Bài viết Biểu hiện Keratin 4 trong biểu mô bình thường và ung thư tế bào gai niêm mạc miệng trình bày việc xác định tỉ lệ và mức độ biểu hiện Keratin 4 trong ung thư tế bào gai niêm mạc miệng và biểu mô miệng bình thường.
Trang 1BIỂU HIỆN KERATIN 4 TRONG BIỂU MÔ BÌNH THƯỜNG VÀ UNG
THƯ TẾ BÀO GAI NIÊM MẠC MIỆNG
NGUYỄN THỊ NGUYỆT ÁNH1, NGUYỄN CHẤN HÙNG2, NGUYỄN VĂN THÁI3, NGUYỄN THỊ HỒNG4
TÓM TẮT
Mở đầu: Keratin đóng vai trò quan trọng trong nhiều chức năng của tế bào Mỗi loại mô biểu hiện một bộ
keratin đặc hiệu Keratin 4 đặc hiệu định hướng giai đoạn biệt hóa sau cùng của biểu mô gai niêm mạc miệng
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ và mức độ biểu hiện keratin 4 trong ung thư tế bào gai niêm mạc miệng và biểu mô
miệng bình thường
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 130 ca ung thư tế bào gai niêm mạc miệng được
điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM Nhuộm hóa mô miễn dịch, đánh giá biểu hiện keratin 4 trong mô ung thư và biểu mô miệng bình thường ở rìa diện cắt của bệnh phẩm phẫu thuật
Kết quả: Mô bình thường biểu hiện keratin 4 dương tính mạnh và đồng nhất, với tỉ lệ trung bình 94,1% Mô
ung thư giảm keratin 4 rất nhiều so với mô bình thường (p <0,001), có đến 93,1% mất biểu hiện keratin 4 (độ 3), trong đó 52,3% mất hoàn toàn keratin 4 Tỉ lệ keratin 4 khác biệt không có ý nghĩa giữa các đặc điểm lâm sàng, các grad mô học của ung thư (p > 0,05)
Kết luận: Mất biểu hiện keratin 4 trong ung thư tế bào gai niêm mạc miệng so với biểu mô bình thường gợi
ý biểu hiện hóa mô miễn dịch keratin 4 có tiềm năng sử dụng trên lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán phân biệt niêm mạc miệng lành-ác khách quan về mặt sinh học
Từ khóa: Keratin 4, ung thư tế bào gai niêm mạc miệng, biểu mô miệng bình thường
ABSTRACT
Keratin 4 expression in oral normal epithelium and squamous cell carcinoma
Background: Keratins play a major role in several cellular functions Each tissue type expresses a specific
set of keratins Keratin 4 is the keratin specific for the final stage of differentiation of oral stratified squamous epithelium
Objective: To determine the prevalence and expression levels of keratin 4 in oral squamous cell carcinoma (OSCC) and in normal oral epithelium
Materials and methods: The cross-sectional study was conducted on 130 OSCC patients treated by
surgery at the Oncology Hospital at Ho Chi Minh city Paraffin-embedded tissue surgical specimens were immunohistochemically stained for keratin 4 The K4 expression in OSCC and normal epithelium at the surgical margin was evaluated
Results: In normal epithelium, keratin 4 staining showed a homogenous and strong expression, with the
mean value of 94.1% In OSCCs, keratin 4-positivity was significantly decreased when compared to normal oral mucosa (p <0.001), up to 93.1% of cases lost keratin 4 expression, of which 52.3% was completely absent The keratin 4 expression was not significantly different regarding to clinical features, histopathological grades of OSCC (p> 0.05)
1 Giảng viên Bộ môn Bệnh Học Miệng, Khoa Răng Hàm Mặt - Đại học Y Dược TP.HCM
2Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam
3BSCKI Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM
4 PGS.TS Trưởng Bộ môn, Phụ trách Sau Đại học-Khoa Răng Hàm Mặt - Đại học Y Dược TP.HCM
Trang 2Conclusions: Loss of keratin 4 expression in OSCC, in contrast to normal epithelium, suggests that
keratin 4 immunohistochemical expression may have clinical potential which enhances in the differential diagnosis between benign and malignant oral mucosa, subjectively
Key words: Keratin 4, oral squamous cell carcinoma, normal oral epithelium
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư niêm mạc miệng (UTNMM) là một bệnh
ác tính phổ biến, đa số là carcinôm tế bào gai (hơn
90%)12 Điều trị thường không hiệu quả cao do
thường xảy ra tái phát và di căn, thậm chí ở những
bướu nhỏ Tác hại của những tác nhân sinh ung thư
như thuốc lá, rượu, gây ra môi trường ung thư hóa
khiến cho dễ tái phát và xuất hiện ung thư thứ hai
Do đó, hiểu rõ cơ chế phân tử về bệnh sinh và diễn
tiến ung thư sẽ giúp cải thiện điều trị bệnh
Các keratin (còn gọi là cytokeratin) là những sợi
trung gian trong biểu mô gai, giữ vai trò quan trọng
đối với sự ổn định, hình dạng và di cư của tế bào, sự
dẫn truyền các tín hiệu trong tế bào4,6 Trong số các
keratin, keratin 4 (K4) là thành phần đặc biệt quan
trọng cho giai đoạn biệt hóa sau cùng của biểu mô
gai lát tầng niêm mạc miệng4,6 Những nghiên cứu
gần đây cho thấy có sự giảm biểu hiện keratin 4 (K4)
trong ung thư vùng đầu cổ8,9,12,13 Schaaij-Visser và
c.s (2009) báo cáo biểu hiện K4 thấp ở rìa diện cắt
liên quan với tái phát tại chỗ của UTNMM10 Enokida
và c.s (2017) tìm thấy mất biểu hiện K4 liên quan
với giảm thời gian sống còn ở bệnh nhân UTNMM3
Để đánh giá tình trạng protein keratin 4 trong
UTNMM ở người Việt Nam và NMMBT (niêm mạc
miệng bình thường) ở rìa diện cắt có thực sự an
toàn về mặt sinh học protein keratin 4, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu này với mục tiêu: (1) Xác định tỉ lệ
và mức độ biểu hiện keratin 4 trong UTNMM và
NMMBT, (2) Phân tích liên quan giữa biểu hiện
của UTNMM
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích 130
trường hợp ung thư tế bào gai niêm mạc miệng
được điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM từ
tháng 9 năm 2013 đến tháng 6 năm 2015
Mẫu nghiên cứu gồm 130 trường hợp UTNMM
phẫu thuật cắt rộng bướu nguyên phát, trong đó 111
trường hợp (84,6%) có hiện diện NMMBT ở rìa diện
ngâm cố định trong formalin đệm pH trung tính, xử lý
mô, đúc khối paraffin, cắt lát mỏng 4 µm, nhuộm
Hematoxylin - Eosin (HE) và chẩn đoán mô bệnh
học
Thực hiện kỹ thuật tissue microarray (MTA), mỗi microarray chứa 20 mẫu mô khác nhau trong đó có
đã biết cho kết quả K4 dương tính) Sau đó, đúc khối paraffin, cắt lát mỏng 4 µm, trải trên phiến kính có
LSAB tại Labo Bệnh học miệng Đại học Y Nha Tokyo (Nhật Bản), sử dụng kháng thể đơn dòng kháng keratin 4 (Abcam, Hoa Kỳ) (clone [EP1599Y] ab51599, pha loãng 1:500) và kit EnVision+Dual link system-HRP (Dako, Đan Mạch) Mỗi đợt nhuộm có chứng dương là nội chứng và chứng âm (thay thế kháng thể kháng K4 bằng dung dịch PBS)
Mẫu nhuộm được đánh giá bởi hai bác sĩ có kinh nghiệm về giải phẫu bệnh Sau khi đánh giá độc lập, hai bác sĩ này đối chiếu kết quả và đồng thuận kết quả cuối cùng, với tỉ lệ thống nhất 100% Tế bào biểu mô biểu hiện K4 dương tính khi bào tương nhuộm màu nâu DAB phát hiện phức hợp kháng nguyên-kháng thể, K4 âm tính khi bào tương chỉ
nhuộm màu xanh Hematoxylin Đánh giá tỉ lệ % và
K4 dương tính khi có tỉ lệ K4 ≥ 5% (Enokida và c.s., 2017)12
Bảng 1 Đánh giá biểu hiện keratin 4
Biểu hiện Keratin 4
Vị trí
2: Tế bào gai
Tỉ lệ % Tỉ lệ % của số tế bào K4 dương tính trên tổng số tế bào đếm được
trong 10 vi trường ×400
Mức độ
Độ 1 (bảo tồn được K4) = 70 - 100%
Độ 2 (trung bình) = 30 - 69%
Độ 3 (mất biểu hiện K4) = 0 - 29%
Nhập và xử lý dữ liệu bằng phần mềm Excel và STATA 14.0 Liên quan có ý nghĩa khi p < 0,05
KẾT QUẢ Đặc điểm mẫu nghiên cứu UTNMM
Trang 3UTNMM gồm 82 nam và 48 nữ, với tỉ lệ nam/nữ
là 1,7:1; độ tuổi trung bình 56,9 ± 13,5 tuổi, đa số
(90%) trên 40 tuổi, nhỏ nhất 25 tuổi và cao nhất 88
tuổi
Ung thư thường xảy ra nhất ở lưỡi (49,2%) Ở
nam thường gặp ung thư ở lưỡi (43,9%), sàn miệng
(28%) và nướu răng (14,6%); trong khi ở nữ thường
gặp ung thư lưỡi (58,3%), môi (20,8%) và niêm mạc
má (12,5%) (Kiểm định chính xác Fisher, p < 0,001)
Tỉ lệ di căn hạch cổ là 30% Về giai đoạn ung
thư, có 19,2% ở giai đoạn 1; 36,2% giai đoạn 2;
19,2% giai đoạn 3; và 25,4% giai đoạn 4 Ở nữ, ung
thư giai đoạn sớm (37,5% giai đoạn 1; 29,2% giai
đoạn 2) hơn ở nam (8,6% giai đoạn 1; 40,2% giai
đoạn 2; 19,5% giai đoạn 3; 31,7% giai đoạn 4) (Kiểm
định chính xác Fisher, p < 0,001)
Đa số là carcinôm tế bào gai grad 1 (43,1%) và
grad 2 (49,2%), ít gặp grad 3 (7,7%)
Keratin 4 trong NMMBT
Biểu hiện K4 trong toàn bộ mẫu NMMBT có sự
nhất quán về mức độ và vị trí
Trong NMMBT, tất cả tế bào gai cho đến lớp bề
mặt biểu mô biểu hiện K4 dương tính với cường độ
mạnh, liên tục và đồng nhất; trong khi các tế bào đáy
và cận đáy không biểu hiện K4 Về mức độ, đa số
(70 ca; 63,1%) có tỉ lệ K4 dương tính 100%, các ca
còn lại (41 ca; 36,9%) giảm K4 nhưng vẫn bảo tồn
trên 75% (độ 1)
Tỉ lệ K4 trong NMMBT khác nhau không có ý
nghĩa thống kê giữa các độ tuổi, giữa nam và nữ,
giữa các vị trí trong miệng (p > 0,05)
Keratin 4 trong UTNMM
Hầu hết tế bào ung thư mất protein K4 nên biểu
hiện K4 trong UTNMM bị giảm rất nhiều, đa số
(93,1%) biểu hiện K4 dưới 30% (độ 3); chỉ có 8 ca
(6,1%) biểu hiện K4 từ 30-50% (độ 2) và 1 ca (0,8%)
còn bảo tồn được K4 tỉ lệ 90% (độ 1)
Trong mô ung thư còn biểu hiện dương tính K4,
biểu hiện không đồng nhất, phân tán vài chỗ trong
mô bướu, chủ yếu ở trung tâm ổ tế bào ung thư,
hoặc ở các tế bào gai quanh cầu sừng Riêng một
trường hợp còn bảo tồn được K4 cao có cường độ
nhuộm đậm, đồng nhất gần giống trong NMMBT
So sánh K4 trong UTNMM với NMMBT
Biểu hiện K4 trong UTNMM khác biệt rất có ý
nghĩa so với trong NMMBT (p < 0,001) (Bảng 2) Tỉ
lệ % trung bình K4 dương tính ở NMMBT là 94,1%,
bị giảm rất nhiều ở UTNMM (p < 0,001)
Bảng 2 Biểu hiện K4 trong UTNMM và NMMBT
N=130
Bình thường
Tỉ lệ % K4
Trung bình (độ lệch chuẩn) 6,3 (12,7) 94,1 (8,4) <0,001 a
Trung vị (khoảng tứ vị) 0 (0 - 5) 100 (90 - 100) <0,001 b
a Kiểm định t bắt cặp; bKiểm định Wilcoxon Signed Rank
Trong mô ung thư, tỉ lệ % K4 dương tính giảm rất nhiều:
68 ca (52,3%) mất hoàn toàn K4 và 17 ca (13,1%) biểu hiện K4 rất thấp từ 1 - 4% (độ 3);
ca (0,8%) độ 1; 8 ca (6,1%) độ 2; 36 ca (27,7%) độ
3
Ngược lại, tất cả 111 ca NMMBT luôn biểu hiện
K4 cao, từ 75 - 100% (độ 1) (p < 0,001) (Biểu đồ 1)
Biểu đồ 1 Tỉ lệ % K4 dương tính trong UTNMM và
NMMBT
Liên quan K4 với lâm sàng, giải phẫu bệnh UTNMM:
Biểu hiện K4 khác biệt không có ý nghĩa thống
kê giữa các nhóm tuổi, các thói quen nguy cơ, vị trí
và kích thước bướu nguyên phát, tình trạng di căn hạch, giai đoạn ung thư, độ ác tính (grad) mô học
của ung thư (p > 0,05) (Bảng 3)
Trang 4Bảng 3 Liên quan K4 với lâm sàng, giải phẫu bệnh của UTNMM
Đặc điểm
Biểu hiện K4 trong UTNMM
p Tổng
Số ca (%)
Độ 1
N = 3
Độ 2
N =10
Độ 3
N =117
Các thói quen
Trang 5Giai đoạn 0,467 a
a Kiểm định ANOVA; b Kiểm định t hai mẫu độc lập
Tỉ lệ trung bình K4 dương tính giảm dần khi
grad mô học ung thư tăng: tỉ lệ K4 trong nhóm grad
1 là 7,1%, giảm còn 5,9% trong nhóm grad 2, và
4,5% trong nhóm grad 3, tuy nhiên sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê (Kiểm định ANOVA,
p = 0,797)
BÀN LUẬN
Protein là những chỉ dấu sinh học tiềm năng vì
nó tham gia vào các hoạt động của tế bào nhiều hơn
so với DNA và RNA Keratin 4 và K13 là cặp keratin
đặc hiệu cho giai đoạn biệt hóa sau cùng của tế bào
sừng niêm mạc miệng, trong đó K4 nhạy hơn về sự
rối loạn điều hòa biệt hóa8 K4 do gen KRT4 mã hóa
Gần đây, trong nghiên cứu phân tính tương quan
giữa biểu hiện dương tính protein K4 với biểu hiện
của gen KRT4, Enokida và c.s (2017) đã xác định
ngưỡng cắt cho protein K4 dương tính là 5%, kết
quả tỉ lệ K4 dương tính trong UTNMM là 31,5%
(40/127 ca)3 Nghiên cứu của chúng tôi cũng tìm
thấy kết quả tương tự, chỉ có 34,6% UTNMM biểu
hiện K4 dương tính trên 5% Tỉ lệ K4 âm tính (dưới
5%) cao như 68,5% (Enokida và c.s.)3 hay 65,4%
(nghiên cứu này) phản ánh tình trạng mất protein K4
làm cho tế bào không thể biệt hóa trưởng thành bình
thường Sự rối loạn biệt hóa tế bào làm thay đổi hình
dạng và chức năng của tế bào là đặc trưng của tế
bào ác tính
Tính chính xác tỉ lệ K4 dương tính phức tạp và
mất thời gian cho nên để thuận tiện thực hành,
Takashima và c.s (2012) đề nghị thang đánh giá
bán định lượng K4 với ba mức độ 1, 2, 3 dựa trên tỉ
lệ % tế bào dương tính K4, các tác giả kết luận độ 3
gợi ý tổn thương tân sinh trong biểu mô nguy cơ
cao, độ 1 gợi ý tổn thương nguy cơ thấp2 Áp dụng
thang bán định lượng K4 này, với độ dao động trong
một mức độ K4 khoảng 30%, nghiên cứu của chúng
tôi tìm thấy sự khác biệt rõ rệt biểu hiện K4 giữa
NMMBT (Tất cả biểu hiện K4 cao trên 75% - độ 1) với UTNMM (đa số 93,1% biểu hiện K4 thấp dưới 30% - độ 3) Kết quả cho thấy thang đánh giá K4 của Takashima và c.s (2012) nhạy trong chẩn đoán UTNMM và và đặc hiệu phân biệt rõ với NMMBT Khảo sát K4 trong NMMBT có thể ở người không ung thư2,8 hoặc ở rìa diện cắt bệnh phẩm phẫu thuật ung thư4,10,12 Nghiên cứu này sử dụng NMMBT ở rìa diện cắt cho kết quả biểu hiện K4 dương tính mạnh, nhuộm màu nâu đậm của DAB,
và khá đồng nhất từ lớp gai đến lớp bề mặt, với tỉ lệ trung bình dương tính K4 là 94,1 ± 8,4% Kết quả này nhất quán với đa số nghiên cứu trên thế giới ghi nhận tỉ lệ biểu hiện K4 mạnh trong NMMBT từ 85% đến 100%1,2,8,11,10,112
Ngược lại với biểu hiện mạnh của K4 trong mô NMMBT, mô ung thư rất ít biểu hiện K4 (trung vị 0%, khoảng tứ vị 0-5) Có đến 99,2% UTNMM giảm biểu hiện K4 dưới 70% (độ 2 và độ 3), trong đó 93,1% biểu hiện K4 thấp dưới 30% (độ 3), thậm chí mất hoàn toàn K4 (52,3%) Tỉ lệ này tương đương tỉ lệ 100% của Ohkura và c.s (2005)7, Schaaij-Visser và c.s (2009)10, Sakamoto và c.s (2011)8, Fuzele và c.s (2013)4 Trong mô ung thư, hầu hết các tế bào ung thư âm tính K4 mặc dù đôi khi có vài ổ ung thư với các tế bào biểu hiện K4 phân tán Chỉ có một trường hợp bảo tồn K4 được 90% (độ 1) là carcinôm
tế bào gai grad 1 Nhờ có khả năng bảo tồn được K4, các tế bào ung thư biệt hóa cao về hình dạng và chức năng tạo cầu sừng, dẫn đến kiểu hình độ ác tính thấp (grad 1)
Mặt khác, kết quả nghiên cứu này còn cho thấy xét nghiệm hóa mô miễn dịch keratin 4 là phương pháp chẩn đoán khách quan và hữu ích đối với chẩn đoán mô bệnh học để nhận diện NMMBT ở rìa diện cắt, xác định giá rìa diện cắt an toàn, phẫu thuật ung thư đủ rộng Biểu hiện K4 ở rìa diện cắt dưới 70% là
Trang 6chỉ điểm sự bất thường, rối loạn biệt hóa của tế bào
cho dù về hình thái tế bào biểu mô vẫn bình thường
Nghiên cứu của Schaaij-Visser và c.s (2009) cung
cấp bằng chứng biểu hiện K4 thấp ở rìa diện cắt liên
quan với tái phát tại chỗ của UTNMM10 Như vậy,
đánh giá biểu hiện K4 ở rìa diện cắt có thể cung cấp
thêm thông tin để tiên lượng tái phát, định hướng xử
trí tiếp theo và theo dõi tái khám
Ngoài giá trị chẩn đoán, giá trị tiên lượng tái
phát nêu trên, xét nghiệm hóa mô miễn dịch keratin
4 trong UTNMM còn được tiếp tục bổ sung giá trị
tiên lượng sống còn qua nghiên cứu gần đây
Enokida và c.s (2017) tìm thấy biểu hiện K4 liên
quan với tiên lượng sống còn không tái phát và với
tiên lượng sống còn không bệnh ung thư (p < 0,05):
biểu hiện K4 cao dự đoán tiên lượng sống còn thuận
lợi cho bệnh nhân3 Một số nghiên cứu báo cáo độ
ác tính mô học tăng tỉ lệ nghịch với tỉ lệ K4 dương
tính1 Trong nghiên cứu này, mặc dù tỉ lệ K4 dương
tính giảm dần từ nhóm có độ ác tính thấp nhất grad
1 (7,1%), tiếp theo là grad 2 (5,9%) đến thấp nhất
trong nhóm grad 3 (4,5%) nhưng sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Mặt khác, tình
trạng biểu hiện K4 trong UTNMM không khác biệt rõ
giữa các độ tuổi, giữa nam và nữ, thói quen nguy
cơ, vị trí bướu, tình trạng di căn hạch, giai đoạn ung
thư (p > 0,05) Điều này cho thấy tính nhất quán về
tình trạng mất biểu hiện K4 trong UTNMM, gợi ý K4
có thể là một dấu ấn sinh học chẩn đoán UTNMM có
tính độc lập cao-bất kể tuổi, giới, thói quen nguy cơ,
vị trí, giai đoạn lâm sàng cũng như độ ác tính mô
học của ung thư Kết quả này cũng gợi ý bất thường
K4 xảy ra sớm trong quá trình sinh ung thư, và khi
đã thành ung thư thì K4 không bị ảnh hưởng bởi các
yếu tố như tình trạng di căn hạch, giai đoạn ung thư
Sự hằng định này của K4 có thể là một yếu tố thuận
lợi để nhận diện ung thư cho dù tình huống nào
KẾT LUẬN
Nghiên cứu tìm thấy biểu hiện keratin 4 trong
ung thư niêm mạc miệng giảm nhiều so với trong
niêm mạc miệng bình thường Nhuộm hóa mô miễn
dịch keratin 4 có thể giúp phân biệt mô niêm mạc
miệng lành-ác về mặt sinh học một cách khách quan
và rõ ràng, nhận diện niêm mạc miệng bình thường
để xác định rìa diện cắt an toàn Tuy nhiên, cần
nhiều nghiên cứu với qui mô lớn hơn, theo dõi sau
điều trị nhằm xác định và ứng dụng các giá trị chẩn
đoán và tiên lượng của keratin 4 trên thực tế lâm
sàng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bloor BK, Seddon SV, Morgan PR (2001), “Gene
expression of differentiation-specific keratins in
oral epithelial dysplasia and squamous cell
carcinoma”, Oral Oncol, 37, pp.251-261
2 Depondt J, Shabana AH, Sawaf H, Gehanno P, Forest N (1999), “Cytokeratin alterations as diagnostic and prognostic markers of oral and pharyngeal carcinomas: a prospective study”, Eur J Oral Sci, 107, pp.442-454
3 Enokida T, Fujii S, Takahashi M, Higuchi
expression profiling to predict recurrence of advanced squamous cell carcinoma of the tongue: discovery and external validation”, Oncotarget, 8(37), pp.61786-61799
4 Fulzele A, Malgundkar SA, Govekar RB, Patil A, Kane SV, Chaturvedi P, et al (2013), “Proteomic profile of keratins in cancer of the gingivo buccal complex: consolidating insights for clinical applications”, J Proteomics, 91, pp.242-258
5 Karantza V (2011), “Keratins in health and cancer: more than mere epithelial cell markers”, Oncogene, 30, pp.127-138
keratins: biology and pathology”, Histochem Cell Biol, 129, pp.705-733
7 Ohkura S, Kondoh N, Hada A, Arai M, Yamazaki
Y, et al (2005), “Differential expression of the keratin-4, -13, -14, -17 and transglutaminase 3 genes during the development of oral squamous cell carcinoma from leukoplakia”, Oral Oncol, 41, pp.607-613
8 Sakamoto K, Aragaki T, Morita K, Kawachi H, Kayamori K, et al (2011), “Down-regulation of keratin 4 and keratin 13 expression in oral squamous cell carcinoma and epithelial dysplasia: a clue for histopathogenesis”, Histopathology, 58, pp.531-542
9 Schaaij-Visser TB, Bremmer JF, Braakhuis BJ., Heck AJ, Slijper M, et al (2010), “Evaluation of cornulin, keratin 4, keratin 13 expression and grade of dysplasia for predicting malignant progression of oral leukoplakia”, Oral Oncol, 46, pp.123-127
10 Schaaij-Visser TB, Graveland AP, Gauci S, Braakhuis BJ, Buijze M, et al (2009),
“Differential proteomics identifies protein biomarkers that predict local relapse of head and neck squamous cell carcinomas”, Clin Cancer Res, 15, pp.7666-7675
11 Scully C, Bagan J (2009), “Oral squamous cell carcinoma overview”, Oral Oncol, 45, pp.301–
308
12 Takashima M, Kawachi H, Yamaguchi A, Nakajima Y, Kitagaki K, et al (2012), “Reduced
Trang 7expression of cytokeratin 4 and 13 is a valuable
marker for histologic grading of esophageal
squamous intraepithelial neoplasia”, J Med Dent
Sci, 59, pp.17-28
13 Van der Velden LA, Schaafsma HE, Manni JJ,
Ruiter DJ, Ramaekers FCS, Kuijpers W (1997),
“Cytokeratin and vimentin expression in normal
epithelium and squamous cell carcinomas of the
larynx”, European Archives of Oto-Rhino-Laryngology, 254, pp.376-383
14 Warnakulasuriya S (2009), “Global epidemiology
of oral and oropharyngeal cancer”, Oral Oncol,
45, pp.309-316