho thấy một

số loại ung thư

Trang 27

Styrene Sản xuất cao su; sản xuất chất nhựa nhân tạo;

sản xuất nguyên liệu tổng hợp polymer

Phổi

Trichloroethylen

e (TCE)

Sử dụng rộng rãi làm dung môi Gan

Vinyl Chloride Sản xuất chất dẻo; sản xuất PVC Gan, não bộ,

phổi

Trang 28

CHUYÊN ĐỀ 4: CÁC PHƯƠNG ÁN, BIỆN PHÁP, PHÒNG NGỪA, LOẠI

TRỪ, KHẮC PHỤC SỰ CỐ HÓA CHẤT

Sự cố hoá chất (Event of chemical hazards): Sự việc bất thường xảy ra liên quan

tới hoá chất gây cháy, nổ, độc hại, ăn mòn hoặc ô nhiễm môi trường

1 QUY TRÌNH XỬ LÝ RÒ RỈ HOẶC TRÀN ĐỔ HÓA CHẤT

Sự đổ tràn, rò rỉ hóa chất vừa lãng phí, vừa độc hại Cố gắng tránh để xảy raviệc đó ở bất cứ nơi nào Tuy nhiên, nếu có thì phải xử lý ngay lập tức Một vàinguyên nhân phổ biến gây ra sự đổ, tràn là:

- Vật chứa bị rò rỉ do bao gói có khiếm khuyết, không chịu được nóng hoặcẩm

- Vật chứa bị vỡ, bị đâm thủng trong quá trình vận chuyển do các vật sắcnhọn ở hai bên thành hoặc đinh trồi lên trên mặt sàn của xe

- Không cẩn thận trong việc chuyển rót hóa chất từ vật chứa sang thiết bị;

- Thiết bị hỏng trước hoặc trong quá trình sử dụng, ống hoặc chỗ nối ốngmòn, rách hay có rãnh hở, các van bị hỏng

Quy trình xử lý rò rỉ được lập và ghi trong kế hoạch khẩn cấp cùng với cácbiện pháp khẩn cấp khác

Vấn đề then chốt để thành công trong việc kiểm soát rò rỉ, tràn đổ là phải hiểubiết về các đặc tính của các hóa chất có liên quan và cách xử lý chúng Cần nhắclại rằng nguồn thông tin tốt nhất là bản dữ liệu an toàn hóa chất, hay từ kỹ sư hóa

và cán bộ vệ sinh của nhà máy

Nhân sự chịu trách nhiệm xử lý rò rỉ hoặc tràn đổ trong nhà máy phải phánđoán ngay lập tức xem với tình hình đó nội bộ nhà máy có thể giải quyết được haycần sự trợ giúp từ bên ngoài

Tùy thuộc vào mức độ và hình thức rò rỉ, tràn đổ cũng như tác hại của hóachất liên quan để thực hiện các bước sau:

- Sơ tán toàn bộ những người không có trách nhiệm đến nơi an toàn và thựchiện sơ cứu nếu cần thiết

- Nếu hóa chất có khả năng bốc cháy thì phải giảm nguy cơ cháy nổ bằngcách dập tắt mọi ngọn lửa trần, nguồn nhiệt hoặc các kích ứng khác;

- Đánh giá tình trạng và khả năng giải quyết nó Nếu thấy cần thiết thì kêu gọi

sự giúp đỡ từ bên ngoài;

Trang 29

- Quyết định dùng phương tiện bảo vệ cá nhân thích hợp với hóa chất tràn đổ

hoặc rò rỉ Có thể là các phương tiện đặc biệt chỉ được sử dụng trong các trường

hợp khẩn cấp

- Hạn chế hóa chất lan tràn rộng bằng cách kiểm soát nó ngay tại nguồn phát

sinh Điều này có thể làm bằng cách đóng các van, đóng kín xi-téc, đo lại quy

trình Những hoạt động đó phải do người có thẩm quyền và hiểu biết về quá trình

sản xuất quyết định để tránh làm tình trạng xấu thêm và dẫn đến nhiều nguy cơ

khác;

- Cố gắng khu trú vết rò rỉ hoặc tràn đổ bằng việc quây lại và thấm hút sạch

Nếu thấy thích hợp, nên đóng hóa chất vào trong vật chứa hoặc trung hòa làm mất

tính độc của nó;

- Khi hóa chất đã được bảo quản an toàn hoặc trung hòa, vùng bị hóa chất rò

rỉ ra phải được khử độc và phải được người có chuyên môn kiểm tra;

- Chỉ cho phép trở lại làm việc nếu vùng rò rỉ hoặc tràn đổ được xác nhận là

an toàn

2 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG, XỬ LÝ CHÁY NỔ

2.1 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHÁY

Có hai biện pháp phòng cháy chính là:

- Các biện pháp được thực hiện ngay từ khi thiết kế, thi công các công trình

- Loại biện pháp tiến hành trong lúc các quá trình sản xuất hoạt động bình

thường

Ngoài ra, như ở trên đã nói công tác chữa cháy bao gồm các biện pháp về tổ

chức, kỹ thuật Chẳn hạn các biện pháp tổ chức là huấn luyện, tuyên truyền giáo

dục và pháp chế nhà nước

Những biện pháp kỹ thuật có thể kể đến là việc chọn lựa phương pháp sản

xuất, sơ đồ công nghệ, thiết bị sản xuất, chọn vật liệu kết cấu, vật liệu xây dựng,

các hệ thống thông tin, báo hiệu,

Để bảo đảm tránh cháy nổ trong khi tiến hành các quá trình sản xuất Có thể

áp dụng các biện pháp sau đây:

- Thay thế những khâu sản xuất nguy hiểm bằng những khâu ít nguy hiểm

hơn nếu có thể

Trang 30

- Cơ khí hóa, tự động hóa, điều khiển từ xa các quá trình sản xuất có tính chấtnguy hiểm để đảm bảo an toàn.

- Thiết bị phải đảm bảo kín không thoát hơi, khí cháy ngoài khu vực sản xuất

- Cho các chất phụ gia, các chất ức chế, các chất chống cháy nổ để khống chếcháy nổ của hỗn hợp cháy

- Đặt các thiết bị dễ cháy, cháy nổ ra một khu riêng biệt

- Loại trừ mọi khả năng phát sinh mồi lửa

- Bằng mọi cách phải làm giảm tới mức thấp nhất lượng chất cháy nổ trongkhu vực sản xuất

- Chọn vật liệu kết cấu, vật liệu xây dựng của công trình cho thích hợp vớitính chất nguy hiểm về cháy nổ của ngành sản xuất (chia 5 hàng A, B, C, D, E)theo ba nhóm: nhóm không cháy, nhóm khó cháy hoặc nhóm dễ cháy

2.2 CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ CHÁY NỔ LAN RỘNG

Để đề phòng cháy nổ lan rộng trong sản xuất công nghiệp, do ngọn lửa lantheo các đường dẫn khí, hơi, hỗn hợp bụi – không khí hay theo các băng tải dẫncác chất cháy rắn, ngay từ khi thiết kế xây dựng cần để ý giải quyết bằng các biệnpháp như:

- Trên đường ống dẫn chất lỏng, người ta đặt các van ngược, tấm lược lọc vàvan thủy lực,

- Trên các đường ống dẫn khí đặt các van thủy lực, bộ phận chặn lửa, màngchống nổ

- Trên các đường ống dẫn hỗn hợp bụi – không khí đặt các tấm chắn hay van

tự động chặn lửa

- Tại chỗ băng tải nghiêng hay ngang, chui qua tường chặn lửa ta đặt các cửa

tự động hay màng nước chặn lửa

- Đặt tường ngăn cháy hoặc vùng ngăn cháy, chọn khoảng cách chống cháythích hợp, cửa, cửa sổ thích hợp

- Đặt tường ngăn cháy hoặc vùng ngăn cháy, chọn khoảng chống cháy thíchhợp, cửa, cửa sổ thích hợp

Tác dụng của bộ phận chặn lửa là chia nhỏ ngọn lửa cháy ra thành nhiều dòng

để các đường kính những dòng đó nhỏ đến mức ngọn lửa cháy hay ngọn lửa nổkhông thể lan ra tiếp tục được Đồng thời khi ấy sự mất nhiệt sẽ rất lớn, phản ứng

Trang 31

đứt mạch xảy ra mạnh hơn, phản ứng cháy dây chuyền không duy trì tiếp tục được.

Ở chỗ đặt bộ phận chặn đường kính phải lớn hơn đường kính ống dẫn từ 3 – 4 lần

trở lên

Khi có thể gây nổ, sóng nổ dễ dàng đi qua các lỗ hẹp nên các bộ phận chặn

lửa thông thường không đủ hiệu quả, cần đặt thêm ở trước bộ phận chặn lửa một

đoạn ống đường kính gấp 3 – 4 lần đường kính ống dẫn và dùng thêm van chống

nổ, màng chống nổ Màng chống nổ có thể làm bằng nhôm, đồng, vải amiăng, giấy

đặc biệt và được đặt ở đầu ống thẳng góc với chiều chuyển động của dòng khí hoặc

đặt ở đầu một đoạn ống riêng, gắn nghiêng tối đa 150 , vào ống dẫn khí

Tường ngăn cách, vùng ngăn cháy là các biện pháp chặn lửa hiệu quả nhất

cho các ngôi nhà

2.3 CÁC BIỆN PHÁP CẤP CỨU DỰ PHÒNG

Trong khi thiết kế phải nghiên cứu đến các biện pháp dự phòng để cấp cứu

người, tài sản khi xảy ra đám cháy Các biện pháp dự phòng này bao gồm những

vấn đề như: bố trí các lối thoát cho người, trang bị những phương tiện thông tin,

liên lạc các phương tiện chữa cháy của đơn vị

Đối với các lối thoát cho người phải bố trí sao cho gần nhất và trên đoạn

đường đó, trên những lối thoát bắt buộc không có những chướng ngại vật, hào, hố,

bậc có thể làm ngã người

Lối thoát có thể là cổng, cửa lớn, hàng lang trực tiếp ra ngoài hoặc qua các

nơi khác rồi đi ra ngoài Các cửa phải là loại cửa đẩy ra

2.4 CHỮA CHÁY

Muốn chữa cháy cho hiệu quả ta phải hiểu rõ về tính chất của đám cháy,

nguyên lý để chữa cháy và phương tiện chữa cháy

2.4.1 Quá trình phát triển đám cháy

a Đặc điểm của đám cháy

Tất cả đám cháy bao giờ cũng tỏa nhiệt Nhiệt lượng của đám cháy tỏa ra

nhiều hay ít có ảnh hưởng rất lớn đến các biện pháp chữa cháy Đám cháy còn khói

gọi là sản phẩm cháy cũng gây trở ngại rất nhiều cho công việc chữa cháy, thí dụ

như là khói độc, hạn chế tầm nhìn của người chữa lửa,

Trang 32

Đặc trưng quan trọng của đám cháy là tốc độ cháy Tốc độ cháy phụ thuộc vàochất cháy, vào thời tiết (độ ẩm, hướng gió), tốc độ cháy được đánh giá theo hailoại là: tốc độ dài và tốc độ khối.

Tốc độ dài

Là quãng đường đám cháy phát triển trên bề mặt của chất cháy trong một đơn

vị thời gian, được tính bằng mm/phút hay m/phút

b Diễn biến và sự phát triển của đám cháy

Hầu hết các đám cháy đều diễn biến theo ba giai đoạn:

Giai đoạn đầu

Nguồn nhiệt nung nóng vật cháy đến nhiệt độ bén lửa Giai đoạn này là dàihay ngắn tùy thuộc vật liệu cháy Khi lửa mới bén cháy, tốc độ phát triển của nócòn chậm, nếu phát hiện và cứu chữa kịp thời thì có thể dập tắt đám cháy một cáchmau chóng

Giai đoạn cháy to

Trong giai đoạn này c độ phát triển của đám cháy nhanh nhất, nhiệt độ đámcháy là cao nhất, cháy nhiệu nhất Ở giai đoạn này lửa sẽ lan tràn từ nơi này đếnnơi khác do ngọn lửa trực tiếp tạt qua hay do bức xạ nhiệt, truyền nhiệt rồi béncháy, tự bắt cháy

Giai đoạn kết thúc đám cháy

Nhiệt độ của đám cháy giảm dần, tốc độ cháy cũng giảm xuống cho đếnkhông Kết thúc của đám cháy xảy ra là do cứu chữa kịp thời, loại trừ những điềukiện để đám cháy phát triển thì đám cháy bị dập tắt hoặc do nó tự kết thúc vì cháyhết vật liệu cháy rồi, hay trong đám cháy sinh ra khí trơ pha loãng nồng độ oxy đếnmức độ không thể cháy được nữa

2.4.2 Nguyên lý chữa cháy

Trang 33

Sau khi đã biết về bản chất, điều kiện của quá trình cháy và diễn biến của nó,

ta thấy rằng sự cháy sẽ được chấm dứt khi giảm tốc độ truyền nhiệt ở vùng này và

tăng tốc độ truyền nhiệt ra môi trường chung quanh

Như vậy ta có thể làm giảm tốc độ phát triển hoặc ngừng phát triển ở vùng

cháy bằng cách ức chế phản ứng theo phương pháp hóa học, pha loãng chất cháy

bằng chất không cháy hoặc cách ly chất phản ứng ra khỏi nơi cháy Để tăng tốc độ

truyền nhiệt từ vùng cháy ra môi trường xuang quanh, người ta thực hiện bằng

cách làm lạnh nhanh chóng vùng cháy hoặc chất phản ứng

Việc tiến hành những quá trình đó có thể áp dụng các phương pháp khác nhau

gọi là phương pháp chữa cháy, phương pháp chữa cháy này là hoạt động liên tục

chính xác của con người theo một trình tự nhất định, hướng vào góc đám cháy,

nhằm tạo điều kiện để dập tắt đám cháy

Ví dụ theo nguyên lý pha loãng chất cháy, có thể làm bằng nhiều cách như

phun khí, hơi không cháy hay phun bụi chất lỏng vào nơi có đám cháy vào ngọn

lửa hay vào chất cháy Có nhiều phương pháp khác nhau để dập tắt đám cháy

chẳng hạn

- Làm loãng chất cháy: (tham gia phản ứng) bằng cách đưa vào vùng cháy

những chất không tham gia phản ứng như khí CO2, N2,

- Ức chế phản ứng bằng cách đưa vào vùng cháy những chất có tham gia phản

ứng, nhưng có khả năng biến đổi chiều của phản ứng từ phát nhiệt thành thu nhiệt

là các chất brometyl,

- Ngăn cách không cho oxy đi vào vùng cháy bằng cách dùng bọt, cát,

- Làm lạnh vùng cháy cho đến dưới nhiệt độ bắt cháy của các chất cháy

- Phương pháp tổng hợp: thực hiện nhiều phương pháp khác nhau như đầu

tiên pha loãng chất cháy, rồi đến phương pháp làm lạnh, sau đó đến phương pháp

cách ly

Trong thực tế, các phương pháp chữa cháy không chỉ đưa vào một nguyên lý

dập tắt đám cháy mà còn là sự kết hợp của nhiều nguyên lý Có như vậy đám cháy

mới bị dập tắt nhanh chóng

Ví dụ như khi sử dụng một chất chữa cháy nào đó để chữa cháy thì chất ấy

ngoài tác dụng làm lạnh chất cháy, nò còn cách ly chất cháy với vùng cháy nữa

Trang 34

Tuy vậy phương pháp chữa cháy tổng hợp vẫn là phương pháp có hiệu quả caonhất, tiết kiệm được chất chữa cháy.

Ngoài phương pháp chữa cháy nói chung, công tác chữa cháy còn cần cóchiến thuật để dập tắt đám cháy Chiến thuật chữa cháy có thể nói là phương phápchữa cháy một đám cháy cụ thể Trong chiến thuật chữa cháy có chiến thuật baovây tiêu diệt toàn bộ, chiến thuật chia cắt từng điểm cháy đến tiêu diệt toàn bộ đámcháy Áp dụng chiến thuật chữa cháy nào phải tùy theo đặc điểm của đám cháy,lực lượng, phương tiện, trang bị cứu chữa mà quyết định phương án cứu chữa

2.5 CÁC CHẤT CHỮA CHÁY

Chất chữa cháy là chất khi tác dụng vào đám cháy sẽ tạo ra những điều kiệnnhất định và duy trì điều kiện ấy trong một thời gian để dập tắt đám cháy

2.5.1 Các yêu cầu cơ bản của chất chữa cháy

Chất chữa cháy có thể có nhiều loại khác nhau ở thể rắn, thể lỏng hay thể khí.Mỗi loại đều có đặc tính riêng và phạm vi sử dụng nhất định Tuy nhiên tất cả cácchất chữa cháy đều có những yêu cầu cơ bản sau:

- Phải có hiệu quả cao khi cứu chữa: nghĩa là tiêu hao chất chữa cháy trên mộtđơn vị diện tích cháy ở một đơn vị thời gian phải là ít nhất trong khi đó kết quả cứuchữa lại cao nhất

- Tìm kiếm dễ dàng và rẻ tiền

- Không độc đối với người và vật trong khi sử dụng, bảo quản

- Không làm hư hỏng các thiết bị cứu chữa và các thiết bị được cứu chữa

2.5.2 Các chất chữa cháy được sử dụng rộng rải ở nước ta

Nước

Nước có ưu điểm là dễ tìm kiếm và rẻ nên được dùng nhiều để chữa cháy mặc

dù hiệu suất chữa cháy của nó thấp hơn so với một số chất khác

Nước có khả năng thu nhiệt của các đám cháy, khi phun nước vào đám cháy, bềmặt cháy được làm lạnh do nhiệt tiêu hao làm bốc hơi nước, đồng thời hơi nước lạipha loãng nồng độ hơi cháy góp phần tắt đám cháy Khi chữa cháy, lượng nướcphun vào đám cháy phụ thuộc vào cường độ phun nước, nhiệt độ cháy và diện tích

bề mặt đám cháy, ngoài ra còn phải phun nước trong một thời gian nhất định đểnước thấm vào vật cháy, làm lạnh vật cháy xuống dưới nhiệt độ bắt cháy

Trang 35

Cường độ phun nước cần thiết thông thường để chữa cháy các chất rắn như

gỗ, giấy, bông, cao su là từ 0,15 – 0,5 kg/m2.s

Không được dùng nước để chữa cháy các thiết bị có điện, các kim loại có hoạt

tính hóa học như Na, K, Ca, đất đèn và những đám cháy có nhiệt độ cao hơn

17000C, không dùng nước để chữa cháy xăng, dầu

Hơi nước

Người ta sử dụng hơi nước để chữa cháy trong công nghiệp Chữa cháy bằng

hơi nước chỉ thích hợp đối với các loại hàng hóa, máy móc khi chịu tác dụng của

nhiệt và hơi nước mà không bị hư hỏng

Lượng hơi nước cần thiết để chữa cháy phải chiếm lớn hơn 35% thể tích nơi

chứa hàng bị cháy Thực nghiệm cho biết là chữa cháy một phòng kín phải phun

hơi nước với cường độ 0,002 kg/m3.s Đối với phòng có mở cửa sổ, cường độ phun

là 0,005kg/m3.s trong thời gian 3 phút mới dập tắt đám cháy

Bụi nước

Bụi nước được phun thành hạt rất bé như bụi, có thể dùng để chữa cháy các

bể dầu liệu sáng (dầu nhẹ) Độ nhỏ của các hạt bụi nước dưới 100 micron có thể

chữa cháy các loại dầu liệu sáng

Khi chữa cháy, các hạt bụi nước sẽ thu nhiệt của đám cháy rồi bốc hơi, pha

loãng nồng độ cháy, hạ thấp nhiệt độ đám cháy khá nhanh vì những hạt bụi nước

kích thước bằng và dưới 100m với vận tốc vận chuyển 25m/s với nhiệt độ đám

cháy 1.0000C, thời gian bốc hơi của nó chỉ mất 0,4s

Ngoài ra bụi nước còn có tác dụng làm giảm khói của đám cháy

Tuy vậy, bụi nước chỉ dược sử dụng khi nào toàn bộ dòng bụi nước trùm kín

mặt của đám cháy

Bụi nước kích thước bằng 100m chữa cháy xăng, dầu cường độ phun nhỏ

nhất phải là 0,2lít/m2.s

Bọt chữa cháy

Bọt chữa cháy sử dụng ở nước ta có hai loại là bọt hóa học và bọt hòa không

khí Tác dụng chính của bọt chữa cháy là cách ly hỗn hợp cháy với vùng cháy, tác

dụng phụ là làm lạnh Hai loại bọt này chủ yếu để chữa cháy của chất lỏng và xăng

dầu Cấm dùng bọt để chữa cháy các thiết bị có điện, cháy kim loại, đất đèn và

Trang 36

+ Bọt hóa học: là một loại bọt được tạo thành bởi hai phần chủ yếu:

- Phần A là alumin sulfat - Al2(SO4)3

- Phần B là natri bicacbonat NaHCO3 và một số chất làm hỗn hợp bền bọt nhưsắt sun fat, bột cam thảo,

Khi chữa cháy dung dịch A được trộn lẫn với dung dịch B tạo thành bọt theophản ứng:

Al2(SO4)3 + 6H2O → 2Al(OH)3 + 3H2SO4H2SO4 + NaHCO3 → Na2SO4 + 2H2O + 2CO2Phản ứng hóa học cho alumin hydroxyt tạo ra các màng mỏng và nhờ có CO2

mà tạo thành bọt có tỷ trọng 0,11 – 0,22g/cm3 Vì thế bọt nổi trên mặt chất lỏng,thành phần có khoảng 80% thể tích khí CO2, 19,7% nước và 0,3% chất tạo bọt Bọthóa học có bội số bọt từ 5 – 8 lần "Bội số bọt là lần tăng lên của thể tích bọt sinh

ra so với thể tích ban đầu của các chất tạo thành"

Thí dụ: có chất tạo bọt phần A là 5ml, phần B là 8 ml, khi trộn với nhau cho

Nước ta đã sản xuất được loại bọt này ký hiệu BN – 70 và T – 70 Dung dịchtạo bọt BN – 70 được chế tạo từ một loại quả ở nước ta, thành phần chủ yếu củabọt là sabomin và nhựa quả chiếm 90%, các chất làm mềm bọt, chống thối từ 8 –10% Tỷ trọng của bọt hòa không khí là 0,2 – 0,005g/cm3

Cường độ phun bọt khi chữa cháy xăng dầu và những chất lỏng dễ cháy kháctrừ cồn ête là 0,1 – 1,5l/m2.s Độ bền bọt 20 phút Bọt T – 70 được chế tạo từ chấtprotit của sản phẩm thải trong quá trình sản xuất công nghiệp thực phẩm

Bột chữa cháy

Bột chữa cháy là một chất chữa cháy ở dạng rắn từ các muối khoáng khôngcháy, dùng để chữa cháy kim loại, các chất rắn và chất lỏng

Trang 37

Để chữa cháy các kim loại kiềm, người ta sử dụng bột khô có thành phần tính

chất theo trọng lượng gồm 95,5% canxi cacbonat, 1% graphit, 1% sắt stearat, 1%

nhôm stearat và 0,5% axit stearic Bột chữa cháy được phun vào đám cháy bằng

khí nén Chữa cháy bằng bột đôi khi không dập tắt được hoàn toàn đám cháy vì thế

nhiều khi còn phải dùng thêm các hóa chất và phương tiện khác để cứu chữa đám

cháy hòa toàn Cường độ tiêu thụ bột cho một đám cháy là 6,2 – 7 kg/m2.s

Các loại khí chữa cháy

Đó là những khí như cacbonic, nitơ, argon, hêli, khói và những khí không

cháy khác Tác dụng chủ yếu của loại khí chữa cháy là pha loãng nồng độ của chất

cháy và kèm theo tác dụng làm lạnh

Các loại khí phun vào đám cháy tạo ra nhiệt độ rất thấp Thí vụ khí CO2 phun

ra ở dạng tuyết có nhiệt độ – 780C

Sử dụng các loại khí chữa cháy để chữa cháy điện, cháy chất rắn mà khi chữa

bằng nước sẽ bị hư hỏng, chữa cháy chất lỏng và những đám cháy khác

Không được dùng khí chữa cháy những đám cháy mà chất cháy có thể kết

hợp với khí chữa cháy tạo thành các chất cháy nổ mới

Thí dụ như không dùng CO2 chữa cháy phân đạm, các kim loại kiềm, kiềm

thổ hoặc các hợp chất tecmit, thuốc súng,

Các chất chữa cháy halogen

Các chất chữa cháy halogen dùng để chữa cháy đạt hiệu quả rất lớn Tác dụng

chính của chúng là ức chế phản ứng cháy Thêm vào đó chất halogen còn có tác

dụng làm lạnh đám cháy và dễ thấm ướt vào các vật cháy vì thế có thể dùng để

chữa cháy các chất khó thấm nước như bông, vải, sợi Khi chữa cháy bằng chất

halogen, nồng độ oxy không khí của đám cháy có thể chỉ tới 20,6% đám cháy cũng

đã bị dập tắt

Các halogen đưa vào vùng cháy sẽ bị phân hủy, sản phẩm phân hủy sẽ tiếp

tục tham gia vào phản ứng cháy, kết hợp với các nguyên tử và gốc phân tử của hợp

chất cháy làm thay đổi chiều phản ứng cháy từ tỏa nhiệt sang thu nhiệt

Nồng độ dập tắt đám cháy cho các loại chất cháy theo bảng:

Các chất cháy

Trang 38

Hỗn hợp giữa các chất halogen và khí trơ cho ta các tính chất ấy của chấtchữa cháy, như các hợp chất chữa cháy ký hiệu "3,5" và "4 NĐ" Cường độ phunhợp chất "3,5" để chữa cháy là 0,594 kg/m3.s Đối với hợp chất "4 NĐ" cường độphun tính theo phần trăm thể tích là 4,7% và tính theo trọng lượng là 0,203 kg/m3.sThành phần của hai hợp chất chữa cháy này như sau:

Tên hợp chất Thành phần tính theo % trọng lượng

Brometyl (C2H5Br) Khí CO2

Hợp chất "4NĐ" 97,5 – 97 2,5 – 3

Trang 39

CHUYÊN ĐỀ 5: BIỆN PHÁP VỀ QUẢN LÍ, KỸ THUẬT ĐẢM BẢO AN

TOÀN KHI LÀM VIỆC, TIẾP XÚC VỚI HÓA CHẤT ĐỘC HẠI, NGUY

HIỂM TRANG THIẾT BỊ BẢO HỘ LAO ĐỘNG

1.CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT KỸ THUẬT – CÔNG NGỆ

Mục đích chung của việc kiểm soát hóa chất là loại trừ hoặc làm giảm tới

mức thấp nhất mọi rủi ro bởi các hóa chất nguy hiểm, các sản phẩm từ hóa chất

gây ra cho con người và môi trường

Để đạt được điều này chiến lược 4 điểm trong việc kiểm soát được áp dụng để

loại trừ hoặc làm giảm khả năng tiếp xúc với hóa chất được đặt ra

Bốn nguyên tắc cơ bản của hoạt động kiểm soát

- Thay thế: Loại bỏ các chất hoặc các quá trình độc hại, nguy hiểm hoặc thay

thế chúng bằng thứ khác ít nguy hiểm hơn hoặc không còn nguy hiểm nữa

- Quy định khoảng cách hoặc che chắn giữa người lao động và hóa chất nhằm

ngăn cách mọi nguy cơ liên quan tới hóa chất đối với người lao động

- Thông gió: sử dụng hệ thống thông gió thích hợp để di chuyển hoặc làm

giảm nồng độ độc hại trong không khí chẳng hạn như khói, khí, bụi, mù

- Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động nhằm ngăn ngừa

việc tiếp xúc trực tiếp với hóa chất

Biện pháp tốt nhất trong việc ngăn chặn các rủi ro phát sinh từ việc sử dụng

các hóa chất nguy hiểm là loại trừ khỏi môi trường làm việc những hóa chất đó

Tuy nhiên, điều này không phải luôn thực hiện được Vì vậy, điều quan trọng tiếp

theo là cách ly nguồn phát sinh các hóa chất nguy hiểm, hoặc tăng thêm các thiết bị

thông gió và dùng phương tiện bảo vệ cá nhân Đầu tiên, cần xác định được các

hóa chất nguy hiểm và đánh giá đúng mức độ độc hại, nguy hiểm của chúng, kiểm

soát chặt chẽ việc thống kê, các quá trình vận chuyển, chuyển rót và cất giữ hóa

chất, các hóa chất thực tế đang sử dụng và các chất thải của chúng Với mỗi loại

hóa chất nguy hiểm, ta đều phi quan tâm đến các nguyên tắc trên với những nội

dung cụ thể như sau:

1.1 NGUYÊN TẮC THAY THẾ

Cách tốt nhất để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác hại của hóa chất đến con

người và môi trường là tránh sử dụng các hóa chất nếu có sẵn nhiều chất thay thế ít

độc hại, ít nguy hiểm hơn Việc lựa chọn các hóa chất phải được tiến hành ngay từ

Trang 40

Bước 1: Đánh giá hóa chất sử dụng

- Tiến hành thu thập thông tin, đánh giá về các hóa chất đang sử dụng hoặc dựđịnh sử dụng, cụ thể là:

- Cách thức sử dụng hoặc dự định sử dụng hóa chất đó như thế nào?

- Hóa chất hoặc sản phẩm có chứa hóa chất đó có thể gây những rủi ro gì chocon người và môi trường?

- Nó có thể ảnh hưởng tới con người và môi trường ở đâu, bằng cách nào: ởnơi làm việc; thông qua sự phát thi vào không khí hoặc nước; thông qua sản phẩmchứa hóa chất; hay thông qua chất thi từ quá trình vận chuyển, chôn hoặc tiêu hủy,tái chế sản phẩm?

Bước 2: Xác định các giải pháp thay thế

- Có thể thay đổi quy trình hoặc phương pháp sản xuất nhằm thay thế hóa chất

đó bằng một loại khác ít độc hại nguy hiểm hơn, hay giảm hóa chất đó và các sảnphẩm chứa nó không? Nếu có, gồm những giải pháp nào?

- Các giải pháp thay thế có thực tế không? Việc áp dụng các giải pháp thaythế sẽ làm tăng hay giảm chi phí? Sự tăng, giảm đó có kéo dài không, hay chỉ trongmột thời gian ngắn?

Bước 3: Đánh giá những rủi ro mới khi áp dụng các giải pháp thay thế

- Xác định những rủi ro đối với sức khỏe con người và môi trường khi ápdụng các giải pháp thay thế ?

- So sánh rủi ro giữa các giải pháp thay thế Điều này thường không dễ dàng

Có thể sẽ có rất ít thông tin về sản phẩm hoặc phương pháp thay thế Có thể phi sosánh giữa hai chất: một chất gây ra những rủi ro cho môi trường và một chất gâynhững rủi ro cho con người

Bước 4: Lựa chọn giải pháp thay thế

Ngày đăng: 26/10/2022, 08:50

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w