TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING THẢO LUẬN HỌC PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Đề tài Có quan niệm cho rằng Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, tầng lớp trí thức mới là lực có sứ mệnh lịch sử.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Quan điểm về giai cấp công nhân
Theo C Mác và Ph Ăngghen đã định nghĩa rằng, “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình để sống”
Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, giai cấp công nhân là “con đẻ” của nền đại công nghiệp Họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại và gắn liền với quá trình sản xuất vật chất hiện đại, là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao Họ là người làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư Vì vậy lợi ích cơ bản của họ đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản Đó là giai cấp có sứ mệnh phủ định chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.
Giai cấp công nhân được các nhà kinh điển xác định trên hai phương diện cơ bản: kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội
1.2.1 Giai cấp công nhân trên phương diện kinh tế - xã hội
- Thứ nhất, giai cấp công nhân với phương thức lao động công nghiệp trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa: đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao.
- Thứ hai, giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Đó là giai cấp của những người lao động không sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Họ phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị chủ tư bản bóc lột giá trị thặng dư
- Mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thể hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản
1.2.2 Giai cấp công nhân trên phương diện chính trị - xã hội
- Đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân là lao động bằng phương thức công nghiệp với đặc trưng công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng suất lao động cao, quá trình lao động mang tính chất xã hội hóa.
- Giai cấp công nhân là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp, là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại Do đó, giai cấp công nhân là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất tiên tiến, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại.
- Nền sản xuất đại công nghiệp và phương thức sản xuất tiên tiến đã rèn luyện cho giai cấp công nhân những phẩm chất đặc biệt về tính tổ chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và tâm lý lao động công nghiệp Đó là một giai cấp cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để.
Quan niệm về tầng lớp tri thức
Từ khi ra đời, trí thức đã trở thành "một lực lượng xã hội đặc biệt", là nguồn lực trí tuệ quan trọng không thể thiếu đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia và trên phạm vi quốc tế trong mọi thời đại Họ có vai trò to lớn trong việc sáng tạo ra những giá trị văn hoá, tinh thần, đem lại những thành tựu quan trọng trong khoa học - kỹ thuật, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
Tầng lớp trí thức là một tầng lớp xã hội bao gồm những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội Trí thức Việt Nam xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội, nhất là từ công nhân và nông dân; phần lớn trưởng thành trong xã hội mới, được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp nhau, trong đó có bộ phận trí thức người Việt Nam ở nước ngoài.
2.2 Đặc điểm của tầng lớp trí thức.
Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt của 1 bộ phận lao động trí óc phức tạp và sáng tạo sản phẩm lao động trực tiếp của họ là những trí thức khoa học, những giá trị về tinh thần, được tạo ra trong quá trình nghiên cứu, phát minh, giảng dạy, quản lý có tác dụng định hướng cho nhận thức và hành động thực tiễn trên mọi lĩnh vực.Trí thức là những người có trình độ học vấn cao, am hiểu sâu trong lĩnh vực công việc của mình Các sản phẩm do trí thức tạo ra được áp dụng vào mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là trong sản xuất làm tăng năng xuất, chất lượng và hiệu quả.Ngày nay, cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trí thức ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội và hội nhập khu vực, quốc tế Trong các chế độ
XH cũ, phần lớn trí thức là những người lao động, họ bị áp bức bóc lột, bất công nên họ cũng có tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đòi hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ.
Trí thức không có phương thức sản xuất riêng và địa vị kinh tế, xã hội độc lập nên trí thức cũng ko có hệ tư tưởng độc lập Mặc dù vậy, trí thức luôn giúp giai cấp thống trị khái quát về lý luận để hình thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội Tri thức tuy có tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột nhưng lại thiếu kiên quyết, triệt để Vì vậy, trí thức muốn được giải phóng phải chịu sự lãnh đạo của GC công nhân và tham gia vào khối liên minh.
Sứ mệnh lịch sử của GCCN
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là nội dung chủ yếu, điểm căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, là phạm trù trung tâm, nguyên lý xuất phát của chủ nghĩa xã hội khoa học Đó cũng là trọng điểm của cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận trong thời đại ngày nay.
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chính là những nhiệm vụ mà giai cấp công nhân cần phải thực hiện với tư cách là giai cấp tiên phong, là lực lượng đi đầu trong cuộc cách mạng xác lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thể hiện trên ba nội dung cơ bản:
Là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất xã hội hóa cao, giai cấp công nhân cũng là đại biểu cho quan hệ sản xuất mới, sản xuất ra của cải vật chất ngày càng nhiều đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người và xã hội Bằng cách đó, giai cấp công nhân tạo tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới Mặt khác, tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất đòi hỏi một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với chế độ công hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội là nền tảng, tiêu biểu cho lợi ích chung của xã hội. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệp hóa và thực hiện “một kiểu tổ chức xã hội mới về lao động” để tăng năng suất lao động xã hội và thực hiện các nguyên tắc sở hữu, quản lý và phân phối phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Trên thực tế, hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa lại ra đời từ phương thức rút ngắn, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Do đó, để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình về nội dung kinh tế, giai cấp công nhân phải đóng vai trò về nội dung kinh tế, giai cấp công nhân phải đóng vai trò nòng cốt trong quá trình giải phóng lực lượng sản xuất (vốn bị kìm hãm, lạc hậu, chậm phát triển trong quá khứ), thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển để tạo cơ sở cho quan hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa ra đời.
3.2.2 Nội dung chính trị - xã hội:
Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp thống trị, xóa bỏ chế độ bóc lột, áp bức, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng nhà nước của mình, do mình làm chủ như một công cụ có hiệu lực để cải tạo xã hội cũ và tổ chức xã hội mới, phát triển kinh tế và văn hóa, xây dựng nền chính trị dân chủ - pháp quyền, quản lý kinh tế - xã hội và tổ chức đời sống xã hội phục vụ quyền và lợi ích của nhân dân lao động, thực hiện dân chủ, công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội, theo lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
3.2.3 Nội dung văn hóa, tư tưởng
Giai cấp công nhân tiến trình cách mạng cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng cần phải tập trung xây dựng hệ giá trị mới: lao động, công bằng, dân chủ, bình đẳng và tự do.
Giai cấp công nhân thực hiện cuộc cách mạng về văn hóa, tư tưởng bao gồm cải tạo cái cũ lỗi thời, lạc hậu, xây dựng cái mới, đấu tranh khắc phục ý thức hệ tư sản và các tàn dư còn sót lại của các hệ tư tưởng cũ.
Phát triển văn hóa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đạo đức và lối sống mới xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung căn bản mà cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng đặt ra đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại.
Nền kinh tế tri thức
4.1 Khái niệm về nền kinh tế tri thức.
Kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở tri thức, khoa học; dựa trên việc tạo ra và sử dụng tri thức, phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ cao Hoặc cũng được hiểu, là một loại môi trường kinh tế- kỹ thuật, văn hoá-xã hội mới, có những đặc tính phù hợp và tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo.
4.2 Đặc trưng của nền kinh tế tri thức. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là ở đó con người sử dụng các loại hình công cụ chủ yếu là để thực hiện các thao tác trí tuệ Nền kinh tế tri thức có 9 đặc trưng chủ yếu:
4.2.1 Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế: Ý tưởng đổi mới và phát triển công nghệ mới trở thành chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển cơ cấu nhanh
4.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin được tiến hành rộng rãi trong mọi lĩnh vực:
Mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp, kết nối hầu hết các tổ chức, gia đình. Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng Mọi lĩnh vực hoạt động xã hội đều có tác động của công nghệ thông tin.
4.2.3 Sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên tiến nhất, tiêu biểu nhất của nền sản xuất tương lai Các doanh nghiệp đều có sản xuất công nghệ, đồng thời có doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghệ, có thể gọi đó là doanh nghiệp tri thức, trong đó khoa học sản xuất được thể chế hoá, không còn phân biệt giữa phòng thí nghiệm và công xưởng, những người làm việc trong đó họ vừa là nhà nghiên cứu vừa là nhà sản xuất, họ là những công nhân trí thức…
4.2.4 Xã hội học tập, giáo dục phát triển, đầu tư cho giáo dục khoa học chiếm tỷ lệ cao Đầu tư vô hình (con người, giáo dục, khoa học…) cao hơn đầu tư hữu hình (cơ sở vật chất) Phát triển con người trở thành nhiệm vụ trọng tâm Hệ thống giáo dục phải đảm bảo cho mọi người có thể học tập ở bất cứ lúc nào Mạng thông tin có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho việc học tập suốt đời.
4.2.5 Tri thức trở thành vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức Tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo sự tăng trưởng Tri thức và thông tin được tăng lên khi sử dụng, không mất đi khi sử dụng (các nguồn vốn khác bị mất đi khi sử dụng).
4.2.6 Sáng tạo là linh hồn của đổi mới, sáng tạo là vô tận Đổi mới thường xuyên là động lực thúc đẩy sự phát triển Công nghệ đổi mới nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn, có khi chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng Các doanh nghiệp muốn trụ được và phát triển phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm.
4.2.7 Dân chủ hoá, xã hội thông tin thúc đẩy sự dân chủ hoá Mọi người đều dễ dàng truy cập thông tin mình cần Điều này dẫn đến dân chủ hoá các hoạt động và tổ chức điều hành xã hội Người dân nào cũng có thể được thông tin kịp thời về các chính sách của Nhà nước, các tổ chức và có ý kiến ngay khi thấy không phù hợp.
4.2.8 Các doanh nghiệp vừa hợp tác vừa cạnh tranh để phát triển Trong cùng một lĩnh vực, khi một công ty thành công, lớn mạnh lên thì các công ty khác phải tìm cách sáp nhập hoặc chuyển hướng hoạt động.
4.2.9 Nền kinh tế toàn cầu hoá Thị trường và sản phẩm mang tính toàn cầu, một sản phẩm được sản xuất từ bất kỳ nơi nào cũng có thể nhanh chóng có mặt khắp nơi trên thế giới hoặc sản phẩm phần lớn được thực hiện từ nhiều nơi trên thế giới,kết quả cao của công ty ảo, làm việc từ xa.
BÀN VỀ QUAN ĐIỂM
Mở đầu về quan điểm (Không đồng tình với quan điểm)
Có quan niệm cho rằng: Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, tầng lớp trí thức mới là lực lượng có sứ mệnh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản chứ không phải giai cấp công nhân Điều này đã gây ra không ít sự ngộ nhận trong các tầng lớp nhân dân, khiến một số cán bộ, đảng viên còn mơ hồ Vì vậy, cần hết sức đấu tranh để phản bác lại quan điểm này, chỉ ra sai lầm, không có cơ sở khoa học, thiếu cơ sở thực tiễn Đồng thời cần khẳng định, lãnh đạo xã hội trong giai đoạn hiện nay là “sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân”
Một số luận điệu xuyên tạc, kích động các thành phần thời đại mới, phóng đại vai trò của giới trí thức, làm lu mờ, phủ nhận SMLS của GCCN, Đảng Cộng sản, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin Khi họ đưa ra quan điểm cho rằng, SMLS củaGGCN mà chủ nghĩa Mác-Lênin nêu ra chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX, nó chỉ thích hợp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và Cách mạng công nghiệp lần thứ hai, chỉ dành cho văn minh cơ khí, bây giờ nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, là thời đại của văn minh tin học, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên SMLS của GGCN không còn phù hợp nữa, chủ nghĩa Mác- Lênin đã bị lỗi thời Ngày nay, trong điều kiện hòa bình, hội nhập quốc tế, thời kỳ của Cách mạng KH-CN lần thứ tư, vai trò lãnh đạo xã hội phải thuộc về đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, những nhà tư tưởng “Chỉ có những nhà khoa học, trí thức mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh và sánh được với các nước phát triển trên thế giới”.
Một luận điệu xuyên tạc khác nữa là các thế lực phản động, thù địch vội vã kết luận sự phát triển của xã hội ngày nay không phải do cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản (CNTB) và chủ nghĩa xã hội (CNXH) quyết định mà do cách mạng KH-CN quyết định, từ đó họ đi đến một nhận thức sai lầm khác là coi sự phát triển xã hội chỉ gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất, xem thường vai trò của cách mạng quan hệ sản xuất, của đấu tranh giai cấp, phủ nhận tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa (tức phủ nhận SMLS của GCCN).
Thế lực phản động, thù địch còn chỉ ra rằng khoa học càng phát triển, xã hội càng tiến bộ thì số lượng và vai trò của đội ngũ trí thức cũng không ngừng tăng lên đã làm cho đội ngũ trí thức có vị trí chủ đạo trong phát triển xã hội và trở thành lực lượng quyết định cải tạo thế giới Mặc khác, theo họ trong thời đại trí thức hóa công nhân hiện nay, trí thức đã thực sự trở thành giai cấp và thực tế hiện nay trí thức cũng chiếm một tỷ lệ áp đảo trong tổng số đảng viên của Đảng thuộc các giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội khác nhau và nhiều trí thức giữ vị trí lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước, điều này cho thấy lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, lãnh đạo xã hội hiện nay là đội ngũ trí thức
Mấu chốt của những vấn đề trên là các thế lực phản động, thù địch muốn phủ nhậnSMLS của GCCN, phủ nhận vai trò của Đảng cộng sản, phủ nhận CNXH, xét lại chủ nghĩa Mác-Lênin.
Điều kiện khách quan và chủ quan quy định/thực hiện SMLS của GCCN
2.1.1 Do địa vị kinh tế của GCCN
- Giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản Giai cấp công nhân là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
- Giai cấp công nhân hiện đại có xu hướng ngày càng được tri thức hóa do yêu cầu khách quan của sự phát triển công nghiệp trong thời đại mà khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
- Giai cấp công nhân do không có tư liệu sản xuất nên giai cấp công nhân phải bán sức lao động của mình cho nhà tư bản và bị nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư, họ bị lệ thuộc hoàn toàn trong quá trình phân phối các kết quả lao động của chính mình Về mặt lợi ích giai cấp công nhân là giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản Xét về bản chất, họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa.
- Giai cấp công nhân có lợi ích căn bản thống nhất với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động nên họ có thể tập hợp, đoàn kết, lãnh đạo đông đảo quần chúng đi theo làm cách mạng chống lại giai cấp tư sản.
⇒ Có thể thấy địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân là yếu tố quan trọng nhất quy định nên sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bởi nếu không có địa vị về kinh tế là người đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ, không có địa vị về xã hội là bị giai cấp tư sản bóc lột thì sẽ không có động lực về chính trị để thực hiện cuộc cách mạng xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2.1.2 Do địa vị chính trị - xã hội của GCCN
- Giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất Giai cấp công nhân là con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh.
- Giai cấp công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến thể hiện ở nhiệm vụ xóa bỏ quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thiết lập quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn.
- Giai cấp công nhân được trang bị lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin lý luận cách mạng khoa học và tiến bộ Để có thể tiếp thu và vận dụng lí luận này đòi hỏi giai cấp công nhân cần có trình độ lý luận nhất định.
- Giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế – kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.
- Ngoài ra giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để nhất vì cách mạng của giai cấp công nhân hướng tới mục tiêu cuối là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, thể hiện ở sự xóa bỏ mọi tình trạng áp bức bóc lột, nô dịch cả về vật chất lẫn tinh thần Giai cấp công nhân vừa phải giành chính quyền, vừa sử dụng chính quyền để thực hiện mục tiêu đó.
- Giai cấp công nhân có bản chất quốc tế Giai cấp công nhân ở tất cả các nước đều có chung một mục đích là giải phóng mình đồng thời giải phóng xã hội khỏi áp bức bóc lột và họ đều có chung một kẻ thù là giai cấp tư sản bóc lột và cũng do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, để chống lại chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khi mà chúng đã liên kết với nhau thành tập đoàn tư bản, chủ nghĩa đế quốc, vì vậy mà giai cấp công nhân càng phải nêu cao tinh thần quốc tế của giai cấp mình, cùng nhau thực hiện sứ mệnh lịch sử.
Thông qua việc phân tích tính chất khách quan của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chúng ta thấy được tất yếu kinh tế - chính trị xã hội của cách mạng XHCN và ý nghĩa nhân đạo lớn lao của sứ mệnh này Nó là một sự nghiệp của giải phóng và phát triển được nảy sinh từ chính những nhân tố hiện thực của xã hội hiện đại chứ không phải là mong muốn chủ quan như sự xuyên tạc của các kẻ thù tư tưởng.
2.2.1 Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng.
Ngay từ khi mới hình thành trong xã hội, bản thân giai cấp công nhân đã không ngừng hoạt động và trưởng thành từng bước về số lượng và chất lượng.
- Về số lượng, không những tăng lên rất rõ rệt ở tất cả các nước mà còn đa dạng hơn về cơ cấu các loại công nhân với nhiều ngành nghề ngày càng phong phú, phát triển, tinh vi hơn Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO): từ năm 1900, toàn thế giới có 80 triệu công nhân; đến năm 1990, thế giới đã có hơn 600 triệu công nhân và đến 1998 đã có 800 triệu công nhân…
- Về chất lượng, bản thân giai cấp công nhân luôn có sự nâng cao về học vấn, về khoa học công nghệ và tay nghề; từ hoạt động kinh tế, đấu tranh kinh tế trước mắt, đã từng bước hoạt động chính trị, đấu tranh chính trị, thông qua các tổ chức nghiệp đoàn, công đoàn, từng bước có ý thức giai cấp, giác ngộ giai cấp, giác ngộ về lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Khi đó, theo chủ nghĩa Mác-Lênin, giai cấp công nhân đã từ chỗ là “giai cấp tự nó” (tức là chưa có ý thức giác ngộ giai cấp) đến chỗ là “giai cấp vì nó” (tức giai cấp tự giác).
Hạn chế của tầng lớp tri thức
Từ tổng kết thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, một giai cấp đảm nhận vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, lãnh đạo xã hội cần phải có những điều kiện cơ bản sau: Là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ trong xã hội; có hệ tư tưởng riêng phản ánh được quy luật chính trị
- xã hội; có lợi ích đại diện cho nhiều giai - tầng xã hội Ngoài những điều kiện cơ bản nêu trên, còn đòi hỏi giai cấp này phải có hạt nhân chính trị của giai cấp mình - đó là chính đảng của nó và phải có thêm những phẩm chất cần thiết của một giai cấp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Xét các điều kiện trên thì trí thức có những hạn chế nhất định:
Trước hết, trí thức tồn tại với tư cách không phải là một giai cấp, mà chỉ là một đội ngũ xã hội đặc biệt Từ vị trí của mình trong phân công lao động xã hội, trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp với sở hữu tư liệu sản xuất, không giữ vị trí độc lập trong hệ thống sản xuất, các dấu hiệu quan trọng nhất để xác định giai cấp; do đó, họ không có khả năng đại diện cho phương thức sản xuất nào, cho nên họ không phải là một lực lượng kinh tế, chính trị độc lập trước các giai cấp và tầng lớp xã hội khác V.I.Lênin chỉ rõ “nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”.[ CITATION VIL941 \l 1066 ]
Thứ hai, trí thức cũng không có hệ tư tưởng độc lập, trí thức luôn gắn với những giai cấp nhất định, với tư cách là một đội ngũ và ở trong một thể chế chính trị cụ thể, trí thức nói chung là của giai cấp thống trị do hệ thống giáo dục và đường lối đào tạo của Nhà nước của giai cấp thống trị ấy tạo ra Đội ngũ này tự giác hoặc không tự giác phục vụ cho chế độ và giai cấp thống trị Trong lịch sử, một giai cấp chỉ khẳng định được vai trò lãnh đạo của mình nếu có hệ tư tưởng Nếu không có hệ tư tưởng thì các phong trào cách mạng chỉ có tính chất tự phát, tạm thời, kiểu
“lửa rơm chóng tắt”[CITATION CMá \l 1066 ], chứ không thể “lay chuyển những khối quần chúng đông đảo, những dân tộc trọn vẹn; rồi đến những giai cấp trọn vẹn trong mỗi dân tộc”[CITATION CMá \l 1066 ]“đến chỗ tiến hành những hành động lâu dài đưa đến những biến đổi lịch sử vĩ đại”.[CITATION CMá \l 1066 ]
Thứ ba, trí thức không đại diện cho lợi ích nhiều giai - tầng xã hội Do họ không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản Mặt khác, quá trình đấu tranh giai cấp và tác động nhiều mặt về lợi ích đã làm cho trí thức phân hóa thành những bộ phận khác nhau; những bộ phận khác nhau đó sẽ ngã theo lực lượng này hay lực lượng khác, giai cấp này hay giai cấp khác.
Thứ tư, trí thức không có được tinh thần cách mạng triệt để như giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và dễ chao đảo V.I.Lênin cho rằng:
“so với giai cấp công nhân thì giới trí thức bao giờ cũng có nhiều tính chất cá nhân chủ nghĩa hơn, vì những điều kiện cơ bản của đời sống và công tác của họ không cho phép họ thống nhất lực lượng một cách trực tiếp và rộng rãi, không cho họ được giáo dục trực tiếp trong lao động tập thể có tổ chức”[ CITATION VIL78 \l 1066 ] Đó là lý do tại sao V.I.Lênin luôn luôn cảnh báo về thái độ thờ ơ chính trị của đội ngũ trí thức Người viết: “Người trí thức cấp tiến, người trí thức xã hội chủ nghĩa rất dễ biến thành quan lại của chính phủ nhà vua, thành một anh quan lại tự an ủi rằng ở trong nếp cũ quan trường, mình cũng “có ích” và viện “sự có ích” đó để bào chữa cho thái độ lãnh đạm của mình đối với chính trị, bào chữa cho tính nô lệ của mình trước cái chính phủ roi vọt”[ CITATION VIL781 \l 1066 ] Trong giai đoạn đầu của cách mạng vô sản, phần lớn những người trí thức đứng về phía giai cấp tư sản để bảo vệ những quan điểm, lập trường tư sản, phản ánh những lợi ích của giai cấp tư sản. Tuy nhiên, cùng với thực tiễn đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, đội ngũ trí thức ngày càng nhận rõ vai trò và SMLS của GCCN và tìm thấy lợi ích của mình trong cuộc đấu tranh chung đó Vì thế, ngày càng nhiều trí thức đi theo giai cấp công nhân (GCCN), ủng hộ phong trào đấu tranh của GCCN và nhân dân lao động.
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, tầng lớp trí thức đang chiếm một tỷ lệ cao, nhưng phần lớn trong số đó lại là sự bổ sung cho GCCN những lao động có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu của quá trình lao động Tốc độ “trí thức hóa” công nhân đang diễn ra khá nhanh và công nhân tri thức đã dần chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động xã hội ở các nước phát triển và ngay cả ở nước ta Do vậy, công nhân tri thức là đại biểu tiêu biểu cho giai cấp công nhân hiện nay Chính điều này đã làm cho không ít người lầm tưởng rằng trí thức có vị trí chủ đạo trong phát triển nền sản xuất xã hội và trở thành lực lượng quyết định cải tạo thế giới.
Hơn thế nữa, một tỷ lệ lớn trong tổng số đảng viên của Đảng là trí thức và giữ nhiều chức vị lãnh đạo, quản lý cao trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước. Đảng viên của Đảng Cộng Sản không nhất thiết phải là công nhân mà có thể là nông dân, trí thức, nhưng họ phải giác ngộ được SMLS của GCCN và đứng trên lập trường, quan điểm, lợi ích của giai cấp công nhân, tức là mang trong mình bản chất của giai cấp cách mạng, nếu phấn đấu, rèn luyện tốt thì họ đều có thể trở thành lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.
Thực tế lịch sử cho thấy, trí thức chưa hề thay thế một giai cấp để lãnh đạo một cuộc cách mạng xã hội nhằm thay thế chế độ xã hội này bằng chế độ xã hội khác.