Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra chongười thầy là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh pháttriển tính tích cực, chủ động sáng t
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Toán học có vị trí rất quan trọng đối với cuộc sống thực tiễn, đó cũng làcông cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp cho học sinh nhận thức thếgiới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực
Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn đó là: phát triển tưduy, trí tuệ, có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tính suy luận, tính khoahọc toàn diện, chính xác, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt, góp phần giáo dụctính nhẫn lại, ý chí vượt khó khăn
Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra chongười thầy là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh pháttriển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học.Theo tôi, các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí, mụcđích và nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục của bài học môn toán Nó không phải làcách thức truyền thụ kiến thức, cách giải toán đơn thuần mà là phương tiện hữuích để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cáchlàm việc một cách khoa học, hiệu quả
Hiện nay, giáo dục tiểu học đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương phápdạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho hoạt động dạyhọc trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả” Để đạt được yêu cầu đó, giáo viênphải có phương pháp và hình thức dạy học để vừa nâng cao hiệu quả cho họcsinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học và trình độnhận thức của học sinh, để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nóichung và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng
Ước mơ trở thành học sinh giỏi là mong muốn chính đáng của các em họcsinh Ước mơ là người bồi dưỡng cho thế hệ trẻ trở thành học sinh giỏi lànguyện vọng của đông đảo tầng lớp giáo viên cả nước, trong đó có tôi Ngoài
ra, để đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi ngày càng nâng cao của xã hội đối với
Trang 2ngành giáo dục nói chung, việc nâng cao chất lượng cho học sinh ở trườngTiểu học Bình Khê I nói riêng mà tôi lựa chọn nghiên cứu, tìm tòi phương phápgiảng dạy, biện pháp thực hiện để không ngừng nâng cao chất lượng dạy vàhọc.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy việc giải toán có lời văn là một trong những
loại toán khó ở Tiểu học đòi hỏi các em phải có sự tư duy lôgíc và sự sáng tạocủa học sinh trong quá trình tìm lời giải
Chính vì vậy, tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4" Mong muốn đưa ra một số biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng học toán và giúp học sinh lớp 4 biết cách giảibài toán có lời văn đạt hiệu quả cao hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng giải toán có lời văn của học sinh lớp 4 trường Tiểuhọc Bình Khê - Đông Triều - Quảng Ninh Từ đó áp dụng nghiên cứu vào dạymột số tiết về giải toán có lời văn qua các bài tập cụ thể
Khảo sát và hướng dẫn giải cụ thể một số bài toán có lời văn ở lớp 4.Thông qua tìm hiểu đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chấtlượng dạy - học phần giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 Từ đó, đúc rútmột số kinh nghiệm dạy học môn Toán ở Tiểu học Tiểu học Bình Khê nói riêng
và ở các trường Tiểu học nói chung
3 Thời gian, địa điểm:
Thời gian: Giải pháp được tôi nghiên cứu từ 05/09/2022 đến 20/05/2023 Địa điểm: Tại lớp 4D3 trường Tiểu học Bình Khê
4 Đối tượng nghiên cứu.
Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4
- Sách giáo khoa Toán lớp 4; sách giáo viên nội dung dạy học qua mônToán
Trang 3- Tìm hiểu về khả năng làm toán có lới văn của học sinh lớp 4 Trường Tiểu
học Bình Khê - Đông Triều - Quảng Ninh Từ đó đề ra được một số biện pháp
dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp
II NỘI DUNG
1 Chương 1: Tổng quan
1.1 Cơ sở lý luận
Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học hiện nay là phát hiện, lựa chọn
và sử dụng phương pháp cụ thể phù hợp với quan điểm dạy học " Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm" và phù hợp với nội dung giáo dục Như vậy phương
pháp, hình thức dạy học là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trìnhdạy học nhằm phát phát huy tính tích cực của học sinh
Trong những năm học gần đây việc dạy Toán cho học sinh Tiểu học đãđược Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục và đặc biệt là Ban giám hiệunhà trường, các thầy cô giáo cũng như các bậc phụ huynh rất quan tâm Chính
vì thế mục tiêu rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 được đặt lênhàng đầu
Giải toán là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn Toán ởbậc Tiểu học Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nộidung của số học và số học tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản vàcác yếu tố đại số, hình học có trong chương trình
Vì vậy, việc giải toán có lời có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểmsau:
- Các khái niệm và các qui tắc về Toán trong sách giáo khoa, nói chung đềuđược giảng dạy thông qua việc giải toán Việc giải toán giúp học sinh củng cốvận dụng các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng tính toán đồng thời qua việc giảitoán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện ra những ưu điểm hoặcthiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em phát huy vàkhắc phục
Trang 4- Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiệnthông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống mộtcách thích hợp giúp các em hình thành và rèn luyện những kĩ năng thực hànhcần thiết trong đời sống hằng ngày, các em biết vận dụng những kĩ năng đó trong cuộc sống.
Việc giải toán với những đề tài thích hợp, có thể giới thiệu cho các emnhững thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và cácnước bè bạn, trong công cuộc bảo vệ hoà bình của nhân dân thế giới, góp phầngiáo dục các em bảo vệ môi trường, phát triển dân số có kế hoạch Việc giảitoán có thể giúp các em thấy được nhiều khái niệm toán học Ví dụ: các số, cácphép tính, các đại lượng đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, tronghoạt động của con người Thấy được các mối quan hệ biện chứng giữa các dữkiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm
1.2 Cơ sở thực tiễn
Toán học là một phân môn khó, đòi hỏi hoc sinh phải tổng hợp được kiến
thức của phần số học làm các phép tính để áp dụng vào giải toán Phân mônToán lớp 4 nói chung về phần giải toán có lời văn nói riêng là một phần khó đòihỏi mỗi người giáo viên phải hết sức tận tuỵ với nghề nghiệp, luôn trau rồichuyên môn nghiệp vụ tạo cho mình có một vốn kiến thức phong phú, đa dạng
về các dạng bài toán, đặc biệt là các dạng bài liên quan đến thực tế để từ đó rèncho các em có kĩ năng giải tốt
Qua thăm lớp dự giờ, nghiên cứu điều tra tình hình thực tế học sinh khốilớp 4 trong các bài kiểm tra tôi thấy các em có một số những vướng mắc sau:
- Các em còn nhầm lẫn giữa các đại lượng, đơn vị tính của các đại lượng
- Phần lớn các em còn rất lúng túng khi gặp các bài toán nâng cao của các
dạng toán về "Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó"
Trang 5- Chưa biết đưa các bài toán "Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó"
về các bài toán điển hình đã học, một số bài có lời chưa giải khoa học, còn mòmẫm trong phương pháp
Phát hiện ra những vướng mắc, khó khăn của học sinh khi học phần giảitoán có lời văn tôi thấy rằng nếu cứ để tình trạng này kéo dài thì chất lượng họctoán sẽ không được nâng cao, kiến thức toán của các em sẽ bị mai một, thiếuhụt Mà nguyên nhân, lý do thiếu sót không hoàn toàn do học sinh mà cũng cóphần do giáo viên đề cập chưa sâu đến các kiến thức bổ xung khi học toán Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế Nội dung bài toánđược thông qua nhữmg câu nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, cóliên quan đến cuộc sống thường sảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán có lờivăn là phải lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học củabài toán, hay nói cách khác là chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứađựng trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số bàitoán
Mỗi đề bài của bài toán có lời văn bao giờ cũng có hai phần:
- Phần đã cho hay còn gọi là giả thiết của bài toán
- Phần phải tìm hay còn gọi là kết luận của bài toán
- Ngoài ra trong đề toán có nêu mối quan hệ giữa phần đã cho và phầnphải tìm hay thực chất là các mối quan hệ tương quan phụ thuộc vào giả thiết
và kết luận của bài toán
2 Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu
2.1 Thực trạng
* Khảo sát, thống kê
Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát ở 34 em học sinh của lớp4D3 ngay từ tháng 9 năm 2022 về phần giải toán có lời văn và nhận được kếtquả như sau:
- Hoàn thành tốt: 5/34 em = 14,7%
Trang 6- Hoàn thành: 88/34 em = 82,3%
- Chưa hoàn thành: 1/34 em = 3%
Đối với học sinh Tiểu học, do tư duy trìu tượng logic còn kém phát triển,
tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế Bởi vậy người giáo viên phải biếnnhững nội dung trìu tượng, khó hiểu của bài toán thành những cái trực quan cụthể (hình vẽ, sơ đồ) học sinh sẽ dễ hiểu và dễ dàng tìm ra lời giải của bài toán
Ví dụ: Một nhóm học sinh có 12 bạn, trong đó số bạn trai bằng một nửa
số bạn gái Hỏi nhóm đó có mấy bạn trai, mấy bạn gái?
Bình thường với đề toán này yêu cầu học sinh đọc đề rồi giải thì học sinhrất khó giải Hoặc làm sai, vì khi đọc đề học sinh chỉ quan tâm đến 12 và số bantrai bằng một nửa số bạn gái nên có thể làm nhầm sang bài toán “ tìm một phầnmấy của một số” Do đó có thể giải như sau:
Số bại gái có là:
12 x 2 = 6 (bạn)
Số bạn trai có là:
12- 6 = 6 (bạn)Đáp số: 6 bạn gái
6 bạn trai
( đây là cách giải bài toán sai)Nhưng giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng sơ đồ Khi đó học sinhdựa vào trực quan có thể tìm ra ngay cách giải:
số bạn gái Do đó có thể giải như sau:
Theo sơ đồ tổng số phần bằng nhau là:
Trang 78 bạn gái
* Đánh giá, phân tích
Từ những kết quả khảo sát trên tôi nhận thấy được một số những thuận lợi
và những khó khăn như sau:
a Thuận lợi:
Giải toán góp phần quan trọng vào rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy
và những đức tính tốt của con người lao động mới Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cần phân biệt cái
gì đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập mối quan hệ giữa các giữ kiện của bài toán giữa cái đã cho và cái phải tìm Suy luận, nêu lên những phán đoán, rút ra những kết luận thực hiện phép tính cần thiết để giải quyết các vấn đề đặt ra Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý trí vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có hiệu quả, có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, có thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, có óc độc lập, suy nghĩ sáng tạo, tự tìm ra những lời giải mới hay và ngắn gọn
- Bản thân tôi nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở bậc tiểu học nên kinh
nghiệm thực tế tích lũy được tương đối nhiều
- Hội đồng sư phạm trường nhiều đồng chí có kinh nghiệm, nhiều năm giảng dạy lại luôn có quyết tâm nhất quán trong đổi mới phương pháp nên bản thân học hỏi và rút kinh nghiệm được nhiều vấn đề hữu ích
- Học sinh phần lớn chăm ngoan và rất chịu khó, lại tiếp cận khá nhanh với phương pháp mới nên việc thử nghiệm đề tài luôn nhận được sự ủng hộ từ phía các em
b Khó khăn:
- Với nhiều năm dạy học toán cho học sinh ở lớp 4 tôi nhận thấy phần giải
Trang 8toán có lời nhiều em còn ngại làm bài Có một số em nêu được kết quả của bài song cách lựa chọn câu trả lời sao cho đầy đủ, ngắn gọn thì ở một số em học chậm phát triển chưa thể hiện được
- Tài liệu tham khảo thiếu, thời gian và điều kiện nghiên cứu hạn hẹp ảnh hưởng khá nhiều đến việc sử dụng các giải pháp mới
- Một bộ phận học sinh chây lười trong học tập, gia đình lại không quan tâmnên việc tự học của các em cho dù đã được giáo viên hướng dẫn rất kĩ nhưng chưa thể đáp ứng được yêu cầu đề ra
- Đối tượng học sinh trong mỗi lớp không đồng đều, nhiều em còn chậm Việc chú ý đối tượng đã ảnh hưởng nhiều đến quá trình nghiên cứu
- Phương tiện dạy học vẫn chưa thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thực tiễn
dạy học hiện đại
2.2 Các giải pháp
Biện pháp 1: Giáo viên bồi dưỡng cho học sinh nắm chắc quy trình giải toán có lời văn
+ Quy trình giải toán có lời văn thường thông qua các bước sau:
- Nghiên cứu kĩ đầu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận bài toán, suy nghĩ về
ý nghĩa của bài toán, nội dung bài toán, đặc biệt là chú ý đến câu hỏi của bàitoán Không nên tính toán khi chưa đọc kĩ đề toán
- Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và diễn đạt nội dung bài toánbằng ngôn ngữ hoặc tóm tắt điều kiện bài toán, hoặc minh hoạ bằng sơ đồ hình vẽ
- Lập kế hoạch giải toán: Học sinh phải suy nghĩ xem để trả lời câu hỏicủa bài toán cần thực hiện phép tính gì? Suy nghĩ xem từ số đã cho và điều kiệncủa bài toán có thể biết gì? Có thể làm phép tính gì? Phép tính đó có thể giúptrả lời câu hỏi của bài toán không? Trên các cơ sở đó, học sinh suy nghĩ để thiếtlập trình tự giải toán
Trang 9- Thực hiện phép tính theo trình tự kế hoạch đã thiết lập để tìm đáp số.Mỗi khi thực hiện phép tính cần kiểm tra xem đã tính đúng chưa? Phép tínhđược thực hiện có dựa trên cơ sở đúng đắn không?
- Giải xong bài toán, khi cần thiết, cần thử lại xem đáp số tìm được có trảlời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các đièu kiện của bài toán không?
- Trong một số trường hợp, giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm xem
có cách giải khác gọn hơn không?
- Các bước giải bài toán có lời văn:
Bước 1 Đọc đề bài và xác định rõ yêu cầu của bài toán.
Bước 2 Thiết lập mối quan hệ giữa yêu cầu của bài toán với đề bài và các
kiến thức đã học có liên quan
Bước 3 Giải bài toán.
Bước 4 Kiểm tra kết quả, đáp số.
* Rút ra bài học, quy tắc giải cho từng bài.
Ví dụ: Tìm hai số tự nhiên liên tiếp có tổng là: 151.
Phân tích: Muốn tìm hai số dựa vào tổng và hiệu của 2 số, tổng đã biết
vậy phải tìm hiệu Tìm hiệu dựa vào điều kiện "hai số tự nhiên liên tiếp"
Các bước giải: + Tìm hiệu 2 số
+ Tìm mỗi số dựa vào tổng và hiệu
Bước 1: Hai học sinh lần lượt đọc đề bài cho học sinh cả lớp cùng nghe.
Gv hỏi học sinh:
- Bài toán cho biết gì ?
Bài toán cho biết: hai số tự nhiên liên tiếp có tổng là 151
H: Bài toán hỏi gì ?
Bài toán hỏi: Tìm hai số đó
Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa yêu cầu của bài toán với đề bài và các
kiến thức đã học có liên quan
Trang 10Muốn tìm hai số dựa vào tổng và hiệu của 2 số, tổng đã biết vậy phải tìmhiệu Tìm hiệu dựa vào điều kiện "hai số tự nhiên liên tiếp".
Các bước giải: + Tìm hiệu 2 số
+ Tìm mỗi số dựa vào tổng và hiệu
Bước 3 Giải bài toán.
Gv cho học sinh làm bài vào vở ô li, một học sinh lên bảng làm bài
Bước 4 Kiểm tra kết quả, đáp số.
- Gv gọi một học sinh nhận xét bài làm của bạn trên bảng
- Gv nhận xét bài của học sinh và cho điểm học sinh
* Rút ra bài học, quy tắc giải cho từng bài.
Dựa vào quy trình mà tôi đã hướng dẫn, các em đã hình thành thói quentìm các bước giải trong mỗi bài toán mà các em gặp phải
Biện pháp 2: Rèn học sinh biết vận dụng linh hoạt một số phương pháp giải khi giải toán dạng
- Để rèn học sinh và phát triển tư duy toán học ở học sinh, trong giải toánnhất thiết cần rèn học sinh biết vận dụng và giải bài toán theo nhiều cách
Sau đây tôi xin tình bày một số phương pháp giải khi làm bài toán tìmhai số khi biết tổng và hiêụ của hai số đó
a- Hướng dẫn học sinh giải theo sách giáo khoa toán 4:
Số lớn = (Tổng + hiệu) : 2
Số bé = (Tổng - hiệu) : 2
Trang 11Ví dụ: Bài toán:
Tìm hai số có tổng là 40, số lớn hơn số bé 6 đơn vị
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán
Bài toán cho ta biết gì?
- Tổng của hai số là 40
- Hiệu của hai số là 6
Bài toán hỏi gì:
- Tìm hai số đó
Bước 2: Tìm hướng giải
Tóm tắt: - Tổng hai số: 40
- Hiệu hai số: 6
Bước 3: Thực hiện cách giải
Đối với loại bài toán này thường có hai cách giải
Cách 1: Tìm số lớn trước, sau đó lấy số lớn trừ đi hiệu của hai số suy ra sốbé
Cách 2: Tìm số bé trước, sau đó lấy số bé cộng với hiệu của hai số ta được
Trang 1223 - 17 = 6.
Vậy số lớn là 23, số bé là 17 thoả mãn với dữ kiện đầu bài toán cho.Với những bài toán mà có đủ 2 dữ kiện tổng và hiệu rõ ràng thì giáo viênhướng dẫn học sinh áp dụng công thức để giải được
Đối với những bài toán mà tổng hoăc hiệu của hai số chưa cho rõ rànggiáo viên cũng cần chú ý phân tích quá trình tóm tắt bài toán và ghi nhớ mộtbước giải để tìm ra tổng hay hiệu của 2 số
Bước giải phụ này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh dùng các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) tuỳ thuộc vào bài toán để tìm ra tổng hoặc hiệu củahai số
Ví dụ: Bài toán
Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều rộng kém chiều dài 32m và cóchu vi là 884m Tính diện tích thửa ruộng đó
Bước 1, 2: Tôi hướng dẫn học sinh đọc thật kỹ đầu bài phân tích kỹ các
dữ kiện đầu bài
Bài toán cho ta biết gì?
Bài toán yêu cầu ta tìm cái gì?
Xác định bài toán thuộc dạng toán nào từ đó thiết lập trình tự giải
- Muốn tính diện tích thửa ruộng hình chữ nhật ta phải có dự kiện gì?
(Ta phải biết được số đo chiều dài, và chiều rộng của thửa ruộng)
- Để tìm đựơc số đo chiều dài và chiều rộng của thửa ruộng ta phải dựavào dữ kiện nào của đầu bài? (Ta phải dựa vào số đo chu vi và hiệu giữa chiềudài và chiều rộng)
- Tổng số đo chiều dài và chiều rộng bài toán đã cho biết chưa?
(Bài toán chưa cho biết)
- Vậy muốn tìm tổng số đo chiều dài và chiều rộng ta phải tìm cái gì?(Ta phải tìm số đo nửa chu vi)
Bước 3:
Trang 13Học sinh kiểm tra lại bài làm và thứ lại các phép tính và bài toán
Học sinh cũng có thể giải bài toán này bằng cách khác đó là:
- Tính số đo của nửa chu vi
- Tính số đo của chiều rộng
- Tính số đo của chiều dài
- Tính diện tích của thửa ruộng
Muốn cho học sinh giải thành thạo các bài toán này tôi đã lấy nhiều bàitoán khác nhau để học sinh luyện tập giải theo tổ, theo nhóm Từ đó các em có
kỹ năng giải toán thành thạo hơn
Ví dụ 1: Bài toán
Một cửa hàng đã bán được 215 m vải hoa và vải trắng sau đó cửa hànglại bán thêm được 37m vải hoa nữa và như vậy cửa hàng đã bán vải hoa nhiềuhơn vải trắng là 68 m Hỏi cửa hàng đã bán được bao nhiêu mét vải hoa, baonhiêu mét vải trắng
Trang 14Ví dụ 2: Bài toán.
Một người mua dầu hoả hết 42.500đ giá 2.500 đ một lít đựng vào mộtcan to và một can nhỏ Hỏi mỗi can đựng được bao nhiêu lít biết rằng can tođựng được nhiều hơn can nhỏ 3 lít
Ví dụ 3: Bài toán
Hai anh em tiết kiệm được tất cả là 47.500 đồng em mới có thêm 4.500đồng nên số tiền tiết kiệm của em nhiều hơn của anh là 2000đồng Hỏi số tiềntiết kiệm của mỗi người là bao nhiêu?
b- Hướng dẫn học sinh giải toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu bằng nhiều cách:
Ví dụ: Bài toán tìm hai số lẻ liên tiếp có tổng là 100
Với bài toán này học sinh có thể giải được ngay bằng cách tính nhẩm vì
đã biết tổng của 2 số là 100 hiệu giữa chúng là 2 vì vậy các em giải hoàn toàn chính xác
Học sinh làm như sách giáo khoa, áp dụng đúng công thức tính
Sau khi giải như cách thông thường trong sách giáo khoa, tôi hỏi họcsinh xem em nào còn có cách giải khác không thì hầu như không em nào biếtbỗng có một em đứng lên giải bằng cách
Bài giải
Trung bình cộng của hai số là: