Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn này, nhiều công ty tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hải quan đã ra đời để thực hiện các chức năng: - Tư vấn pháp luật về hải quan cho các doanh nghiệ
Trang 1Giải pháp về hoàn thiện hoạt động
hải quan nhằm tạo thuận lợi trong
việc phát triển các dịch vụ giao
nhận vận tải ở Việt Nam
Trang 2
và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng thì doanh nghiệp ấy mới
có thể đứng vững trên thương trường đầy khắc nghiệt Chính vì vậy, logistics đã ra đời không những để hỗ trợ, làm tăng lợi nhuận cho các nhà sản xuất mà mục đích chính vẫn là để thỏa mãn những nhu cầu ngày càng đa dạng và không ngừng nâng cao của khách hàng cá nhân nói riêng và toàn xã hội nói chung
Trong số những dịch vụ do hoạt động logistics cung cấp thì dịch vụ giao nhận vận tải luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng chi phí logistics Dịch vụ này tuy chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam trong một thời gian không bao lâu nhưng đã khẳng định được vị thế của mình trong việc quyết định đến hiệu quả kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất trong nước cũng như nước ngoài khi muốn gia nhập vào thị trường Việt Nam.Bởi dù muốn hay không thì hoạt động vận tải và giao nhận vẫn là một phần không thể thiếu trong chu trình sản xuất và kinh doanh của bất kì một nhà sản xuất nào Ngoài chức năng cung cấp nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông thành phẩm cho kinh doanh, hoạt động này còn đóng một vai trò hết sức cần thiết trong việc đảm bảo sự
ăn khớp nhịp nhàng giữa sản xuất-lưu thông-tiêu dùng Chỉ cần một khâu bị gián đoạn sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho các khâu tiếp theo, chi phí đền
bù cho các thiệt hại là không nhỏ Nhận thức được điều đó, việc cung cấp các dịch
vụ giao nhận vận tải ở Việt Nam đang được mở rộng và đầu tư đúng mức Nhưng một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để có thể tạo thuận lợi và nâng cao hiệu quả
Trang 3
của dịch vụ này? Câu trả lời không chỉ nằm ở phía các doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ giao nhận vận tải mà cần sự hỗ trợ rất lớn từ nhiều phía.Đó có thể là các cấp quản lí Nhà nước về kinh tế, giao thông, chính sách pháp luật, cũng có thể là các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách phát triển các dịch vụ giao nhận vận tải ở
Việt Nam Nhằm trả lời một phần cho vấn đề đặt ra ở trên, đề tài: “Giải pháp về
hoàn thiện hoạt động hải quan nhằm tạo thuận lợi trong việc phát triển các dịch vụ giao nhận vận tải ở Việt Nam” nêu lên tình hình hoạt động hải quan cùng
với việc đề xuất các phương án nhằm hỗ trợ cho dịch vụ giao nhận vận tải ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế hiện nay Đề tài gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Hoạt động hải quan với việc phát triển các dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa trong cơ chế thị trường
Chương 2: Thực trạng hoạt động hải quan với dịch vụ giao nhận vận tải ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động hải quan nhằm tạo thuận lợi trong việc phát triển các dịch vụ giao nhận vận tải ở Việt Nam
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA TRONG CƠ CHẾ THỊ
TRƯỜNG
1.1 Dịch vụ hải quan, dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa và mối quan
hệ trong quá trình phát triển hoạt động thương mại
1.1.1 Dịch vụ hải quan
Là một khái niệm còn khá mới mẻ, hiện nay chưa có một văn bản pháp luật
ở Việt Nam qui định rõ ràng về dịch vụ hải quan Dựa vào tình hình thực tế, có thể hiểu dịch vụ hải quan là các hoạt động do các doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh làm đại lí hải quan hoặc lĩnh vực liên quan cung cấp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện một phần hoặc toàn bộ quá trình thông quan hàng hóa Hoạt động này có thể được cung cấp trước, trong hoặc sau khi hàng hóa đã được thông quan Phần lớn chủ thể thực hiện các dịch vụ hải quan là các đại lí hải quan Theo điều 21 của Luật Hải quan năm 2001, đại lí hải quan phải am hiểu pháp luật, có
Trang 4a,Dịch vụ khai báo hải quan:
Dịch vụ khai báo hải quan ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa ngày càng lớn của các doanh nghiệp có quan hệ làm ăn với nước ngoài Trước đây, khi khối lượng và giá trị hàng hóa thông thương còn nhỏ, danh mục mặt hàng còn hạn chế, doanh nghiệp có thể cử nhân viên của mình trực tiếp tiến hành khai báo hải quan Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế hiện nay, khi danh mục hàng hóa cùng với biểu thuế đã có nhiều thay đổi đáng kể, kèm theo mối quan hệ làm ăn phức tạp giữa doanh nghiệp trong nước với nhiều bạn hàng ở nước ngoài, việc khai báo hải quan nhanh chóng, chính xác đang đặt ra cho mỗi doanh nghiệp một khối lượng công việc lớn, cần có đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu về vấn đề này Chính vì vậy mà nhiều đại lí hải quan đã ra đời, cung cấp dịch vụ khai báo hải quan một cách chuyên nghiệp, từ đó tiết kiệm được không ít thời gian và chi phí cho các doanh nghiệp Việc kê khai phải đảm bảo đầy
đủ, chi tiết về đặc điểm, số lượng, trọng lượng, trị giá, quy cách, phẩm chất và mã
số của lô hàng xuất khẩu (nhập khẩu) Từ đó, xác định đúng thuế suất áp cho mặt hàng, thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước Vì vậy,nhân viên của đại lí phải liên tục cập nhật danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu cùng với chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu của Nhà nước để tuân thủ đúng các quy định khi tiến hành kê khai Ngoài ra, nhân viên còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có sai sót trong khai báo trái với các văn bản hiện hành hoặc những chứng
từ do chủ hàng cung cấp
b,Dịch vụ làm thủ tục hải quan:
Theo điều 16, Mục 1,Chương III, Luật Hải quan 2005 qui định về thủ tục hải quan thì người khai hải quan phải thực hiện đầy đủ 3 nghĩa vụ: khai và nộp tờ
Trang 5
khai hải quan, nộp và xuất trình chứng từ có trong hồ sơ hải quan;đưa hàng hóa và phương tiện vận tải đến địa điểm qui định để thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải; nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo qui định của pháp luật Hiện nay, danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu bao gồm nhiều loại hình hàng hóa khác nhau Mỗi loại hình hàng hóa yêu cầu bộ hồ sơ hải quan
và các thủ tục khác nhau Nhân viên đại lí hải quan phải nắm vững qui định pháp luật cho từng loại hình để tiến hành làm thủ tục một cách nhanh chóng Ngoài việc thực hiện các công việc liên quan tới hành chính, người cung cấp dịch vụ hải quan còn đại diện cho chủ hàng theo dõi quá trình thông quan của lô hàng, chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề phát sinh khi không có mặt chủ hàng Nếu lô hàng thuộc diện kiểm tra chi tiết hồ sơ, nhân viên đại lí hải quan nên chuẩn bị bộ chứng
từ cùng các tài liệu chứng minh liên quan đầy đủ, rõ ràng, đúng pháp luật Nếu lô hàng nằm trong diện kiểm tra thực tế, đại lí hải quan cử nhân viên thay mặt chủ hàng tham gia vào công tác kiểm tra và thông báo những vấn đề phát sinh không giải quyết được cho chủ hàng Thời gian cung cấp dịch vụ làm thủ tục hải quan nhanh hay chậm tùy theo điều kiện thực tế của lô hàng Với những lô hàng mà chủ
sở hữu là các doanh nghiệp thực hiện tốt pháp luật hoặc thuộc diện hàng phải thông quan gấp, thời gian làm thủ tục có thể được rút ngắn Tuy nhiên, đối với những lô hàng có chủ sở hữu là các doanh nghiệp đã có lịch sử vi phạm pháp luật liên quan đến hải quan hoặc hàng hóa nằm trong danh mục cần phải kiểm tra thực
tế thì thời gian làm thủ tục có thể kéo dài, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, đại lí cung cấp dịch vụ làm thủ tục hải quan phải chính xác, cẩn thận và linh hoạt trong từng khâu để không làm tăng chi phí cho chủ hàng
c,Dịch vụ kho ngoại quan:
Theo Luật Hải quan 2005 và nghị định số 154/2005/NĐ-CP của Chính phủ
về “Qui định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan” thì dịch vụ kho ngoại quan bao gồm:
- Gia cố, chia gói, đóng gói bao bì; phân loại phẩm cấp hàng hóa, bảo dưỡng hàng hóa
- Làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa đưa ra, đưa vào kho ngoại quan
Trang 6
- Vận chuyển hàng hóa từ cửa khẩu vào kho ngoại quan, từ kho ngoại quan
a cửa khẩu, từ kho ngoại quan này sang kho ngoại quan khác
- Chuyển quyền sở hữu hàng hóa
Khác với các dịch vụ hải quan khác có thể do các đại lí hải quan đảm nhận, doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật
- Có chức năng kinh doanh kho bãi, giao nhận hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
- Kho, bãi được thành lập tại các khu vực thường được ngăn cách với khu vực xung quanh bằng hệ thống tường rào, đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát thường xuyên của cơ quan hải quan
- Có cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện vận chuyển phù hợp yêu cầu lưu giữ, bảo quản hàng hóa và kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan
- Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ra quyết định thành lập kho ngoại quan
Dịch vụ kho ngoại quan được cung cấp bởi các doanh nghiệp nhưng do tính chất của hàng hóa được phép lưu giữ trong kho khá đặc biệt nên phải có sự giám sát của cơ quan hải quan Vì vậy, song song với sự thỏa thuận giữa chủ kho ngoại quan và chủ hàng được thể hiện trong hợp đồng thuê kho ngoại quan, chủ kho ngoại quan còn phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định của pháp luật về quản lí lưu giữ, bảo quản hàng hóa gửi kho ngoại quan cũng như chế độ báo cáo 6 tháng 1 lần về thực trạng hàng hóa trong kho và tình hình hoạt động của kho lên Cục trưởng Cục hải quan trực tiếp quản lí
d,Dịch vụ tư vấn pháp luật về hải quan:
Mỗi doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động kinh doanh với các đối tác nước ngoài thường có những vướng mắc về thủ tục khó giải quyết Bởi những hoạt động này thường được qui định trong nhiều văn bản luật chuyên ngành khác nhau
và tùy trường hợp cụ thể lại có những hướng dẫn thực hiện khác nhau Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể nắm vững và sử dụng thành thạo các qui định của pháp luật để tiến hành làm thủ tục hải quan một cách nhanh chóng và
Trang 7
chính xác Việc này ảnh hưởng đến tốc độ lưu thông hàng hóa cũng như hiệu quả kinh doanh của của doanh nghiệp Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn này, nhiều công ty tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hải quan đã ra đời để thực hiện các chức
năng:
- Tư vấn pháp luật về hải quan cho các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân khi thực hiện các hoạt động liên quan đến lĩnh vực hải quan ( các điều kiện, thủ tục khi tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá đối với từng loại hình cụ thể theo quy định của Nhà nước; cách thức tiến hành từ khâu khai báo đến làm thủ tục hải quan và thông quan hàng hoá; nơi làm thủ tục hải quan; hình thức làm thủ tục….)
- Tư vấn những vấn đề liên quan đến chính sách quản lý mặt hàng của Nhà nước ( những hàng hoá, hành lý được phép xuất nhập khẩu; được xuất nhập khẩu
có điều kiện; không được phép xuất nhập khẩu…)
- Tư vấn những vấn đề liên quan đến chính sách thuế từ khai báo; xác định tên hàng, mã số hàng hoá, áp biểu thuế theo đúng quy định của Nhà nước
- Thực hiện dịch vụ làm thủ tục hải quan trọn gói
- Thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khi bị thiệt hại do những sai sót của cơ quan Nhà nước trong việc phán quyết và ra quyết định về những vấn đề liên quan đến hải quan như: xử phạt vi phạm hành chính; áp mã; áp thuế tại Toà án Hành chính
Dịch vụ tư vấn pháp luật hải quan ra đời nhằm giảm bớt các chi phí phát sinh không cần thiết của các doanh nghiệp đồng thời giúp các doanh nghiệp định hướng đúng đắn trong việc giải quyết các sự cố liên quan đến lĩnh vực hải quan
1.1.2 Dịch vụ giao nhận vận tải
Dịch vụ giao nhận vận tải là một dịch vụ khá quen thuộc đối với những doanh nghiệp có nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa hiện nay Nằm trong hệ thống các dịch vụ thuộc hệ thống logistics, dịch vụ này chiếm một tỉ trọng lớn trong chi phí nên nó đóng vai trò hết sức quan trọng Không một công ty nào có thể duy trì hoạt động một cách ổn định nếu như không được cung cấp nguyên vật liệu đầy đủ
và kịp thời Không một doanh nghiệp nào có thể thu được lợi nhuận nếu như sản
Trang 8
phẩm sản xuất ra không được lưu thông và chuyển đến khách hàng có nhu cầu Như vậy, dịch vụ giao nhận vận tải trở thành mạch máu lưu thông cho toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp cùng với các nhà cung cấp dịch vụ phải xây dựng chiến lược vận tải khoa học, hợp lí: xác định lộ trình vận tải, chọn hãng vận tải thích hợp, xúc tiến, đôn đốc và kiểm soát hàng hóa trong quá trình vận chuyển, làm hồ sơ khiếu nại khi hàng hóa bị hư hỏng, mất mát Dịch vụ giao nhận vận tải tuy là một quá trình thống nhất, gắn bó chặt chẽ nhưng có thể được hiểu thành hai hệ thống dịch vụ riêng biệt: dịch vụ giao nhận và dịch vụ vận tải
a,Dịch vụ giao nhận:
Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA), dịch vụ giao nhận là bất kì loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa, cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh lí, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa Người giao nhận có thể
là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ, hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất cứ người nào khác có đăng kí kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa Cùng với sự phát triển của dịch vụ giao nhận, vai trò của người giao nhận cũng được mở rộng ra rất nhiều Trong xu thế thương mại toàn cầu hoá cùng với
sự phát triển nhiều hình thức vận tải mới trong những thập niên qua, người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá ngày nay giữ vai trò quan trọng trong vận tải và buôn bán quốc tế Những dịch vụ người giao nhận thực hiện không chỉ dừng lại ở các công việc cơ bản truyền thống như đặt chỗ đóng hàng, nơi dùng để kiểm tra hàng hoá, giao nhận hàng hoá mà còn thực hiện những dịch vụ chuyên nghiệp hơn như
tư vấn chọn tuyến đường vận chuyển, chọn tàu vận tải, đóng gói bao bì hàng hoá, v.v
Đối với Việt Nam, trong nghị định của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng hải, ban hành ngày 19/03/2001 (có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký), dịch vụ giao nhận hàng hoá ngoại thương bao gồm:
- Dịch vụ đại lý vận tải đường biển: tổ chức và tiến hành các công việc phục vụ quá trình vận chuyển, giao nhận hàng hóa, vận chuyển hành khách và hành lý trên cơ sở hợp đồng vận chuyển bằng đường biển hoặc hợp đồng vận tải
Trang 9
đa phương thức;cho thuê, nhận thuê hộ phương tiện vận tải biển, thiết bị bốc dỡ, kho tàng, bến bãi, cầu tàu và các thiết bị chuyên dùng hàng hải khác;làm đại lý công-te-nơ (container);giải quyết các công việc khác theo ủy quyền
- Dịch vụ môi giới hàng hải: làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý;làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng bảo hiểm hàng hải;làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng cho thuê tàu, hợp đồng mua bán tàu, hợp đồng lai dắt, hợp đồng thuê và cho thuê thuyền viên;làm trung gian trong việc ký kết các hợp đồng khác có liên quan đến hoạt động hàng hải do người ủy thác yêu cầu theo từng hợp đồng cụ thể
- Dịch vụ kiểm đếm hàng hóa: thực hiện kiểm đếm số lượng hàng hóa thực
tế khi giao hoặc nhận với tàu biển hoặc các phương tiện khác theo ủy thác của người giao hàng, người nhận hàng hoặc người vận chuyển
- Dịch vụ bốc dỡ hàng hóa tại cảng biển: thực hiện các công việc bốc, dỡ hàng hóa tại cảng theo quy trình công nghệ bốc, dỡ từng loại hàng
b,Dịch vụ vận tải:
Dịch vụ vận tải đóng vai trò quan trọng nhất phục vụ cho việc cung cấp nguyên vật liệu, di chuyển hàng hóa giữa các cơ sở sản xuất, hoặc phân phối sản phẩm cho các nhà kho, phân phối từ các nhà kho, điểm xếp, dỡ hàng hóa tới các địa điểm bán hàng, bao gồm các hoạt động cơ bản:
- Gom hàng lẻ
- Chia nhỏ các lô hàng lớn
- Giao hàng
- Thuê phương tiện vận tải
Hoạt động vận tải được phối hợp trong dây chuyền logistics và đương nhiên không được làm gián đoạn dây chuyền đó Chúng phải tuân thủ các đặc tính của dây chuyền, hơn thế, chúng phải đáp ứng được yêu cầu kịp thời Nói cách khác, người kinh doanh và cung ứng các dịch vụ vận tải phải đảm bảo các chỉ tiêu vận tải nếu anh ta còn muốn tồn tại trên thị trường
Một chỉ tiêu khác là việc cung cấp thông tin về di chuyển của hàng hóa Một người kinh doanh vận tải cần phải duy trì thông tin cho người gửi hàng, người
Trang 10
nhận hàng về tình hình di chuyển của hàng hóa Nếu tiến hành điều chỉnh khi sự
cố xảy ra với hàng hóa đang trên hành trình, thông tin phải được di chuyển theo 2 chiều giữa người gửi, người nhận hàng với người kinh doanh vận tải, giữa người kinh doanh vận tải với các bên tham gia cung cấp dịch vụ
Dựa vào các loại hình phương tiện khác nhau, dịch vụ vận tải có thể phân loại như sau:
- Vận tải đường biển: ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác,ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng các miền, các quốc gia với nhau trên thế giới Cho đến nay vận tải biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế.Đặc điểm của loại hình vận tải này là:
+)Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hóa tham gia buôn bán quốc tế
+)Các tuyến đường vận tải biển hầu hết là các tuyến đường giao thông tự nhiên
+)Năng lực vận chuyển của vận tải đường biển rất lớn Nhìn chung, năng lực vận chuyển của các công cụ tham gia vận tải đường biển không bị hạn chế như công cụ của các phương thức vận tải khác
+)Ưu điểm lớn khi vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là giá thành thấp
- Vận tải đường thủy nội địa:là phương thức vận chuyển hàng hóa và con người trên luồng, âu tàu, các công trình đưa phương tiện qua đập, thác trên sông, kênh, rạch hoặc luồng trên hồ, đầm, phá, vụng, vịnh, ven bờ biển, ra đảo, nối các đảo thuộc nội thuỷ do pháp luật quy định được tổ chức quản lý, khai thác giao thông vận tải Đây là một phương thức vận tải chỉ tồn tại ở các nước có hệ thống giao thông đường thủy nội địa phát triển như Việt Nam Phương thức này mang một số đặc trưng cơ bản:
+)Quãng đường di chuyển ngắn, phạm vi hẹp, bao gồm vận tải theo tuyến đường cố định và vận tải theo yêu cầu của khách hàng
Trang 11
+)Khối lượng hàng hóa trên một phương tiện vận tải thường nhỏ, thường không yêu cầu cao về bảo quản cũng như đóng gói, trừ một số hàng hóa đặc biệt
+)Hoạt động vận tải chịu sự ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên nên độ
an toàn không cao
- Vận tải đường bộ:là dịch vụ vận tải phổ biến và có mặt hầu hết ở tất cả các nước trên thế giới.Vận tải đường bộ mang tính chất cơ động, đa dạng về phương tiện cũng như hàng hóa chuyên chở nên nó đóng vai trò then chốt trong việc đáp ứng nhu cầu lưu thông của con người.Mỗi loại phương tiện lại có ưu điểm và nhược điểm riêng, có thể phối hợp với nhau để đạt hiệu quả tốt nhất Đối với vận tải bằng đường sắt, thuận lợi là chuyên chở hàng hóa siêu trường, siêu trọng với độ an toàn cao, chi phí thấp nhưng khó khăn khi phải đầu tư cho cơ sở hạ tầng lớn, bất lợi khi phải cung cấp hàng hóa tại những nơi không có ga tàu, bến bãi Đối với vận tải bằng ô tô, tính cơ động cao vì phù hợp với nhiều loại địa hình nhưng khối lượng hàng hóa chuyên chở được lại hạn chế.Ngoài ra, một số phương tiện cũng tham gia vào dịch vụ vận tải đường bộ nhưng khối lượng hàng hóa không đáng kể.Chi phí cho dịch vụ này thường nằm ở mức trung bình nên đáp ứng được nhu cầu của của nhiều khách hàng
- Vận tải hàng không: là loại hình dịch vụ hiện đại nhất trong buôn bán quốc tế Từ khi ra đời đến nay, đây luôn là dịch vụ vận tải đáp ứng được nhu cầu giao hàng nhanh chóng và an toàn hơn so với các loại hình vận tải khác.Vận tải bằng đường hàng không chuyên phục vụ vận chuyển các mặt hàng có thời hạn sử dụng ngắn hoặc những đơn hàng cần thực hiện gấp.Ngoài ra,dịch vụ này được khai thác trên những tuyến đường bay cố định, được sự hỗ trợ của các phương tiện
kĩ thuật hiện đại, kèm theo nguồn nhân lực đào tạo bài bản nên độ an toàn được đảm bảo Tuy chi phí cao hơn hẳn so với các dịch vụ vận tải khác nhưng đây vẫn
là lựa chọn của nhiều nhà sản xuất.Hiện nay, dịch vụ này đang được khai thác kết hợp với các dịch vụ khác nhằm giảm chi phí đồng thời rút ngắn thời gian di chuyển của hàng hóa, nâng cao uy tín cũng như lợi nhuận cho các doanh nghiệp
1.1.3 Mối quan hệ giữa dịch vụ hải quan và dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa
Trang 12
Trong nền kinh tế thị trường mở cửa như hiện nay, các doanh nghiệp đều hiểu rằng kinh tế địa phương hay thậm chí các nền kinh tế trên thế giới như là một nền tảng thuận lợi cho họ trong việc tham gia sản xuất, thương mại, xuất khẩu và cung cấp dịch vụ Điều này bao gồm một quá trình kết hợp các yếu tố như: lao động, kỹ năng, kỹ thuật và tri thức có thể được chuyển đổi từ biên giới quốc gia này sang biên giới quốc gia khác Nói cách khác, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp cần phải có khả năng nhạy bén trong việc nắm bắt những cơ hội kinh doanh, đưa ra thị trường những sản phẩm tốt với giá cả cạnh tranh nhất Để làm được điều này, các doanh nghiệp cần phải quản lý và tổ chức hệ thống của mình theo mạng lưới của những nhà cung cấp, những nhà thầu phụ, những công ty
vệ tinh, những nhà cung cấp dịch vụ, những đối tác kinh doanh và khách hàng trong và ngoài nước Vì thế doanh nghiệp cần phải điều hành hoạt động kinh doanh của mình trong cả hai môi trường trong nước và quốc tế Dịch vụ giao nhận vận tải ra đời để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động này Nhưng để cho quá trình lưu thông, vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như hàng hóa được thuận lợi, cần phải có một bộ phận chuyên trách các thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng như phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh
và quá cảnh Nhu cầu này nảy sinh từ các tính chất phức tạp của pháp luật và cơ chế chính sách hiện hành có liên quan đến lĩnh vực hải quan Nhiều đại lí hải quan được thành lập cùng với những dịch vụ hải quan được cung cấp để giúp đỡ doanh nghiệp tháo gỡ vướng mắc trong hoạt động thông thương với nước ngoài Quá trình thông quan hàng hóa được diễn ra nhanh chóng dẫn đến hàng hóa được lưu thông một cách dễ dàng và thuận tiện, đảm bảo được chất lượng của hàng hóa và
uy tín của doanh nghiệp Từ đó, dịch vụ hải quan đóng một vai trò hết sức cần thiết trong quá trình giao nhận-vận tải hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Nó tác động đến thời gian và chất lượng cung cấp dịch vụ giao nhận-vận tải
Ngoài việc mở cửa thị trường cho các doanh nghiệp nước ngoài, Việt Nam còn chủ động tham gia tích cực vào các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế Vì vậy, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để đảm bảo những lợi ích của các doanh nghiệp có được từ những tổ chức đó Các doanh nghiệp sẽ cần phải đánh giá xem bằng cách nào và lúc nào họ có thể sử dụng những thoả thuận để giành lấy những
Trang 13
quyền lợi khi mà luôn bị chi phối bởi các điều kiện cố định như danh mục ưu đãi thuế quan, các điều lệ về nguồn gốc xuất xứ và các qui tắc và tiêu chuẩn sức khỏe Không hiểu biết ngọn ngành về các điều kiện này sẽ là bất lợi lớn cho doanh nghiệp khi muốn cạnh tranh trên thị trường nước ngoài Vì vậy, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hiện nay đang có xu hướng thuê ngoài các đại lí hải quan để chuyên môn hóa một khâu trong quá trình đưa sản phẩm ra thị trường, vừa tiết kiệm chi phí vừa rút ngắn quá trình giao hàng Hàng hóa được thông quan nhanh chóng và thuận lợi tạo động lực cho doanh nghiệp mở rộng phạm vi kinh doanh và tấn công vào các thị trường mới, tạo điều kiện cho dịch vụ giao nhận vận tải có cơ hội phát triển
Theo qui định của Luật hải quan hiện hành và các thông tư hướng dẫn thực hiện có liên quan thì thời gian thông quan cho các phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh thường không kéo dài (đối với ô tô thì thời gian thông quan trung bình là từ 15 đến 20 phút-kể cả có kiểm tra thực tế;tàu biển là trong vòng 2 tiếng) Tuy nhiên, đối tượng chuyên chở của các dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế lại là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nên thời gian thông quan phụ thuộc rất lớn vào tính chất của loại hàng hóa cũng như mức độ tuân thủ pháp luật của chủ hàng Trong trường hợp lô hàng thuộc diện phải kiểm tra thực tế hàng hóa thì thời gian thông quan có thể kéo dài đến 2 ngày Đặc biệt, trong trường hợp lô hàng cần có yêu cầu giám sát chất lượng của cơ quan quản lí Nhà nước thì thời gian thông quan được phép kéo dài hơn nhưng không được quá 30 ngày Tuy nhiên trên thực tế, tại một
số điểm làm thủ tục hải quan, nhất là ở các cảng biển lớn thì thời gian thông quan thường bị chậm trễ hơn so với qui định Nguyên nhân xuất phát từ khối lượng hàng hóa lớn, nhu cầu về thủ tục hành chính nhiều nhưng nhân sự về lĩnh vực hải quan lại chưa đáp ứng được Ngoài ra,dịch vụ hải quan cung cấp chưa kịp thời hoặc chưa đầy đủ cũng gián tiếp gây nên tình trạng trên Nhân viên đại lí hải quan không nắm vững bộ hồ sơ hải quan, yêu cầu về khai báo hải quan dẫn tới khai báo chậm, sai sót hoặc chứng từ thiếu đồng bộ, hợp lí là những nguyên nhân thường thấy Điều này dẫn tới khó khăn không nhỏ cho việc thực hiện đúng thời hạn hợp đồng mà các dịch vụ giao nhận vận tải nhận cung cấp Như vậy, ngoài sự hỗ trợ tích cực cho việc chuyên môn hóa một khâu trong quá trình giao nhận, dịch vụ hải
Trang 14
quan cũng có thể trở thành một nhân tố cản trở quá trình giao nhận và vận tải quốc
tế Là mắt xích quan trọng trong việc đưa hàng hóa di chuyển từ nước này sang nước khác, từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác, dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế không thể thực hiện tốt chức trách nếu như dịch vụ hải quan không đảm nhận được nhiệm vụ của mình Một số hàng hóa khi xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu được đưa ra thị trường tiêu thụ trong một thời gian ngắn như hải sản tươi sống, hàng bán theo các đơn đặt hàng, hàng đặc biệt chỉ xuất hiện trong các dịp lễ lớn thì vấn đề thông quan nhanh lại càng được đưa lên hàng đầu Nếu hàng hóa không được giao đúng hẹn không những mất đi cơ hội kinh doanh mà còn ảnh hưởng lớn đến uy tín của những hãng sản xuất cũng như những nhà kinh doanh dịch vụ vận tải Trong một số trường hợp, đại lí cung cấp dịch vụ hải quan không cập nhật đầy đủ thông tin và những chính sách mới ban hành nên chuẩn bị thiếu chứng từ hoặc khai báo sai lệch so với giấy tờ được cung cấp gây ra thiệt hại không nhỏ cho nhiều phía đối tác Ngược lại, việc chuẩn bị kĩ lưỡng và thực hiện nhanh chóng quá trình giải phóng hàng hóa ra khỏi các cửa khẩu sẽ tạo điều kiện đưa hàng hóa đến địa điểm đúng hạn Như vậy, có thể kết luận rằng, mối quan hệ giữa dịch vụ hải quan và dịch vụ giao nhận vận tải có tính chất phụ thuộc, tương trợ lẫn nhau và ngày càng gắn bó chặt chẽ trên cơ sở mở rộng của thương mại quốc tế
1.2 Dịch vụ hải quan và những tác động của nó đến những dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa
1.2.1 Pháp luật, cơ chế chính sách hiện hành
a,Cam kết của Việt Nam trong Tổ chức thương mại thế giới(WTO):
Trong cam kết của Việt Nam với WTO không nêu định nghĩa quốc tế chính thức cho dịch vụ hải quan mà có ghi chú định nghĩa theo đó, “dịch vụ thông quan” (tên gọi khác là “dịch vụ môi giới hải quan”) là các hoạt động bao gồm việc thay mặt một bên khác thực hiện các thủ tục hải quan liên quan tới xuất nhập khẩu hoặc quá cảnh hàng hóa, dù dịch vụ này là hoạt động chính hay chỉ là một phần bổ sung thông thường trong hoạt động chính của nhà cung cấp dịch vụ
Trang 15
Việt Nam chưa cam kết về mở cửa thị trường và đãi ngộ quốc gia với phương thức 1 (cung cấp dịch vụ qua biên giới) vì “cam kết ở phương thức này không khả thi” Không hạn chế với phương thức 2 (tiêu dùng ở nước ngoài) cho cả mở cửa thị trường và đãi ngộ quốc gia, còn phương thức 4 (hiện diện thể nhân) chưa cam kết, trừ cam kết sàn Về hiện diện thương mại, Việt Nam chỉ đưa
ra hạn chế vốn góp pháp định của bên nước ngoài Theo đó, khi gia nhập WTO, bên nước ngoài được thành lập liên doanh vốn góp của mình không quá 51% Sau
5 năm, tức là năm 2012, cho phép thành lập liên doanh không hạn chế phần vốn góp sở hữu của bên nước ngoài Các công ty liên doanh được hưởng đãi ngộ quốc gia như các công ty Việt Nam
b,Luật Hải quan Việt Nam 2005:
Trong qui định của Luật Hải quan Việt Nam có ban hành một số điều có liên quan đến dịch vụ hải quan và dịch vụ giao nhận vận tải như sau:
- Điều 15 Nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
(i) Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan, vận chuyển đúng tuyến đường, qua cửa khẩu theo quy định của pháp luật
(ii) Hàng hoá, phương tiện vận tải được thông quan sau khi đã làm thủ tục hải quan
- Điều 21 Đại lý làm thủ tục hải quan
(i) Người đại lý làm thủ tục hải quan là người khai hải quan theo uỷ quyền của người có quyền và nghĩa vụ trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
(ii) Người đại lý làm thủ tục hải quan phải hiểu biết pháp luật hải quan, nghiệp vụ khai hải quan và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm
vi được uỷ quyền
Chính phủ quy định cụ thể điều kiện đăng ký và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan
Trang 16(ii) Việc xuất cảnh, nhập cảnh của phương tiện vận tải qua các địa điểm khác do Chính phủ quy định
- Điều 51 Tuyến đường, thời gian chịu sự giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cửa khẩu
(i) Phương tiện vận tải nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, chuyển cửa khẩu phải di chuyển theo đúng tuyến đường quy định, chịu sự giám sát hải quan từ khi đến địa bàn hoạt động hải quan, quá trình di chuyển cho đến khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
(ii) Phương tiện vận tải Việt Nam nhập cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan cho đến khi toàn bộ hàng hoá nhập khẩu chuyên chở trên phương tiện vận tải được dỡ hết khỏi phương tiện để làm thủ tục nhập khẩu
Phương tiện vận tải Việt Nam xuất cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu xếp hàng hoá xuất khẩu cho đến khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
(iii) Khi có căn cứ để nhận định trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cửa khẩu có cất giấu hàng hoá trái phép, có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì Chi cục trưởng Hải quan cửa khẩu, Chi cục trưởng Hải quan địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, Đội trưởng Đội kiểm soát hải quan quyết định tạm hoãn việc khởi hành hoặc dừng phương tiện vận tải để khám xét Việc khám xét phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình
Trang 17(ii) Việc kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế phương tiện vận tải của công chức hải quan được thực hiện theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 19, Điều 20 và Điều 22 của Luật này
Trong trường hợp các chứng từ vận tải đã đáp ứng yêu cầu của việc kiểm tra hải quan thì chủ phương tiện vận tải hoặc người điều khiển phương tiện vận tải không phải làm tờ khai hải quan, trừ hành lý, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của người xuất cảnh, nhập cảnh trên phương tiện vận tải
- Điều 53 Chuyển tải, chuyển cửa khẩu, sang toa, cắt toa, xếp dỡ hàng hoá trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh
Việc chuyển tải, chuyển cửa khẩu, sang toa, cắt toa, xếp dỡ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, hành lý trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh đang trong thời gian chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của cơ quan hải quan
Hàng hoá chuyển tải, chuyển cửa khẩu, sang toa, cắt toa phải được giữ nguyên trạng bao bì, thùng, kiện
- Điều 54 Vận chuyển quốc tế kết hợp vận chuyển nội địa, vận chuyển nội địa kết hợp vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
(i) Phương tiện vận tải vận chuyển quốc tế, nếu được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện về giám sát hải quan do Tổng cục Hải quan quy định thì được kết hợp vận chuyển hàng hoá nội địa
(ii) Phương tiện vận tải vận chuyển nội địa, nếu được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện về giám sát hải quan do Tổng cục
Trang 18
Hải quan quy định thì được kết hợp vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đang chịu sự giám sát hải quan
Từ các qui định trên có thể thấy rằng, dịch vụ giao nhận vận tải rất cần sự
hỗ trợ từ các dịch vụ hải quan để có thể cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng
và hiệu quả Các hoạt động vận tải nội địa kết hợp với vận chuyển quốc tế đòi hỏi
sự kết hợp đồng bộ, thời gian chuyển tiếp ngắn mà vẫn phải đảm bảo tính nguyên trạng của hàng hóa cần chuyên chở Vì vậy, thời gian dành cho công tác khai báo,kiểm tra, giám sát hải quan đối với các phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được rút ngắn một cách tối đa Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng của dịch vụ hải quan Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hải quan có một đội ngũ nhân viên am hiểu và vận dụng khéo léo các qui định của pháp luật về lĩnh vực hải quan thì mới có thể phục vụ tốt cho các yêu cầu của hải quan về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh các phương tiện giao thông vận tải Việc áp dụng và cập nhật pháp luật liên quan đến hải quan phải được thực hiện một cách thường xuyên và
có hệ thống Ngoài ra, dịch vụ hải quan cần phải được nâng cấp, đa dạng hóa tùy theo tính chất và đòi hỏi của thực tế hoạt động dịch vụ giao nhận vận tải được ra
1.2.2 Thủ tục hải quan
Theo Quyết định số 1171/QĐ-TCHQ có nội dung “ Về việc ban hành quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại”, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 6 năm 2009, quy định thủ tục hải quan được thực hiện theo 4 bước cụ thể như sau:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra điều kiện và đăng ký tờ khai; kiểm tra hồ
sơ và thông quan đối với lô hàng miễn kiểm tra thực tế hàng hóa
Công chức hải quan tiếp nhận hồ sơ hải quan, nhập mã số doanh nghiệp, kiểm tra điều kiện đăng kí tờ khai, nhập các thông tin vào hệ thống quản lí rủi ro, đăng kí tờ khai, ký, đóng dấu “Cán bộ đăng kí tờ khai” trên tờ khai, in lệnh hình thức, mức độ kiểm tra hải quan; tiến hành kiểm tra sơ bộ hồ sơ hải quan theo qui định, ghi kết quả kiểm tra và ý kiến đề xuất vào lệnh Công chức tiếp nhận chuyển
bộ hồ sơ cho lãnh đạo chi cục Lãnh đạo chi cục nghiên cứu duyệt lệnh hình thức, mức độ kiểm tra hải quan theo 1 trong 3 mức mà hệ thống quản lí tự động phân
Trang 19
luồng đưa ra hoặc quyết định khác do có những nghi ngờ hoặc cần kiểm tra ngẫu nhiên Tùy thuộc vào phê duyệt của Lãnh đạo chi cục trên lệnh hình thức, công chức hải quan ở bước 1 nhập thông tin vào hệ thống và xử lí kết quả
* Mức kiểm tra sơ bộ hồ sơ hải quan: công chức tiếp nhận hồ sơ chấp nhận khai báo của doanh nghiệp, đóng dấu “xác nhận đã làm thủ tục hải quan” và chuyển hồ sơ hải quan cho công chức bước 3
* Mức kiểm tra chi tiết hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa: công chức bước 1 tiến hành kiểm tra chi tiết hồ sơ bao gồm phải kiểm tra nội dung khai, kiểm tra số lượng, chủng loại giấy tờ thuộc hồ sơ, tính đồng bộ giữa các chứng từ… và đặc biệt chú ý kiểm tra tên mã hàng, xuất xứ hàng hóa và trị giá tính thuế Kết thúc kiểm tra, công chức phải ghi kết quả kiểm tra và đề xuất xử lí kết quả kiểm tra hồ sơ vào lệnh kiểm tra
- Nếu kết quả kiểm tra phù hợp, công chức hải quan đóng dấu “xác nhận đã làm thủ tục hải quan” và chuyển hồ sơ hải quan cho công chức bước 3
- Trường hợp có căn cứ, có lý do xác đáng, công chức có thể đề xuất lãnh đạo thay đổi hình thức, mức độ kiểm tra và ghi cụ thể vào lệnh hình thức
* Mức kiểm tra thực tế hàng hóa: công chức hải quan bước 1 tiến hành kiểm tra chi tiết hồ sơ như qui định sau đó kiểm tra chi tiết, ghi kết quả kiểm tra và
đề xuất cụ thể mức độ kiểm tra hàng hóa 5%, 10% (mức 1) hoặc là kiểm tra toàn bộ hàng hóa(mức 2) trên lệnh hình thức, chuyển hồ sơ cho công chức bước 2
Bước 2: Kiểm tra thực tế hàng hóa và thông quan đối với lô hàng phải kiểm tra thực tế:
Lãnh đạo chi cục quyết định công chức kiểm tra thực tế hàng hóa Công chức hải quan bước 2 nhận hồ sơ hải quan đã được kiểm tra chi tiết, kiểm tra nội dung khai bổ sung và đề xuất ý kiển về nội dung khai bổ sung, trình lãnh đạo chi cục xét duyệt Căn cứ vào phê duyệt của lãnh đạo, công chức ghi kết quả tiếp nhận
hồ sơ khai bổ sung và ký tên, đóng dấu công chức vào bản khai bổ sung Sau đó, công chức được phân công tiến hành kiểm tra hàng hóa với cách thức và nội dung như sau:
Trang 20- Nếu kết quả kiểm tra thực tế phù hợp, công chức kí, đóng dấu công chức
“xác nhận đã làm thủ tục hải quan” và chuyển hồ sơ cho công chức bước 3
- Nếu phát hiện có sai lệch, công chức bước 2 đề xuất các biện pháp xử lí, trình lãnh đạo chi cục xem xét, quyết định, kiểm tra tính thuế và ra quyết định ấn định thuế, lập biên bản chứng nhận hoặc biên bản vi phạm, quyết định thông quan hay xử lí theo qui định của pháp luật
Bước 3: Thu thuế, lệ phí hải quan, đóng dấu “Đã làm thủ tục hải quan”; trả tờ khai cho người khai hải quan
Công chức hải quan bước 3, sau khi nhận được hồ sơ hải quan từ công chức bước 1 hoặc bước 2, căn cứ vào kết quả kiểm tra trên lệnh hình thức và tờ khai hải quan, tiến hành thu thuế và lệ phí hải quan theo qui định; đóng dấu “Đã làm thủ tục hải quan” ; vào sổ theo dõi và trả tờ khai hải quan cho người khai Nếu không
có vướng mắc gì công chức bước 3 chuyển hồ sơ hải quan cho công chức bước 4
Bước 4:Phúc tập hồ sơ
Thực hiện theo qui trình phúc tập hồ sơ do Tổng cục hải quan quyết định Qui trình thông quan 1171 có thể khái quát theo sơ đồ như sau:
Trang 21Đóng dấu “Xác nhận đã làm thủ tục hải quan”
Mức kiểm tra chi tiết hồ sơ:
Kiểm tra giá, mã số, xuất xứ và các yêu cầu khác
Đóng dầu “Xác nhận đã làm thủ tục hải quan”
Mức kiểm tra thực tế hàng hóa.Kiểm tra chi tiết hồ sơ:giá, mã số, xuất xứ…Đề xuất cụ thể mức độ kiểm tra thực tế hàng hóa
Bước 2: Kiểm tra thực tế
Đề xuất khai bổ sung Kiểm tra thực tế hàng hóa Ghi kết quả và kết luận
Xử lý kết quả kiểm tra
Kết quả kiểm tra sai lệch
Bước 3
Thu thuế, lệ phí
Đóng dấu “Đã làm thủ tục”
Vào sổ theo dõi, Trả
tờ khai
Bước 4
Phúc tập
Trang 23
Theo Nghị định số 154/2005/NĐ-CP do Chính phủ ban hành về “Quy định chi tiết một số điều về Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan”, một số qui định chung khi làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh như sau:
- Phương tiện vận tải khi xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nơi phương tiện vận tải đó xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Khi làm thủ tục hải quan, nếu cơ quan hải quan phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật, thì người điều khiển phương tiện vận tải phải thực hiện các yêu cầu của cơ quan hải quan để kiểm tra, khám xét theo qui định của pháp luật
- Cảng vụ, sân bay, cảng biển, ga đường sắt liên vận quốc tế có trách nhiệm thông báo trước cho Chi cục hải quan cửa khẩu các thông tin qui định tại Điều 56 Luật Hải quan Các tổ chức vận tải có trách nhiệm cung cấp cho Chi cục hải quan cửa khẩu các thông tin về hàng hóa, hành khách, tổ lái, người làm việc trên các phương tiện vận tải và các thông tin khác có liên quan đến công tác quản lí phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của cơ quan hải quan
- Các thông tin qui định tại khoản 2 Điều này được cung cấp bằng văn bản hoặc qua máy tính được nối mạng trực tiếp với Chi cục hải quan
- Phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh chịu sự giám sát hải quan qui định tại Điều 13 Nghị định này
Ngoài các qui định chung được nêu ở trên, tùy theo loại hình phương tiện vận tải được lưu thông mà qui định về thời gian thông quan cũng như hoàn thành thủ tục hải quan có sự khác nhau Nhân viên làm thủ tục hải quan phải nắm rõ được qui định đối với từng loại hình để xác định điều kiện và yêu cầu công việc đặt ra.Cụ thể:
- Đối với tàu biển xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng: người khai hải quan phải khai và nộp hồ sơ hải quan trong thời hạn sau:
(i) Chậm nhất hai giờ đối với tàu biển nhập cảnh, kể từ khi tàu đã vào neo đậu an toàn tại vị trí theo chỉ định của Giám đốc Cảng vụ hàng hải
(ii)Chậm nhất hai giờ trước khi tàu rời cảng đối với tàu biển xuất cảnh Riêng tàu khách và tàu chuyên tuyến, thời gian chậm nhất là ngay trước thời điểm tàu chuẩn bị rời cảng
Trang 24
(iii)Trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể thay đổi, nhưng thuyền trưởng phải thông báo bằng văn bản cho Chi cục Hải quan cảng biết trước ít nhất 30 phút
- Đối với tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng: chậm nhất ba giờ trước khi tàu bay nhập cảnh và trước khi cơ quan hàng không hoàn thành thủ tục hàng không cho hành khách xuất cảnh và hàng hóa xuất cảnh, tổ chức vận tải hàng không có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan hải quan các thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, chuyển cảng; hành lý ký gửi; danh sách hành khách; danh sách tổ lái và nhân viên làm việc trên tàu bay.Thủ tục đối với tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh quốc tế có kết hợp vận chuyển nội địa thực hiện như đối với tàu bay chuyển cảng Trên chuyến bay có hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu thuộc loại hình nào thì phải thực hiện thủ tục hải quan theo qui định đối với loại hình đó.Trường hợp tàu bay vận chuyển nội địa kết hợp với vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; hãng vận chuyển phải sắp xếp hàng hóa, hành lý xuất khẩu, nhập khẩu tại vị trí riêng biệt trong khoang hầm hàng để đảm bảo việc niêm phong hải quan
- Đối với tàu liên vận quốc tế nhập cảnh, xuất cảnh bằng đường sắt: ngay sau khi tàu nhập cảnh đến ga liên vận biên giới, trưởng tàu hoặc người đại diện nộp cho chi cục hải quan cửa khẩu ga liên vận biên giới những giấy tờ sau:bản kê hàng hóa nhập khẩu hoặc bản lược khai hàng hóa nhập khẩu, vận tải đơn, giấy giao tiếp toa
xe, danh sách hành khách và phiếu gửi hành lí không mang theo người của hành khách, bản trích lược khai hàng hóa dỡ xuống từng ga liên vận nội địa Ngay sau khi tàu chuyên chở hàng hóa đến ga liên vận nội địa, trưởng tàu hoặc người đại diện hợp pháp nộp cho Chi cục hải quan cửa khẩu ga liên vận nội địa: các giấy tờ còn nguyên niêm phong của Chi cục Hải quan cửa khẩu ga liên vận biên giới,giấy giao tiếp toa xe, giấy giao tiếp hàng quá cảnh Trước khi tàu chuyên chở hàng hóa xuất khẩu rời ga liên vận nội địa, trưởng tàu hoặc người đại diện hợp pháp nộp cho Chi cục hải quan cửa khẩu ga liên vận nội địa những giấy tờ sau: bản xác báo thứ tự lập tàu, lược khai hàng hóa xuất khẩu, vận tải đơn, giáo giao tiếp hàng quá cảnh Khi tàu chuyên chở hàng hóa xuất khẩu tới ga liên vận biên giới, trưởng tàu hoặc người đại diện hợp pháp nộp cho Chi cục Hải quan cửa khẩu ga liên vận biên giới: các
Trang 25
giấy tờ đã được Chi cục Hải quan cửa khẩu ga liên vận nội địa niêm phong, tờ khai thành phần đoàn tàu, danh sách và tờ khai hành lý của tổ lái và những người làm việc ở trên tàu,bản kê khai hàng hóa xuất khẩu, kể cả hàng quá cảnh, giấy giao tiếp toa xe, danh sách hành khách và phiếu gửi hành lí không mang theo người của hành khách
- Đối với ô tô xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh: phải đỗ đúng nơi quy định để làm thủ tục hải quan Người khai hải quan phải khai báo và nộp cho cơ quan hải quan những giấy tờ sau: giấy phép xuất cảnh, nhập cảnh;tờ khai hải quan đối với ô
tô xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, tờ khai hành lí xuất khẩu, nhập khẩu của lái xe; danh sách hành khách và tờ khai hành lí của hành khách
Thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với nhiều loại hình hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện, hành khách xuất nhập cảnh thông qua các địa bàn trọng điểm trên cơ sở áp dụng kỹ thuật quản lí rủi ro, ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thông và các trang thiết bị khác với một số đặc trưng cơ bản như hầu hết khai hải quan với hàng xuất nhập khẩu, xử lí hồ sơ thông qua mạng máy tính; hệ thống phân luồng tự động trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro, thiết bị kết nối trao đổi dữ liệu điện tử với các hãng vận chuyển, cảng vụ, sân bay, đại lí hải quan, kho bạc, ngân hàng, các cơ quan cấp phép để tiếp nhận thông tin về phương tiện vận tải, hành khách trước khi nhập cảnh
Trong những năm tới, thời gian thông quan của cơ quan hải quan sẽ quyết tâm rút ngắn xuống còn 30 phút Nhưng thời gian này còn phải phụ thuộc rất nhiều vào việc tuân thủ các qui định về thủ tục hải quan của tổ chức giao nhận vận tải Vì vậy, dịch vụ hải quan phải cung cấp đầy đủ các giấy tờ yêu cầu cho từng loại hình vận tải, đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính chính xác và đồng bộ của các giấy
tờ trên Nếu nhân viên hải quan có thể thực hiện tốt khâu thủ tục này, thời gian cung cấp của dịch vụ vận tải sẽ tăng nhanh, nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp giao nhận vận tải, đồng thời rút ngắn thời gian cung ứng nguyên vật liệu cho nhà máy cũng như tiêu thụ hàng hóa trên thị trường, thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển Song song với việc mở rộng hoạt động phạm vi của dịch vụ giao nhận vận tải, phương thức vận tải đa phương thức đang được chú trọng đầu tư trong thời gian gần
Trang 26
đây Tình hình này đặt ra cho các đại lí hải quan những yêu cầu mới Thủ tục hải quan không những phải được thực hiện nhanh chóng mà quan trọng hơn, là sự thông suốt khi thông quan giữa những phương tiện vận tải khác nhau Mặt khác, cơ quan hải quan đang chuyển dần từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” nên vấn đề giấy tờ hành chính có liên quan phải được khai báo và lưu giữ một cách cẩn thận và khoa học Nhìn chung ,tốc độ thực hiện thủ tục hải quan của các đại lí hải quan có tác động trực tiếp đến tốc độ cung cấp của dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa
1.2.3 Năng lực và đạo đức cán bộ, nhân viên hải quan
Trong khi khối lượng hàng hóa và phương tiện vận tải cần làm thủ tục hải quan đang tăng nhanh thì năng lực của cán bộ, nhân viên hải quan chưa được phù hợp để đáp ứng cho tình hình mới Xét về các đại lí hải quan, nhiều doanh nghiệp làm dịch vụ khai thuê cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nhưng không ký tên đóng dấu trên tờ khai, vì còn e ngại trách nhiệm pháp lý Phần lớn các đại lý thủ tục hải quan chưa có kế hoạch cụ thể về việc mở rộng hoạt động vì nhân viên hải quan mỏng về số lượng và yếu về chất lượng Trình độ nghiệp vụ của nhân viên đại lý thủ tục hải quan chưa thực sự đồng đều, chưa cập nhật chính sách, nắm vững kiến thức cơ bản, quy trình liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, như về mã hàng hóa, giá tính thuế và công tác thanh khoản trong các hợp đồng gia công, sản xuất xuất khẩu Ngoài ra, một số nhân viên đại lí hải quan từ các ngành nghề khác chuyển sang nên phải mất một thời gian học tập kinh nghiệm và trau dồi kiến thức Bên cạnh sự thiếu thốn về kiến thức nghiệp vụ, nhân viên đại lí hải quan chưa có tinh thần phục vụ doanh nghiệp Nhiều nhân viên đại lí còn bắt tay với cán bộ hải quan, khai khống mức phí ngoài luồng để kiếm thêm thu nhập Trái lại, một số đại lí hải quan lại cho rằng, quy định để trở thành nhân viên đại lí hải quan phải có bằng trung cấp chính quy về kinh tế và luật là còn khá khắt khe và không phù hợp với bối cảnh hiện nay Chính qui định này đã cản trở kế hoạch mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hải quan
Xét về nguồn nhân lực trong ngành hải quan, cũng xuất hiện nhiều vấn đề bất cập Tỉ lệ kiểm tra viên cao cấp còn quá thấp trong khi nhân viên hải quan lại chiếm phần lớn Trong đó, nhiều nhân viên hải quan chỉ có trình độ trung cấp nên năng lực còn hạn chế Qui trình làm thủ tục hải quan chỉ mới được hiện đại hóa tại
Trang 27
một số điểm và Chi cục hải quan nên công việc thủ công của nhân viên,cán bộ hải quan là chủ yếu Chính điều này nảy sinh thái độ quan liêu, nhũng nhiễu của một bộ phận trong ngành Nhiều hiện tượng tiêu cực xảy ra xuất phát từ ý thức và thái độ thiếu tinh thần phục vụ của nhân viên, cán bộ hải quan làm cho quá trình thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh phải đội thêm chi phí hoặc tốn thêm nhiều thời gian Từ đây, Tổng cục hải quan đã đề xuất nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ, nhân viên hải quan Thứ nhất, xây dựng cơ chế quản lý đào tạo, tổ chức đào tạo thống nhất; xây dựng chương trình đào tạo trọng điểm theo chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm đủ trình độ đảm đương công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức toàn ngành; xây dựng Trường Hải quan Việt Nam từng bước chính quy và hiện đại; phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo Thứ hai, áp dụng công nghệ thông tin vào giải quyết các thủ tục hải quan, nâng cấp phần mềm cho phù hợp với quy định mới, giảm bớt công việc thủ công của cán bộ, nhân viên hải quan Tại các đơn vị hải quan địa phương cũng đã cài đặt phần mềm thông quan điện tử và thực hiện đào tạo cho cán bộ hải quan và doanh nghiệp làm quen với phương thức xử lý thông tin trên
hệ thống mới Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng cử các tổ công tác hỗ trợ triển khai
để giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Để chuẩn
bị hạ tầng kỹ thuật phục vụ triển khai thủ tục hải quan điện tử, ngành hải quan đang nâng nấp, bổ sung thiết bị, đường truyền đảm bảo đủ băng thông và đường dự phòng để vận hành suôn sẻ Cùng với đó là triển khai cài đặt phần mềm thông quan điện tử, bao gồm cả đào tạo cán bộ hải quan và doanh nghiệp có thể vận hành tốt phương thức xử lý thông tin trên hệ thống thông quan điện tử Cùng với việc triển khai mở rộng thủ tục hải quan điện tử, ngành sẽ triển khai nâng cấp các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng việc thay đổi quy trình nghiệp vụ hải quan tiếp tục áp dụng khai báo từ xa tại các đơn vị chưa mở rộng thủ tục hải quan điện tử Thứ ba, tổ chức và phát động nhiều phong trào xây dựng thái độ thân thiện và ý thức kỉ luật trong đội ngũ cán bộ, nhân viên hải quan, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp khi đến tiến hành các thủ tục hải quan Nâng cao một cách toàn diện kiến thức nghiệp vụ cũng như thái độ phục vụ của nhân viên, cán bộ hải quan Một khi chất lượng đội ngũ nhân sự trong ngành đã được đảm bảo, hoạt động thông quan hàng hóa sẽ được dễ dàng và thuận lợi hơn
Trang 28
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ hải quan và dịch vụ giao nhận vận tải trong thương mại quốc tế ở Việt Nam
1.3.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng
- Việt Nam có vị trí địa lí vô cùng thuận lợi cho việc thông thương với các bạn bè quốc tế.Đường biên giới đường bộ kéo dài 4.550km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc; tiếp giáp với Lào và Campuchia ở phía Nam Chính vì vậy mà thống kê cho thấy Việt Nam có gần 20 cửa khẩu đường bộ, điển hình như các cửa khẩu Móng Cái nối với Trung Quốc; cửa khẩu Cha lo nối với Lào; cửa khẩu Mộc Bài nối với Campuchia Ngoài ra, có 21 cửa khẩu đường sắt phần lớn dùng để thông thương với Trung Quốc như cửa khẩu Hùng Quốc, cửa khẩu Thanh Thủy, cửa khẩu Ngọc Khê Đã từ lâu, Việt Nam được biết đến như cửa ngõ của Đông Dương bởi phía Đông giáp biển, chủ yếu mở rộng ra phía đông và đông nam với đường bờ biển trải dài hơn 3000km, tạo điều kiện cho tàu thuyền từ các nơi trên thế giới neo đậu và giao thương buôn bán
- Địa hình Việt Nam đa dạng, bao gồm đồi núi, đồng bằng, biển và thềm lục địa, dễ dàng cho phát triển các loại hình dịch vụ vận tải Nhiều hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy đã được xây dựng và tu bổ hàng năm Hệ thống giao thông đường bộ chính ở Việt Nam bao gồm các con đường quốc lộ, nối liền các vùng, các tỉnh cũng như đi đến các của khẩu quốc tế với Trung Quốc, Lào, Campuchia Toàn bộ các tuyến đường quốc lộ có tổng chiều dài khoảng 17.300 km, trong đó gần 85% đã tráng nhựa Ngoài các đường quốc lộ còn có các đường tỉnh
lộ, nối các huyện trong tỉnh, huyện lộ nối các xã trong huyện Các tuyến tỉnh lộ có tổng chiều dài khoảng 27.700 km, trong đó hơn 50% đã tráng nhựa Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài khoảng 2600 km, trong đó tuyến đường chính nối Hà Nội – TP.HCM dài 1726 km, toàn ngành có 302 đầu máy,
1063 toa tàu chở khách và 4986 toa tàu chở hàng Đối với vận tải đường biển, hiện nay nước ta đã xây dựng được hơn 260 cảng, trong đó có 16 cảng quốc tế như cảng Sài Gòn, cảng Cái Lân, cảng Hải Phòng Trong những năm gần đây, nước ta còn chú trọng đầu tư xây dựng và phát triển các cảng biển nước sâu, phục vụ cho những tàu có trọng tải lớn, khối lượng hàng hóa nhiều Bên cạnh lợi thế về đường biển, hệ thống sông ngòi dày đặc (với 2360 con sông dài trên 10 km) chảy theo 2 hướng tây
Trang 29
bắc- đông nam và hướng vòng cung là một yếu tố thúc đẩy vận tải đường thủy nội địa phát triển Loại hình dịch vụ vận tải hàng không cũng được quan tâm với nhiều cửa khẩu quốc tế đường hàng không, trong đó nổi bật lên cửa khẩu hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng…Nhờ đặc điểm đa dạng về địa hình mà phương thức giao nhận vận tải đa phương thức rất có tiềm năng phát triển ở Việt Nam
1.3.2 Cơ chế, chính sách thương mại
Dưới tác động của toàn cầu hóa, Việt Nam đang hội nhập một cách tích cực với nền kinh tế thế giới Hiện nay, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với trên
170 nước, có quan hệ thương mại với hơn 160 nước và vùng lãnh thổ, tham gia 86 hiệp định thương mại, 46 hiệp định hợp tác đầu tư và 46 hiệp định chống đánh thuế
2 lần, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của trên 80 nước, tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới Trong các hoạt động thương mại quốc tế, cơ sở pháp lí chung là các hiệp định đa phương về thương mại hàng hóa bao gồm GATT
1994 và các hiệp định đi kèm với nước ngoài về các vấn đề nông nghiệp, kiểm dịch động, thực vật, hàng rào kĩ thuật, trị giá hải quan, giám định hàng hóa trước khi xuống tàu, quy tắc xuất xứ, cấp phép nhập khẩu… Các hiệp định này có chung mục tiêu là tạo ra một hệ thống thương mại tự do và mở cửa
Bên cạnh tham gia các hiệp định thương mại quốc tế, Việt Nam đang dần thay đổi các chính sách thương mại nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, từ đó mở cửa cho dịch vụ giao nhận vận tải ngày càng phát triển Các công cụ chính sách thương mại được điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới cho phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường và các cam kết quốc tế của Việt Nam.Năm 1998 Việt Nam ban hành Luật thuế xuất nhập khẩu đầu tiên Biểu thuế của Việt Nam được hoàn thiện năm 1991 và bắt đầu được hài hoà hoá theo hệ thống HS năm
1992 Và năm 2003 đã có ban hành Biểu thuế mới tuân thủ theo nguyên tắc phân loại hồ sơ của tổ chức Hải quan thế giới (WCO) và sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã có biểu thuế phù hợp với cam kết khi gia nhập WTO Việt Nam đã đẩy nhanh thuế hoá các hàng rào phi thuế như xoá bỏ dần hạn chế định lượng đối với các mặt hàng nhạy cảm chuyển sang hình thức bảo hộ bằng hạn ngạch thuế quan và các biện pháp chống bán phá giá, xoá bỏ phụ thu, cắt giảm thuế suẩt, tiến tới bảo hộ
Trang 30
duy nhất bằng thuế nhập khẩu Việt Nam cam kết áp dụng, phân bổ và quản lý hạn ngạch thuế quan một cách minh bạch, không phân biệt đối xử và tuân thủ các quy định của WTO Việt Nam cam kết sẽ miễn, giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử và sẽ không gắn việc miễn, giảm thuế nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử và sẽ không gắn việc miễn, giảm thuế đối với các yêu cầu về xuất khẩu hay nội địa hoá (bởi việc miễn, giảm thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu dựa trên thành tích xuất khẩu hoặc tỷ lệ nội địa hoá bị coi là trợ cấp và
bị cấm theo quy định của WTO)…Khi gia nhập WTO, WTO yêu cầu Việt Nam giảm thuế nhập khẩu, Việt Nam cam kết giảm thuế mức bình quân từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trong vòng 5-7 năm Mức thuế bình quân hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% thực hiện trong khoảng 5 năm Mức thuế bình quân hàng công nghiệp giảm từ 16,8% xuống 12,6% thực hiện trong vòng từ 5-7 năm
Đặc biệt, chính sách tạo tính đột phá cho hoạt động xuất nhập khẩu là chính sách mở quyền tham gia hoạt động thương mại quốc tế cho các doanh nghiệp Có thể nói, chính sách mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp, kể cả khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân, đồng thời xóa bỏ chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương, xóa bỏ các đầu mối độc quyền xuất nhập khẩu của Nhà nước được coi là một mốc son cho quá trình cải cách chính sách thương mại Việt Nam Quyền kinh doanh ngoại thương không ngừng được mở rộng Thời kinh
tế kế hoạch hoá tập trung, chỉ có một số ít Tổng công ty, công ty Nhà nước chuyên doanh xuất nhập khẩu được phép tham gia hoạt động ngoại thương Từ hàng chục năm nay, quyền kinh doanh được mở rộng Nhà nước cho phép mọi doanh nghiệp trong nước có giấy phép kinh doanh mà không cần có giấy phép xuất nhập khẩu Sau đó, năm 2001, Nhà nước lại cho phép thương nhân (công ty và cá nhân) được xuất nhập khẩu hầu hết các mặt hàng không phụ thuộc vào ngành hàng đã đăng ký ngoại trừ các mặt hàng cấm xuất nhập khẩu theo giấy phép và hàng hoá thuộc diện quản lý của các Bộ chuyên ngành Kể từ khi gia nhập WTO, Nhà nước Việt Nam dành quyền kinh doanh đầy đủ cho tất cả các cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài (
kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) không muộn hơn ngày 01/01/2007, ngoại trừ đối với một số sản phẩm chịu sự điều chỉnh của cơ chế
“Thương mại Nhà nước” ( như xăng, dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo,
Trang 31
tạp chí) và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi (như gạo phải tới ngày 1/1/2011) và doanh nghiệp nói trên bao gồm quyền được bán sản phẩm nhập khẩu cho mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp có quyền phân phối sản phẩm đó tại Việt Nam Doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không
có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam phù hợp thông lệ quốc tế Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng trên tờ khai hải quan
để làm thủ tục xuất nhập khẩu không bao gồm quyền phân phối trong nước Trong đàm phán gia nhập WTO, đại diện của Việt Nam lưu ý rằng để có quyền nhập khẩu, các cá nhân hoặc doanh nghiệp muốn trở thành nhà nhập khẩu đứng tên trên hồ sơ không bắt buộc phải đầu tư ở Việt Nam, dù chỉ ở mức tối thiểu, mà chỉ cần làm thủ tục đăng ký (chủ yếu làm mục đích hành chính) Cam kết về quyền kinh doanh tại Việt nam, Việt Nam sẽ áp dụng cho tất cả các thành viên WTO trên cơ sở nguyên tắc MFN Việc cho phép quyền kinh doanh không ảnh hưởng tới quyền của Chính phủ Việt Nam áp dụng hoặc thực thi các yêu cầu về hải quan hoặc thuế phù hợp với WTO cũng như áp dụng hoặc thực thi các quy định phù hợp với các điều khoản liên quan trong Hiệp định WTO và với các cam kết gia nhập WTO của Việt nam, ví dụ như các quy định liên quan tới cấp phép nhập khẩu, thương mại Nhà nước, hàng rào
kỹ thuật đối với thương mại hoặc các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật
Từ những thay đổi về chính sách kể trên, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng lên mỗi năm, chứng tỏ khối lượng hàng hóa lưu thông là rất lớn, tạo ra nhiều cơ hội cho dịch vụ giao nhận vận tải Dịch vụ giao nhận vận tải càng phải phát triển để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng cao từ các nhà sản xuất nước ngoài, các đại lí phân phối đến tay người tiêu dùng Nhiều hãng giao nhận vận tải ra đời hoặc chuyển đổi ngành nghề kinh doanh sang giao nhận tạo ra thế cạnh tranh trong ngành, làm giảm biểu giá cung cấp dịch vụ Không những thế, các nhà cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải còn phải không ngừng đổi mới công nghệ, phương tiện và cách thức phục vụ để đáp ứng được yêu cầu về khối lượng hàng hóa vận chuyển lớn và thời gian vận chuyển ngắn Cùng với đó, dịch vụ hải quan cũng phải đổi mới và ngày càng hoàn thiện để theo kịp với sự phát triển của dịch vụ giao nhận vận tải, hỗ trợ cho công tác xuất, nhập khẩu hàng hóa đúng thời gian và đúng địa điểm yêu cầu
Trang 32Đối với dịch vụ hải quan và giao nhận vận tải, nhất là giao nhận vận tải quốc
tế, yêu cầu đặt ra đối với nhân sự là hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực có liên quan đến yếu tố nước ngoài như luật pháp quốc tế, cơ chế chính sách thương mại của các khu vực kinh tế, tập quán của từng nước…nên thành thạo ngoại ngữ và công nghệ thông tin là những điều kiện căn bản Nhưng nguồn lao động nước ta phần lớn xuất thân từ nông thôn, không có điều kiện kinh tế để hoàn thiện những kĩ năng này Các trường dạy nghề và đại học hiện nay chưa đầu tư một cách thỏa đáng vào lực lượng giảng dạy và thiết bị hạ tầng Nhân viên làm về lĩnh vực xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với nguồn thông tin từ nước ngoài cũng như quan hệ làm ăn với các với các đối tác nước ngoài, làm giảm hiệu quả của công việc Bên cạnh đó, những dịch vụ liên quan đến xuất nhập khẩu như dịch vụ hải quan và dịch vụ giao nhận vận tải là những lĩnh vực ngành nghề còn khá mới mẻ đối với thị trường Việt Nam, quy trình nghiệp vụ và văn bản pháp luật ban hành còn chưa hoàn thiện và thay đổi theo từng thời kì Người lao động không những phải am hiểu và vận dụng khéo léo kiến thức đã có mà còn phải không ngừng bổ sung và thành thục những nghiệp vụ mới.Thế nhưng, một thực tế đáng buồn đặt ra hiện nay
là các doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại nhân viên sau quá trình tuyển dụng bởi kiến thức đã học thường lỗi thời và không áp dụng được trong khi thương mại quốc
tế đổi mới từng ngày.Hơn nữa, người lao động Việt Nam thường không được đào tạo bài bản khi còn ngồi trên ghế nhà trường vì phần lớn kiến thức học được là lí thuyết, ít trải nghiệm thực tế nên kinh nghiệm không có nhiều Ngoài ra, những kĩ năng mềm cần thiết cho quá trình làm việc, điển hình như làm việc theo nhóm, đối với nhiều người lao động Việt Nam còn khá lạ lẫm và chưa được vận dụng một
Trang 33
cách triệt để Chính yếu tố thiếu đào tạo bài bản cho nguồn nhân sự như vậy đã tác động không nhỏ đến dịch vụ hải quan cũng như dịch vụ giao nhận vận tải Những doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ này đang thiếu lao động chuyên nghiệp một cách trầm trọng Sự thiếu hụt này dẫn đến một kết quả tất yếu là giảm hiệu quả công việc cũng như hiệu quả kinh doanh của các nhà cung cấp dịch vụ
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN VỚI DỊCH VỤ
GIAO NHẬN VẬN TẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Giới thiệu về Viện Nghiên cứu thương mại
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện Nghiên cứu thương mại
Viện Nghiên cứu thương mại là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Công thương (trước đây là Bộ Thương mại), nằm trong hệ thống các viện nghiên cứu khoa học quốc gia được thành lập theo Quyết định số 721/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8/11/1995 trên cơ sở hợp nhất Viện Kinh tế kỹ thuật thương mại và Viện Kinh tế đối ngoại mà tiền thân là:
- Viện Kinh tế kỹ thuật thương nghiệp (1971-1972)
- Viện Khoa học kỹ thuật và Kinh tế vật tư (1983-1992)
- Viện Kinh tế đối ngoại (1982-1995)
- Viện Kinh tế kỹ thuật thương mại (1992-1995)
Viện nghiên cứu thương mại có chức năng nghiên cứu những vấn đề khoa học thương mại như chiến lược và quy hoặc phát triển thương mại, chính sách và cơ
Trang 34
chế phát triển thương mại, nghiên cứu tình hình thị trường trong nước và quốc tế,
dự báo xu hướng phát triển của thị trường hàng hóa và dịch vụ thế giới cũng như của Việt Nam, nghiên cứu các vấn đề về thương mại liên quan đến môi trường, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam…tổ chức đào tạo trên đại học, đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ, nâng cao trình độ và cung cấp các dịch vụ tư vấn, thông tin thương mại
Nhiệm vụ của Viện nghiên cứu thương mại bao gồm:
- Nghiên cứu các luận cứ khoa học phục vụ xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển thương mại và thị trường
- Nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lí thương mại
- Nghiên cứu kinh tế và thương mại thế giới, các tổ chức kinh tế và thương mại quốc tế và các vấn đề liên quan đến hoạt động thương mại của Việt Nam
- Nghiên cứu và dự báo về thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ trong nước và quốc tế
- Nghiên cứu về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
- Nghiên cứu những vấn đề về thương mại liên quan đến môi trường của Việt Nam
- Tổ chức đào tạo trên đại học chuyên ngành kinh tế thương mại
- Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, công nghệ thông tin và ngoại ngữ cho cán bộ thương mại
- Cung cấp các dịch vụ tư vấn chất lượng cao cho các tổ chức, doanh nghiệp
và cá nhân cả trong và ngoài nước về những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của viện
- Hợp tác nghiên cứu, đào tạo và trao đổi thông tin khoa học thương mại với các tổ chức nghiên cứu, các trường đại học, các nhà khoa học trong và ngoài nước
Trên 40 năm hình thành và phát triển, Viện nghiên cứu thương mại đã hoàn thành tốt những nhiệm vụ đặt ra và có nhiều thành tựu nổi bật trong nhiều lĩnh vực như sau:
- Về nghiên cứu khoa học: kể từ ngày thành lập đến nay, Viện đã tiến hành nghiên cứu nhiều đề tài, dự án cấp Nhà nước và cấp Bộ, đã nghiên cứu và cung cấp
Trang 35
các luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách và cơ chế quản lí thương mại, góp phần thúc đẩy sự nghiệp khoa học và công nghệ của ngành thương mại phát triển.Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về khoa học công nghệ và thực hiện định hướng chiến lược và kế hoạch khoa học công nghệ 2001-2005 của
Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), thời gian 2001- 2005, Viện Nghiên cứu thương mại đã thực hiện được 4 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, 1 dự án cấp Nhà nước, 85 đề tài/dự án khoa học cấp Bộ, khai thác và phối hợp thực hiện khoảng 30 dự án quy hoạch thương mại và quy hoạch chợ cho các tỉnh/thành phố trong cả nước Các đề tài dự án khoa học công nghệ các cấp do Viện thực hiện đã cung cấp các luận cứ khoa học, thiết thực phục vụ cho việc xây dựng luật pháp, đổi mới chính sách và cơ chế phát triển thương mại nội địa, phát triển xuất nhập khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển thương mại bền vững gắn với bảo vệ môi trường… Nhiều quan điểm, chính sách và kiến nghị của Viện đề xuất đã được Đảng
và Nhà nước chấp nhận và được thực tiễn kiểm nghiệm tính khoa học, đúng đắn và sáng tạo
- Về đào tạo trên đại học: Viện được giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học theo Quyết định số 915/TTg ngày 10/12/1996 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định
số 6124/GD-ĐT ngày 27/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chuyên ngành đào tạo: Kinh tế, Quản lí và Kế hoạch hóa kinh tế quốc dân, Mã số: 5.02.05 Thực hiện Quyết định 102/QĐ-BGD&ĐT-ĐH&SĐH của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo ngày 10 tháng 01 năm 2005 về việc chuyển đổi mã ngành đào tạo, từ ngày 10/01/2005, Viện đào tạo tiến sĩ, chuyên ngành : Thương mại, mã số: 62.34.10.01.Kể từ khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ đào tạo trên đại học năm 1997 đến hết năm 2005, Viện đã thực hiện 8 khóa đào tạo tiến sĩ với tổng số 36 nghiên cứu sinh, trong đó 13 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Nhà nước, 23 nghiên cứu sinh khác đang tham gia học tập, nghiên cứu tại Viện theo đúng tiến độ và kế hoạch đặt ra
- Về công tác thông tin, tư vấn và các công tác khác: Viện là cơ quan tham vấn của lãnh đạo Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), tư vấn cho các sở Thương mại (nay là các sở Công thương) trong cả nước trong công tác quy hoạch phát triển thương mại, xây dựng chiến lược xuất khẩu, tư vấn các vấn đề về chính
Trang 36
sách thương mại và đầu tư của Việt Nam và các nước, các vấn đề về hội nhập kinh
tế quốc tế… cho các doanh nghiệp, các tổ chức và các cá nhân cả trong và ngoài nước Thư viện ngành thương mại được đặt tại Viện Nghiên cứu thương mại, đang được hiện đại hóa và điện tử hóa để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu về thông tin thương mại của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân
- Về hợp tác quốc tế: công tác hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học, đào tạo và trao đổi thông tin của Viện không ngừng được mở rộng Viện nghiên cứu thương mại là một địa chỉ tin cậy trong số các thể chế hỗ trợ thương mại (TSIs) của Việt Nam, là đối tác bình đẳng của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC/UNCTAD/WTO), Viện Khoa học xã hội Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc), các viện và các trường đại học của Australia, Ấn Độ, Nga…
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các bộ phận trực thuộc Viện Nghiên cứu thương mại
Tính đến tháng 12/2005, Viện Nghiên cứu thương mại có tổng số 104 cán bộ nghiên cứu khoa học và viên chức, trong đó lực lượng nghiên cứu khoa học là 82 cán bộ Cơ cấu đội ngũ cán bộ nghiên cứu và viên chức của Viện hiện nay như sau:
- Phó giáo sư, tiến sĩ khoa học: 1
- Phó giáo sư, tiến sĩ: 4
Trang 37
a,Ban Nghiên cứu chiến lược phát triển thương mại:
*Chức năng, nhiệm vụ của Ban:
- Nghiên cứu các luận cứ khoa học phục vụ cho việc xây dựng chiến lược và qui hoạch phát triển thương mại
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển thương mại các vùng lãnh thổ, địa phương và quốc gia theo đề tài, dự án khoa học do Bộ hoặc các
cơ quan yêu cầu
*Cơ cấu tổ chức:
- Cơ cấu tổ chức của Ban gồm 01 trưởng ban, các phó trưởng ban, các nhóm nghiên cứu
- Hiện nay, Ban có 11 cán bộ khoa học, trong đó có 02 tiến sĩ, 07 cử nhân và
02 kỹ sư, tổ chức hoạt động nghiên cứu theo 3 nhóm: (i) thương mại và phát triển, (ii) phát triển thị trường và thương mại quốc tế, (iii) phát triển thị trường và thương mại trong nước
b,Ban Nghiên cứu chính sách và cơ chế quản lí thương mại:
* Chức năng, nhiệm vụ của Ban:
CÁC PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Trang 38
- Nghiên cứu về chính sách và cơ chế quản lí thương mại, tiến trình đổi mới
và hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lí thương mại để thực hiện nhiệm vụ do Bộ Công thương và Viện giao
- Nghiên cứu lí luận và phương pháp luận về xây dựng và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lí thương mại
- Nghiên cứu xác lập luận cứ khoa học trong tiến trình đồi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lí thương mại
- Tư vấn và thực hiện các dịch vụ về hoạch định chính sách và cơ chế quản lí thương mại
- Nghiên cứu chính sách phát triển thương mại nội địa, thương mại quốc tế
và hội nhập
*Cơ cấu tổ chức của Ban:
- Hiện nay, Ban nghiên cứu chính sách và cơ chế quản lí thương mại có 09 cán bộ nghiên cứu khoa học, trong đó có 01 tiến sĩ, 02 thạc sĩ và 06 cử nhân kinh tế
và luật
- Các nhóm nghiên cứu bao gồm: (i) Chính sách phát triển ngành hàng tư liệu sản xuất, công nghiệp tiêu dùng, hàng nông sản, (ii)Chính sách hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, (iii)Cơ chế quản lí thương mại, (iv)Chính sách phát triển thương mại với thị trường ngoài nước, (v)Nghiên cứu lí luận và phương pháp luận
về xây dựng và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lí thương mại
c,Ban Nghiên cứu thị trường:
* Chức năng, nhiệm vụ của Ban:
- Nghiên cứu các vấn đề về thị trường hàng hóa, dịch vụ, quan hệ cung – cầu,
xu hướng phát triển thị trường trong nước và quốc tế
- Nghiên cứu và đánh giá các chính sách trong nước và quốc tế đối với từng mặt hàng, từng thị trường cụ thể
- Tư vấn về các vấn đề liên quan đến thị trường trong và ngoài nước
- Là đầu mối phối hợp với các cơ quan hữu quan ngoài Viện nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thương mại, thị trường trong nước và quốc tế
- Tư vấn thị trường cho các doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước
Trang 39d,Ban Nghiên cứu thương mại môi trường:
*Chức năng, nhiệm vụ của Ban:
- Nghiên cứu các vấn đề thương mại môi trường liên quan đến hoạt động thương mại trong nước và quốc tế của Việt Nam
- Tư vấn về các vấn đề môi trường liên quan đến các hoạt động thương mại trong nước và quốc tế
- Là đầu mối trong việc phối hợp với các cơ quan hữu quan ngoài Viện nghiên cứu các vấn đề thương mại môi trường
* Cơ cấu tổ chức của Ban:
Ban Nghiên cứu thương mại môi trường gồm có 7 thành viên, 1 trưởng ban
và 1 phó trưởng ban, trong đó có 3 thạc sĩ và 4 cử nhân kinh tế
e,Phòng Quản lí khoa học và đào tạo:
*Chức năng, nhiệm vụ của Phòng:
Phòng Quản lí khoa học và đào tạo thuộc Viện Nghiên cứu thương mại có chức năng tham mưu, giúp Viện trưởng về công tác quản lí các hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo của Viện
Phòng Quản lí khoa học và đào tạo có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch nghiên cứu khoa học và đào tạo của Viện
- Đề xuất với Viện trưởng phương án tổ chức, bố trí, điều hòa các nguồn lực
để thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học và đào tạo của Viện
- Chuẩn bị nội dung, tổ chức các cuộc họp của Hội đồng khoa học, hội đồng đào tạo chuyên ngành để xác định, lựa chọn và đánh giá nội bộ các đề tài nghiên
Trang 40lí khoa học và đào tạo của viện
- Quản lí cán bộ, cơ sở vật chất – kỹ thuật của phòng theo sự phân cấp quản
lí của Viện, lưu trữ hồ sơ liên quan đến công tác quản lí khoa học và đào tạo của Viện
- Được sử dụng cơ sở vật chất- kỹ thuật của Viện phục vụ cho các hoạt động quản lí khoa học và đào tạo; được chủ động khai thác và sử dụng các nguồn kinh phí hỗ trợ khác ngoài nguồn kinh phí Nhà nước cấp theo hạn mức hàng năm
* Tổ chức bộ máy của phòng:
- Lãnh đạo phòng: trưởng phòng và 1 phó trưởng phòng
- Các chuyên viên nghiệp vụ
g,Phòng Hợp tác quốc tế:
* Chức năng, nhiệm vụ của Phòng:
- Tổ chức các hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, trao đổi thông tin khoa học, thương mại với các tổ chức nghiên cứu và các nhà khoa học ngoài nước
- Nghiên cứu phát triển quan hệ hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế, các khu vực thị trường và các nước nhằm phát triển thương mại Việt Nam
- Tổ chức các hoạt động hợp tác nghiên cứu với các tổ chức, các doanh nghiệp và các nhà khoa học để phát triển hợp tác quốc tế về kinh tế thương mại
- Tư vấn và thực hiện các dịch vụ nghiên cứu hợp tác quốc tế
* Cơ cấu tổ chức của Phòng:
- Lãnh đạo phòng: 1 trưởng phòng