1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả rút dẫn lưu ngày 4 kết hợp băng ép sau mổ cắt toàn bộ tuyến vú do ung thư có nạo vét hạch nách tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng

4 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả rút dẫn lưu ngày 4 kết hợp băng ép sau mổ cắt toàn bộ tuyến vú do ung thư có nạo vét hạch nách tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng
Tác giả Phạm Hồng Thắng, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Thu Phương, Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Bá Mạnh, Đỗ Thị Phương Chung, Trần Quang Hưng, Lê Minh Quang
Người hướng dẫn ThS.BS. - Trung tâm Ung Bướu - Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng, PGS.TS.GĐ Trung tâm Ung Bươu - Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng
Trường học Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng
Chuyên ngành Chăm sóc và điều dưỡng
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 10,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đánh giá kết quả rút dẫn lưu ngày 4 kết hợp băng ép sau mổ cắt toàn bộ tuyến vú do ung thư có nạo vét hạch nách tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng trình bày đánh giá kết quả rút ống dẫn lưu ngày 4 kết hợp băng ép sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, nạo vét hạch nách do ung thư.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ RÚT DẪN LƯU NGÀY 4 KẾT HỢP BĂNG ÉP SAU MỔ CẮT TOÀN BỘ TUYẾN VÚ DO UNG THƯ CÓ NẠO VÉT HẠCH NÁCH TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG

PHẠM HỒNG THẮNG1, NGUYỄN THỊ THU THỦY1, NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG1, NGUYỄN ĐỨC HƯNG1, NGUYỄN BÁ MẠNH1, ĐỖ THỊ PHƯƠNG CHUNG1,

TRẦN QUANG HƯNG2, LÊ MINH QUANG3

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Trong theo dõi và chăm sóc người bệnh, thời điểm rút ống dẫn lưu sau phẫu thuật ung thư vú là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả điều trị Rút ống dẫn lưu ngày 4 kết hợp băng ép đối với những bệnh nhân sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, nạo vét hạch nách do ung thư được áp dụng khá rộng rãi tại Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp

Mục tiêu: Đánh giá kết quả rút ống dẫn lưu ngày 4 kết hợp băng ép sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, nạo vét hạch nách do ung thư

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 41 người bệnh nữ được chẩn đoán là ung thư vú được phẫu

thuật cắt toàn bộ tuyến vú, nạo vét hạch thường quy

Kết quả: 100% (41) bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu không có nhiễm trùng trước và sau rút ống dẫn lưu

vết mổ, 5 bệnh nhân (12%) có tụ dịch vết mổ sau 7 ngày và 3 bệnh nhân (7%) có tụ dịch vết mổ sau 14 ngày

Kết luận: Rút dẫn lưu ngày thứ 4 sau mổ kết hợp băng ép tại chỗ là an toàn, giúp giảm bớt biến chứng tụ

dịch sau phẫu thuật Theo dõi, chăm sóc rút dẫn lưu sớm sau mổ nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, rút ngắn thời gian nằm viện, hạn chế nhiễm trùng vết thương nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh

SUMMARY

Background: Postoperative follow-up care is one of the important requirements that contribute to improved

postoperative efficacy Drains are removed at the 4 th day using local compressive bandage was widely applied

in breast cancer surgery at the Oncology Center of Viet Tiep Hospital

The goals: Evaluate the drains are removed at the 4 th day using local compressive bandage after breast

cancer surgery

Subjects of research: F rom 41woman patients in breast cancer surgery

Results: 100% (41 patients) in the study group had no infection before and after removal of drainage All

drains are removed at the 4 th day using local compressive bandage in breast cancer surgery Seroma

accounted for 12% (5 patients) after 7 days and 7% (3 patients) after 14 days

Conclution: Drains are removed at the 4 th day using local compressive bandage in breast cancer surgery

is safely, reduce the rate of seroma in comparing with regular drainage withdraw and improve the quality of life for breast cancer patients

1CNĐD - Trung tâm Ung Bướu - Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên thế giới, trong nước cũng như ở Hải

Phòng, ung thư vú là một trong những bệnh ung thư

phổ biến, là bệnh có tỷ lệ mắc cao hàng đầu ở nữ Phẫu thuật là một phương pháp điều trị hiệu quả đối với ung thư vú đặc biệt khi bệnh ở giai đoạn sớm

Trang 2

Hàng năm tại Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện

Hữu Nghị Việt Tiệp phẫu thuật từ 100 đến150 bệnh

nhân ung thư vú Trong theo dõi chăm sóc người

bệnh, rút ống dẫn lưu sau phẫu thuật là một trong

những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu

quả điều trị, hạn chế nhiễm trùng vết thương nâng

cao chất lượng cuộc sống của người bệnh

Tại Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Hữu Nghị

Việt Tiệp đối với những bệnh nhân sau phẫu thuật

cắt toàn bộ tuyến vú do ung thư, nạo vét hạch nách

việc rút ống dẫn lưu ngày 4 kết hợp băng ép được

áp dụng khá rộng rãi để khắc phục một trong những

biến chứng là tụ dịch tại diện cắt vú và vùng nách

Khác với thông thường rút dẫn lưu vào ngày thứ 7

sau mổ, tùy theo lượng dịch tiết ra nhiều hay ít

Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm:

Đánh giá kết quả của việc rút dẫn lưu ngày 4

kết hợp băng ép sau mổ cắt toàn bộ tuyến vú do

ung thư có nạo vét hạch nách

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

41 người bệnh nữ được chẩn đoán là ung thư

vú được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, nạo vét

hạch nách thường quy và được rút ống dẫn lưu

ngày 4, kết hợp băng ép

Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân nữ, chẩn đoán là ung thư vú

Được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, nạo vét

hạch

Tiêu chuẩn loại trừ

Phẫu thuật bảo tồn

Phẫu thuật tạo hình

Biến chứng sau phẫu thuật (chảy máu, nhiễm

trùng vết mổ)

Dịch hút từ ống dẫn lưu >40ml trong 24h ngày 4

Cách thức tiến hành và phương pháp thu thập

số liệu

Bảng thu thập số liệu (Phụ lục)

Rút dẫn lưu theo y lệnh và qui trình: Loại bỏ các

yếu tố cố định chân ống dẫn lưu Xoay ống dẫn

lưu Kẹp ống dẫn lưu (tránh dịch chảy ngược dòng

vào vết mổ), rút từ từ, ống dẫn lưu dài rút đến đâu

kẹp đến đó Khi rút chú ý lót gạc dưới chỗ chân

ống dẫn lưu  Sát khuẩn lỗ chân ống dẫn lưu, đắp

gạc rồi băng lại

Sử dụng băng thun được dùng rộng rãi trong các bệnh viện loại 3 móc với độ co dãn cao 180% đến 200% so với kích thước ban đầu, mềm mại, thoát mát, không gây kích ứng cho người sử dụng Sau khi thay băng, theo dõi vết mổ như thường qui dùng băng thun quấn giữ băng vừa phải, quanh ngực, ép vết mổ, chỗ dẫn lưu đủ chặt (bệnh nhân hít thở dễ dàng) rồi cố định

Thời gian nghiên cứu

Tiến hành từ tháng 4/2016 - T4/2017

Địa điểm nghiên cứu

Tại Trung Tâm Ung Bướu Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả can thiệp không đối chứng

- Chọn mẫu: Thuận tiện

- Xử lý số liệu thu thập được theo phần mềm SPSS 20.0

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được sự cho phép của Hội đồng khoa học bệnh viện

Người bệnh được giải thích rõ về nghiên cứu và

tự nguyện tham gia nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu để phục vụ người bệnh tốt hơn

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN Các thông tin chung và đặc điểm của nhóm người bệnh nghiên cứu

Trang 3

B iểu đồ 1 Phân loại nhóm tuổi

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu 41 bệnh nhân qua biểu đồ 1 chúng ta thấy đa phần người bệnh ung thư vú

ở nhóm tuổi >45T chiếm 65%, không có bệnh nhân <35T và 35% bệnh nhân từ 35-45T Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả khác[2]

Bảng 1 Đánh giá Chỉ số khối cơ thể

(Body Mass Index- BMI) của tổ chức

Y tế thế giới

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu ở bảng 1 thấy

rằng 65% bệnh nhân có BMI 18-23, 4 bệnh nhân

chiếm 10% có BMI>23 Tuy nhiên vẫn có 25% bệnh

nhân có BMI<18 điều này có 2 khả năng: Một là đa

số bệnh nhân trong nghiên cứu ở nông thôn Hai là

giảm cân do mắc ung thư và lo lắng suốt quá trình

khám và chẩn đoán bệnh gây nên

Bảng 2 Đánh giá giai đoạn bệnh trước phẫu thuật

T2(2<u ≤5cm) 19 46

N0( không sờ thấy hạch) 27 65

N1(thấy hạch nách cùng bên, di động) 14 35

Nhận xét: Qua bảng số liệu cho thấy phần lớn

người bệnh ung thư vú được phát hiện và can thiệp

điều trị ở giai đoạn T2 (46%) chưa sờ thấy hạch N0

(65%) Giai đoạn T1 (34%) thể hiện người bệnh

được phát hiện và điều trị sớm chỉ ở mức hạn chế

cần tăng cường GDSK và khám sàng lọc ung thư

tuyến cơ sở

Bảng 3 Đánh giá mức độ nạo vét hạch

Nhận xét: Qua kết quả bảng 3 thấy rằng 93% bệnh nhân được vét hạch mức 2, chỉ 7% bệnh nhân vét hạch mức1 (3 bệnh nhân có nạo vét hạch nách ở mức độ 1 đều không có tụ dịch) chứng tỏ mức độ nạo vét hạch ít nhiều có ảnh hưởng đến tụ dịch sau phẫu thuật

Đánh giá kết quả của việc rút dẫn lưu ngày 4 có băng ép

Bảng 4 Đánh giá lượng dịch ống dẫn lưu

sau PT ngày 4

>20-40ml 25 60

Nhận xét: Kết quả từ bảng 5 lượng dịch còn sau

4 ngày >20ml chiếm 60% và 10-20ml là 29% và

<10ml là 11% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các tác giả khác trong và ngoài nước[5,6]

Bảng 5 Đánh giá thời gian nằm viện sau PT

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu bảng 5 cho thấy

đa số bệnh nhân được ra viện từ 7-10 ngày sau phẫu thuật, chiếm 92,7%, chỉ có 7,3% bệnh nhân ra viện sau phẫu thuật 10 ngày thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, từ phẫu thuật viên và điều dưỡng, thực hiện đúng qui trình chuyên môn đem lại hiệu quả cao trong điều trị Ra viện sau 10 ngày có 3 bệnh nhân, đều trong nhóm còn tụ dịch và sưng nề vết mổ Điều

đó chứng tỏ việc rút dẫn lưu ngày thứ 4 sau mổ kết hợp băng ép tại chỗ là an toàn, thuận lợi trong chăm

Trang 4

và hút dịch kéo dài cũng là yếu tố kích thích tiết dịch

và làm kéo dài thời gian làm liền vết thương)

Biểu đồ 2 Tỷ lệ tụ dịch sau rút dẫn lưu ngày thứ 4

Nhận xét: Kết quả ở biểu đồ 2 thấy rằng 3 bệnh

nhân (7%) có tụ dịch sau 14 ngày và 5 bệnh nhân

chiếm 12% có tụ dịch vết mổ sau 7 ngày rút dẫn lưu

Điều đó cho thấy hiệu quả của việc băng ép và rút

dẫn lưu ngày thứ 4 đã làm giảm biến chứng tụ dịch

sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, nạo vét hạch

nách Tỉ lệ này giao động từ 15%-55% ở rút dẫn lưu

thông thường[1,3,6]

Tỉ lệ tụ dịch sau phẫu thuật ngoài yếu tố cơ địa,

thể trạng, cách thức phẫu thuật, bên cạnh đó dịch tụ

sau rút dẫn lưu sẽ thay đổi tùy việc dùng băng có đủ

tiêu chuẩn hay không, kỹ thuật quấn băng, có rút

dịch theo qui trình, tạo áp suất âm thường xuyên, kịp

thời hay không cũng ảnh hưởng đến số lượng dịch

tụ và thời gian làm liền vết thương

Rút dẫn lưu ngày thứ 4 mang lại sự an tâm,

thoải mái cho người bệnh trong chăm sóc và

sinh hoạt

Bệnh nhân sau mổ nói chung đều được theo

dõi, thăm khám định kỳ Những trường hợp có tụ

dịch chúng tôi thăm khám và đánh giá qua hình ảnh

siêu âm nếu có dịch tụ dùng bơm tiêm 20ml và kim

lấy thuốc chọc hút dịch tại chỗ, rồi băng ép lại thì sau

2 đến 3 lần hút dịch vết mổ cũng trở lên liền tốt

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu việc rút dẫn lưu ngày 4 kết hợp

băng ép sau mổ cắt toàn bộ tuyến vú do ung thư có

nạo vét hạch nách chúng tôi rút ra một số kết luận

sau:

Biến chứng tụ dịch có 3 bệnh nhân (7%) có tụ

92,7% bệnh nhân được ra viện sau phẫu thuật từ 7-10 ngày

Rút dẫn lưu ngày thứ 4 sau mổ kết hợp băng ép tại chỗ là an toàn, giúp giảm bớt biến chứng tụ dịch

và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, nạo vét hạch nách do ung thư

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ y tế (1997), Điều dưỡng cơ bản Nhà xuất

bản Y học, Hà Nội

2 Nguyễn Bá Đức “Chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân ung thư”

3 Clegg-Lamptey JN, Dakubo JC, Hodasi WM.(2007) “Comparison of four-day and ten-day post-mastectomy passive drainage in Accra, Ghana” East Afr Med J 2007 Dec; 84(12)

4 Ebner F, DeGregorio N, Vorwerk E (2014),

“Should a drain be placed in early breast cancer surgery?” Breast can (base) 2014 May; 9(2); 116 (22)

5 Von Hagt D, Ponniah K (2015) “Seven day drains vs, four day drains in breast cancer surgery- the incidence of seroma at the breast center, sir Charles Gairdner hospital, Perth” World Cogress onControversies in breast cancer 2015: 57

6 Lê Minh Quang(2016) “Nghiên cứu so sánh rút

dẫn lưu sớm kết hợp băng ép với dẫn lưu thường quy sau mổ cắt toàn bộ tuyến vú nạo vét

Ngày đăng: 25/10/2022, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w