Giáo trình nội bộ Y học cổ truyền trình bày cácnội dung sau: Phần mở đầu: Sơ lược lịch sử nền Y học cổ truyền Việt Nam – Chủ trương kết hợp Yhọc cổ truyền và Y học hiện đại Mặc dù có nhi
Trang 1TRUYỀN :
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Y học cổ truyền Việt Nam là một nền y học lâm sàng, được hình thành và phát triểnqua nhiều thời đại, góp phần quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trongcộng đồng Cha ông chúng ta cũng đã để lại nhiều di sản quý báu trong mọi lĩnh vực từ
lý luận cơ bản, thu trồng và bảo quản dược liệu, chẩn đoán điều trị bằng các biện phápdùng thuốc và không dùng thuốc Ngày nay, thực hiện phương châm của Đảng về việckết hợp hai nền y học đã tạo ra một bước phát triển mới nhằm phát huy thế mạnh của yhọc cổ truyền, góp phần xây dựng nền y học Việt Nam hiện đại, dân tộc và đại chúng
Do vậy, kế thừa và phát huy các kiến thức về y học cổ truyền dân tộc là nhiệm vụ củanhững người làm công tác y tế trong giai đoạn hiện nay
Cuốn sách “Y HỌC CỔ TRUYỀN – Giáo trình nội bộ đào tạo hệ Điều dưỡng” đượcbiên soạn dựa trên chương trình chi tiết đào tạo Điều dưỡng của Trường Đại học DuyTân Mục tiêu của cuốn giáo trình này nhằm giúp cho sinh viên Điều dưỡng tiếp thuđược những kiến thức cơ bản của Y học cổ truyền và áp dụng vào chăm sóc các bệnhthông thường có hiệu quả bằng các phương pháp dùng thuốc Đông dược và không dùngthuốc (châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt) Giáo trình nội bộ Y học cổ truyền trình bày cácnội dung sau:
Phần mở đầu: Sơ lược lịch sử nền Y học cổ truyền Việt Nam – Chủ trương kết hợp Yhọc cổ truyền và Y học hiện đại
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, song không thể tránh khỏi thiếusót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của qúy thầy cô cùng các bạn đồng nghiệp
để cuốn giáo trình này được hoàn thiện hơn
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2018
Trang 3PHÂN BỔ THỜI GIAN GIẢNG DẠY
6 - 14
02 - 07 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN Y HỌC CỔ TRUYỀN
1 Học thuyết Âm – Dương
1 Đại cương châm cứu – Hệ kinh lạc
2 Các huyệt thường dùng trong điều trị bệnh
51 - 81
15 - 20 CHƯƠNG 3 THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ MỘT SỐ
VỊ THUỐC THƯỜNG DÙNG
1 Đại cương về thuốc cổ truyền
2 Các vị thuốc thường dùng trong điều trị
82 - 101
21 - 28 CHƯƠNG 4 ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP
1 Liệt dây thần kinh VII
2 Đau thần kinh tọa
3 Đau vai gáy
102 - 117
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU:
BÀI 1 - SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM -
CHỦ TRƯƠNG KẾT HỢP Y HỌC HIỆN ĐẠI VỚI Y HỌC CỔ TRUYỀN 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN Y HỌC CỔ TRUYỀN 15
BÀI 2 - HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG 15
BÀI 3 - HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH 21
BÀI 4 - HỌC THUYẾT TẠNG TƯỢNG 27
BÀI 5 - TỨ CHẨN 36
BÀI 6 - BÁT CƯƠNG - BÁT PHÁP 42
CHƯƠNG 2: CHÂM CỨU 51
BÀI 7 – ĐẠI CƯƠNG CHÂM CỨU – HỆ KINH LẠC 51
BÀI 8 – CÁC HUYỆT THƯỜNG DÙNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH 65
CHƯƠNG 3: THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ MỘT SỐ VỊ THUỐC THƯỜNG DÙNG 82
BÀI 9 - ĐẠI CƯƠNG THUỐC CỔ TRUYỀN 82
BÀI 10 – CÁC VỊ THUỐC THƯỜNG DÙNG TRONG ĐIỀU TRỊ 91
CHƯƠNG 4 ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP 102
BÀI 11 - LIỆT DÂY THẦN KINH VII 102
BÀI 12 - ĐAU THẦN KINH TỌA 107
BÀI 13 - ĐAU VAI GÁY 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU:
BÀI 1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM CHỦ TRƯƠNG KẾT HỢP Y HỌC HIỆN ĐẠI VỚI Y HỌC CỔ TRUYỀN
-MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Trình bày được sơ lược quá trình lịch sử của nền Y học cổ truyền Việt Nam.
2 Nêu được ý nghĩa trong việc kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại.
3 Trình bày được các biện pháp thực hiện kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại.
1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn 4000 năm lịch sử, có truyền thống dựng nước, giữnước, phát triển văn hóa cũng như có nhiều kinh nghiệm phòng và chữa bệnh với mộtnền y học dân tộc không ngừng phát triển qua các thời đại
1.1 Thời kỳ dựng nước (thời kỳ Hùng Vương - 2900 năm Trước Công Nguyên)
Ở thời kỳ này y học tuy mới chỉ ở mức độ truyền miệng nhưng đã biết dùng thức ăntrị bệnh như ăn trầu cho ấm cơ thể, dùng gừng, riềng làm thức ăn gia vị và chữa bệnh,nhuộm răng để bảo vệ răng
1.2 Thời kỳ đấu tranh giành độc lập lần thứ nhất (Năm 111 trước Công nguyên)
Gần 1000 năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, ông cha ta vẫn tiếp tục phát huy nền
y học dân tộc qua các phương pháp chữa bệnh với các vị thuốc có trong nước, đồng thờitiếp thu nền y học Trung Quốc giao lưu sang nước ta, các vị thuốc đã được đưa sangTrung Quốc như Trầm hương, Tê giác và một số thầy thuốc Trung Quốc đã sang ViệtNam trị bệnh như : Đổng Phụng, Lâm Thắng
1.3 Thời kỳ độc lập giữa các triều đại Ngô, Đình, Lê, Lý, Trần, Hồ (năm 939-1406)
- Thời Nhà Lý (1010-1224)
Đã có Tổ chức Ty Thái Y chuyên chăm lo bảo vệ sức khỏe cho vua quan trong triều,
có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp lo việc chữa bệnh cho nhân dân, phát triển việc tổchức trồng thuốc mà di tích còn lại như xã Đại Yên – Hà Nội
Thời kỳ này phương pháp trị bệnh bằng tâm lý cũng đã phát triển như trường hợpLương y Nguyễn Chí Thành dùng tâm lý trị liệu trị cho vua Lý Thần Tông khỏi bệnh
- Thời Nhà Trần (1225-1399)
Ty Lương Y được đổi thành Viện Thái Y từ năm 1362
Đã bắt đầu có những sự quan tâm tới việc chữa trị cho nhân dân, đặc biệt phát thuốccho nhân dân ở các vùng có dịch bệnh
Tổ chức trồng và thu hái thuốc dùng cho quân đội và nhân dân
Cũng chính trong thời kỳ này, các danh y của nền y học cổ truyền Việt Nam cũngxuất hiện với những tác phẩm y học đã được xuất bản, trong đó nổi bật:
Trang 7+ Tuệ Tĩnh - tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh với tác phẩm “Nam Dược Thần Hiệu” (11quyển, gồm 580 vị thuốc có trong nước, 3873 bài thuốc, chữa 182 chứng bệnh trong
10 khoa lâm sàng), quyển “Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư” (tóm tắt công dụng của
630 vị thuốc và gồm một số phần về lý luận, chẩn đoán, mạch học của y học cổtruyền)
Hình 1.1 Tuệ Tĩnh
+ Chu Văn An với tác phẩm Y Học Yếu Giản Tập Chú Di Biên
- Thời Nhà Hồ (1400-1406)
Danh y thời này là Nguyễn Đại Năng với tác phẩm Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca
1.4 Thời kỳ đấu tranh giành độc lập lần thứ II (1407-1427)
Nhà Minh xâm lược cướp hết các sách vở, thuốc và đem các danh y Việt Nam vềnước do đó y học ở thời kỳ này đã không phát triển được
1.5 Thời kỳ độc lập dưới các triều đại Hậu Lê, Tây sơn, Nguyễn (1428-1876)
- Thời Nhà Hậu Lê 1428-1788)
Có nhiều chủ trương tiến bộ trong việc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân
+ Bộ Luật Hồng Đức có đặt quy chế về nghề y : trừng phạt thầy thuốc kém đạo đức,ban hành các quy chế pháp y khám án mạng tử thi
Cấm phá thai, phổ biến phương pháp vệ sinh phòng dịch, luyện tập giữ gìn sứckhỏe Tác phẩm có Bảo Sinh Diên Thọ Toát Yếu của Đào Công Chính
+ Về tổ chức y tế: Ở triều đình có Thái Y Viện, ở các tỉnh có Tế Sinh Đường lochữa bệnh cho nhân dân nhất là công tác chống dịch
Mở các khóa thi tuyển lương y, tổ chức khoa giảng dạy ở Thái y viện, đặt các họcchức ở phủ, huyện để dạy nghề thuốc Soạn các tác phẩm : Y Học Nhập Môn Diễn
Ca, Nhân Thân Phú
+ Thời gian này có nhiều danh y đã xuất hiện với nhiều cống hiến cho nền y họcnước nhà, trong đó nổi bật là: Nguyễn Trực với tác phẩm Bảo Anh Lương Phương,
Lê Hữu Trác với tác phẩm Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh 28 tập 66 quyễn, HoàngĐôn Hòa với tác phẩm Hoạt Nhân Toát Yếu bàn về tổ chức y tế quân đội
Trang 8Lê Hữu Trác tức Hải thượng lãn ông (1720 – 1791) quê ở xã Văn Xá, huyện Yên
Mỹ, tỉnh Hưng Yên Ông là người đã tổng hợp thành tựu của nền y học phươngĐông đến thế kỉ thứ 18 và áp dụng sáng tạo vào điều kiện thiên nhiên và bệnh tật ởnước ta Tổng kết hoàn chỉnh từ lý luận đến các phương pháp chữa bệnh thành bộsách “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” gồm 28 tập, chia thành 66 quyển, nội dungbao gồm các vấn đề thuốc, y đức, vệ sinh phòng bệnh, lý luận cơ sở, chẩn đoán học,mạch học, dược học, các nghiệm phương và bệnh án… Về thuốc Ông tìm thêm hơn
300 vị thuốc mới, tổng hợp thêm 2.854 bài thuốc kinh nghiệm Sự nghiệp của HảiThượng Lãn Ông rất to lớn, đã làm rạng rỡ cho nền y học dân tộc ta Ngày mất củaông ( 15 tháng giêng âm lịch ) được coi là ngày kỉ niệm y học cổ truyền nước ta
Hình 1.2 Hải Thượng Lãn Ông - Danh y nổi tiếng của y học cổ truyền Việt Nam
- Thời Tây Sơn (1788-1802)
Tổ chức được Cục Nam Dược nghiên cứu thuốc trị bệnh cho quân đội và nhân dân.Tác phẩm : Liệu Dịch Phương Pháp Toàn Tập và Hộ Nhi Phương Pháp củaNguyễn Gia Phan, La Khê Phương Dược và Kim Ngọc Quyển của Nguyễn QuangTuấn
1.6 Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta (1884-1945)
Do thời kỳ này Tây y du nhập vào Việt Nam, chế độ Pháp thuốc đã giải tán các tổchức y tế thời nhà Nguyễn, loại y học cổ truyền Việt Nam ra khỏi tổ chức y tế bảo hộ,đưa nền y tế thực dân vào thầy thuốc y học cổ truyền Việt Nam chỉ còn hoạt động nhỏ lẻtrong dân gian
1.7 Thời kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945-1976)
Nhận thấy y học cổ truyền Việt Nam có tính tích cực trong việc điều trị bệnh tật, nên
đã cho phục hồi nền YHCT Chính phủ có chủ trương kết hợp y học cổ truyền Việt Nam
và y học hiện đại để phục vụ việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được tốt hơn
Trang 9Ngày 10 - 12 - 1957 Hội Đông Y Việt Nam đã được thành lập và kể từ sau năm 1975đến nay đã nhiều lần đổi tên: Hội Y Học Dân Tộc, Hội Y Học Cổ Truyền Dân Tộc, Hội
Y Học Cổ Truyền, nay lấy lại tên cũ là Hội Đông y Việt Nam Năm 1995 do hợp tácquốc tế Việt Nam thành viên của Hiệp Hội Châm Cứu Thế Giới nên Hội Đông y tách rathêm Hội Châm Cứu Việt Nam và phổ biến các phương pháp trị bệnh không dùng thuốc
1.7 Thời kỳ thống nhất nước nhà (1976 đến nay)
- Đa số các phường xã đều có các phòng, tổ chẩn trị Y Học Cổ Truyền Việt Nam
- Hệ thống hóa các Lương Y vào các đoàn thể Hội Đông y, Hội Châm Cứu
- Thành lập các bộ môn giảng dạy YHCT tại các truờng trung học và đại học
- Đã có 1 học viện YHCT và 2 Viện YHCT ở miền Nam và Bắc
- Dịch thuật, biên soạn nhiều loại sách Kinh Điển, sách chuyên đề, chuyên sâu phục
vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy
- Nền y học cổ truyền Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử và nhiều thăm trầm
và đã được văn bản hoá từ năm 1010 (thời nhà Lý) Tới thế kỷ thứ 13, nhà bác họcChu Văn An đã nêu đường lối chữa bệnh chứ không dùng mê tín dị đoan Thế kỷ 14,đại danh y Tuệ Tĩnh nghiên cứu cây, con thuốc Việt Nam để chữa bệnh (580 vị thuốctrong 3873 đơn thuốc cho 10 loại chuyên khoa trị bệnh) Thế kỷ 18 đại danh y LêHữu Trác với tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông đã biên soạn tập sách thuốc "Y TÔNGTÂM LỈNH" gồm 28 bộ có 66 tập sách nói về y đức, vệ sinh phòng bệnh, y lý cơbản, dược lý, bệnh lý, các đơn thuốc có công hiệu, bệnh án, một số trường hợp bệnh
- Trong nền Văn Minh Ðại Việt đã có 155 vị danh y với 497 tập tuyển sách y học cổtruyền dân tộc được viết bằng tiếng Hán và tiếng Nôm
- Trong thế kỷ 20 các vị danh y Việt Nam cũng đã biên soạn trên 200 tập sách có giátrị về Đông y bằng tiếng Quốc ngữ
- Nền y học dân gian của 54 dân tộc trong cộng đồng Việt Nam gắn liền với sự sinhsống từng vùng địa dư sinh thái và xã hội Từng dân tộc trong quá trình tồn sinh vàphát triển đều tích luỹ được những kinh nghiệm về sử dụng cây con thuốc có ở từngđịa phương
- Y học cổ truyền Việt Nam với hệ thống lý luận chặt chẽ, với các phương phápphòng và chữa bệnh có hiệu quả, đã phục vụ đắc lực cho việc giữ gìn và bảo vệ sứckhoẻ cho nhân dân từ xưa tới nay
- Trong nhiều năm qua Ðảng và Nhà nước đã có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị chỉ đạongành y tế phối hợp với các ngành, các tổ chức xã hội nghiên cứu kế thừa, bảo tồn vàphát triển YDHCT, kết hợp YDHCT với YDHHÐ nhằm xây dựng nền y dược họcViệt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng
- Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta dù bận trăm công nghìn việcnhưng Người vẫn quan tâm chỉ đạo việc "kết hợp thuốc đông y với tây y" Nhà nước
đã cho thành lập Hội Ðông y, Viện Ðông y, Viện Châm cứu Chính phủ, Thủ tướngChính phủ cũng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị chỉ đạo cụ thể từng lĩnh vực từthừa kế, nghiên cứu, phát triển dược liệu, đào tạo cán bộ YDHCT, khám chữa bệnh
Trang 10- Hơn năm mươi năm qua, kiên trì thực hiện đường lối của Ðảng, ngành y tế đã đạtđược một số thành tựu quan trọng:
+ Ðã đưa YHCT có vị trí trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân; có hệ thống tổchức từ trung ương đến các địa phương Cả nước có 5 Viện nghiên cứu; 46 bệnhviện YHCT cấp tỉnh; có khoa hoặc tổ YHCT ở 80% viện, bệnh viện YHHÐ cấpquận, huyện; 30% trạm y tế xã có hoạt động khám chữa bệnh bằng YHCT; có trên10.000 cơ sở YDHCT tư nhân
+ Ðã đào tạo được đội ngũ thầy thuốc YHCT và kết hợp YDHCT với YDHHÐ gồm
35 tiến sĩ; 100 thạc sĩ; 100 bác sĩ chuyên khoa cấp 2; 500 bác sĩ chuyên khoa cấp 1;
2000 bác sĩ y học cổ truyền; 5000 cán bộ trung học YDHCT
+ Tổ chức kế thừa được nhiều bài thuốc hay, cây thuốc quý của các lương y trênmọi miền đất nước Nhiều địa phương như Lạng Sơn, Thanh Hoá, Sóc Trăng, TháiNguyên, đã sưu tầm và lưu lại hàng ngàn cây thuốc, bài thuốc kinh nghiệm củađồng bào các dân tộc ít người; tổ chức nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết hợp,từng bước phát huy được tiềm năng của YDHCT phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc
và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
+ Dược liệu nói chung và thuốc YHCT nói riêng đã có trong danh mục thuốc thiếtyếu Ðã điều tra khảo sát có 3850 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc 309
họ, trong đó đại đa số là cây mọc tư nhiên Về động vật, có 406 loài thuộc 22 lớp, 6ngành được sử dụng làm thuốc Về khoáng vật, thống kê được 70 loại khoáng vật
có ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc
+ Các cơ sở sản xuất thuốc YHCT ngày càng được nâng lên cả về chất lượng và sốlượng Hiện nay, cả nước có trên 450 cơ sở, xí nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốcYHCT (Nhà nước, dân lập, tư nhân, cổ phần) Bộ Y tế đã cấp số đăng ký cho trên
2000 chế phẩm thuốc YHCT được sản xuất lưu hành trên thị trường Thuốc YHCT
đã đa dạng về chủng loại với giá cả phù hợp đáp ứng nhu cầu phòng và chữa bệnhcủa nhân dân Thuốc YHCT Việt Nam đã được xuất khẩu sang nhiều nước nhưCộng hoà Liên bang Nga, Cộng hoà Ucraina, Cu Ba, Lào, Thái Lan, Campuchia, + Hàng năm tuy số cơ sở YDHCT còn ít, nhưng số lượng bệnh nhân đến khám vàđiều trị ngày một nhiều Có khoảng 30% số bệnh nhân trong cả nước được khám vàđiều trị bằng YHCT, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn YHCT
đã góp phần thực hiện chính sách xã hội và công bằng xã hội trong chăm sóc sứckhoẻ cho nhân dân
+ Công tác xã hội hoá về YDHCT cũng được đẩy mạnh Ngành y tế đã phối hợpvới Hội Ðông y tổ chức tuyên truyền và vận động nhân dân trồng, sử dụng nhữngcây thuốc sẵn có ở địa phương, những bài thuốc đơn giản để tự phòng và chữa một
số bệnh thông thường, không những đã góp phần tích cực thực hiện chiến lượcchăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân mà còn góp phần thực hiện chương trình xoáđói giảm nghèo và cải thiện môi trường
Trang 11+ Hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, uy tín của các phương pháp chữa bệnh của YHọc Cổ Truyền Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Hiện tại,Việt Nam có quan hệ hợp tác về YDHCT với hơn 40 nước.
Nhìn lại chặng đường phát triển của nền y học cổ truyền Việt Nam nói chung và nềnYDHCT nói riêng từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau hơn mười lămnăm đổi mới, có thể khẳng định rằng sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhândân đã đạt được những thành tựu to lớn
2 VẤN ĐỀ KẾT HỢP Y HỌC CỔ TRUYỀN - Y HỌC HIỆN ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI HÓA Y HỌC CỔ TRUYỀN LÀ XU HƯỚNG CHUNG CỦA THỜI ĐẠI
Y học cổ truyền (Médicine traditionelle) là thuật ngữ đề cập tới những cách bảo vệ vàphục hồi sức khỏe được ra đời, tồn tại trước khi có y học hiện đại và nó được lưu truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong đó có các phương pháp chữa bệnh bằng cách dùngthuốc và không dùng thuốc
Mặc dù có sự khác nhau về hình thức nhưng y học cổ truyền là một phần thống nhấttrong hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, ViệtNam…
Với trên 5.000 năm lịch sử, y học cổ truyền Trung Quốc đã có nhiều ảnh hưởng tớinền y học cổ truyền của nhiều nước khác trong khu vực Rất nhiều học thuyết về y học
cổ truyền, cũng như các loại thuốc y học cổ truyền được du nhập đến các nước lánggiềng như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam… sau đó, tại đây nó được kế thừa và pháttriển thành các cơ sở lý luận, mang đậm màu sắc văn hóa đặc trưng của từng quốc gia.Năm 1976 nền y học cổ truyền Nhật Bản dưới tên gọi Kampo đã chính thức được kếthợp trong hệ thống chăm sóc y tế và những đánh giá qua điều tra sử dụng y học cổ truyềncủa các thầy thuốc ngày càng tăng, những nghiên cứu đánh giá trong năm 1996 –1997 đã
có gần 80% các thầy thuốc trong khoa nội của Nhật Bản đã kê đơn thuốc y học cổtruyền
Vai trò và giá trị sử dụng của thuốc y học cổ truyền và châm cứu, thực tế đang đượcthừa nhận rộng rãi khắp thế giới Với tiềm năng và bề dày kinh nghiệm sử dụng thảo mộctrong trị liệu của y học cổ truyền, đặc biệt ở các nước phương Đông và trên cơ sở khuyếncáo của WHO tháng 10/1991 tại Hội nghị Quốc tế về Qui chế bản quyền thuốc tạiOttawa Canada là “Hãy quan tâm đúng mức đến hệ thống y học cổ truyền của nướcmình, nghiên cứu và đánh giá một cách hệ thống các cây thuốc được các lương y và nhândân sử dụng, kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại, đặc biệt là sử dụng các bài thuốc
y học cổ truyền có căn cứ khoa học, an toàn và hiệu quả”
3 KẾT HỢP Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ Y HỌC HIỆN ĐẠI LÀ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC TRONG Y HỌC ĐỂ XÂY DỰNG MỘT NỀN Y HỌC VIỆT NAM CÓ ĐẦY ĐỦ TÍNH CHẤT KHOA HỌC, DÂN TỘC VÀ ĐẠI CHÚNG
Y học cổ truyền Việt Nam, có lịch sử phát triển hàng ngàn năm cho tới nay, nhân dân
ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu và phong phú của các dân tộc sinh sống
Trang 12trên mảnh đất Việt Nam trong việc phòng và chữa bệnh, nó dần dần được đúc kết lạitruyền thụ từ đời này sang đời khác phục vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Từ nhận thức vấn đề này, với tầm cao tư tưởng của Đảng, Nhà nước và Hồ chủ tịch
đã đưa vấn đề này từ nhận thức, thành những chủ trương, đường lối mang tính chỉ đạo,xuyên suốt cho ngành y tế nước ta:
- Năm 1957, Hội Đông y được thành lập với mục đích đoàn kết giới lương y vànhững người hành nghề Y – Dược cổ truyền, cũng trong thời gian này Vụ Đông Ycủa Bộ Y tế và Viện Đông y ở Hà Nội đã được thành lập
- Năm 1982, Viện châm cứu trung ương được thành lập
- Năm 1994, Viện Y học cổ truyền quân đội được thành lập
- Hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đều có bệnh viện y học cổ truyền
- Về đào tạo: 8 trường đại học y trong cả nước và 2 trường đại học dược đều có khoa
và bộ môn y học cổ truyền và dược học cổ truyền Ngày 19 tháng 5 năm 2005 Chínhphủ đã cho thành lập Viện Y - Dược học Cổ truyền Việt Nam Tất cả các sinh viên ykhoa và dược khoa trong quá trình đào tạo, đều phải học qua một chương trình 1 - 2tháng về y học cổ truyền và dược học cổ truyền Ngoài đào tạo mang tính phổ cập về
y học cổ truyền cho các thầy thuốc Việt Nam, còn đào tạo chuyên sâu về y học cổtruyền ở các bậc đại học: Bác sĩ chuyên ngành y học cổ truyền, Dược sĩ chuyênngành dược sĩ y học cổ truyền và các bậc sau đại học: Chuyên khoa I, Chuyên khoa
II, Bác sĩ nội trú, Thạc sĩ và Tiến sĩ, đồng thời để tăng cường phổ biến kinh nghiệm
và truyền bá học thuật, hướng dẫn nghiệp vụ cho các thầy thuốc chuyên ngành y học
cổ truyền, hàng loạt những tạp chí chuyên ngành được ra đời như: “Tạp chí Đông y”,
“Tạp chí châm cứu”, “Tạp chí nghiên cứu Y – Dược học cổ truyền” …
Với những thành tựu đã đạt được, để tiếp tục chiến lược phát triển y học cổ truyềntrong giai đoạn tới, đã khẳng định rõ trong nghị quyết của chính phủ về định hướng chiếnlược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân trong thời gian từ 2000 – 2010là: “Y học cổ truyền là một di sản văn hóa của dân tộc, cần được bảo về, phát huy vàphát triển Triển khai mạnh mẽ việc nghiên cứu ứng dụng hiện đại hóa y học cổ truyền,kết hợp y học hiện đại nhưng không làm mất đi bản sắc của y học cổ truyền Việt Nam”
4 VẤN ĐỀ HIỆN ĐẠI HÓA Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ GIỮ GÌN BẢN SẮC Y HỌC CỔ TRUYỀN Ở NƯỚC TA
Y học cổ truyền cần được hiện đại hóa để không có nguy cơ trở thành một thứ đồ cổtrong chiều sâu của thời gian, mà sẽ là một khoa học để phục vụ cho yêu cầu của xã hộihiện đại Hiện đại hóa là dùng các kiến thức, công cụ và phương pháp nghiên cứu khoahọc - kỹ thuật hiện đại để hiểu và chứng minh cơ sở khoa học của nguyên lý, lý thuyết vàphương pháp chữa bệnh của y học cổ truyền, các bài thuốc, cây thuốc được sử dụngtrong y học cổ truyền
Hiện đại hóa y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại cần đượcxem xét trong mối quan hệ với xu hướng kết hợp những mặt tích cực của hai nền vănminh Đông - Tây trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi nhân loại bước vào thiên niên
Trang 13kỷ thứ ba, để nền văn minh phương Đông góp phần xứng đáng vào việc phát triển kinh tế
- xã hội toàn cầu, đảm bảo cho nhân loại một cuộc sống và sức khỏe có chất lượng ngàycàng cao…
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA SỰ KẾT HỢP Y HỌC CỔ TRUYỀN VỚI Y HỌC HIỆN ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI HÓA Y HỌC CỔ TRUYỀN Ở NƯỚC TA
Theo đánh giá của WHO, Việt Nam không chỉ là nước có bề dày truyền thống pháttriển y học cổ truyền từ hàng nghìn năm nay, mà thực sự là nước có tiềm năng y học cổtruyền và đạt được những thành công ban đầu trong vấn đề kết hợp y học cổ truyền với yhọc hiện đại và hiện đại hóa y học cổ truyền Những thành tựu đó đã đóng góp tích cựctrong việc giảm nhẹ gánh nặng chi phí y tế quốc gia, trong nâng cao hiệu quả điều trị một
số bệnh mạn tính, đặc biệt góp vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng.Những thành tựu đó có được, bởi từ lâu Đảng và Nhà nước đã thấy rõ những ý nghĩakhoa học về kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại và hiện đại hóa y học cổ truyền ởnước ta trên những mặt sau:
Kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại là một cuộc cách mạng khoa học trong yhọc, để xây dựng một nền y học Việt Nam, có đầy đủ tính chất khoa học, dân tộc và đạichúng
Nền y học Việt Nam kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại sẽ đoàn kết và thốngnhất được, toàn cán bộ y tế Việt Nam, động viên thừa kế được các kinh nghiệm tốt trongnhân dân phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc
Nền y học Việt Nam là sự kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại mang đầy đủ tínhchất tự lực cánh sinh, phát huy nội lực, mang tính chất kinh tế lớn trong việc cần kiệmxây dựng chủ nghĩa xa hội, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh
6 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC KẾT HỢP Y HỌC CỔ TRUYỀN VỚI Y HỌC HIỆN ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI HÓA Y HỌC CỔ TRUYỀN
- Tăng cường nhận thức tư tưởng đi đôi với tổ chức kết hợp y học cổ truyền với y họchiện đại và hiện đại hóa y học cổ truyền từ trung ương tới cơ sở
- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chuyên ngành y học cổ truyền, từquy mô đào tạo, chất lượng đến tuyển chọn cũng như chất lượng các cơ sở thực hành
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu kế thừa, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết hợp
y học cổ truyền với y học hiện đại và hiện đại hóa y học cổ truyền
- Giải quyết tốt vấn đề dược liệu và hiện đại hóa trong khâu nghiên cứu bào chế sảnxuất Đông dược
- Đẩy mạnh tuyên truyền sử dụng các phương pháp điều trị của y học cổ truyền
- Tăng cường hợp tác y học cổ truyền với các nước trong khu vực và trên thế giới
Đó là những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kết hợp y học cổ truyền với y họchiện đại và hiện đại hóa y học cổ truyền trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước hiện nay
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Chọn một câu trả lời đúng nhất cho các câu hỏi sau:
Trang 141 Trong thời kỳ dựng nước, phương pháp chữa bệnh được truyền bá chủ yếu bằng:
B Khoa học, dân tộc, đại chúng
C Khoa học, dân tộc, tiến bộ nhất
D Khoa học, tiến bộ
3 Vào thời kì dựng nước, các phương pháp phòng và chữa bệnh được nhân dân sử dụng là:
A Làm nhà, đào giếng
B Dùng thuốc: Sử quân tử, sắn dây
C Nhuộm răng, ăn trầu
D Các câu trên đều đúng
4 Thời nhà Trần (1225 - 1339) có danh y nổi tiếng là:
A Lê Đức Huệ
B Nguyễn Quang Lương
C Tuệ Tĩnh
D Hải Thượng Lãn Ông
5 Tác phẩm nổi tiếng của Lê Hữu Trác là:
A Nam dược thần hiệu
B Bảo Anh lương khương
C Hải Thượng Y tông tâm lĩnh
D Châm cứu tiệp hiệu pháp
ĐÁP ÁN
1 A 2 B 3 D 4 C 5 C
Trang 15CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN Y HỌC CỔ TRUYỀN BÀI 2 - HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Trình bày được khái niệm cơ bản của học thuyết Âm Dương.
2 Hiểu và phân tích được các quy luật cơ bản trong học thuyết Âm Dương.
3 Trình bày được những ứng dụng của học thuyết Âm dương vào trong y học.
4 Vận dụng được học thuyết Âm Dương vào việc chẩn đoán, điều trị và cuộc sống.
1 ĐỊNH NGHĨA
Học thuyết Âm Dương trong Y học cổ truyền có nguồn gốc từ triết học duy vật cổđại phương Đông, nó trình bày quá trình nhận thức và quy luật phát triển của sự vật,được người xưa vận dụng từ hơn 3000 năm nay trong nhiều lĩnh vực khoa học khácnhau như: Thiên văn, toán học, nông học, kiến trúc, y học cổ truyền…
Trong y học cổ truyền, học thuyết âm dương đã nêu rõ: Tất cả các sự vật, kể cả conngười luôn có hai mặt đó là âm và dương, hai mặt luôn mâu thuẫn nhưng thống nhất vớinhau làm cho sự vật phát triển và biến đổi không ngừng Người xưa đã vận dụng họcthuyết này để liên hệ giải thích trong y học về giải phẫu, sinh lý, chẩn đoán, điều trị,phòng bệnh và bào chế thuốc
- Biểu tượng âm dương được thể hiện bằng một vòng tròn khép kín với đường conghình chữ S ngược chia hình tròn ra làm hai phần bằng nhau Ở đây vòng tròn lớn với
ý nghĩa sự thống nhất của một sự vật, hình cong S ngược thể hiện sự chuyển hóa,biến đổi giữa hai mặt của sự vật
- Nửa vòng trắng là dương, nửa đen là âm
Vòng tròn nhỏ trắng trong phần đen là dương trong âm (Thiếu dương), vòng tròn nhỏđen trong phần trắng là âm trong dương (Thiếu âm)
- Đuôi nhỏ phần đen tiếp với đầu lớn phần trắng biểu hiện dương trưởng âm tiêu,đuôi nhỏ phần trắng tiếp với đầu lớn phần đen biểu hiện dương tiêu âm trưởng
- Phần trắng với phần đen bao giờ cũng bằng nhau biểu hiện âm dương luôn cân bằng(bình hành) trong quá trình biến đổi của sự vật
Trang 16Hình 2.1 Hình ảnh biểu tượng âm - dương
2 CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
2.1 Âm dương đối lập với nhau
Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai mặt âm dương mà thống nhấttồn tại trong mọi sự vật và hiện tượng tự nhiên
Ví dụ: ngày và đêm, nước và lửa, quá trình đồng hóa – dị hóa, ức chế và hưng phấn,thiện và ác
Tuy mỗi sự vật và hiện tượng đều có hai mặt âm dương, nhưng trong dương còn có
âm và trong âm còn có dương
2.2 Âm dương hỗ căn
Hỗ căn là sự nương tựa lẫn nhau Hai mặt âm dương tuy đối lập với nhau nhưng phảinương tựa lẫn nhau mới tồn tại được, mới có ý nghĩa Cả hai mặt đều là tích cực của sựvật, không thể đơn độc phát sinh, phát triển được
Ví dụ: Có đồng hoá mới có dị hoá, hay ngược lại nếu không có dị hoá thì quá trìnhđồng hoá không tiếp tục được Có số âm mới có số dương Hưng phấn và ức chế đều làquá trình tích cực của hoạt động vỏ não
2.3 Âm dương tiêu trưởng
Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển, nói lên sự vận động không ngừng sựchuyển hoá lẫn nhau giữa hai mặt âm dương
Như khí hậu 4 mùa trong năm luôn thay đổi từ lạnh sang nóng, từ nóng sang lạnh, từlạnh sang nóng là quá trình “âm tiêu dương trưởng” từ nóng sang lạnh là quá trình
“dương tiêu âm trưởng” do đó có khí hậu mát, lạnh, ấm và nóng
Sự vận động của hai mặt âm dương có tính chất giai đoạn, tới mức độ nào đó sẽchuyển hoá sang nhau gọi là “dương cực sinh âm, âm cực sinh dương; hàn cực sinhnhiệt, nhiệt cực sinh hàn”
Như trong quá trình phát triển của bệnh tật, bệnh thuộc phần dương (như sốt cao) cókhi gây ảnh hưởng đến phần âm (như mất nước), hoặc bệnh ở phần âm (mất nước, mấtđiện giải) tới mức độ nào đó sẽ ảnh hưởng đến phần dương (như choáng, truỵ mạch gọi
là thoát dương)
2.4 Âm dương bình hành
Trang 17Hai mặt âm dương tuỵ đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn lặp lại được thếthăng bằng, thế quân bình giữa hai mặt.
Sự mất thăng bằng giữa hai mặt âm dương nói lên sự mâu thuẫn thống nhất, vậnđộng và nương tựa lẫn nhau của vật chất
Từ 4 quy luật trên, khi vận dụng trong y học người ta còn thấy một số phạm trù sau:
Sự tương đối và tuyệt đối của hai mặt âm dương:
Sự đối lập giữa hai mặt âm dương là tuyệt đối, nhưng trong điều kiện cụ thể nào đó
có tính chất tương đối Thí dụ: hàn thuộc âm đối lập với nhiệt thuộc dương, nhưng lương(là mát) thuộc âm đối lập với ôn (là ấm) thuộc dương Trên lâm sàng tuy sốt (là nhiệt)thuộc dương, nếu sốt cao thuộc lý thuộc lý dùng thuốc hàn, sốt nhẹ thuộc biểu dùngthuốc mát (lương)
Trong âm có dương và trong dương có âm:
Âm và dương nương tựa lẫn nhau cùng tồn tại, có khi xen kẽ vào nhau trong sự pháttriển Như sự phân chia thời gian trong một ngày (24 giờ): ban ngày thuộc dương, từ 6giờ sáng đến 12 giờ trưa là phần dương của dương Từ 12 giờ đến 18 giờ là phần âm củadương; ban đêm thuộc âm, từ 18 giờ – 24 giờ là phần âm của âm từ 0 giờ đến 6 giờ làphần dương của âm
Trên lâm sàng, khi cho thuốc làm ra mồ hôi để hạ sốt, cần chú ý tránh cho ra mồ hôinhiều gây mất nước và điện giải, về triệu chứng thấy xuất hiện các chứng hư thực, hànnhiệt lẫn lộn Về cấu trúc của cơ thể, tạng thuộc âm như can, thận có can âm (can huyết),can dương (can khí), thận âm (thận thuỷ), thận dương (thận hoả) v.v…
Bản chât và hiện tượng:
Thông thường bản chất thường phù hợp với hiện tượng, khi chữa bệnh người ta chữavào bản chất bệnh: như bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn
Nhưng có lúc bản chất không phù hợp với hiện tượng gọi là sự “thật giả” (chân giả)trên lâm sàng, khi chẩn đoán phải xác định cho đúng bản chất để dùng thuốc chữa đúngnguyên nhân
3 ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG TRONG Y HỌC
Nền tảng tư duy của y học cổ truyền dựa trên Học thuyết Âm dương, mang tính chỉđạo xuyên suốt từ lý luận đến ứng dụng thực tiễn trên lâm sàng qua các mặt:
3.1 Về cấu tạo cơ thế và sinh lý
Âm: tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, dưới…
Trang 18Dương: phủ, kinh dương, khí, lưng, ngoài, trên…
- Tạng thuộc âm, do tính chất trong âm có dương nên còn phân ra phế âm, phế khí;thận âm, thận dương; can huyết, can khí; tâm huyết, tâm khí Phủ thuộc dương nhưng
vì trong dương có âm nên có vị âm và vị hoả…
- Vật chất dinh dưõng thuộc âm, cơ năng hoạt động thuộc dương
3.2 Về quá trình phát sinh và phát triển của bệnh tật
- Bệnh tật phát sinh ra do sự mất thăng bằng về âm dương trong cơ thể được biểuhiện bằng thiên thắng hay thiên suy:
+ Thiên thắng: dương thắng gây chứng nhiệt: sốt, mạch nhanh, khát nước, táo,nước tiểu đỏ; âm thắng gây chứng hàn: người lạnh, tay chân lạnh, mạch trầm, ỉalỏng nước tiểu trong…
+ Thiên suy: dương hư như các trường hợp não suy, hội chứng hưng phấn thầnkinh giảm; âm hư: như mất nước, điện giải, hội chứng ức chế thần kinh giảm
- Trong quá trình phát triển của bệnh, tính chất của bênh còn chuyến hoá lẫn nhaugiữa hai mặt âm dương
+ Bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm (dương thắng tắc âm bệnh) Ví dụ sốtcao kéo dài sẽ gây mất nước
+ Bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương (âm thắng tắc dương bệnh) Ví dụ ỉalỏng, nôn mửa kéo dài mất nước, điện giải làm nhiễm độc thần kinh, gây sốt, cogiật thậm chí gây truỵ mạch (thoát dương)
- Sự mất thăng bằng của âm dương gây ra những chứng bệnh ở những vị trí khácnhau của cơ thê tuỳ theo vị trí đó ở phần âm hay dương
+ Dương thịnh sinh ngoại nhiệt: sốt, người và tay chân nóng, vì phần dương của
cơ thể thuộc biểu, thuộc nhiệt
+ Âm thịnh sinh nội hàn: ỉa chảy, người sợ lạnh, nước tiểu trong dài vì phần âmthuộc lý thuộc hàn
+ Âm hư sinh nội nhiệt: như mất nước, tân dịch giảm gây chứng khát nước, họngkhô, táo, nước tiểu đỏ v.v…
+ Dương hư sinh ngoại hàn: sợ lạnh, tay chân lạnh vì phần dương khí ở ngoài bịgiảm sút
3.3 Về chẩn đoán bệnh tật
- Dựa vào 4 phương pháp khám bệnh: nhìn (vọng), nghe (văn), hỏi (vấn) sờ nắn, xemmạch (thiết) để khai thác các triệu chứng thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực của cáctạng phủ kinh lạc
- Dựa vào 8 cương lĩnh để đánh giá vị trí nông sâu của bệnh, tính chất của bệnh,trạng thái người bệnh và xu thế chung nhất của bệnh tật (biểu lý, hư thực, hàn nhiệt
và âm dương) trong đó âm và dương là 2 cương lĩnh tổng quát nhất gọi là tổngcương: thường bệnh ở biểu, thực, nhiệt thuộc dương; bệnh ở lý, hư, hàn thuộc âm
Trang 19- Dựa vào tứ chẩn để khai thác triệu chứng và căn cứ vào bát cương bệnh tật đượcquy thành các hội chứng thiên thắng hay thiên suy về âm dương của các tạng phủ,kinh lạc v.v…
3.4 Về chữa bệnh và các phương pháp chữa bệnh
- Chữa bệnh là điều hoà lại sự mất thăng bằng về âm dương của cơ thể tuỳ theo tìnhtrạng hư thực, hàn, nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau: thuốc, châmcứu, xoa bóp, khí công v.v…
- Về thuốc được chia làm hai loại:
+ Thuốc lạnh, mát (hàn, lương) thuộc âm gọi là âm dược, để chữa bệnh nhiệt thuộcdương như: Thạch cao, Huyền sâm
+ Thuốc nóng, ấm (nhiệt, ôn) thuộc dương gọi là dương dược, để chữa bệnh hànthuộc âm như: Gừng, quế…
- Về nguyên tắc điều trị: Thể trạng bệnh nhân hàn lương, phải dùng phương phápđiều trị ôn nhiệt Thể trạng bệnh nhân ôn nhiệt phải dùng phương pháp hàn lương.Nếu hàn nhiệt không rõ thì dùng phép bình
3.5 Về phòng bệnh
Luôn giữ cho cơ thể âm dương cân bằng và điều hòa
Ví dụ: Trời lạnh phải mặc ấm
Trời nóng mặc quần áo thoáng mát
Lao động và nghỉ ngơi theo chế độ sinh hoạt hợp lý
3.6 Về bào chế thuốc
Có thể dùng phụ liệu thay đổi tính vị và tác dụng của vị thuốc
Ví dụ: Sinh địa tính vị hàn lương, có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, khi qua chếbiến với phụ gia như rượu, gừng, sa nhân thành Thục địa có tính ôn có tác dụng bổhuyết
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Chọn một câu trả lời đúng nhất cho các câu hỏi sau:
1 Một quy luật cơ bản trong học thuyết âm dương là:
A Âm dương đối lập
B Âm dương sinh ra
C Âm dương mất đi
D Âm dương luôn tồn tại
Trang 202 Theo YHCT, những phần nào sau đây trong cơ thể thuộc về âm:
C Âm cực sinh dương
D Nhiệt cực sinh dương
4 Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn) gây mất nước, rối loạn điện giải, dẫn đến sốt cao
co giật (giả nhiệt), để điều trị cần dùng thuốc có tính:
Trang 21BÀI 3 - HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Trình bày được các quan niệm và định nghĩa của học thuyết Ngũ hành.
2 Trình bày được các nội dung quy luật của học thuyết Ngũ hành.
3 Vận dụng được học thuyết Ngũ hành vào việc chẩn đoán, điều trị và cuộc sống.
lý, bệnh lý các tạng phủ:
- Để chẩn đoán bệnh tật
- Để tìm tính năng và tác dụng của thuốc
- Để tiến hành công tác bào chế thuốc men
2 NỘI DUNG CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
2.1 Ngũ hành là gì?
Người xưa thấy có 5 loại vật chất chính: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ và đem các hiệntượng trong thiên nhiên vào trong cơ thể con người và xếp theo 5 loại vật chất trên gọi làngũ hành Ngũ hành còn có ý nghĩa nữa là sự vận động, chuyển hóa các vật chất trongthiên nhiên và của tạng phủ trong cơ thể
2.2 Sự quy nạp của ngũ hành trong thiên nhiên và trong cơ thể con người
Vật chất Gỗ, cây Lửa Đất Kim loại Nước
Phương Đông Nam Trung ương Tây Bắc
Ngũ thể Cân Mạch Thịt Da lông Xương, tuỷ
Ngũ quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai
Trong điều kiện bình thường (sinh lý):
Vật chất trong thiên nhiên và các loại hoạt động của cơ thể liên quan mật thiết vớinhau, thúc đẩy nhau để vận động không ngừng bằng cách tương sinh (hành nọ sinh hành
Trang 22kia, tạng nọ sinh tạng kia) hoặc chế ước lẫn nhau để giữ được thế quân bình bằng cáchtương khắc (hành này hoặc tạng này chế ước hành hoặc tạng kia).
2.3 Các quy luật hoạt động của ngũ hành.
2.3.1 Quy luật tương sinh:
Ngũ hành tương sinh là chỉ mối quan hệ sinh ra nhau một cách thứ tự, thúc đẩy nhauphát triển của thủy, hỏa, mộc, kim, thổ Thứ tự tương sinh là: mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ,thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc Sự tương sinh này cứ lặp lại không ngừng.nếu đứng từ một hành mà nói thì sinh ra nó được gọi là “mẹ”, do nó sinh ra được gọi là
“con”
Trong cơ thể con người: can mộc sinh tâm hỏa, tâm hỏa sinh tỳ thổ, tỳ thổ sinh phếkim, phế kim sinh thận thủy, thận thủy sinh can mộc
2.3.2 Quy luật tương khắc:
Ngũ hành tương khắc là chỉ mối quan hệ lần lượt ức chế lẫn nhau của thủy, hỏa, mộc,kim, thổ Thứ tự của tương khắc là: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏakhắc kim, kim khắc mộc Quá trình tương khắc này cũng tuần hoàn không ngừng
Trong cơ thể con người: can mộc khắc tỳ thổ; tỳ thổ khắc thận thủy; thận thủy khắctâm hỏa; tâm hỏa khắc phế kim; phế kim khắc can mộc
Trong điều kiện bất thường hay bệnh lý:
Có hiện tượng hành nọ hay tạng nọ khắc hành kia tạng kia quá mạnh mà sinh ra bệnhgọi là tương thừa; hoặc hành nọ tạng nọ không khắc được hành kia tạng kia gọi là tươngvũ
- Ví dụ về tương thừa: bình thường can mộc khắc tỳ thổ, nếu can khắc tỳ quá mạnhgây các hiện tượng như đau vùng thượng vị (dạ dày), đi ngoài nhiều lần (ỉa chảy doTK), khi chữa phải chữa bình can (hạ hưng phấn của can) và kiện tỳ (tăng chức năngkiện vận của tỳ)
- Ví dụ về tương vũ: bình thường tỳ thổ khắc thận thủy, nếu tỳ hư không khắc đượcthận thủy sẽ gây: ứ nước (bệnh ỉa chảy kéo dài) gây phù dinh dưỡng, khi chữa phảikiện tỳ và lợi niệu (để làm mất phù thũng)
Quy luật tương sinh tương khắc được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Tương sinhTương khắc
Trang 23Hình 3.1 Quy luật hoạt động của Ngũ hành
3 ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH TRONG Y HỌC
Dựa vào tính chất quy nạp theo ngũ hành và các quy luật hoạt động của ngũ hành mà
có thể ứng dụng trong y học như sau:
3.1 Quan điểm y học cổ truyền về cấu trúc cơ thể con người
Cơ thể con người cũng được cấu tạo bởi 5 hành và cũng có mối quan hệ tương sinh
và tương khắc với nhau:
Ngũ thể Cân Mạch Thịt Da lông Xương, tuỷ
3.2 Trong quan hệ sinh lý
Các cơ quan trong có thể đều tương ứng với những hành nhất định, có tương sinhtương khắc với nhau để đảm bảo cơ thể phát sinh phát triển được bình thường, đảm bảothống nhất trong cơ thể với môi trường bên ngoài
Sự sắp xếp các tạng phủ theo ngũ hành và sự liên quan của chúng đến ngũ vị, ngũsắc, ngũ quan, thể chất và hoạt động về tính chí giúp cho việc học về các hiện tượng sinh
Mỗi tạng phủ khi bị bệnh đều biểu hiện bệnh lý của tạng phủ đó Ví dụ: Bệnh ở can
có các triệu chứng của can như: Cáu gắt, tức giận, hoa mắt, đau ngực sườn…
+ Vi tà: do tạng khắc tạng đó không khắc được mà gây ra bệnh (tương thừa)
+ Tặc tà: do tạng đó không khắc được tạng khác mà gây ra bệnh (tương vũ)
Ví dụ:
Trang 24Mất ngủ là một chứng bệnh của tâm có thể xảy ra ở 5 vị trí khác nhau và cách chữacũng khác nhau:
+ Chính tà: bản thân tạng tâm gây ra mất ngủ (như thiếu máu không nuôi dưỡngtâm thần) Khi chữa phải bổ huyết an thần
+ Hư tà: do tạng can gây bệnh cho tâm (như cao huyết áp gây mất ngủ) Khi chữaphải kiện tỳ an thần
+ Vi tà: do thận hư không khắc được tâm hoả gây mất ngủ Khi chữa phải bổ âm anthần
+ Tặc tà: do phế âm hư ảnh hưởng đến tâm huyết gây mất ngủ, khi chữa phải bổphế âm an thần
- Căn cứ vào các triệu chứng dấu hiệu của ngũ sắc, ngũ thể, ngũ vị, ngũ quan, ngũ chí
để tìm bệnh thuộc tạng phủ có liên quan
Ví dụ: Bệnh ở can thường khiến người bệnh hay cáu giận, tính ưa mát, ợ chua nhiều, mắt thường đau, gân cơ thường co rút
đó, ví dụ: mất ngủ do tỳ thì châm thêm Túc tam lý
- Chọn công thức huyệt theo ngũ du huyệt: tức là dựa hoàn toàn vào ngũ hành màđịnh ra công thức huyệt
Tuỳ vào kinh âm, kinh dương mỗi loại huyệt tương ứng với một hành; trong mộtđường kinh quan hệ giữa các huyệt là quan hệ tương sinh, giữa hai đường kinh âm vàdương quan hệ giữa các huyệt là quan hệ tương khắc
Tên các huyệt ngũ du được đặt theo ý nghĩa của kinh khi đi trong đường kinh nhưdòng nước chảy:
Tên huyệt
ngũ du Huyệt hợp Huyệt kinh Huyệt du
Huyệt huỳnh Huyệt tỉnh
Ý nghĩa Nơi kinh khí
đi vào
Nơi kinh khí
đi qua
Nơi kinh khídồn lại
Nơi kinh khíchảy xiết
Nơi kinh khí
đi ra
Trang 25Dưới đây là sơ đồ sắp xếp các huyệt ngũ du liên quan đến tương sinh và tương khắc của ngũhành:
Kinh Loại huyệt ngũ du
Dương
Âm
KimMộc
ThuỷHoả
MộcThổ
HoảKim
Thổ
ThuỷKhi sử dụng huyệt ngũ du để điều trị bệnh, người ta cũng thực hiện theo nguyên tắc
hư bổ mẹ và thực tả con
3.5 Về sử dụng dược
3.5.1 Người ta xét tác dụng của vị thuốc đối với bệnh tật tại các tạng phủ trên cơ sở liên quan giữa vị thuốc, màu sắc thuốc với tạng phủ
Vị thuốc Màu thuốc Tác dụng vào tạng/ phủ
Vị chua Màu xanh Tạng can / đởm
Vị đắng Màu đỏ Tạng tâm / tiểu trường
Vị ngọt Màu vàng Tạng tỳ / vị
Vị cay Màu trắng Tạng phế / đại trường
Vị mặn Màu đen Tạng thận / bàng quang
3.5.2 Người ta còn dùng ngũ vị này để bào chế làm thay đổi tính dược của các vị thuốc, đưa thuốc vào các tạng theo yêu cầu điều trị
Thuốc sao với Tác dụng vào tạng:
Sao với dấm Thuốc đi vào tạng canSao với muối Thuốc đi vào thậnSao với đường Thuốc đi vào tỳSao với gừng Thuốc đi vào phế
3.6 Trong phòng bệnh
- Chú ý: ăn uống, lao động, tinh thần làm sao cho không ảnh hưởng tới tạng phủ
- Rèn luyện thân thể để giữ cho tạng phủ được thăng bằng
- Nên phòng trước khi bị bệnh, nếu sau khi bị bệnh điều trị khỏi thì nên ăn uống sinhhoạt sao cho phù hợp để không mắc bệnh lại
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Chọn một câu trả lời đúng nhất cho các câu hỏi sau:
1 Dựa vào quy loại ngũ hành, ta có hành Mộc tương ứng với:
A Cây, vị ngọt
B Cây, vị chua
C Cây, vị đắng
D Cây, vị mặn
Trang 262 Dựa vào quy loại ngũ hành, trong cơ thể có ngũ thể là:
A Mạch thuộc Mộc
B Xương tủy thuộc Thổ
C Cân thuộc Hỏa
D Da lông thuộc Kim
3 Những hiện tượng thuộc hành Thủy:
Trang 27BÀI 4 - HỌC THUYẾT TẠNG TƯỢNG
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Trình bày được khái niệm cơ bản về tạng phủ.
2 Trình bày được chức năng sinh lý của ngũ tạng, lục phủ và phủ kỳ hằng.
3 Trình bày được những biểu hiện lâm sàng khi tạng phủ bị rối loạn.
4 Vận dụng được học thuyết tạng phủ vào chấn đoán và điều trị bệnh tật.
1 ĐẠI CƯƠNG
Học thuyết tạng tượng hay còn gọi là học thuyết tạng phủ
“Tạng” là các tổ chức cơ quan trong cơ thể
“Tượng” là biểu tượng về hình thái, sinh lý, bệnh lý của nội tạng phản ánh ra bên ngoài
cơ thể
Quan sát cơ thể sống để nghiên cứu phát hiện quy luật hoạt động của nội tạng gọi là
“tạng tượng học”
Nhóm có chức năng chuyển hóa và tàng trữ tinh, khí, huyết, tân dịch là tạng
Nhóm có chức năng chứa đựng, thu nạp và vận chuyển là phủ
Tuy nhiên cần có nhận thức về học thuyết tạng tượng như sau: Mỗi một tạng khôngphải chỉ là thực chất cơ quan trong giải phẫu học mà chủ yếu bao gồm cơ năng hoạt độngsinh lý của tạng đó và mối liên hệ hữu cơ giữa tạng đó với các tạng khác
Căn cứ vào đặc điểm công năng sinh lý mà phân ra 3 loại là tạng, phủ, và phủ kỳ hằng
- Ngũ tạng: tâm, can, tỳ, phế, thận
- Lục phủ: đởm, vị, tiểu trường, đại trường, tam tiêu, bàng quang
- Phủ kỳ hằng: Não, tủy, cốt, mạch, đởm, tử cung
vì vậy nói là “ Tâm tàng thần”
Tâm khí và tâm huyết đầy đủ thì tinh thần sáng suốt, tỉnh táo
Tâm huyết không đầy đủ xuất hiện các triệu chứng như hồi hộp, mất ngủ, hay mê, hayquên
Tâm huyết có nhiệt thì có thể thấy mê sảng, hôn mê…
2.1.2 Tâm chủ về huyết mạch, biểu hiện ra ở mặt
Tâm khí thúc đẩy huyết mạch đi nuôi dưỡng toàn thân Nếu tâm khí đầy đủ, huyết dịchvận hành không ngừng, toàn thân được nuôi dưỡng tốt, biểu hiện ở mặt hồng hào tươinhuận Trái lại tâm khí bị giảm sút, sự cung cấp huyết dịch kém đi thì sắc mặt xanh xao, cókhi huyết dịch bị ứ trệ gây các chứng mạch sáp, ứ huyết…
Trang 282.1.3 Tâm khai khiếu ra lưỡi
Biệt lạc của kinh tâm thông ra lưỡi, khí huyết của tâm đi ra lưỡi để duy trì sự hoạt độngcủa chất lưỡi Trên lâm sàng xem chất lưỡi để chẩn đoán bệnh ở tâm như chất lưỡi đỏ làtâm nhiệt; chất lưỡi nhạt là tâm huyết hư, chất lưỡi xanh, kèm có điểm ứ huyết là huyết ứtrệ…
Chức năng tàng huyết của can bị rối loạn sẽ ảnh hưởng đến các tạng phủ và sinh cáctriệu chứng bệnh như can huyết không đầy đủ thấy hoa mắt, chóng mặt, chân tay co quắp,kinh nguyệt ít có thể bế kinh Can khí bị xúc động, huyết đi lạc đường có thể thấy các hiệntượng xuất huyết như nôn ra máu, chảy máu cam, băng huyết, rong huyết…
2.2.2 Can chủ về sơ tiết
Sơ tiết là sự thư thái, thông xướng còn gọi là “điều đạt” Can khí chủ về sơ tiết giúpcho sự vận hành của khí các tạng phủ được dễ dàng, thông suốt, thăng giáng được điềuhòa Can khí sơ tiết kém sẽ có những biểu hiện bệnh lý đặc biệt ở tình chí và sự tiêu hóa
Về tình chí: ngoài tạng tâm còn do tạng can phụ trách Can khí bình thường thì khíhuyết vận hành điều hòa, tinh thần thoải mái Trái lại can khí sơ tiết kém sẽ gây tình trạngkhí bị uất kết hay hưng phấn quá độ: Can khí uất kết biểu hiện ở ngực sườn đầy tức, u uất,suy nghĩ, hay thở dài, kinh nguyệt không đều hay thống kinh…, Can khí xung thịnh gâycáu gắt, hoa mắt, chóng mặt, ù tai,…
Về tiêu hóa: Sự sơ tiết của can có ảnh hưởng lớn đến sự thăng giáng của tỳ vị, nếu Cankhí uất kết hay can khí hoành nghịch có thể thấy các triệu chứng đau mạn sườn, đauthượng vi, ăn kém, ợ hơi, ợ chua, ỉa chảy gọi là chứng “can tỳ bất hòa” hay” can vị bấthòa”…
2.2.3 Can chủ cân, vinh nhuận ra móng tay, móng chân
Cân là cân mạch gồm các khớp, gân, cơ phụ trách việc vận động của cơ thể Nói canchủ cân tức là sự nuôi dưỡng của các cân bằng huyết của can ( can huyết) Can huyết đầy
đủ, cân mạch được nuôi dưỡng tốt, vận động tốt; Trái lại, Can huyết hư sẽ gây các chứng
tê bại, chân tay run, co quắp, teo cơ, cứng khớp… Nếu sốt cao, huyết dịch hao tổn khôngnuôi dưỡng cân gây co giật, tay chân co quắp…
Trang 29Móng tay móng chân là chỗ thừa ra của cân mạch nên tình trạng thiếu đủ của can huyết
sẽ có những biểu hiện hồng nhuận, cứng cáp hay nhợt tái, thay đổi hình dạng (móng tayuốn khum)
2.2.4 Can khai khiếu ra mắt
Tinh khí của ngũ tạng thông qua huyết dịch đều đi lên mắt, nhưng chủ yếu đều do tạngCan vì can tàng huyết và kinh Can đi lên mắt
Can khí thực do phong nhiệt gây chứng mắt đỏ, sưng đau Can huyết hư gây quáng gà,thị lực giảm Can phong nội động gây miệng méo mắt lác…
2.3 Tỳ
2.3.1 Tỳ chủ về vận hóa đồ ăn và thủy thấp
Vận hóa đồ ăn là sự tiêu hóa, hấp thu và vận chuyển các chất dinh dưỡng của đồ ăn.Sau khi tiêu hóa, các chất tinh vi được Tỳ hấp thu và vận chuyển lên Phế, Phế đưa vào tâmmạch để huyết đem đi nuôi dưỡng các tạng phủ, tứ chi, cân, não…
Công năng vận hóa đồ ăn của Tỳ mạnh gọi là sự “kiện vận” thì sự hấp thu tốt, trái lạinếu tỳ mất kiện vận sẽ gây nên các chứng về rối loạn tiêu hóa như ăn kém, ỉa chảy, mệtmỏi, gầy…
Vận hóa thủy thấp: tỳ đưa nước đến các tổ chức để nuôi dưỡng cơ thể, sau đó vậnchuyển xuống thận ra bàng quang bài tiết ra ngoài Như vậy việc chuyển nước trong cơ thể
do sự vận hóa của tỳ phối hợp với sự túc giáng của Phế và sự khí hóa của Thận
Sự vận hóa thủy thấp của Tỳ kém sẽ gây chứng đàm ẩm, nước tràn ra tứ chi gây phùthũng, xuống đại trường gây ỉa chảy, đến khoang bụng thành cổ chướng…
2.3.2 Tỳ thống huyết
Thống huyết có nghĩa là nhiếp, quản lý, khống chế huyết Sự kiện vận đồ ăn của tỳ lànguồn gốc của khí và huyết, nhưng tỳ còn thống huyết Tỳ khí mạnh huyết sẽ đi trongmạch, được khí thúc đẩy đi nuôi dưỡng cơ thể, trái lại tỳ khí hư không thống được huyết,huyết sẽ ra ngoài gây các chứng xuất huyết như rong huyết, đại tiện ra máu lâu ngày…
2.3.3 Tỳ chủ cơ nhục, chủ tứ chi
Tỳ đem các chất dinh dưỡng của đồ ăn đến nuôi dưỡng cơ nhục Nếu tỳ khí đầy đủ sẽlàm cho cơ nhục rắn chắc, tứ chi nhẹ nhàng linh hoạt; trái lại nếu tỳ khí yếu sẽ làm thịtmềm, trương lực cơ giảm gây tứ chi mệt mỏi, gây các chứng thoát vị như sa trực tràng, sasinh dục, sa dạ dày…
2.3.4 Tỳ khai khiếu ra miệng, vinh nhuận ra môi
Khai khiếu ra miệng là nói về sự ăn uống, khẩu vị
Tỳ mạnh thì muốn ăn, ăn ngon miệng, nếu tỳ hư thì chán ăn, miệng nhạt
Tỳ chủ về cơ nhục lại khai khiếu ra miệng nên biểu hiện sự vinh nhuận ra môi Tỳmạnh thì môi hồng nhuận, Tỳ hư thì môi thâm xám, nhạt màu
2.4 Phế
2.4.1 Phế chủ khí, chủ hô hấp
Phế là nơi trao đổi khí: hít thanh khí, thải trọc khí nên nói phế chủ hô hấp
Trang 30Phế chủ khí vì phế có liên quan đến tông khí Tông khí được tạo thành do khí của đồ ăn
do tỳ đưa tới, tông khí được đưa vào tâm mạch đi toàn thân dinh dưỡng tổ chức
Phế khí bình thường, đường hô hấp thông, hơi thở điều hòa, trái lại phế khí hư kémxuất hiện triệu chứng khó thở, thở nhanh, tiếng nói nhỏ, người mệt mỏi không có sức
2.4.2 Phế chủ tuyên phát và túc giáng
Tuyên phát có ý nghĩa là thúc đẩy Sự tuyên phát của phế (tuyên phế) thúc đẩy khíhuyết tân dịch phân bố ra toàn thân, bên trong đi vào các tạng phủ, kinh lạc, ngoài đi ra bìmao, cơ nhục, không nơi nào không đến Nếu phế khí không tuyên sẽ gây sự ủng trệ có cáctriệu chứng như tức ngực, ngạt mũi, khó thở…
Túc giáng là đưa phế khí đi xuống, phế khí đi xuống là thuận, nếu phế khí nghịch lêntrên uất tại phế sẽ có các triệu chứng khó thở, suyễn tức…
2.4.3 Phế chủ bì mao, thông điều thủy đạo
Bì mao là phần ngoài cùng của cơ thể gồm da, lông, tuyến mồ hôi, là nơi tà khí bắt đầuxâm nhập vào cơ thể Nhờ tác dụng tuyên phát, phế đem các chất dinh dưỡng cho bì mao
Vệ khí cũng tuyên phát ra bì mao để chống đỡ ngoại tà Vì vậy khi có bệnh ở phần biểuthường thấy xuất hiện các chứng ở vệ và phế phối hợp với nhau như ngoại cảm phong hàn:
sợ lạnh, sợ gió, ngạt mũi, ho…
Nếu phế khí hư yếu, không tuyên phát ra bì mao làm da lông khô sáp, lưa thưa, đưa tới
cơ năng bảo vệ của bì mao bị giảm sút nên dễ bị cảm mạo
Phế còn tác dụng thông điều thủy đạo nhờ tác dụng tuyên phát và túc giáng Nước ởtrong cơ thể được bài tiết ra bằng đường mô hôi hơi thở, đại tiện nhưng chủ yếu là quanước tiểu Phế khí đưa nước tiểu xuống thận, ở thận nước tiểu được khí hóa một phần đưaxuống bàng quang bài tiết ra ngoài
Trên lâm sàng, bệnh phù thũng do phong thủy (viêm cầu thận do lạnh) được chữa bằngphương pháp tuyên phế lợi niệu
2.4.4 Khai khiếu ra mũi, thông với họng, chủ về tiếng nói
Mũi là nơi thở của phế, mũi để thở và ngửi thông qua tác dụng của phế khí Phế khíbình thường thì sự hô hấp điều hòa, nếu phế khí bị trở ngại thì gây ngạt mũi, chảy mũinước, không ngửi thấy mùi Phương pháp chữa bệnh vẫn lấy tuyên phế là chính
Phế còn chủ về tiếng nói và thông ra họng Bệnh ở phế luôn luôn thấy xuất hiện cácchứng ở họng và tiếng nói như đau họng và mất tiếng…
2.5 Thận
2.5.1.Thận tàng tinh, chủ về sinh dục và phát dục của cơ thể
Tinh của tiên thiên và tinh của hậu thiên được tàng trữ ở Thận gọi là Thận tinh Tinhbiến thành khí nên còn có Thận khí
Thận tinh còn gọi là Thận âm, nguyên âm, chân âm; Thận khí còn gọi là Thận dương,nguyên dương, chân dương, mệnh môn hỏa
Trang 31Thận tinh và thận khí quyết định sự sinh dục và phát dục của cơ thể từ lúc nhỏ tới lúcgià như mọc răng, trưởng thành, sinh con cái (gọi là thiên quý thịnh) và lão suy (thiên quýsuy).
Con gái có 7 thiên quý: 7 tuổi thì thận khí thịnh, răng thay tóc dài 14 tuổi thì thiên quýđến, mạch nhâm thông với mạch xung, vì vậy lúc đó người con gái sẽ có kinh nguyệt 49tuổi mạch nhâm yếu, mạch xung kém, thiên quý cạn hết, kinh nguyệt không còn, nên thânthể yếu đuối
Con trai có 8 thiên quý: 8 tuổi thận khí thực, tóc tốt, răng thay 16 tuổi thận khí thịnh,thiên quý đến, tinh khí đầy 24 tuổi thận khí điều hòa, thân thể cường tráng, mạnh khỏe 64tuổi thận khí kém, tóc rụng, răng khô, lục phủ ngũ tạng đều suy yếu, thiên khí cạn nên râutóc bạc, người mệt mỏi
2.5.3 Thận chủ về xương, tủy – thông với não và vinh nhuận ra tóc
Tinh được tàng trữ ở thận, tinh sinh tủy, não vào trong xương nuôi dưỡng xương nêngọi là thận chủ cốt, sinh tủy Nếu thận hư làm sự phát dục của cơ thể giảm sút gây hiệntượng chậm mọc răng, chậm biết đi, xương mềm yếu…
Não là chỗ hội của tủy mà tủy lại từ ở sự biến hóa của thận tinh mà thành cho nên thậntạng không những là căn bản của ngũ tạng lục phủ mà lại còn quan hệ đến công năng củaxương tủy và não nữa Thận hư ( thường do tiên thiên) làm não không phát triển sinh racác chứng: trí tuệ chậm phát triển, tinh thần đần độn, kém thông minh…
Huyết do tinh sinh ra, tàng trữ ở thận, tóc là sản phẩm “thừa ra” của huyết, được huyếtnuôi dưỡng, vì vậy thận là căn nguyên sinh ra tóc, sự thịnh suy của thận có quan hệ mậtthiết với tóc như bẩm sinh thận khí kém thì tóc mọc thưa thới, thanh niên mạnh khỏe thìtóc tốt nhuận, người già thận khí yếu thì tóc bạc, rụng tóc… vì vậy nói thận vinh nhuận ra
ở tóc
2.5.4 Thận chủ nạp khí
Không khí do Phế hít vào được giữ lại ở Thận gọi là sự nạp khí của Thận Nếu Thận hưkhông nạp được Phế khí thì làm Phế khí nghịch lên gây chứng ho hen, khó thở Trên lâmsàng người ta chữa chứng hen suyễn, chữa ho ở người già bằng phương pháp bổ Thận nạpkhí
2.5.5 Thận khai khiếu ra tai và tiền âm, hậu âm (chủ nhị tiện)
Tai nghe do Thận tinh nuôi dưỡng Thận hư sẽ gây tai ù, tai điếc Ở người già Thậnkhí, thận tinh suy yếu hay gặp chứng tai ù tai điếc
Tiền âm là nơi bài tiết nước tiểu, bộ phận sinh dục nam hay nữ Thận chủ về khí hóabài tiết nước tiểu và sự sinh dục vì vậy Thận chue về tiền âm Như Thận hư hay gặp chứng
đi tiểu luôn ở người già, chứng đái dầm ở trẻ em, chứng di tinh, ra khí hư…
Trang 32Hậu âm là nơi đại tiện ra phân, do tạng Tỳ đảm nhiệm Nhưng Tỳ dương được Thậnkhí hóa để bài tiết phân ra ngoài nên còn gọi là Thận chủ về hậu âm Nếu Thận khí hư haygặp chứng đại tiện lỏng, đại tiện táo ở người già.
2.5.6 Mệnh môn
Mệnh môn có quan hệ chặt chẽ với thận, là bộ phận rất quan trọng trong cơ thể Quan
hệ giữa Thận với Mệnh môn là quan hệ âm dương hỗ căn, thủy hỏa tương tế
Nguyên khí tiên thiên tàng ẩn ở mệnh môn cho nên mệnh môn là nguồn sinh hóa của
cơ thể Mệnh môn thịnh hay suy quan hệ đến hoạt động sinh lý của lục phủ ngũ tạng, 12kinh mạch, ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh dục của cơ thể Nếu mệnh môn suy bại,nguyên khí khô kiệt, âm dương ly quyết thì sinh mệnh cũng kết thúc
Đởm còn có chức năng về tinh thần, chủ về sự quyết đoán
Can và Đởm có quan hệ biểu lý, can chủ về mưu lự, đởm chủ về sự quyết đoán, là cơ
sở của lòng dũng cảm, tinh thần dám nghĩ, dám làm Các bệnh về can đởm hay phối hợpvới nhau
3.3 Tiểu trường
Tiểu trường có nhiệm vụ phân thanh, giáng trọc Thanh (chất trong) là chất tinh vi của
đồ ăn được hấp thụ ở tiểu trường qua sự vận hóa của tỳ đem đi nuôi dưỡng toàn thân, căn
bã sé được đưa xuống bàng quang để bài tiết ra ngoài Trọc ( chất đục) là chất cặn bã của
đồ ăn được tiểu trường đưa xuống đại trường
sẽ bị ứ kết, đường tiêu hóa không thông gây nên chứng chướng bụng, đau bụng, táo bón,miệng hôi
3.5 Bàng quang
Trang 33Bàng quang chứa đựng và bài tiết các chất cặn bã thông qua sự khí hóa và sự phối hợpvới tạng thận.
Nếu sự khí hóa của thận không tốt sẽ gây bí tiểu tiện, tiểu rắt hoặc tiểu nhiều, tiểukhông tự chủ…
3.6 Tam tiêu
Tam tiêu gồm thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu
Khái niệm về tam tiêu có hai nghĩa:
- Tam tiêu là một trong lục phủ, tức là hình thành một hệ thống kết nối trong nội bộ cáctạng phủ để vận hành nguyên khí và sơ thông thủy dịch Vì thế sự thăng giáng xuấtnhập của khí và sự phân bố, bài tiết của tân dịch đều dựa vào sự thông thoát của tamtiêu
- Tam tiêu là khái niệm đơn thuần về vị trí: từ cơ hoàng trở lên là thượng tiêu (có tạngtâm và phế), từ cơ hoành đến rốn là trung tiêu (có tạng tỳ và phủ vị), dưới rốn là hạ tiêu(tạng can và thận)
Sự hoạt động của tam tiêu biểu hiện ở sự vận hóa nước và đồ ăn:
- Ở thượng tiêu: phế chủ hô hấp và phân bố khí và chất dinh dưỡng vào huyết mạchđược tâm khí đưa đi toàn thân
- Ở trung tiêu: Tỳ vị vận hóa hấp thu đồ ăn, làm nhừ thức ăn và vận hóa chất tinh vi
- Ở hạ tiêu: Hạ tiêu đưa chất cặn bã xuống đại trường rồi hình thành nên phân mà bàitiết ra ngoài qua đường đại tiện; đưa chất thủy dịch sau khi được khí hóa của thận vàbàng quang hình thành nên nước tiểu mà bài xuất ra ngoài qua đường tiểu tiện
4 PHỦ KỲ HẰNG
Phủ kỳ hằng (kì: dị thường, hằng: thông thường) bao gồm: Não, Tủy, Cốt, Mạch, Tửcung và Đởm Hình thái kết cấu của phủ kỳ hằng phần lớn là rỗng giống như phủ nhưngcông năng lại tàng trữ tinh khí giống như tạng cho nên gọi là phủ kì hằng Đởm vốn nằmtrong phủ nhưng lại tàng trữ tinh chất dịch mật giống như tạng nên đởm còn được quy loạithuộc về phủ kỳ hằng
Phủ kỳ hằng không có quan hệ biểu lý và không được phân loại theo ngũ hành
4.1 Não, Tủy, Cốt
4.1.1 Nguồn gốc và quan hệ giữa não – tủy
“Thận sinh ra xương tủy”, “não là chỗ hội họp của tủy”, cho nên tên gọi của não và tủykhác nhau mà thực tế vẫn cùng một nguồn gốc Thận sinh được cốt tủy là vì thận khívượng, tinh dịch đầy đủ Mà nguồn gốc của tinh là nhờ thủy cốc của hậu thiên hóa ra Vìthế nguồn gốc sinh hóa của não và tủy chính là có quan hệ với tinh khí thận tạng của tiênthiên, lại có quan hệ với tinh khí thủy cốc của hậu thiên
4.1.2 Quan hệ giữa não – tủy – xương bình thường và lúc có bệnh
Sách Tố Vấn có nói: “Não là bể của tủy… bể tủy có dồi dào thì nhanh nhẹn, mạnh mẽ
và vượt mức bình thường, bể tủy không đầy đủ thì choáng óc, ù tai, choáng váng, mắt mờ,lười nhác, thích nằm”
Trang 34Xương có tính cứng rắn, chống đỡ cho cơ thể, là giàn giáo cho thân người Xươngđược tủy nuôi dưỡng mới giữ được tính cứng rắn Nếu tủy đầy đủ thì làm cho xương mạnh
mẽ, trái lại nếu tủy không đủ thì không lợi cho sự sinh trưởng của xương
Não tủy là do thận tinh sinh ra Vì thế não tủy được bình thường hoặc bị bệnh thì phảitheo sự hư hay thực tinh khí của thận tạng mà chuyển biến Nếu trong lâm sàng thấy một
số chứng trạng vì não và tủy không đầy đủ mà sinh ra thì lúc chữa cần phải bổ thận Bổthận là đã bao hàm bổ não và bổ tủy trong đó
4.2 Mạch
Mạch phân bố khắp toàn thân và có quan hệ chặt chẽ với tâm Tâm với mạch hợp táclẫn nhau mới hoàn thành được mọi việc vận hành tuần hoàn của huyết dịch Vì thế côngdụng chủ yếu của mạch có hai mặt:
- Ngăn giữ khí huyết, làm cho khí huyết vận hành theo hướng nhất định, theo quỹ đạonhất định
- Vận tải khí huyết, chuyển vận tinh hoa của đồ ăn uống để nuôi dưỡng của toàn thân
Sự vận hành của huyết là nhờ vào khí: “mạch là chỗ ở của huyết, lấy khí làm gốc” Khíhuyết nhiều hay ít, vận hành nhanh hay chậm lại có quan hệ với sự hoạt động của nội tạng,cho nên dùng phép “xem mạch” để suy đoán bệnh là một trong những phương pháp quantrọng trong việc chẩn đoán của YHCT
4.3 Tử cung
Tử cung còn gọi là bào cung, dạ con, là nơi phát sinh kinh nguyệt và nuôi dưỡng thainhi Công năng sinh lý của nó có quan hệ mật thiết đến thiên quý, mạch xung, nhâm và cáctạng tâm, can, tỳ…
Tử cung có hai công năng chính:
4.3.1 Chủ về kinh nguyệt
Con gái đến tuổi dậy thì, khí huyết ở hai mạch xung nhâm vượng thịnh cho nên bắt đầu
có kinh nguyệt Đến khoảng 49 tuổi thì thận khí bắt đầu giảm sút, khí huyết hai mạch xungnhâm đã suy kém cho nên kinh nguyệt không ra nữa Kinh nguyệt quan hệ mật thiết vớihai mạch xung nhâm vì hai mạch này đều xuất phát ở bào cung Xung nhâm không điềuhòa hoặc không giữ được khí huyết thì có thể sinh ra các chứng kinh nguyệt không đều,băng lậu hoặc kinh bế Mặt khác, quan hệ giữa bào cung với nội tạng thì mật thiết là vớiCan, Thận cho nên bệnh ở Can, Thận đều có thể gây nên chứng kinh nguyệt bất đều
4.3.2 Chủ về bào thai
Khi chưa có thai thì chủ việc hành kinh, khi có thai là bộ phận chủ yếu để bảo vệ vànuôi dưỡng thai nhi Sự nuôi dưỡng cung cấp cho thai nhi ở trong bào cung chủ yếu dựavào hai mạch xung nhâm của người mẹ bởi vì mạch xung là bể của 12 kinh mạch, mạchnhâm là bể của các âm mạch, khí huyết của hai mạch ấy đều rất đầy đủ Cho nên khi ngườiđàn bà có thai, kinh nguyệt đã đình chỉ rồi thì hai mạch xung nhâm liền chuyển nhiệm vụchủ về kinh nguyệt sang nhiệm vụ chủ về bào thai để cấp dưỡng cho thai nhi Vì vậy trongquá trình có thai, nếu thấy có các chứng động thai ra máu, trở dạ đau bụng thì thường dohai mạch xung nhâm trống rỗng, không giữ vững được thai nhi Về cách chữa phần nhiều
Trang 35dùng thuốc bổ ích xung nhâm làm cho khí huyết xung nhâm vượng thịnh đạt được mụcđích an thai.
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Chọn một câu trả lời đúng nhất cho các câu hỏi sau:
D Cười nói huyên thuyên
4 Phân thanh giáng trọc là chức năng của:
Trang 36BÀI 5 - TỨ CHẨN
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Trình bày được nội dung tứ chẩn.
2 Vận dụng được tứ chẩn vào chẩn đoán bệnh
1 ĐẠI CƯƠNG
Tứ chấn là bốn phương pháp khai thác triệu chứng lâm sàng của y học cổ truyền
Bốn phương pháp đó là VẤN - VỌNG - VĂN - THIẾT Bốn phương pháp không táchrời nhau mà thường kết hợp và bổ sung cho nhau
Mỗi thầy thuốc có những tâm đắc và kinh nghiệm vào một, hai phương pháp, thiên vềphương pháp đó nhưng để có chẩn đoán được chính xác cao cần phải tiến hành cả 4phương pháp
Nhiều trường hợp cũng phải tham khảo những chẩn đoán cận lâm sàng của y học hiệnđại ví như đếm và quan sát hình dạng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu trong những chứngbệnh về huyết, chiếu chụp X quang trong những chứng bệnh về khí, về tạng phế
2 VỌNG CHẨN (NHÌN)
Vọng chẩn là quan sát bằng mắt Nội dung vọng chẩn gồm: nhìn thần sắc, nhìn hìnhthể, nhìn cử động, nhìn môi miệng, lưỡi Trong đó quan sát mặt, lưỡi được chú trọng vìliên quan đến tạng phủ Đối với trẻ em chưa kể bệnh được, việc quan sát có vai trò quantrọng
2.1 Xem thần:
Thần thể hiện ra vẻ mặt, ánh mắt, lời nói và cử chỉ
- Còn thần : ý thức và tiếp xúc tốt, vẻ mặt tươi nhuận ánh mắt linh hoạt lời nói rõ ràng,
cử chỉ phù hợp với giao tiếp
- Không còn thần: Tinh thần mệt mỏi, thờ ơ, lãnh đạm… tiên lượng xấu, bệnh khóchữa, lâu dài
- Giả thần (hồi quang phản chiếu): Bệnh tình đang rất nặng, bỗng tỉnh táo như không
có bệnh, ánh mắt sáng, ý thức minh mẫn, trí nhớ tốt, đây là dấu hiệu bệnh nhân sắpchết
2.2 Quan sát sắc da
- Đỏ là nhiệt chứng, bệnh liên quan Tâm Nếu chỉ phớt hồng ở gò má, môi đỏ là bìnhthường hoặc âm hư hỏa vương
- Trắng bệch, tái nhợt là chứng hư hàn do âm thịnh dương hư, phế khí hư
- Xanh là khí huyết ứ trệ, đang đau đớn, bệnh thuộc can
- Vàng là chứng hoàng đản, thấp nhiệt, can kinh hoặc tỳ đàm nhiệt
- Xạm đen là dương khí suy, huyết ứ hoặc thận hư
2.3 Quan sát lưỡi (Thiệt chẩn)
Xem lưỡi là phương pháp đặc thù của Đông y, cần chú ý 3 nội dung chính là:
Hình lưỡi:
- To bè, có khi in nếp răng ở lưỡi do khí hư hoặc đàm thấp, Thận, Tỳ dương hư
Trang 37- Thon nhỏ là do âm hư, huyết hư.
- Lưỡi ngắn, rụt lại hoặc lệch là Đàm mê tâm khiếu
Chất lưỡi: Là tổ chức cơ của lưỡi, bình thường hồng nhuận
- Chất lưỡi nhạt, mềm là khí huyết hư
- Chất lưỡi đỏ là nhiệt chứng
- Chất lưỡi hồng có những điểm đỏ thẩm là huyết ứ
- Chất lưỡi đỏ thẫm là bệnh nặng đã vào tâm hệ
Rêu lưỡi: Là chất mới được tạo ra, phủ trên mặt lưới, bình thường không có hoặc rấtmỏng
- Màu sắc của rêu lưỡi: trắng mỏng bệnh thuộc biểu, rêu vàng thuộc nhiệt, lý chứng,rêu xám đen là bệnh nặng
- Tính chất rêu lưỡi: Rêu mỏng, bệnh nhẹ, bệnh ở biểu, rêu dày là bệnh ở lý, có tích trệ,rêu khô là là âm hư, tân dịch cạn, rêu ướt mỏng là phong hàn, ướt dày dính nhớt là thấptrệ
2.4 Quan sát hình thể
- Người gầy, da khô, tóc khô, móng tay mỏng gãy thường là can thận âm hư
- Người béo, da thịt bủng bệu, cử động chậm chạp là do âm thịnh, đàm trệ
3 VĂN CHẨN ( NGHE - NGỬI)
3.1 Tiếng nói:
- Nói nhỏ, đứt quãng là hư chứng, phế khí hư
- Tiếng nói to khỏe , rõ là thực chứng
- Nói mê sảng là nhiệt nhập tâm bào
3.2 Tiếng ho
- Tiếng ho khô, không thành cơn không đó đờm là phế âm hư
- Tiếng ho to, ông ông là phong hàn thúc phế
- Tiếng ho ướt, lọc xọc, ho cơn dài là đàm trọc
- Nước tiểu mùi rất khai là ăn nhiều thịt hoặc thực nhiệt
- Mùi phân ít thối, mà tanh nồng là hư hàn
- Mùi phân chua hoặc thối khẳm là thực tích, thực nhiệt
4 VẤN CHẨN (HỎI BỆNH)
Hỏi bệnh ngoài những nội dung thường quy như tên tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, thóiquen, gia đình, quá trình bệnh và đã điều trị phần hỏi đặc thù của y học cổ truyền đểphân định được hư thực, hàn nhiệt, tạng phủ
4.1 Hàn nhiệt
- Có sợ lạnh không?
Trang 38+ Mới phát sốt sợ lạnh và cảm phong hàn.
+ Bệnh lâu ngày, sợ lạnh, chân tay lạnh là dương hư
+ Lạnh vùng thắt lưng kèm tiểu đêm nhiều là thận dương hư
+ Bụng đầy ấm ách kèm chân tay lạnh, ỉa lỏng hoặc phân nát sống là Tỳ dương hư
- Có sợ nóng, có sốt không?
+ Sốt nhẹ kèm nhức đầu, sổ mũi là cảm phong hàn
+ Sốt cao về sáng và trưa, mồ hôi nhiều, kèm khát nước, thích uống nước mát là thựcnhiệt
+ Sốt nhẹ, thường về chiều và đêm kèm mồ hôi ban đêm khi ngủ là âm hư
+ Lúc sốt, lúc rét hoặc Thiếu dương chứng
4.2 Mồ hôi
- Sốt không ra mồ hôi là biểu thực, có mồ hôi là biểu hư
- Sốt cao, ra nhiều mồ hôi, khát nước là thực nhiệt
- Tự ra mồ hôi không do lao động hoặc thời tiết nóng là dương hư
- Ra mồ hôi ban đêm khi đang ngủ là âm hư
- Vàng: thấp nhiệt, dính nhớt: vong âm (bệnh nặng)
- Nửa người: Trúng phong
- Nhiều không dứt, người, chân tay lạnh: Thoát dương
4.3 Đầu, mình
- Đau đầu vùng gáy thuộc kinh Bàng quang
- Đau đầu vùng trước trán thuộc kinh Vị
- Đau nửa đầu thuộc kinh Đởm
- Đau đỉnh đầu thuộc kinh Can
- Đau quang đầu như bó chặt thuộc kinh Tỳ
- Mình đau liên miên do hàn
- Đau di chuyển do phong
4.5 Ăn uống và khẩu vị
- Không muốn ăn, ăn không tiêu, đầy bụng: Tỳ hư hay thực tích
- Ăn mát, uống lạnh: Nhiệt
- Thích ăn ấm nóng: Hàn
4.6 Ngủ
- Ngủ nhiều: Thấp trệ
- Ngủ ít, hay mơ: Huyết hư
4.7 Đại tiện, tiểu tiện
4.7.1 Đại tiện
Trang 39- Táo bón ở người khỏe thường do thực nhiệt ở người già yếu thường do âm hư, khí hư.
- Iả chảy cấp sau bữa ăn là ngộ độc thức ăn
- Phân mùi thối khẳm là tích trệ, lý nhiệt, phân tanh nồng, ít thối là do hư hàn
- Thường hay ỉa lỏng vào sáng sớm là Thận dương hư
4.7.2 Tiểu tiện
- Tiểu ít, nóng, màu đậm là thực nhiệt Tiểu nhiều, trong là hư hàn
- Đái rắt, buốt, đục là thấp nhiệt bàng quang
- Tiểu đêm nhiều lần hoặc đái dầm là thận khí hư
4.8 Khả năng nghe của tai
- Tai tự nhiên điếc thuộc thực
- Điếc dần dần lâu ngày thuộc hư
- Tai ù, nặng tai, chóng mặt là do thận hư
4.9 Kinh nguyệt, khí hư, thai, sản
- Kinh sớm trước kỳ, lượng nhiều, màu đỏ là huyết nhiệt
- Kinh muộn sau kỳ, kèm đau, màu thẩm, có cục là hàn tà, huyết ứ
- Kinh muộn, ít, màu nhạt là huyết hư
- Khí hư màu trắng đục là Tỳ Thận hàn thấp, màu vàng, mùi hôi là thấp nhiệt (nhiễmkhuẩn)
- Ý nghĩa từng bộ vị: Tay phải thuộc khí, tay trái thuộc huyết
+ Bộ thốn phải quan hệ Phế - Đại trường
+ Bộ quan phải quan hệ Tỳ- Vị
+ Bộ xích phải quan hệ Thận dương
+ Bộ thốn trái quan hệ Tâm - Tiểu trường
+ Bộ quan trái quan hệ Can - Đởm
+ Bộ xích trái quan hệ Thận âm
- Tiến hành bắt mạch
Trang 40+ Người bệnh ngồi ghế, để tay lên bàn, ngang ngực, trên một gối mỏng, hoặc nằmngửa, tư thế thỏai mái Bệnh nhân đến khám cần được nghỉ 5- 10 phút trước khi xemmạch.
+ Thầy thuốc ngồi đối diện, tay phải bắt mạch tay trái của bệnh nhân, sau đó tay tráibắt mạch tay phải bệnh nhân Ngón tay giữa đặt vào bộ quan ngang với mỏm trâmxương trụ, ngón trỏ đặt vào bộ thốn, ngón nhẫn vào bộ xích
Tập trung tư tưởng, thoạt đầu ngón tay đặt nhẹ lên mạch ( khinh án ) rồi ấn nhẹ (trungán) sau đó ấn mạnh (trọng án) Lúc đầu xem tổng quát cả 3 bộ ( tổng quan) để biết tìnhhình chung: biểu lý, hàn nhiệt, hư thực của bệnh, sau đó mới xem từng bộ vị để biết tìnhtrạng của từng tạng phủ
Các loại mạch chủ yếu
- Mạch bình thường: Khinh án đã thấy mạch đập nhẹ, trung án mạch rõ hơn, khôngnhanh, không chậm, đều đặn, không căng, cũng không mềm yếu
- Mạch nói lên vị trí nông sâu của bệnh
+ Mạch phù: ấn nhẹ mạch rõ, ấn vừa mạch hơi yếu đi, bệnh ở phần biểu
+ Mạch trầm: ấn mạnh mới thấy mạch, người béo, về mùa rét mạch thường trầm,bệnh ở phần lý
- Mạch nói lên tính chất hàn nhiệt của bệnh
+ Mạch sác: Mạch đập nhanh trên 80 lần/ phút biểu thị chứng nhiệt
+ Mạch trì: Mạch đập chậm dưới 60 lần/ phút biểu thị chứng hàn
- Mạch nói lên trạng thái thực hư của bệnh
+ Mạch thực: Mạch có lực, ấn mạnh, sức cản của mạch tăng nhưng thành mạchkhông căng cứng Biểu thị khí lực còn tốt
+ Mạch hư: ấn hơi mạnh, mạch lẫn mất, thành mạch mềm yếu Biểu thị khí lực kém
- Một số mạch khác
+ Mạch hoạt: Luồng máu chạy trơn tru, thanh thoát, biểu thị tân dịch, khí huyết đồidào hoặc đàm thấp Tắt kinh, mạch hoạt là đã có thai
+ Mạch sáp: luồng máu chạy khó khăn Biểu thị tân dịch cạn, khí huyết ứ trệ
+ Mạch huyền: Mạch căng cứng như giây đàn Biểu thị Can khí uất, hoặc bệnh nhânđang đau Mạch huyền thường gặp trong bệnh xơ cứng động mạch, tăng huyết áp.+ Mạch nhu: Mạch yếu hơn cả mạch hư, thành mạch như không còn sức cản khi tayấn
+ Mạch hồng đại: mạch nổi to và mạnh, biểu thị thực nhiệt, đang sốt cao, sức đềkháng còn tốt
+ Mạch vi tế: mạch rất trầm và nhỏ, ấn sâu mới thấy biểu thị khí huyết hư, sức đềkháng rất yếu
Trên thực tế lâm sàng, các mạch thường kết hợp ví như mạch phù hoạt hoặc mạch trầm
tế sác
5.2 Sờ nắn