1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÔNG TRÌNH giải pháp hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân tại việt nam

53 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Chuyên ngành Tài chính công
Thể loại Công trình dự thi giải thưởng đề tài môn học xuất sắc
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 753,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân (11)
    • 1.1.1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân (11)
    • 1.1.2. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong đời sống (12)
  • 1.2. Nội dung của thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam (14)
    • 1.2.1. Người nộp thuế (14)
    • 1.2.2. Căn cứ để tính thuế (14)
      • 1.2.2.1. Đối với cá nhân cư trú tại Việt Nam (14)
      • 1.2.2.2. Đối với cá nhân không cư trú tại Việt Nam (17)
    • 1.2.3. Thu nhập chịu thuế (19)
    • 1.2.4. Thu nhập miễn thuế (21)
    • 1.2.5. Giảm thuế (22)
    • 1.2.6. Kỳ tính thuế (23)
  • 1.3. Quản lý thuế thu nhập cá nhân (23)
    • 1.3.1. Đăng ký thuế (23)
    • 1.3.2. Kê khai thuế (23)
    • 1.3.3. Quyết toán thuế (25)
  • 1.4. Cách thức thuế thu nhập cá nhân được quản lý ở một vài nước trên thế giới (26)
    • 1.4.1. Tại Hoa Kỳ (26)
    • 1.4.2. Tại Hàn Quốc (27)
    • 1.4.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam (28)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM (0)
    • 2.1. Khái quát tình hình thu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam (31)
    • 2.2. Đánh giá chung về thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam (33)
      • 2.2.1. Ý kiến của các chuyên gia về thuế thu nhập cá nhân (33)
      • 2.2.2. Ý kiến của nhóm về thuế thu nhập cá nhân (36)
    • 2.3. Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân của tồn tại về quản lý thu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam (37)
      • 2.3.1. Những tồn tại (37)
      • 2.3.2. Những nguyên nhân của tồn tại (37)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ (0)
    • 3.1. Mục tiêu và định hướng để hoàn thiện hệ thống thuế thu nhập cá nhân tại Việt (41)
    • 3.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam (44)
    • 3.3. Giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam (45)

Nội dung

Thuế TNCN được áp dụng nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội theo chiều dọc những người có mức thu nhập khác nhau phải chịu mức thuế suất khác nhau và theo chiều ngang các cá nhân có

Khái niệm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế thu trên thu nhập của một cá nhân trong một giai đoạn được xác định theo quy định

Trải qua hàng trăm năm lịch sử, xã hội nhận ra vai trò thiết yếu của việc đánh thuế, điển hình là thuế TNCN Thuế gắn liền với sự tồn tại và sự phát triển của mỗi quốc gia và được dùng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, từ chi tiêu cho phúc lợi xã hội và an sinh tới đầu tư hạ tầng, ổn định kinh tế và bảo đảm trật tự xã hội.

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) lần đầu được ban hành và áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797; sau đó Anh, Phổ và Mỹ lần lượt triển khai thuế TNCN ở các giai đoạn 1799, 1808 và 1864 Ở châu Á, cuối thế kỉ 19 Nhật Bản bắt đầu áp dụng thuế TNCN; Thái Lan bắt đầu từ năm 1939, và sau đó Philippines, Hàn Quốc, Indonesia và Trung Quốc cũng lần lượt bắt đầu áp dụng thuế TNCN vào các năm tiếp theo.

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đã hình thành và phát triển từ các năm 1945, 1948, 1949 và 1984; đến đầu thập kỷ 1990, Đông Âu bắt đầu áp dụng TNCN tại một số nước như Romania, Nga và Ba Lan từ các năm 1990–1992 TNCN đã trở thành loại thuế có tầm quan trọng ở nhiều nước trên phạm vi toàn cầu Tại các nước phát triển, nguồn thu từ thuế TNCN đóng vai trò không nhỏ trong tổng thu NSNN và còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết và cân bằng nguồn thu nhập giữa các tầng lớp xã hội dựa trên tình trạng sống của từng cá nhân phải nộp thuế.

Hiện nay có tới 180 quốc gia trên các châu lục đã triển khai thuế TNCN, với phạm vi áp dụng rộng và nguồn thu quan trọng cho ngân sách quốc gia Thuế TNCN đóng góp đáng kể cho ngân sách và tác động trực tiếp đến phúc lợi kinh tế của từng cá nhân trong xã hội Vì vậy, mỗi quốc gia trên thế giới sẽ có sự khác biệt nhất định trong cách thực hiện và quản lý chính sách thuế TNCN, phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế - xã hội và mục tiêu phát triển riêng của họ.

Thuế TNCN là loại thuế trực thu, mang lại cho người nộp thuế cảm giác gánh nặng thuế Thuế TNCN được tính trực tiếp trên phần thu nhập phát sinh của tất cả công dân Thuế TNCN có quy mô điều chỉnh lớn đối với thu nhập từ tiền lương, từ hoạt động kinh doanh và từ đầu tư vào các loại chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu hoặc cổ phần.

Thuế TNCN (thuế thu nhập cá nhân) có phạm vi bao quát rộng, liên quan đến cả người nộp thuế và người chịu thuế Đối tượng nộp thuế bao gồm mọi khoản doanh thu của cá nhân, bất kể phát sinh trong nước hay ở nước ngoài Bên cạnh đó, mọi công dân trong nước và người nước ngoài cư trú, dù thường xuyên hay không thường xuyên tại nước sở tại, đều là đối tượng chịu thuế TNCN.

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) có tính chất lũy tiến cao, thực hiện chức năng bình đẳng thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội Do đó, biểu thuế lũy tiến được thiết kế để xác định mức thuế dựa trên mức thu nhập của người nộp, nhằm đảm bảo công bằng giữa các cá nhân và đóng góp theo khả năng.

Thuế TNCN trên thế giới tác động lên mọi cá nhân bất kể họ có tham gia sản xuất, buôn bán hay chỉ ở mức độ sinh lời hay không Khác với các loại thuế khác, thuế TNCN có mối quan hệ chặt chẽ với chính sách xã hội của mỗi quốc gia và hướng tới mục tiêu trung lập về thuế, không bị chi phối bởi các mục tiêu khác Loại thuế này được coi là đặc biệt vì xem xét hoàn cảnh gia đình và cuộc sống của người nộp thuế để cân nhắc việc miễn, giảm thuế hoặc các khoản miễn trừ đặc biệt Từ đó, thuế TNCN vừa là công cụ thu ngân sách vừa phản ánh sự nhạy cảm xã hội và sự linh hoạt trong xây dựng chính sách thuế phù hợp với điều kiện xã hội của từng quốc gia.

Thuế TNCN không được tính vào giá bán (giá thanh toán) của hàng hóa và dịch vụ nên nó không ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa, dịch vụ.

Vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong đời sống

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia Sự ổn định và tăng trưởng của nguồn thu TNCN phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia; khi nền kinh tế ngày càng mạnh lên và thu nhập, của cải của người dân tăng lên, TNCN mang lại nguồn thu lớn cho tổng thu ngân sách Nhà nước.

Thuế TNCN giúp khắc phục hạn chế của thuế gián thu là tính lũy thoái, vì thuế gián thu áp dụng một mức thuế cố định cho mọi người tiêu dùng và không tính đến thu nhập Khi chênh lệch thu nhập càng lớn, tính lũy thoái của thuế gián thu càng cao Ngược lại, thuế TNCN với thuế suất lũy tiến sẽ làm cho người có thu nhập cao nộp nhiều hơn và người có thu nhập thấp nộp ít hơn hoặc không phải nộp, từ đó góp phần tăng tính công bằng cho hệ thống thuế Vì vậy, thuế TNCN được xem là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo công bằng của hệ thống thuế.

Thuế TNCN đóng vai trò quan trọng trong công bằng xã hội bằng cách điều tiết thu nhập theo khả năng chi trả và thực hiện nguyên tắc phân tầng thu nhập Thuế TNCN áp dụng mức thuế suất khác nhau cho từng nhóm thu nhập (theo chiều dọc) và đảm bảo mỗi nhóm thu nhập chịu cùng mức thuế (theo chiều ngang) nhằm cân bằng lợi ích xã hội Mặc dù thu nhập đến từ lao động và năng lực cá nhân, người có thu nhập thấp vẫn phải chi trả các khoản phí sinh hoạt như phí điện nước, xăng dầu và phí môi trường, và những chi phí này có thể tăng lên trong tương lai Vì vậy, để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, Nhà nước sử dụng thuế TNCN cùng với các biện pháp khác nhằm cân bằng thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội.

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế, giúp cân bằng phân phối thu nhập và ổn định tổng cầu Việc điều tiết thu nhập của nhóm người có thu nhập cao thông qua TNCN có thể tăng phúc lợi xã hội và nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần của những người có thu nhập thấp Vì thuế TNCN tác động trực tiếp lên thu nhập của từng cá nhân, nó có thể tác động đến tổng cầu của xã hội và từ đó ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng cũng như chu kỳ kinh tế.

Ngoài ra, thông qua các biện pháp miễn thuế, giảm thuế và khuyến khích thuế thu nhập, Nhà nước có thể tác động tích cực đến tiêu dùng và đầu tư nhằm điều chỉnh nền kinh tế theo hướng tăng trưởng và ổn định.

Nội dung của thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

Người nộp thuế

Thuế TNCN là một loại thuế trực thu, nên đối tượng phải chịu thuế chính là đối tượng phải nộp thuế Để áp dụng cách tính thuế cho đúng và ăn khớp với quy định, trước tiên cần xác định đâu là đối tượng nộp thuế Đối với đối tượng chịu thuế là cá nhân, nguồn phát sinh thu nhập và nơi cư trú có thể ở nhiều quốc gia trên thế giới; chính vì thế, để xác định đối tượng nộp thuế, thông thường dựa vào hai tiêu chí là nguồn phát sinh thu nhập và nơi cư trú.

Những đối tượng phải đóng thuế TNCN ở Việt Nam được chia làm 2 trường hợp là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, cụ thể như sau:

❖ “Cá nhân cư trú” là người thỏa một trong các điều kiện sau:

Để được xem là cư trú tại Việt Nam, người nước ngoài cần sống tối thiểu 183 ngày trong một năm dương lịch hoặc sống liên tục tại Việt Nam trong 12 tháng kể từ ngày đầu tiên nhập cảnh Thời gian cư trú được tính theo năm dương lịch hoặc theo chu kỳ 12 tháng liên tiếp từ ngày nhập cảnh đầu tiên nhằm xác định tình trạng cư trú cho các mục đích liên quan như thuế và quyền lợi.

- Có chỗ cư trú cố định tại Việt Nam, bao gồm cả nơi ở đã đăng ký thường trú hoặc đã thuê để ở có thời hạn theo hợp đồng

❖ Những người không đáp ứng điều kiện quy định trên được xem là “cá nhân không cư trú”.

Căn cứ để tính thuế

1.2.2.1 Đối với cá nhân cư trú tại Việt Nam a) Thu nhập chịu thuế đến từ tiền lương, tiền công

Tổng tiền lương, tiền công mà người chịu thuế nhận được trong một kỳ tính thuế được quy định trước đó chính là căn cứ để tính thuế TNCN

Thời điểm được quy định là khi người sử dụng lao động trả lương hoặc trả tiền công cho người lao động, hoặc là thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập, nhằm xác định đúng thời gian phát sinh các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

- Các khoản đóng góp bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện

- Các khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học

- Các khoản giảm trừ gia cảnh

- Biểu thuế lũy tiến từng phần

Bảng 1.1 Biểu thuế lũy tiến từng phần

Bảng 1.2 Biểu thuế rút gọn b) Thu nhập đến từ hoạt động kinh doanh

Thu nhập được xác định bằng cách tổng hợp tất cả các nguồn thu từ bán sản phẩm, gia công sản phẩm, ký gửi và cung ứng hàng hóa và dịch vụ; đồng thời các thu nhập phát sinh trong kỳ tính thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ cũng được đưa vào tính toán.

Thời điểm được quy định là khi quyền sở hữu đối với hàng hóa và dịch vụ được chuyển giao giữa hai bên, hoặc khi hóa đơn bán hàng và hóa đơn cung cấp dịch vụ được lập cho bên nhận hàng.

Tỷ lệ tính thuế tính trên doanh thu:

- Nộp thuế theo phương pháp khoán và theo từng lần phát sinh

Bảng 1.3 Tỷ lệ thuế tính trên thu nhập của cá nhân chịu thuế

Thuế suất áp dụng cho các nguồn thu như cho thuê tài sản và thu nhập từ cá nhân trực tiếp ký kết hợp đồng làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm là 5%; ngoài ra, nội dung còn đề cập đến thu nhập từ đầu tư vốn (mục c) trong cơ cấu thuế.

Thu nhập từ đầu tư vốn là thu nhập tính thuế mà cá nhân nhận được

Thời điểm xác định là khi tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế d) Thu nhập đến từ chuyển nhượng vốn

- Thu nhập này được căn cứ dựa trên giá bán của quá trình chuyển nhượng vốn trừ đi các khoản chi phí liên quan

Thời điểm xác định là thời điểm hai bên đã hoàn tất giao dịch chuyển nhượng vốn theo đúng quy định của pháp luật, đánh dấu sự thực hiện thành công và tuân thủ đầy đủ các yêu cầu pháp lý liên quan.

- Thuế được tính đối với thu nhập đến từ đầu tư vốn:

✓ Thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp: 20%

✓ Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán: 0,1% e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản

- Thu nhập này được căn cứ dựa trên giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng bất động sản khi cả hai đã giao dịch và tại thời điểm chuyển nhượng cụ thể

Giá thành chuyển nhượng đất đai được xác định dựa trên bảng giá đất do cơ quan có thẩm quyền ban hành, điển hình là Ủy ban nhân dân tỉnh quy định Việc tham chiếu bảng giá đất đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ các quy định pháp lý liên quan đến giao dịch chuyển nhượng đất đai, giúp các bên nắm rõ mức phí và giá trị tài sản trong quá trình giao dịch.

Thời điểm xác định chính là thời điểm bắt đầu có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng dựa trên quy định của luật pháp Việt Nam

Thuế suất: 2% f) Thu nhập đến từ bản quyền và nhượng quyền thương mại

Dựa trên hợp đồng chuyển nhượng bản quyền hoặc hợp đồng nhượng quyền thương mại, khi doanh thu đạt trên 10 triệu đồng thì bắt đầu tính thuế TNDN, và nghĩa vụ này không bị ràng buộc bởi số lần thanh toán đã thực hiện hay chưa thanh toán cũng như số lần nhận được tiền.

Đối với thu nhập từ bản quyền, thời điểm xác định được coi là thời điểm bên thanh toán đã thanh toán tiền bản quyền cho chủ sở hữu bản quyền Nói cách khác, doanh thu từ bản quyền được ghi nhận tại ngày thanh toán tiền bản quyền cho chủ sở hữu, bất kể thời điểm ký hợp đồng hay các thủ tục liên quan khác Việc xác định đúng thời điểm thanh toán giúp làm rõ dòng tiền và tuân thủ nguyên tắc ghi nhận doanh thu liên quan đến bản quyền.

Đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thời điểm ghi nhận doanh thu được xác định là khi bên nhận nhượng quyền đã thanh toán chi phí nhượng quyền cho bên cấp phép Việc thanh toán này xác nhận quyền sử dụng nhượng quyền và là mốc thời gian doanh thu từ hoạt động nhượng quyền được ghi nhận Do đó, thời điểm nhận thu nhập từ nhượng quyền thương mại phụ thuộc vào việc thanh toán phí nhượng quyền.

1.2.2.2 Đối với cá nhân không cư trú tại Việt Nam a) Thu nhập đến từ tiền lương, tiền công

Thu nhập tính thuế từ tiền lương và tiền công của đối tượng này được xác định theo cách tương tự như đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân cư trú tại Việt Nam Nói cách khác, cách xác định này dựa trên các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công và các phụ cấp liên quan mà người lao động nhận được, áp dụng các nguyên tắc về thuế suất và các khoản giảm trừ cho cá nhân cư trú để bảo đảm tính công bằng và sự nhất quán trong hệ thống thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.

Thuế suất: 20% b) Thu nhập từ kinh doanh

Thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh được xác định dựa trên nguồn doanh thu phát sinh trong kỳ tính thuế, từ các hoạt động như bán hàng, gia công hàng hóa và tiền ký gửi nhận được từ cung cấp hàng hóa, dịch vụ Các khoản trợ giá và phụ thu mà cá nhân kinh doanh được hưởng cũng được tính vào thu nhập chịu thuế và phản ánh trong kỳ tính thuế.

Thuế suất đối với thu nhập đến từ hoạt động kinh doanh được chia làm nhiều lĩnh vực, được quy định như sau:

Trong các lĩnh vực sản xuất, xây dựng, vận tải và các hoạt động kinh doanh khác, thuế suất 2% được áp dụng cho một số trường hợp nhất định Thu nhập từ đầu tư vốn được xác định giống như thu nhập chịu thuế TNCN từ đầu tư vốn của cá nhân cư trú, nghĩa là các nguyên tắc tính thuế và mức khấu trừ áp dụng tương tự.

Thuế suất: 5% d) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn

Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn được xác định dựa trên phần giá trị chuyển nhượng vốn mà cá nhân nhận được khi tham gia hoạt động chuyển nhượng cổ phần tại tổ chức, cá nhân cư trú tại Việt Nam và không được trừ bất kỳ khoản chi phí nào, kể cả giá vốn.

Thời điểm xác định tương tự cá nhân cư trú

Thuế suất: 0,1% e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản

“Giá trị chuyển nhượng bất động sản” và “thời điểm xác định thu nhập tính thuế” được xác định tương tự như cá nhân cư trú

Thuế suất: 2% f) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại

❖ Đối với thu nhập từ bản quyền:

Doanh thu tính thuế được xác định theo từng hợp đồng chuyển giao hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ phát sinh tại Việt Nam và đạt trên 10 triệu đồng.

Thời điểm xác định thu nhập từ bản quyền của cá nhân không cư trú tương tự như cá nhân cư trú

❖ Đối với thu nhập từ hoạt động nhượng quyền thương mại:

Thu nhập chịu thuế

Để tính thuế thu nhập cá nhân phải nộp, cần liệt kê các khoản thu nhập chịu thuế và xác định cách tính thu nhập chịu thuế ban đầu; sau đó áp dụng các khoản miễn trừ, khấu trừ theo quy định của cơ quan thuế để xác định thu nhập chịu thuế thực tế, và cuối cùng áp dụng mức thuế suất theo quy định để xác định số thuế phải nộp.

Thu nhập cá nhân là số tiền mà mỗi người lao động kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm, sau khi đã loại trừ các chi phí cần thiết để đạt được khoản thu nhập đó Với cách hiểu này, thu nhập cá nhân phản ánh giá trị thực nhận sau khi trừ chi phí liên quan, là thước đo mức sống và cơ sở để tính thuế, phúc lợi và các chỉ số kinh tế khác.

Theo Điều 3 Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi, bổ sung 2012), đối tượng phải nộp thuế Thu nhập cá nhân khi có các khoản thu nhập sau:

❖ Thu nhập từ tiền lương, tiền công:

Thu nhập mà người lao động đạt được hoặc nhận được từ người sử dụng lao động trong một khoảng thời gian nhất định

Các khoản tiền có tính chất tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các lợi ích nhận được dưới hình thức bằng tiền hoặc phi tiền mặt được quy định rõ về hình thức thanh toán, bao gồm tiền mặt, chuyển khoản và các hình thức thanh toán phi tiền mặt khác, nhằm đảm bảo quyền lợi người lao động và sự tuân thủ các quy định liên quan.

- Các khoản phụ cấp, trợ cấp, các khoản thưởng được quy định

Thu nhập nhận được từ việc tham gia các hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức sinh lời được trả trực tiếp cho cá nhân tham gia Các khoản tiền này thể hiện sự công nhận và khuyến khích sự tham gia của cá nhân vào các tổ chức lãnh đạo và các cơ cấu quản lý, góp phần tăng động lực và cam kết của người tham gia.

- Những khoản lợi ích mà đối tượng chịu thuế được nhận bằng tiền mặt hoặc không phải tiền mặt dưới những hình thức hợp pháp

❖ Thu nhập từ kinh doanh:

- Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấp phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật

- Thu nhập từ làm đại lý bán theo giá thành mà cá nhân trực tiếp ký hợp đồng với các công ty, doanh nghiệp

- Hợp tác kinh doanh với những tổ chức một cách hợp pháp

- Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối không đáp ứng đủ điều kiện được miễn thuế

❖ Thu nhập từ đầu tư vốn:

- Tiền lãi cho vay (loại trừ: tiền lãi từ tiền gửi nhận được từ các tổ chức tín dụng tại nước ngoài)

- Cổ tức nhận được từ việc góp vốn cổ phần

Thu nhập từ hoạt động đầu tư vốn phát sinh dưới các hình thức khác nhau, ngoại trừ thu nhập từ tiền lãi nhận được từ trái phiếu do Chính phủ Việt Nam phát hành.

❖ Thu nhập đến từ việc chuyển nhượng vốn:

- Vốn trong các tổ chức kinh tế

- Những hình thức khác được pháp luật quy định

❖ Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản:

- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; quyền sở hữu nhà ở, kể cả nhà ở hình thành trong tương lai

- Chuyển quyền thuê đất, thuê mặt nước

- Khi góp vốn bằng bất động sản theo quy định của pháp luật

- Từ hoạt động ủy quyền quản lý bất động sản

- Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản

❖ Thu nhập từ bản quyền:

Các hoạt động như chuyển nhượng và chuyển giao quyền sử dụng đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của luật Sở hữu trí tuệ Việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ đồng nghĩa với việc chuyển giao quyền chiếm hữu và kiểm soát đối với tác phẩm, sáng chế, nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp cho bên nhận và phải tuân thủ điều kiện, phạm vi và thời hạn được ghi trong hợp đồng cũng như quy định pháp luật Mặt khác, chuyển giao quyền sử dụng cho bên thứ ba cho phép họ được khai thác, sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ dưới các điều kiện cấp phép, phạm vi sử dụng, thời hạn và mức phí bản quyền được thỏa thuận Các bên liên quan cần chú ý tới hình thức hợp đồng, phạm vi đối tượng được cấp phép, thời hạn, phí bản quyền và các nghĩa vụ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời tuân thủ các quy định về đăng ký, xử lý tranh chấp và bảo mật thông tin Những hoạt động này đóng vai trò thiết yếu trong khai thác và bảo vệ giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ trong môi trường cạnh tranh.

- Hoạt động như chuyển giao công nghệ theo quy định của luật Chuyển giao công nghệ

Thu nhập từ hoạt động nhượng quyền thương mại là tổng doanh thu thu được từ các hợp đồng nhượng quyền theo quy định của pháp luật Đây là lợi nhuận phát sinh khi cấp quyền sử dụng thương hiệu và mô hình kinh doanh cho bên nhận nhượng quyền, dựa trên các điều khoản của hợp đồng, mức phí nhượng quyền và hiệu quả kinh doanh của hệ thống nhượng quyền.

Thu nhập từ nhận thừa kế bao gồm chứng khoán và phần vốn trong các tổ chức kinh tế; bất động sản và các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng với cơ quan quản lý Nhà nước Việc đăng ký này giúp xác nhận nguồn gốc và tính hợp pháp của tài sản, đồng thời tạo điều kiện cho các giao dịch và quản lý tài sản sau này.

Thu nhập từ nhận quà tặng bao gồm quà tặng là chứng khoán, vốn góp trong các tổ chức kinh tế và cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản khác Các tài sản này phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng với cơ quan quản lý Nhà nước theo quy định pháp luật để đảm bảo xác lập quyền lợi và nghĩa vụ của người nhận.

Thu nhập miễn thuế

Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm nhà ở và các công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định, được xác định giữa các mối quan hệ gia đình cụ thể như vợ chồng; cha mẹ với con cái (kể cả cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi); mẹ chồng và cha chồng với con dâu; bố vợ và mẹ vợ với con rể; ông bà với cháu (kể cả ông bà nội hoặc ngoại); và giữa anh, chị, em ruột.

Thu nhập phát sinh từ việc chuyển nhượng tài sản bất động sản của một cá nhân, trong đó người đó chỉ sở hữu duy nhất một căn nhà và một quyền sử dụng đất trên lãnh thổ Việt Nam Trường hợp này làm nổi bật điều kiện sở hữu cá nhân và cách xác định nguồn thu từ các giao dịch bất động sản Do đó, các hoạt động chuyển nhượng như vậy được coi là thu nhập từ bất động sản, có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý thuế và các quy định pháp lý liên quan tại Việt Nam.

Thu nhập từ việc chuyển nhượng, gồm nhận thừa kế và nhận quà tặng, là từ các tài sản bất động sản (nhà ở và các công trình dự định sẽ hình thành trong tương lai theo quy định) giữa các mối quan hệ sau: vợ chồng; cha mẹ và con (kể cả cha mẹ ruột hoặc cha mẹ nuôi); mẹ chồng, cha chồng với con dâu; bố vợ, mẹ vợ với con rể; ông bà và cháu (kể cả ông bà nội hoặc ngoại); anh, chị, em ruột.

❖ Thu nhập từ hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất

Thu nhập của hộ gia đình và của những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và nghề làm muối ở mức chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ ở mức sơ chế Nội dung này làm rõ nguồn thu từ hoạt động sản xuất trực tiếp trên đồng ruộng, rừng và biển, cũng như từ nghề muối ở quy mô hộ gia đình, nhằm phục vụ phân tích mức sống, đóng góp vào kinh tế địa phương và đánh giá tình hình thu nhập trong các ngành nông lâm ngư nghiệp ở giai đoạn sơ chế.

❖ Thu nhập từ tiền lương hưu từ Quỹ bảo hiểm xã hội, Quỹ hưu trí tự nguyện

❖ Thu nhập nhận được từ học bổng được công nhận bởi những cá nhân hoặc tổ chức giáo dục được nhà nước công nhận

Thu nhập từ các khoản bồi thường đến từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường từ Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật Những khoản này được chi trả căn cứ vào điều khoản của từng hợp đồng và các quy định pháp luật hiện hành, đảm bảo người nhận nhận được quyền lợi phù hợp với phạm vi bảo hiểm Việc nắm vững các nguồn thu bồi thường giúp quản lý tài chính cá nhân hiệu quả và tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý cũng như thuế.

Thu nhập từ các quỹ từ thiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép thành lập hoặc công nhận và được quản lý, vận hành vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận Các quỹ này phải tuân thủ các quy định về cấp phép, công nhận và quản lý tài chính để đảm bảo hoạt động hiệu quả, minh bạch và mang lại lợi ích cho cộng đồng.

Thu nhập của chủ tàu và các cá nhân có đặc quyền sử dụng tàu, cùng với thu nhập của thủy thủ trên tàu, phát sinh từ hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ phục vụ trực tiếp cho hoạt động đánh bắt và khai thác thủy sản xa bờ.

Giảm thuế

Người chịu thuế TNCN gặp thiệt hại hoặc khó khăn từ thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nộp thuế sẽ được xem xét để xác định mức độ thiệt hại và có cơ sở giảm thuế tương ứng cho cá nhân đó Việc giảm thuế TNCN sẽ dựa trên mức độ tác động lên thu nhập và khả năng nộp thuế của người nộp, đảm bảo sự công bằng và phù hợp với hoàn cảnh khó khăn.

Thẩm quyền ban hành quyết định miễn giảm thuế được thủ trưởng cơ quan thuế đưa ra

Cá nhân được hoàn thuế trong các trường hợp sau đây:

- Số tiền thuế phải nộp thấp hơn số thuế đã nộp trước đó

- Thu nhập tính thuế chưa đạt đến mức phải nộp thuế mà các cá nhân đã nộp thuế trước đó

- Các trường hợp khác được nêu

Khấu trừ thuế là quá trình mà tổ chức, cá nhân trả thu nhập tự động loại bỏ một phần thuế phải nộp từ thu nhập của người nhận trước khi thanh toán cho họ, nhằm đảm bảo nghĩa vụ thuế được thực hiện tại nguồn Các khoản thu nhập phải thực hiện khấu trừ thuế bao gồm lương, tiền công, thù lao từ hợp đồng dịch vụ, hoa hồng, phí bản quyền, tiền thưởng và các khoản thanh toán khác có thu nhập chịu thuế theo quy định pháp luật.

- Thu nhập của cá nhân không cư trú

Thu nhập của cá nhân cư trú được xác định từ nhiều nguồn khác nhau, gồm tiền lương và tiền công; hoạt động bảo hiểm và làm đại lý vé số; hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cho thuê tài sản; đầu tư vốn; chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán; trúng thưởng; và doanh thu từ bản quyền hoặc nhượng quyền thương mại.

Kỳ tính thuế

❖ Đối với cá nhân cư trú:

- Đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh; thu nhập từ tiền lương nhận được được tính theo năm

Trong trường hợp thu nhập phát sinh theo từng lần, nguồn thu này đến từ các hoạt động như đầu tư, chuyển nhượng vốn, chứng khoán, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng hoặc nhận thừa kế.

Thu nhập phát sinh theo từng lần từ việc chuyển nhượng chứng khoán có thể được tính thuế theo từng lần hoặc theo năm Nếu đối tượng chịu thuế chọn phương pháp tính thuế theo năm, cần đăng ký từ đầu năm với cơ quan thuế để được áp dụng phương pháp này.

❖ Đối với cá nhân không cư trú:

- Đối với trường hợp doanh thu phát sinh được tính theo từng lần phát sinh thu nhập thì áp dụng đối với tất cả thu nhập chịu thuế.

Quản lý thuế thu nhập cá nhân

Đăng ký thuế

Việc đăng ký kê khai, khấu trừ thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế cùng các biện pháp quản lý thuế được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế Đăng ký thuế TNCN là bắt buộc không chỉ đối với người trả thu nhập mà còn áp dụng cho các tổ chức và cá nhân có thu nhập phải nộp thuế TNCN Cá nhân có nhiều khoản thu nhập chịu thuế TNCN chỉ cần đăng ký một lần, và mã số thuế được sử dụng chung cho tất cả các khoản thu nhập để kê khai.

Kê khai thuế

Các tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người lao động và cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN thực hiện kê khai thuế như sau:

❖ Đối với các tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người lao động thực hiện khấu trừ thuế:

Kê khai thuế theo tháng: Tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm báo cáo kết quả nộp thuế và nộp tờ khai cho các cơ quan thuế hàng tháng Hạn chót nộp tờ khai thuế hàng tháng là ngày 20 của tháng tiếp theo

❖ Đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh:

Thuế TNCN tạm nộp theo quý, thời hạn kê khai không muộn hơn ngày 30 của tháng đầu tiên quý tiếp theo

❖ Đối với cá nhân cư trú được hưởng thu nhập từ tiền công, tiền lương:

Việc kê khai thuế theo tháng áp dụng cho các trường hợp sau: cá nhân có tiền lương, tiền công do tổ chức hoặc cá nhân ở nước ngoài trả; cá nhân Việt Nam có thu nhập từ tiền lương, tiền công do tổ chức quốc tế, Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán tại Việt Nam chi trả Các trường hợp khác không phải kê khai thuế hàng tháng.

❖ Đối với cá nhân cư trú vừa có thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền công, tiền lương:

Khi kê khai thuế, cá nhân đó chỉ cần kê khai tạm nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ kinh doanh theo quy định

❖ Đối với cá nhân thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản:

Mọi cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản — bất kể đối tượng phải chịu thuế hay được miễn thuế — đều có trách nhiệm nộp tờ khai thuế TNCN và gửi kèm hồ sơ chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản đó cho cơ quan thuế.

❖ Đối với cá nhân hưởng thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán:

- Cá nhân đó có trách nhiệm khai thuế và nộp tờ khai khai thuế theo quy định của pháp luật

- Riêng cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đã đăng ký với cơ quan thuế phải nộp đủ thuế TNCN theo mức thuế suất 20%

❖ Đối với thu nhập từ thừa kế, quà tặng:

Cá nhân đó có trách nhiệm phải kê khai thuế theo từng lần phát sinh thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng.

Quyết toán thuế

❖ Đối với tổ chức, cá nhân nộp thuế thu nhập thực hiện các khoản khấu trừ:

Đối tượng phải kê khai quyết toán thuế là tổ chức và cá nhân trả các khoản thu nhập bị khấu trừ thuế, bất kể có phát sinh khấu trừ thuế hay không; họ có nghĩa vụ quyết toán theo quy định Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch.

Thời hạn nộp thuế: chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp tờ khai thuế tháng, khai thuế quý, khai thuế năm

❖ Đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh:

Kê khai quyết toán thuế đòi hỏi nộp hồ sơ kê khai và tiến hành quyết toán đầy đủ; hạn chót nộp hồ sơ là ngày thứ 90 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch, còn hạn chót nộp thuế là ngày cuối cùng của thời hạn nộp tờ khai.

❖ Đối với cá nhân cư trú hưởng thu nhập từ tiền lương, tiền công:

Trường hợp 1 mô tả tình huống số tiền thuế phải nộp trong năm hiện tại lớn hơn số tiền thuế đã khấu trừ và tạm nộp năm nay; vì vậy cá nhân cần thực hiện kê khai nộp thuế để thanh toán phần chênh lệch giữa số thuế phải nộp và số thuế đã khấu trừ, nhằm hoàn tất nghĩa vụ thuế đúng hạn.

Trường hợp 2 nêu rõ khi số tiền thuế phải nộp trong năm hiện tại lớn hơn số tiền thuế chưa được khấu trừ và tạm nộp năm nay, cá nhân đó phải thực hiện kê khai nộp thuế Việc kê khai nộp thuế giúp xác định đúng số dư nợ và phần chênh lệch để thanh toán cho cơ quan thuế đúng hạn Người nộp thuế cần hoàn tất mẫu khai thuế liên quan, nộp đúng hạn và thanh toán đủ số tiền còn lại để tránh phát sinh phí phạt hoặc lãi suất Quy trình này nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động kê khai nộp thuế kịp thời khi diện thuế phải nộp vượt quá số tiền đã được khấu trừ và tạm nộp trong năm.

❖ Đối với cá nhân cư trú có cả thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công:

Cá nhân đó phải thông báo quyết toán thuế trong các trường hợp sau:

- Có thu nhập chịu thuế bình quân trên 4 triệu đồng / tháng

- Có hồ sơ đề nghị hoàn thuế hoặc bù trừ số tiền thuế nộp thừa vào kỳ tiếp theo

❖ Đối với cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán:

Thuế phải được quyết toán khi số tiền thuế phải nộp tính theo thuế suất 20% lớn hơn số tiền thuế đã bị khấu trừ tạm theo mức thuế suất 0,1% trong năm Điều này có nghĩa là nếu thuế phải nộp vượt quá khoản thuế đã khấu trừ, doanh nghiệp hoặc cá nhân cần tiến hành quyết toán để điều chỉnh phần chênh lệch Việc quyết toán đảm bảo tính đúng đắn của nghĩa vụ thuế và phản ánh đầy đủ số tiền phải nộp trong năm.

Cách thức thuế thu nhập cá nhân được quản lý ở một vài nước trên thế giới

Tại Hoa Kỳ

Không giống như nhiều nước có hệ thống thuế thu nhập cá nhân đánh thuế dựa trên tổng thu nhập, Sở Thuế vụ Hoa Kỳ (IRS) đánh thuế trên thu nhập ròng của mỗi người – tức thu nhập sau khi trừ đi các chi phí tái đầu tư và chi phí sinh hoạt khác Điều này có nghĩa là khi công dân Mỹ để phần lớn thu nhập vào hoạt động đầu tư như mua/bán/cho thuê bất động sản hoặc mua ô tô và thiết bị điện, mức thuế phải nộp trong năm có thể rất thấp so với hệ thống đánh thuế dựa trên thu nhập tổng cộng.

Ở Hoa Kỳ, nếu công dân nước này không tiếp tục đầu tư, thu nhập từ các khoản đầu tư sẽ bị đánh thuế trong các năm sau Thuế thu nhập tại Mỹ được áp dụng cho nhiều đối tượng, từ cá nhân và gia đình đến người lao động chính trong gia đình Theo biểu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) do Sở Thuế vụ công bố, mức thuế TNCN dao động từ khoảng 9,02% đến 40% Các bang ở Hoa Kỳ có thể áp đặt thuế suất cao nhằm kích thích công dân tiếp tục đầu tư và đóng góp cho nền kinh tế.

Bảng 1.4 Bảng thuế thu nhập đối với cá nhân độc thân tại Hoa Kỳ

Tại Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, người nộp thuế TNCN là người cư trú hoặc người không cư trú có thu nhập chịu thuế trong năm

Người cư trú tại Hàn Quốc là người sở hữu một ngôi nhà hoặc đã sống ở nước này ít nhất một năm Họ phải trả thuế thu nhập trên toàn bộ nguồn thu bằng cách tuyên bố thu nhập toàn cầu cho mọi thu nhập phát sinh tại hoặc ngoài Hàn Quốc.

Người không cư trú là những người không đứng tên nhà ở tại Hàn Quốc hoặc đã sống ở Hàn Quốc dưới một năm; họ chỉ phải trả thuế thu nhập đối với thu nhập có được từ Hàn Quốc.

Thu nhập chịu thuế ở Hàn Quốc bao gồm các nguồn từ lao động, hoạt động kinh doanh, cho thuê bất động sản, bất động sản tạm thời và các khoản thu nhập khác; đây là cơ sở để xác định nghĩa vụ và mức thuế phải nộp cho người làm công, doanh nghiệp và chủ sở hữu bất động sản tại Hàn Quốc.

Các quy định về thu nhập không chịu thuế của Hàn Quốc như sau:

❖ Thu nhập do bất kỳ hoạt động thương mại nào của nông dân tạo ra

❖ Thu nhập lương hưu và trợ cấp bao gồm:

- Tiền lương của quân nhân phục vụ trong quân đội (theo quy định tại Nghị định của Tổng thống)

- Các khoản trợ cấp, trợ cấp hàng năm để tạo động lực cho người lao động hoặc gia đình họ khi bị thương tật, ốm đau, tử vong

- Trợ cấp già yếu, trợ cấp thương tật và trợ cấp tử tuất dựa trên Luật Hưu trí Quốc gia và thu nhập một lần

- Trợ cấp thất nghiệp do Luật Bảo hiểm Lao động quy định

Trợ cấp cho gia đình cán bộ đã về hưu được quy định và cấp phát theo các khung pháp lý rõ ràng, bao gồm Luật Phúc lợi công cộng, Luật Phúc lợi quân sự, Luật Phụ cấp và Luật Phụ cấp giáo viên tư nhân, cùng với trợ cấp cho nhân viên bưu điện được ban hành theo các văn bản luật hiện hành Các quy định này nhằm bảo đảm đời sống của gia đình cán bộ đã nghỉ hưu và được thực thi đúng theo quy định của pháp luật.

- Chi phí đi học (theo Nghị định của Tổng Thống)

❖ Trợ cấp đền bù cho các chi phí phát sinh (theo quy định của Nghị định của Tổng thống)

❖ Thu nhập tài sản đặc biệt: Theo quy định của Luật Bảo vệ tài sản văn hóa:

- Thu nhập từ chuyển nhượng các tác phẩm hoặc bộ sưu tập tranh, thư pháp được nhà nước chỉ định là di sản văn hóa

- Thu nhập từ chuyển nhượng tranh, thư pháp và các bộ sưu tập phù hợp với sắc lệnh của tổng thống

❖ Thu nhập từ chuyển nhượng đất đai:

- Thu nhập từ việc chuyển đổi, phân chia hoặc sáp nhập đất nông nghiệp theo các điều khoản Nghị định của Tổng thống

Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở gia đình được xác định theo Nghị định của Tổng thống, trừ các công trình nhà ở cao cấp do Đạo luật quy định Đối với đất có diện tích nhỏ hơn diện tích công trình sẽ được xây dựng, diện tích đất đó được xác định theo Nghị định của Tổng thống.

- Theo các điều kiện được quy định bởi sắc lệnh của Tổng thống, bồi thường cho thu nhập từ đất nông nghiệp

- Thu nhập từ cho thuê bất động sản và đất sử dụng để trồng lương thực

Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Trên cơ sở phân tích và đánh giá những kinh nghiệm từ việc quản lý thuế TNCN ở một số nước trên thế giới, Việt Nam đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế thu nhập cá nhân và tăng tính minh bạch của hệ thống Việc tham khảo các mô hình quản lý thuế ở nước ngoài giúp Việt Nam xác định các biện pháp phù hợp áp dụng công nghệ thông tin hiện đại, chuẩn hóa quy trình kê khai và quyết toán thuế TNCN, cũng như tăng cường quản trị hồ sơ và công tác thanh tra Các đề xuất còn nhằm giảm thiểu gian lận và nắm bắt cơ hội từ hợp tác quốc tế để cập nhật các chuẩn mực quản lý thuế phù hợp với thực tiễn Việt Nam, từ đó góp phần tạo môi trường thuế cạnh tranh và bền vững cho ngân sách nhà nước.

❖ Đầu tiên, thiết lập một mô hình thuế

Việt Nam hiện chưa có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức và điều hành các hoạt động thuế, nên mô hình đánh thuế hỗn hợp – kết hợp giữa đánh thuế theo nguồn và đánh thuế tổng thu nhập – là phù hợp nhất Mô hình này đòi hỏi quản lý và thu nhận từng nguồn thu nhập đồng thời ấn định mức thuế suất hợp lý cho các nguồn thu khác nhau dựa trên đặc điểm riêng biệt Kinh nghiệm cho thấy cần áp dụng đồng nhất mô hình thuế, đồng thời cải tiến hệ thống quản lý thuế và triển khai mô hình đã chọn một cách có hệ thống và nhất quán.

Đối với thuế thu nhập cá nhân, cần xác định đối tượng nộp thuế bằng cách kết hợp hai tiêu chuẩn: nơi cư trú và nguồn thu nhập, và loại bỏ tiêu chuẩn quốc tịch để khắc phục bất hợp lý đối với công dân Việt Nam sống ở nước ngoài Việc áp dụng hai tiêu chuẩn này sẽ mang lại sự công bằng, thống nhất và hiệu quả trong quản lý thuế, đồng thời tối ưu hóa chi phí tuân thủ cho người nộp thuế và cơ quan thuế.

❖ Thứ ba, xác định các đối tượng thu nhập chịu thuế và thu nhập không chịu thuế

Theo phân tích của nhiều nước trên thế giới, thu nhập chịu thuế (TNCN) nên được phân loại theo nguồn Việc xác định thu nhập không chịu thuế dựa trên các tiêu chí liên quan đến lý do chính trị, xã hội, thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, cũng như các hiệp định hoặc điều ước quốc tế, hoặc nhằm mục đích khuyến khích các hoạt động cụ thể Một số loại thu nhập có thể được miễn hoặc giảm, cho phép miễn hoặc giảm thuế thu nhập nhất định với một số đối tượng dưới hình thức tạm thời không đánh thuế trong những trường hợp nhất định.

Xác định số tiền khấu trừ thuế theo hoàn cảnh gia đình là khâu quan trọng trong việc thực thi các chính sách thuế Để tính toán đơn giản, nên áp dụng hình thức khấu trừ tiêu chuẩn nhằm giảm chi phí thu hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế xử lý công việc theo quy định của pháp luật Trong nhiều chính sách chiến lược cải cách thuế ở Việt Nam, các khoản khấu trừ được xác định dựa trên cơ cấu thu nhập và chi tiêu của người dân Luật cho phép khấu trừ một khoản cố định tùy theo hoàn cảnh gia đình Bài học rút ra là cần kết hợp khấu trừ thuế với các thiết chế khác như quản lý quyền công dân và bảo hiểm xã hội để quản lý người phụ thuộc một cách hiệu quả.

❖ Thứ năm, làm rõ thuế suất, biểu thuế của người nộp thuế

Việc điều chỉnh thuế suất và ưu đãi thuế ở mức phù hợp giúp ngăn ngừa trốn thuế và gian lận thuế, đồng thời thu nhập từ vốn đầu tư được quốc tế công nhận ở mức 5%; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản ở mức 2%; thu nhập từ tiền bản quyền và quyền thương mại ở mức 5%; và thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán ở mức 0,1% sẽ phải chịu thuế suất đầy đủ Hình thức thuế lũy tiến áp dụng đối với tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh có 7 mức thuế suất, nhưng biểu thuế bảy bậc được cho là quá nhiều nên cần có lộ trình giảm dần số lượng thuế suất.

Theo xu hướng chung về chính sách ưu đãi thuế TNCN, Việt Nam có thể xem xét, rút kinh nghiệm, đơn giản hóa và giảm thuế suất Đồng thời, nước ta có thể nghiên cứu mở rộng phạm vi quản lý thuế và điều chỉnh một phần nguồn thu mới đúng hạn, nhằm bù đắp và cân đối nguồn thu ngân sách quốc gia.

Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập cá nhân và đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước Ở Việt Nam, đối tượng chịu thuế TNCN được chia làm hai nhóm rõ ràng: cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ, và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Pháp luật đã liệt kê các khoản mục thuế một cách rõ ràng để người đóng thuế nhận diện được mức thuế suất và giúp công tác quản lý thuế được thuận lợi Thuế TNCN chú trọng đến hoàn cảnh của người nộp thuế, nên có các khoản giảm hoặc miễn nhằm giảm khó khăn và khuyến khích người đóng thuế tham gia vào sản xuất và hoạt động kinh tế So với các hệ thống ở nước ngoài, Việt Nam có những khác biệt: ở Mỹ thuế được đánh trên thu nhập thực tế sau khi trừ các chi phí, còn ở Hàn Quốc mọi cá nhân cư trú hay không cư trú đều phải chịu thuế trên thu nhập chịu thuế phát sinh trong năm.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

Khái quát tình hình thu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

Bảng 2.1 Hệ thống văn bản về quản lý thuế thu nhập cá nhân

❖ Theo số liệu tổng hợp từ Tổng cục Thuế, tổng số thu từ thuế TNCN tính đến ngày 13/11/2020 đạt hơn 100.413 tỷ đồng, bằng 78,06% so với dự toán

❖ Do những yếu tố khách quan, tốc độ thu thuế TNCN đang trong chiều hướng giảm

Trong thực trạng ảnh hưởng của dịch Covid-19 lên mọi mặt của nền kinh tế – xã hội nước ta, số thu thuế TNCN vẫn tăng nhẹ 4,35% so với cùng kỳ năm 2019 Tuy nhiên, tính đến 10 tháng đầu năm 2020, tốc độ tăng thu thuế TNCN so với cùng kỳ năm 2019 đã giảm 13,45%, cho thấy tác động của đại dịch đang làm giảm nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân.

Trong năm 2019, thuế TNCN tăng khoảng 17,8% Từ quý II/2020, nguồn thu chính của thuế TNCN gồm tiền lương, tiền công và thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân đã bị giảm mạnh nhất.

Trong 10 tháng đầu tiên năm 2020, tổng thu thuế TNCN nổi bật nhất là nguồn thu phát sinh từ kinh tế năm 2019 nộp trong quý 01/2020, đây là nguồn tăng chủ yếu (so với cùng kỳ tăng 17,2%) Đây là báo hiệu tốt cho các doanh nghiệp khi tình hình kinh tế năm 2019 là khá ổn, giúp ích cho việc chi trả thu nhập cho người lao động trong dịp trước và sau tết Nguyên đán Báo hiệu tốt này có nguyên nhân từ thị trường bất động sản sôi động, thị trường chứng khoán cũng khởi sắc không kém, đã tác động tích cực tới thuế TNCN từ những nguồn này trong quý 1 Đơn cử như quý 1 tăng 19,1% từ thu tiền công, tiền lương; tăng 15,2% từ thu đầu tư vốn; tăng 6,4% từ thu hoạt động kinh doanh của hộ cá nhân; tăng 6,1% từ thu chuyển nhượng bất động sản,…

Ngay sau niềm vui ban đầu, Việt Nam lại phải đối mặt với sự trở lại của đại dịch Covid-19 sau dịp Tết Nguyên đán, vào tháng 3/2020 Đến tháng 4/2020, nước ta áp dụng chỉ thị giãn cách toàn xã hội, khiến nhiều doanh nghiệp phải thay đổi nhân sự và lập kế hoạch giảm tiền lương, tiền công do hoạt động kinh doanh không thu được lợi nhuận, đồng thời hoạt động kinh doanh của cá nhân cũng bị trì trệ.

Trong khoảng từ quý II/2020 đến hết tháng 10/2020, số thu thuế TNCN chỉ đạt 97,38% so với cùng kỳ năm ngoái do việc thực hiện gia hạn thuế TNCN đối với hộ, cá nhân kinh doanh theo Nghị định số 41/2020/NĐ-CP So với cùng kỳ năm 2019, các nguồn thu chủ lực của thuế TNCN cũng ghi nhận mức giảm: số thu từ tiền lương, tiền công chỉ đạt 94,39%, trong khi số thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân chỉ đạt 92,88%.

• Ước tính khoảng 1 triệu người sẽ không phải nộp thuế TNCN

Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 về nâng mức giảm trừ gia cảnh của thuế TNCN được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 02/06/2020, và là một yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế TNCN Theo ước tính của Tổng cục Thuế, khoảng 1 triệu người ở bậc 1 sẽ không còn phải nộp thuế TNCN với mức giảm trừ gia cảnh mới Những người có thu nhập cao hơn thuộc các bậc 2 trở lên sẽ được giảm thuế đáng kể nhờ mức giảm trừ gia cảnh được nâng lên, mang lại lợi ích rõ rệt cho người nộp thuế ở mức cao.

Chính sách này có hiệu lực từ ngày 01/07/2020, nên số thu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công từ tháng 08/2020 sẽ bị ảnh hưởng Cụ thể, so với cùng kỳ năm 2019, số thu từ tiền lương, tiền công tháng 08/2020 là 4.564 tỷ đồng, bằng 93,2%; số thu từ tiền lương, tiền công tháng 09/2020 là 4.123 tỷ đồng, bằng 92,74%; và số thu từ tiền lương, tiền công tháng 10/2020 là 6.759 tỷ đồng, bằng 90,17%.

Thông qua số liệu đã đề cập phía trên ta thấy rằng với bối cảnh dịch bệnh Covid –

Cuộc sống vật chất và tinh thần bị ảnh hưởng kéo dài đã tác động mạnh tới thu nhập của người dân và làm giảm nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) Tuy nhiên, việc điều chỉnh mức thu nhập chịu thuế lên 11 triệu đồng/người/tháng và tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 4 triệu đồng/người/tháng đã giúp nhiều người, trước đây phải nộp thuế, nay được miễn thuế hoặc giảm nghĩa vụ thuế Đây được coi là thể hiện sự quan tâm của Chính phủ tới đời sống vật chất và sức khỏe tinh thần của người dân, đồng thời làm giảm áp lực thuế nhờ các điều kiện thuận lợi trong thực hiện nghĩa vụ Đối với Việt Nam – một nước đang phát triển – thuế TNCN được kỳ vọng sẽ ngày càng quan trọng và đóng góp sẽ chiếm khoảng 25% tổng thu NSNN trong tương lai Theo Tổng cục Thuế, khi nỗ lực đẩy lùi khó khăn và nâng cao hiệu quả thuế TNCN, tỉ trọng thuế TNCN trong tổng cơ cấu thu ngân sách sẽ hướng tới mức 20–25% trong một ngày không xa, đánh dấu một xu hướng tăng trưởng thiết yếu cho nền tài chính công và sự phát triển kinh tế đất nước.

Đánh giá chung về thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, cách tính thuế TNCN hiện còn tồn tại nhiều thiếu sót và chưa phù hợp, khiến hệ thống thuế chưa đạt hiệu quả tối ưu Những bất cập này có thể làm thất thoát ngân sách và đặt nền kinh tế trước nguy cơ thiệt hại trong tương lai Cần nhanh chóng đưa ra giải pháp hiệu quả và kịp thời để điều chỉnh khung pháp lý, cải thiện cơ chế tính thuế thu nhập cá nhân và tăng tính công bằng, minh bạch cho người nộp thuế Việc thực thi các biện pháp cải cách thuế TNCN sẽ giúp ngăn chặn rủi ro kinh tế, đảm bảo sự ổn định tài chính quốc gia và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của nền kinh tế nước nhà.

❖ Thu nhập 1 triệu không được tính người phụ thuộc:

Theo PGS TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia tài chính và giảng viên cao cấp Học viện Tài chính, theo quy định hiện hành, người phụ thuộc phải chứng minh là có thu nhập dưới ngưỡng cho phép để được hưởng các quyền lợi liên quan đến thuế và các chế độ trợ cấp Việc xác nhận thu nhập của người phụ thuộc được coi là điều kiện bắt buộc trong quy trình xét duyệt, nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch và thuận tiện cho người nộp thuế trong quá trình áp dụng các quy định về người phụ thuộc.

Để được xem là diện phụ thuộc, mức thu nhập tối thiểu là 1 triệu đồng mỗi tháng Do đó, các ông bố, bà mẹ có thu nhập thường xuyên từ lương hưu, cổ tức hoặc nguồn khác mà lên đến 1,2 triệu đồng mỗi tháng trở lên và vẫn ở cùng con sẽ không được xem là người phụ thuộc.

Việc lấy 1 triệu đồng/tháng làm căn cứ xác định phụ thuộc là quá lạc hậu Trong thực tế, một tháng đi ăn cỗ và chi phí khám chữa bệnh đã bằng ba lần số tiền này, và 1 triệu đồng hiện nay không đủ để nuôi sống bản thân cũng như người phụ thuộc, dù ở địa phương hay ở thành phố Theo PGS TS Đinh Trọng Thịnh.

TS Bùi Quang Tín, Đại học Ngân hàng TP HCM cho rằng, “GTGC với người phụ thuộc là giải pháp để người dân đạt mức sống tối thiểu, và chỉ những thu nhập trên ngưỡng tối thiểu mới bị tính thuế Tuy nhiên, giá cả hàng hóa tăng lên hàng tháng, các dịch vụ sinh hoạt phát sinh nhiều và nhu cầu chi tiêu cao mà thu nhập của những người phụ thuộc không tăng hoặc tăng chậm Điều này dẫn tới người nộp thuế phải bù thêm khá nhiều chi phí để chăm sóc cho họ mà không được tính khi quyết toán thuế TNCN”

TS Bùi Quang Tín cho rằng cần khảo sát đời sống thực tế của người dân và phân chia mức giảm trừ gia cảnh theo khu vực, thay vì giữ mức giảm trừ như nhau trên toàn quốc Vì ở các thành phố lớn chi phí sinh hoạt rất khác so với nông thôn, từ giá thuê nhà đến ăn uống và giải trí đều đắt đỏ hơn nhiều, nên mức giảm trừ gia cảnh nên được điều chỉnh theo biến động chi phí sống giữa các vùng để phản ánh đúng thực tế cuộc sống của người dân.

Có thể căn cứ theo mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định hằng năm, áp dụng cho người lao động ở 4 vùng để tính mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế một cách phù hợp Ngoài ra, cũng có thể nghiên cứu việc cho phép trừ chi phí khi mua hàng có hóa đơn thay vì khống chế giảm trừ gia cảnh ở một mức cố định, theo đề nghị của TS Bùi Quang Tín.

❖ Thuế suất thuế TNCN của Việt Nam cao hơn cả Singapore:

Biểu thuế của luật TNCN hiện hành gồm 7 bậc thu nhập tính thuế theo tháng, từ 5% đến 35%, mỗi bậc sau cao hơn bậc trước 5% Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, mức thuế này được cho là khá cao so với nhiều nước trong khu vực Điển hình là Singapore, với hệ thống có 10 bậc từ 0% đến 22% Với mức thu nhập dưới 1,666 SGD/tháng (khoảng 28,3 triệu đồng/tháng) áp dụng thuế 0%; từ 20,001–30,000 SGD/năm (khoảng 28,3–42,5 triệu đồng/tháng) thuế suất 2%, và các bậc tiếp theo tăng dần; với quy định này, trường hợp cùng mức thu nhập 60.000 SGD/năm (1,02 tỷ đồng/năm), tương đương 85 triệu đồng/tháng, người Việt Nam sẽ đóng thuế TNCN 19,9 triệu đồng/tháng (tỷ lệ thuế trên thu nhập chịu thuế chiếm 23,4%), trong khi người Singapore chỉ đóng 2,76 triệu đồng/tháng (tỷ lệ thuế trên thu nhập chịu thuế chiếm 3,25%).

Theo TS Bùi Quang Tín, mức khung thuế hiện nay tương đối cao, vì vậy cần giảm mức luỹ tiến và rút bớt các bậc thuế để việc nộp thuế trở nên đơn giản hơn, giảm gánh nặng cho người dân và tránh hình ảnh Nhà nước bị coi là tận thu.

Ngưỡng chịu thuế vãng lai vẫn còn lạc hậu: nhận thù lao, phí hoa hồng từ 2 triệu đồng trở lên sẽ phải nộp thuế 10% Từ năm 2017, Bộ Tài chính đã đề nghị tăng mức khấu trừ cho thu nhập vãng lai từ 2 triệu đồng lên 5 triệu đồng để chỉ khi vượt mức này mới áp dụng thuế 10%, nhưng đề xuất vẫn chưa được thực thi Điều này khiến một lượng lớn người lao động dù chưa tới ngưỡng chịu thuế vẫn phải đóng thuế, theo quan điểm của TS Bùi Quang Tín.

TS Đinh Tuấn Minh, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, cho rằng mức thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hiện nay không nên quá dày như vậy; việc điều chỉnh ngưỡng TNCN chỉ dựa trên lạm phát mà không căn cứ vào mức tăng thu nhập của người dân sẽ khiến đa số người dân phải chịu thuế, và ngưỡng chịu thuế thấp không chỉ làm tổn thất cho người nộp mà còn gây quá tải cho bộ máy thuế, trong khi nguồn thu không tăng lên đáng kể.

Theo TS Đinh Tuấn Minh, Việt Nam nên thiết kế hệ thống thuế với 3–4 mức đóng phù hợp với nhịp phát triển hiện tại của đất nước, nhằm tối ưu hóa môi trường đầu tư và thu hút nhân tài Cách tiếp cận này sẽ hỗ trợ chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

2.2.2 Ý kiến của nhóm về thuế thu nhập cá nhân Đề tài nghiên cứu về thuế TNCN là một trong những đề tài quan trọng và không thể thiếu đối với mọi công dân Việt Nam (bao gồm cả cá nhân cư trú, cá nhân không cư trú và cá nhân chịu tác động bởi thuế TNCN tại Việt Nam) Như chúng ta đã biết, thuế TNCN được đánh vào thu nhập hợp pháp của mọi người Thuế TNCN là loại thuế trực thu có phạm vi rộng, có chức năng chính là gia tăng NSNN, giúp khắc phục tính lũy thoái của thuế gián thu và ổn định thu nhập xã hội

Nhìn chung, Chính phủ và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản và thông báo nhằm hỗ trợ người lao động trong việc nộp thuế Tuy nhiên, người lao động vẫn chưa nắm rõ cách tính giảm trừ gia cảnh để tối ưu lợi ích cá nhân mà vẫn tuân thủ pháp luật thuế Đối với một số cơ quan, tổ chức, việc tính thuế thu nhập cá nhân đối với các trường hợp trúng thưởng, quà tặng và phúc lợi công ty còn chưa thống nhất, dẫn tới kê khai thuế không chính xác Phần lớn các công ty là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa cập nhật đầy đủ thông tin từ cơ quan thuế và chưa thuê dịch vụ kiểm toán để rà soát hoạt động của mình Hiện nay, dịch bệnh Covid-19 đã khiến nhiều công ty phá sản hoặc đứng trước nguy cơ phá sản, công nhân thất nghiệp hoặc bị giãn lương và giảm lương do khả năng chi trả của doanh nghiệp khó khăn Theo nhóm em, trước những khó khăn đó, nếu doanh nghiệp chưa đáp ứng được hoạt động và vận hành, nên lập công văn gửi cơ quan thuế trình bày hiện trạng và xin ý kiến chỉ đạo, hỗ trợ từ cơ quan nhà nước.

Các văn bản và chính sách chính thức do bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân ban hành đều chứa những sai sót và rủi ro ở mức nhất định, có thể nhận thấy hoặc chưa nhận thấy nếu không có đánh giá và trải nghiệm chi tiết Để hiểu rõ hơn về các rủi ro, nguyên nhân và các giải pháp khắc phục tình trạng liên quan đến thuế TNCN, chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày phần sau nhằm mang lại cái nhìn toàn diện và hữu ích cho người đọc dựa trên đánh giá thực tế và dữ liệu cập nhật.

Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân của tồn tại về quản lý thu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

nhập cá nhân tại Việt Nam

Mặc dù quản lý thuế đã đạt được một số kết quả tích cực, sự tham gia ngày càng sâu của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới khiến hệ thống thuế nước ta đối mặt với nhiều thách thức mới do cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại Những thách thức này tập trung vào sự số hóa ngày càng mạnh, quản lý dữ liệu và thuế điện tử, sự biến đổi nhanh của mô hình kinh doanh và nền kinh tế số, cũng như rủi ro thất thu và gian lận thuế ngày càng phức tạp Để thích ứng, Việt Nam cần đổi mới thể chế, hiện đại hóa CNTT và nâng cao hiệu quả quản lý thuế xuyên biên giới, nhằm bảo đảm tính công bằng, tính dự báo và sức cạnh tranh của hệ thống thuế trong thời kỳ hội nhập.

Vấn đề 1: Hoạt động thương mại điện tử và các nhà cung cấp dịch vụ cung cấp dịch vụ xuyên biên giới gặp khó khăn trong việc thu thuế

Vấn đề 2: Hệ thống chính sách quản lý và thu thuế chưa hoàn hảo

Vấn đề 3: Quy trình quản lý chất lượng nguồn nhân lực hệ thống thuế chưa tốt

Vấn đề 4: Trốn thuế bằng hình thức kinh doanh trực tuyến

Vấn đề 5: Việt Nam cần điều chỉnh khoảng cách về mức thuế để nới rộng

Vấn đề 6 nêu bật thực trạng thiếu sự kiểm soát chặt chẽ đối với mức thu nhập của người dân, coi đó là thách thức lớn nhất và khó khăn nhất hiện nay, đặc biệt với các đối tượng như ca sĩ, nghệ sĩ và diễn viên Sự thiếu minh bạch trong quản lý thu nhập gây bất bình đẳng và rủi ro cho ổn định kinh tế - xã hội, đồng thời ảnh hưởng đến nguồn thuế và công bằng trong phân phối thu nhập Để khắc phục, cần tăng cường quản lý, giám sát và công khai thu nhập ở các ngành nghề có thu nhập biến động cao, đồng thời áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp và minh bạch Việc siết chặt kiểm soát thu nhập sẽ góp phần cân bằng thu nhập giữa các nhóm người lao động, tăng thu cho ngân sách và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

2.3.2 Những nguyên nhân của tồn tại

Dưới tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0, nhiều ngành công nghiệp mới và lĩnh vực mới xuất hiện, kéo theo sự gia tăng của dịch vụ xuyên quốc gia và sự thay đổi trong khái niệm về dịch vụ Những doanh nghiệp công nghệ có thể kiếm doanh thu ở nhiều quốc gia mà không phải đóng thuế ở bất kỳ quốc gia nào, làm dấy lên thách thức đối với hệ thống thuế toàn cầu Việt Nam và các nước khác đang đối mặt với khó khăn trong việc thu thuế các dịch vụ xuyên quốc gia Trong bối cảnh này, việc hợp tác phát triển kinh tế thông qua hội nhập quốc tế là phù hợp, nhưng cần sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngành, các quốc gia và các nền tảng hỗ trợ nhằm giải quyết vấn đề thu thuế cho các dịch vụ xuyên quốc gia.

Với sự phát triển của công nghệ, ngày càng nhiều người được hưởng lợi từ các giao dịch và dịch vụ thương mại điện tử xuyên biên giới, từ đó tăng thu nhập đáng kể cho cá nhân và doanh nghiệp; tuy nhiên, hiện chưa có sự phân biệt rõ giữa hoạt động kinh doanh truyền thống và kinh doanh thương mại điện tử theo chính sách thuế hiện hành, khiến việc xác định loại giao dịch chịu thuế gặp khó khăn Do tính phức tạp của nền kinh tế toàn cầu, cơ quan thuế cũng gặp khó khăn trong việc xác định giao dịch nào nên bị đánh thuế, và vẫn tồn tại nhiều vấn đề trong quản lý thuế nhà thầu đối với các giao dịch xuyên biên giới, đặc biệt khi liên quan đến nguồn thu nhập từ các nền tảng mạng xã hội giải trí như Google, Facebook, YouTube, TikTok.

Việc nguồn nhân lực được đào tạo áp dụng thành thạo và bắt kịp công nghệ hiện đại trên thế giới là thách thức lớn đối với công tác đánh thuế các giao dịch thương mại, dịch vụ và hàng hóa xuyên biên giới, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển nhanh Khi AI tiếp tục tiến bộ và có thể thay thế một phần lao động, nguồn nhân lực hạn chế sẽ trở thành rào cản đáng kể cho cơ quan thuế trong quản lý và thu thuế từ các hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cập nhật công nghệ hỗ trợ là yếu tố then chốt để cơ quan thuế thích nghi với nền kinh tế số và tối ưu hóa nguồn thu từ các giao dịch quốc tế.

Theo thông tin từ Cục Thuế Hà Nội, năm 2020 thu từ hoạt động thương mại điện tử tăng 492% so với năm 2019 Từ ngày 5/12/2020, các ngân hàng thương mại phải cung cấp thông tin tài khoản của người nộp thuế cho cơ quan thuế, bao gồm tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo mã số thuế, ngày mở và đóng tài khoản theo Nghị định 126 Trước sự thay đổi này, giới bán hàng online đã truyền tai nhau nhiều chiêu thức nhằm né tránh rà soát thuế thông qua giao dịch ngân hàng; ví dụ khi chuyển khoản thanh toán tiền hàng, người bán yêu cầu ghi nội dung chỉ cần số điện thoại hoặc tên, mà không ghi thêm bất kỳ thông tin nào liên quan đến thanh toán tiền hàng hóa.

Biểu thuế TNCN hiện hành gồm 7 bậc theo mức lũy tiến, với thuế suất cao nhất lên tới 35% ở bậc 7, trong khi thuế thu nhập doanh nghiệp (CIT) chỉ ở mức 20% hoặc 22% Sự chênh lệch này khiến các doanh nghiệp hợp pháp có thu nhập cao cảm thấy gánh nặng từ thuế TNCN vượt quá mức hợp lý Hệ quả là chảy máu chất xám và cả nguy cơ gian lận thuế để né tránh nghĩa vụ, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh và khả năng thu hút đầu tư Vì vậy, hệ thống thuế hiện tại đang tạo áp lực lên doanh nghiệp và đặt ra yêu cầu xem xét cân đối giữa ngân sách và động lực phát triển kinh tế.

Bảng 2.2 Biểu thuế thu nhập cá nhân

Các khoản thu nhập ngoài lương và tiền công của các đối tượng như ca sĩ, nghệ sĩ, diễn viên không được phản ánh đầy đủ vào sổ sách kế toán, dẫn đến việc kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không đồng đều giữa các nhóm xã hội Tình trạng này làm suy giảm tính công bằng của hệ thống thuế và nhấn mạnh sự cần thiết của tăng cường quản lý ghi nhận thu nhập phi lương, cải thiện cơ chế thanh tra và hướng dẫn kê khai để đảm bảo mọi nguồn thu nhập được tính thuế đầy đủ cho cộng đồng.

Dựa vào các số liệu được tổng hợp và các phân tích đã nêu ở trên, tình hình thuế TNCN ở Việt Nam vẫn chưa thực sự tối ưu Các yếu tố khách quan, như đại dịch COVID-19, đã tạo thêm thách thức cho quá trình thu thuế, trong khi cách tính thuế và mức thuế suất hiện hành vẫn chưa được xem là phù hợp, cho thấy cần điều chỉnh hệ thống thuế TNCN để nâng cao hiệu quả thu ngân sách và tính công bằng trong đánh thuế.

Mặc dù công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân (TNCN) ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, hệ thống thuế nước ta vẫn còn tồn tại các bất cập trước sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình hội nhập kinh tế thế giới Bất lợi đầu tiên là thuế dịch vụ xuyên biên giới đối với hoạt động thương mại điện tử đòi hỏi sự hợp tác đồng bộ giữa các ngành và các quốc gia để đảm bảo thu đúng, thu đủ Khó khăn thứ hai là hệ thống quản lý chính sách thuế chưa chặt chẽ, đặc biệt đối với hoạt động tạo thu nhập từ các trang mạng xã hội Nhiều cá nhân kinh doanh online đã tìm cách gian lận thu nhập để trốn thuế, đây là thực trạng đáng lo ngại và cần được ưu tiên giải quyết, nhất là trong bối cảnh Covid-19 đang diễn biến theo hướng không tích cực.

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ

Ngày đăng: 26/10/2022, 04:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w