1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá kết quả sử dụng buồng tiêm truyền dưới da trên bệnh nhân ung thư truyền hóa chất tĩnh mạch tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội

9 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 10,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đánh giá kết quả sử dụng buồng tiêm truyền dưới da trên bệnh nhân ung thư truyền hóa chất tĩnh mạch tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội trình bày đánh giá kết quả sử dụng buồng tiêm truyền dưới da trên bệnh nhân ung thư truyền hóa chất tĩnh mạch tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội năm 2015-2016.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỬ DỤNG BUỒNG TIÊM TRUYỀN DƯỚI DA TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ TRUYỀN HÓA CHẤT TĨNH MẠCH

TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN1, NGUYỄN TRỌNG HIẾU2

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả sử dụng buồng tiêm truyền dưới da trên bệnh nhân ung thư truyền hóa chất

tĩnh mạch tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội năm 2015-2016

Kết quả: 50 bệnh nhân trong nghiên cứu đã trải qua tổng cộng 276 lần truyền hóa chất qua buồng tiêm,

trung bình 5, 52 lần/ 1 bệnh nhân, tính đến thời điểm tiến hành thu thập số liệu.Mỗi quy trình truyền hóa chất qua buồng tiêm được thực hiện bởi một điều dưỡng viên với thời gian trung bình tiến hành một quy trình là 4,06 phút Nghiên cứu ghi nhận 8% bệnh nhân trong nghiên cứu gặp tai biến nhiễm khuẩn buồng tiêm trong quá trình sử dụng.Có 52% bệnh nhân khi được phỏng vấn cho biết họ không gặp bất cứ khó khăn gì trong suốt quá trình sử dụng buồng tiêm Nghiên cứu cũng chỉ ra 20% bệnh nhân thấy việc sử dụng buồng tiêm có chi phí giá thành cao

Kết luận:Sử dụng buồng tiêm trên bệnh nhân ung thư truyền hóa chất tĩnh mạch mang lại cho người sử

dụng mức độ hài lòng về tính an toàn và tính thuận tiện cao.Chi phí giá thành của việc sử dụng buồng tiêm vẫn còn là khó khăn của người bệnh

ABTRACT

Objectives: To evaluate the results using Totally Implantable Central Venous Access Portson cancer

patients intravenous chemotherapy at Ha Noi Oncology Hospital in 2015-2016

Results: 50 patients in the study underwent total 276 times last chemotherapy central venous ports,

averaging 5.52 times per a patient, by the time of data collection Each process intravenous chemotherapy via ports was taken by a nurse with the average time to conduct a process is 4.06 minutes Research reported by 8% of patients in the study met infectious complications during use the central venous ports 52% of patients interviewed said they did not encounter any difficulties during use them Research also pointed out that the 20% patients found to be used in central venous ports of high cost

Conclusions: To use Totally Implantable Central Venous Access Ports on cancer patients intravenous

chemotherapy gives users the high satisfaction level of safety and convenience features The cost price is still difficult for patients

1CNĐD-Khoa Nội 2 - Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào Hóa trị là

phương pháp sử dụng các thuốc gây độc tế bào

nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ thể người

bệnh ung thư Hóa chất được đưa vào cơ thể người

bệnh chủ yếu qua đường tĩnh mạch Thoát mạch là

sự thoát thuốc hóa chất vào khoang cạnh mạch

máu, kể cả thuốc bị rỉ và thấm ra ngoài mạch máu

Đây là một biến chứng trong hóa trị, chiếm tỷ lệ

1-7% Nâng cao nhận thức về biến chứng và cải tiến

kỹ thuật tiêm truyền có thể giảm tỷ lệ này Ngoài ra,

trong quá trình truyền hóa chất qua tĩnh mạch ngoại

vi, người bệnh còn có thể gặp phải các yếu tố nguy

cơ khác như chệch ven, gập kim, tuột kim, việc tìm ven và đặt đường truyền tĩnh mạch khó khăn đối với các bệnh nhân đã truyền hóa chất nhiều lần khiến đường truyền tĩnh mạch lưu thông kém, tăng khả năng thoát mạch.Một trong những cách dự phòng thoát mạch là sử dụng catheter tĩnh mạch trung tâm Buồng tiêm truyền tĩnh mạch dưới da (Totally Implantable Central Venous Access Ports) là một hệ thống gồm một buồng tiêm có màng ngăn được cấy dưới da, nối với một dây catheter nhỏ, đàn hồi, nằm

Trang 2

hoàn toàn dưới da, được đưa vào tĩnh mạch trung

tâm nhằm mục đích tiêm truyền thuốc và dịch vào

tĩnh mạch lâu dài mà không cần lấy ven nhiều lần

Hiện nay, trên thế giới đã sử dụng buồng tiêm

cho bệnh nhân ung thư truyền hóa chất qua đường

tĩnh mạch, bệnh nhân cần dinh dưỡng qua đường

tĩnh mạch, bệnh nhi Tại Việt Nam, việc sử dụng

buồng tiêm truyền tĩnh mạch dưới da đã được áp

dụng tại nhiều bệnh viện tuyến trung ương và bệnh

viện chuyên khoa ung bướu Kỹ thuật đặt buồng

tiêm tĩnh mạch dưới da đã được triển khai tại Bệnh

viện Ung Bướu Hà Nội từ năm 2014 đến nay, tuy

nhiên chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đánh giá

kết quả của việc sử dụng buồng tiêm dưới da trên

bệnh nhân ung thư truyền hóa chất tĩnh mạch Vì lý

do đó, nhóm nghiên cứu khoa Nội II tiến hành

nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả sử dụng

buồng tiêm truyền dưới da trên bệnh nhân ung

thư truyền hóa chất tĩnh mạch tại Bệnh viện Ung

B ướu Hà Nội năm 2015 - 2016”

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hồi cứu và tiến cứu

Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân ung thư truyền hóa chất qua

buồng tiêm dưới da tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội

từ tháng 01/2015 đến tháng 10/2016

Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư

Bệnh nhân có chỉ định điều trị hóa chất qua đường truyền tĩnh mạch

Bệnh nhân đã đặt buồng tiêm dưới da

Bệnh nhân đã truyền tối thiểu 01 đợt hóa chất

Có hồ sơ lưu trữ đầy đủ

Tiêu ch uẩn loại trừ

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu Không đủ thông tin

Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Lấy mẫu thuận tiện: Tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn điều trị từ 01/2015 đến 10/2016 tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội

Phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu Thu thập thông tin theo bộ câu hỏi

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2015 đến tháng 10/2016

Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Ung Bướu

Hà Nội

KẾT QUẢ

Qua nghiên cứu trên 50 bệnh nhân đạt tiêu chuẩn lựa chọn đã đề ra, nhóm nghiên cứu thu được các kết quả như sau:

Đặc điểm sử dụng buồng tiêm dưới da của bệnh nhân

Tuổi

Biểu đồ 1 Đặc điểm nhóm tuổi trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Trong nghiên cứu, bệnh nhân có đặc điểm

nhóm tuổi như sau: số bệnh nhân ở nhóm tuổi từ

trên 55 đến 65 tuổi đạt tỷ lệ 54%, chiếm tỷ lệ cao

nhất trong các nhóm tuổi Tiếp theo là nhóm bệnh

nhân trên 65 tuổi đạt 16% Còn lại là 14% số bệnh nhân ở nhóm tuổi từ trên 45 đến 55 tuổi, 8% số bệnh nhân từ trên 35 đến 45 tuổi, 8% số bệnh nhân từ 35 tuổi trở xuống

Trang 3

Giới tính

Nghiên cứu được thực hiện trên 50 bệnh nhân, bao gồm 24 bệnh nhân nam, đạt 48% tổng số bệnh nhân

và 26 bệnh nhân nữ, đạt 52%

Nam Nữ

Biểu đồ 2 Đặc điểm giới trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu Thời điểm đặt buồng tiêm:

Thời điểm đặt buồng tiêm của các bệnh nhân

được chia thành 3 nhóm với tỷ lệ bệnh nhân đặt

buồng tiêm ngay trước khi bắt đầu hóa trị là 36%

Bệnh nhân được đặt buồng tiêm sau khi truyền hóa chất từ 1 đến 3 đợt đạt tỷ lệ 40% Còn lại là 24% bệnh nhân có thời điểm đặt buồng tiêm là sau khi truyền hóa chất từ 4 đợt trở lên

24%

Ngay khi bắt đầu

Sau truyền HC 1-3 đợt

Sau truyền HC > 4 đợt

Biểu đồ 3 Đặc điểm thời điểm đặt buồng tiêm

Lý do đặt buồng tiêm

Bảng 1 Đặc điểm lý do đặt buồng tiêm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

1 Sau khi nghe bác sĩ giải thích trước hóa trị liệu 40 80

Trang 4

Khi được hỏi về lý do đặt buồng tiêm, 80% bệnh

nhân cho biết họ quyết định đồng ý đặt buồng tiêm

sau khi nghe bác sĩ giải thích trước hóa trị liệu 46%

số bệnh nhân đặt buồng tiêm sau khi đã được truyền

hóa chất qua tĩnh mạch ngoại vi và có tình trạng

viêm, xơ tĩnh mạch Tỷ lệ bệnh nhân đã từng bị

thoát mạch thuốc hóa chất khi truyền qua tĩnh mạch

ngoại vi trong nghiên cứu là 11/50 bệnh nhân, chiếm

22% tổng số Ngoài ra, có 14 bệnh nhân nhận được

lời khuyên từ người thân và gia đình là nên đặt

buồng tiêm để thuận tiện cho quá trình điều trị và

9 bệnh nhân tự tìm hiểu về buồng tiêm trước khi

quyết định đặt

Số lần truyền hóa chất qua buồng tiêm

50 bệnh nhân trong nghiên cứu đã trải qua tổng

cộng 276 lần truyền hóa chất qua buồng tiêm, trung

bình 5,52 lần/ 1 bệnh nhân, tính đến thời điểm tiến

hành thu thập số liệu

Nhận xét một số đặc điểm trong quy trình truyền

hóa chất tĩnh mạch qua buồng tiêm:

Nhận xét trong 50 quy trình truyền hóa chất tĩnh mạch qua buồng tiêm, nghiên cứu thu được kết quả như sau:

Bảng 2 Đặc điểm trong quy trình truyền hóa chất

tĩnh mạch qua buồng tiêm

STT Nội dung đánh giá Số liệu Đơn vị

1 Số người thực hiện quy trình 1 Người

2 Số lần đâm kim qua da 1,02 ± 0,14 Lần

3 Thời gian tiến hành thủ thuật 4,06 ± 0,76 Phút Mỗi quy trình truyền hóa chất qua buồng tiêm

được thực hiện bởi một điều dưỡng viên với thời

gian trung bình tiến hành một quy trình là 4,06 phút Nhóm nghiên cứu ghi nhận 49 quy trình (tương đương 98%) có số lần đâm kim gập góc qua da vào buồng tiêm là 1 lần, thủ thuật diễn ra bình thường, đồng thời ghi nhận một trường hợp điều dưỡng đâm kim qua da 2 lần

Bảng 3 Vật tư tiêu hao sử dụng trong một quy trình

STT Tên VTTH Số lượng Giá dịch vụ Có BHYT

Vật tư y tế dùng cho một quy trình thể hiện ở bảng trên, bao gồm: Kim gập góc chuyên dụng, dây truyền, găng tay vô trùng, cồn i ốt sát khuẩn, gạc cầu, bơm tiêm 20ml, băng dính Theo đó, nhóm nghiên cứu ước tính giá thành của vật tư tiêu hao trong một lần thủ thuật dao động từ 103.050đ đến 213.050đ, trong đó giá kim gập góc dao động từ 85.000đ đến 195.000đ tùy loại kim và bệnh nhân tự chi trả

Hình 7 Kim Huber an toàn PPS Flow+(trái) và K im Huber với cánh cố định (phải)

Trang 5

Các tai biến xảy ra khi sử dụng buồng tiêm

dưới da

Trong quá trình nghiên cứu, các tai biến

khi bệnh nhân sử dụng buồng tiêm được ghi nhận

như sau:

Bảng 4 Đặc điểm tai biến của các nhóm bệnh nhân

nghiên cứu

STT Tai biến N %

1 Chảy máu tại vị trí đâm kim 0 0

Toàn bộ 50 bệnh nhân không gặp các tai biến

tuột kim, thoát mạch thuốc hóa chất, tắc buồng tiêm

trong quá trình truyền hóa chất, chảy máu tại vị trí

đâm sau khi rút kim kết thúc truyền

Nhóm nghiên cứu ghi nhận 4 trường hợp bệnh

nhân có triệu chứng sốt cao, kết quả cấy máu

dương tính với vi khuẩn, được chẩn đoán là nhiễm

khuẩn buồng tiêm

Các bất tiện trong sử dụng buồng tiêm

Nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn

bệnh nhân về các bất tiện, khó khăn bệnh nhân gặp

phải khi sử dụng buồng tiêm, và thu được kết quả

như sau:

Bảng 5 Các bất tiện trong sử dụng buồng tiêm

STT Vấn đề N %

1 Bất tiện trong sinh hoạt hàng ngày 2 4

2 Khó khăn khi chăm sóc buồng tiêm 7 14

Có 52% bệnh nhân khi được phỏng vấn cho biết họ không gặp bất cứ khó khăn gì trong suốt quá trình sử dụng buồng tiêm Nghiên cứu chỉ ra 20% bệnh nhân thấy việc sử dụng buồng tiêm có chi phí giá thành cao 18% bệnh nhân đặt buồng tiêm cảm thấy vướng, đau tại vị trí buồng tiêm, cùng tỷ lệ với

số bệnh nhân cho rằng buồng tiêm gây mất thẩm mỹ 14% bệnh nhân nhận thấy việc chăm sóc buồng tiêm là khó khăn, bất tiện đối với mình 4% khác cho thấy bất tiện trong sinh hoạt hàng ngày

Mức độ hài lòng của bệnh nhân khi sử dụng buồng tiêm

Dưới đây là tổng hợp kết quả nghiên cứu về mức độ hài lòng của bệnh nhân sử dụng buồng tiêm

về tính an toàn, tính thuận tiện, và tính kinh tế

Bảng 6 Mức độ hài lòng của bệnh nhân sử dụng buồng tiêm

Vấn đề Rất hài lòng Hài lòng Không hài lòng

Nghiên cứu về mức độ hài lòng của người bệnh

qua bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh, nhóm thực

hiện thu được kết quả như sau:

- Đánh giá về mức độ an tâm điều trị khi sử

dụng buồng tiêm: 24% người bệnh cảm thấy rất hài

lòng, 68% hài lòng, 8% không hài lòng

- Đánh giá về mức độ thuận tiện của việc

sử dụng buồng tiêm trong sinh hoạt hàng ngày: 90%

bệnh nhân không thấy khó khăn trong việc sử dụng

buồng tiêm, 10% thấy có khó khăn và bất tiện khi

sử dụng

- Đánh giá về chi phí giá thành khi sử dụng buồng tiêm: 84% bệnh nhân cảm thấy hài lòng, 2% rất hài lòng, và 14% chưa hài lòng

BÀN LUẬN Đặc điểm sử dụng buồng tiêm dưới da của bệnh nhân

Tuổi và giới

Trong nghiên cứu, số bệnh nhân ở nhóm tuổi từ trên 55 đến 65 tuổi đạt tỷ lệ 54%, chiếm tỷ lệ cao nhất Nhóm bệnh nhân trên 65 tuổi đạt 16% Còn lại

là 14% số bệnh nhân từ trên 45 đến 55 tuổi, 8% số bệnh nhân từ trên 35 đến 45 tuổi, 8% số bệnh nhân

Trang 6

từ 35 tuổi trở xuống Trong đó, bệnh nhân nhiều tuổi

nhất là 69 tuổi, bệnh nhân ít tuổi nhất là 20 tuổi

Nghiên cứu được thực hiện đồng đều trên cả hai

giới 50 bệnh nhân được nghiên cứu bao gồm

24 bệnh nhân nam chiếm 48%, 26 bệnh nhân nữ

chiếm 52%

Thời điểm đặt buồng tiêm

Thời điểm đặt buồng tiêm của các bệnh nhân

được chia thành 3 nhóm với tỷ lệ bệnh nhân đặt

buồng tiêm ngay trước khi bắt đầu hóa trị là 36%

Bệnh nhân được đặt buồng tiêm sau khi truyền hóa

chất từ 1 đến 3 đợt đạt tỷ lệ 40% Còn lại 24% bệnh

nhân có thời điểm đặt buồng tiêm là sau khi truyền

hóa chất từ 4 đợt trở lên Một số bệnh nhân ngay khi

bắt đầu hóa trị đã lựa chọn sử dụng buồng tiêm để

phục vụ cho quá trình điều trị, cũng như nâng cao

chất lượng cuộc sống Một số khác đã biết được các

ưu điểm của buồng tiêm, song họ lựa chọn bắt đầu

điều trị sớm, và đặt buồng tiêm vào thời điểm giữa

hai đợt hóa trị để tiết kiệm thời gian Thông thường,

buồng tiêm sau khi đặt khoảng 7 ngày và cắt chỉ

đường rạch da có thể được đưa vào sử dụng Các

bệnh nhân đã từng truyền hóa chất qua tĩnh mạch

ngoại vi, biết được các tai biến của truyền hóa chất

tĩnh mạch, quyết định đặt buồng tiêm để giảm các tai

biến đó và nâng cao hiệu quả điều trị

Thêm vào đó, 90% bệnh nhân trong nghiên cứu

được đặt buồng tiêm năm 2016, 10% được đặt

buồng tiêm trước năm 2016

Từ năm 2016, bệnh nhân sử dụng dịch vụ đặt

buồng tiêm tại bệnh viện Ung Bướu Hà Nội được

bảo hiểm y tế thanh toán chi phí thực hiện thủ thuật

can thiệp lòng mạch dưới hướng dẫn DSA đã bao

gồm chụp mạch số hóa xóa nền, và chi phí buồng

tiêm Vì vậy, số lượng bệnh nhân có khả năng tài

chính để sử dụng buồng tiêm trong hóa trị liệu tăng

Điều này phù hợp với thời điểm đặt buồng tiêm của

bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu là năm 2016,

45/50 đạt tỷ lệ 90%, cao hơn nhiều so với thời điểm

trước năm 2016

Lý do đặt buồng tiêm

Khi được hỏi về lý do đặt buồng tiêm, 80% bệnh

nhân cho biết họ quyết định đồng ý đặt buồng tiêm

sau khi nghe bác sĩ giải thích trước hóa trị liệu 46%

số bệnh nhân đặt buồng tiêm sau khi đã được truyền

hóa chất qua tĩnh mạch ngoại vi và có tình trạng

viêm, xơ tĩnh mạch Tỷ lệ bệnh nhân đã từng bị thoát

mạch thuốc hóa chất khi truyền qua tĩnh mạch ngoại

vi trong nghiên cứu là 11/50 bệnh nhân, chiếm 22%

tổng số Ngoài ra, có 14 bệnh nhân nhận được

lời khuyên từ người thân và gia đình là nên đặt

buồng tiêm để thuận tiện cho quá trình điều trị và 9

bệnh nhân tự tìm hiểu về buồng tiêm trước khi quyết

Với mong muốn đạt hiệu quả điều trị tối ưu, bác sĩ nội khoa ung thư sẽ gặp và trao đổi với bệnh nhân cũng như người nhà bệnh nhân các thông tin về quy trình điều trị, tác dụng phụ của thuốc, các ứng dụng cập nhật trong điều trị bệnh ung thư… trước khi người bệnh và gia đình quyết định việc điều trị Nghiên cứu chỉ ra lý do bệnh nhân đặt buồng tiêm sau khi nghe bác sĩ giải thích trước hóa trị liệu có tỷ

lệ cao nhất Điều này phần nào cho thấy bệnh nhân sau khi được truyền thông đã nhận biết được ý nghĩa của buồng tiêm và tin tưởng vào việc sử dụng buồng tiêm trong hóa trị để giảm các tác dụng phụ

mà truyền hóa chất qua tĩnh mạch ngoại vi mang lại như thoát mạch, viêm tĩnh mạch,…

Bệnh nhân đã có biến chứng của truyền hóa chất qua tĩnh mạch ngoại vi trong nghiên cứu chiếm

tỷ lệ tương đối cao: 46% bệnh nhân bị viêm tĩnh mạch, 22% bệnh nhân bị thoát mạch Các bệnh nhân này đã nhận thấy lợi ích của buồng tiêm và quyết định sử dụng buồng tiêm trong hóa trị để tránh các tác dụng phụ

Ngoài ra, bệnh nhân trong nghiên cứu cũng có những tiếp cận với y học hiện đại qua việc tìm kiếm các thông tin hữu ích từ phương tiện thông tin đại chúng, mặc dù tỷ lệ này còn chưa cao

Số lần truyền hóa chất qua buồng tiêm

50 bệnh nhân trong nghiên cứu đã trải qua tổng cộng 276 lần truyền hóa chất qua buồng tiêm, trung bình 5.52 lần/ 1 bệnh nhân, tính đến thời điểm tiến hành thu thập số liệu

Số liệu này chưa cao do bệnh nhân chủ yếu được đặt buồng tiêm năm 2016 Tuổi thọ của buồng tiêm phụ thuộc vào loại buồng tiêm, cách chăm sóc,

sự thích ứng của mỗi cơ thể và số lần đâm kim qua màng buồng tiêm (trung bình 1000 đến 3600 lần đâm kim) Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục thống kê số lần đâm kim qua màng buồng tiêm của mỗi bệnh nhân qua sổ theo dõi sử dụng buồng tiêm

Nhận xét một số đặc điểm trong quy trình truyền hóa chất tĩnh mạch qua buồng tiêm

Mỗi quy trình truyền hóa chất qua buồng tiêm

được thực hiện bởi một điều dưỡng viên với thời

gian trung bình tiến hành một quy trình là 4,06 phút Nhóm nghiên cứu ghi nhận 49 quy trình (tương đương 98%) có số lần đâm kim gập góc qua da vào buồng tiêm là 1 lần, thủ thuật diễn ra bình thường, đồng thời ghi nhận một trường hợp điều dưỡng đâm kim qua da 2 lần Sau lần đầu đâm kim qua da vào buồng tiêm, do rút bơm tiêm không thấy có máu trào

ra, điều dưỡng tiến hành lại thủ thuật, đâm kim lần thứ hai vuông góc giữa màng silicon của buồng tiêm

Trang 7

Khi đó, thủ thuật diễn ra bình thường Nhóm nghiên

cứu nhận định, trong lần đầu đâm kim, mặt vát của

kim có thể chạm vào thành trong buồng tiêm gây

hiện tượng rút bơm tiêm không thấy máu trào ra Vị

trí đâm kim nên ở giữa màng silicon, hướng đâm

kim vuông góc với màng buồng tiêm, không để kim

chạm vào thành cũng như đáy buồng tiêm gây cản

trở lưu thông

Bên cạnh đó, số lần đâm kim qua da ở mức tối

thiểu càng làm rõ thêm tính ưu việt khi sử dụng

buồng tiêm truyền so với truyền tĩnh mạch ngoại vi là

điều dưỡng không phải lấy ven nhiều lần Điều

dưỡng khi thực hiện tiêm truyền qua buồng tiêm đã

giảm được áp lực của việc tìm kiếm và chọn lựa ven

trên các bệnh nhân khó tìm ven, hay ven xơ, yếu do

đã truyền hóa chất nhiều lần, giúp điều dưỡng tự tin

hơn trong công việc

Vật tư y tế dùng cho một quy trình bao gồm:

kim gập góc chuyên dụng, dây truyền, găng tay vô

trùng, cồn i ốt sát khuẩn, gạc cầu, bơm tiêm 20ml,

băng dính Theo đó, nhóm nghiên cứu ước tính giá

thành của vật tư tiêu hao trong một lần thủ thuật dao

động từ 103050đ đến 213050đ, trong đó giá kim gập

góc dao động từ 85000đ đến 195 000đ tùy loại kim

và bệnh nhân tự chi trả Đây chính là chi phí được

cho là gây khó khăn về kinh tế nhất khi bệnh nhân

sử dụng buồng tiêm vì mỗi đợt truyền hóa chất bệnh

nhân phải sử dụng một kim mới

So sánh với quy trình truyền tĩnh mạch ngoại vi,

quy trình truyền hóa chất qua buồng tiêm có một số

điểm khác Vị trí đặt buồng tiêm được sát khuẩn

ngoài da tối thiểu 3 lần bằng dung dịch sát khuẩn

cồn i ốt để đảm bảo chống nhiễm khuẩn, thay bằng

việc sát khuẩn bằng cồn 70 độ tại vị trí đặt đường

truyền tĩnh mạch ngoại vi Thêm vào đó, điều dưỡng

sát khuẩn tay đúng quy trình và mang găng vô

khuẩn trong quá trình thực hiện thủ thuật Bơm tiêm

20ml dùng để lấy nước muối sinh lý bơm rửa buồng

tiêm sau khi đâm kim qua da Đây là việc bơm rửa

hệ thống được tiến hành trước và sau mỗi lần sử

dụng buồng tiêm, nhằm hạn chế tắc buồng tiêm

Điều dưỡng xoay kim 180 độ quanh vị trí đâm, xoay,

dừng, bơm 3 lần để đảm bảo buồng tiêm được

thông suốt Buồng tiêm khi không còn sử dụng nữa

được khuyến cáo bơm rửa mỗi 4 tuần

Các tai biến xảy ra khi sử dụng buồng tiêm

dưới da

Toàn bộ 50 bệnh nhân không gặp các tai biến

tuột kim, thoát mạch, tắc buồng tiêm trong quá trình

truyền hóa chất, cũng như chảy máu tại vị trí đâm

sau khi rút kim kết thúc truyền Điều này hoàn toàn

phù hợp với các ưu điểm vượt trội của buồng tiêm

truyền tĩnh mạch dưới da so với truyền tĩnh mạch

đưa vào tĩnh mạch trung tâm, giảm thiểu tình trạng thoát mạch cũng như vỡ ven, viêm xơ tĩnh mạch của đường truyền tĩnh mạch ngoại vi Ngoài ra, màng ngăn silicon của buồng tiêm ngăn không cho máu trào ra sau khi rút kim, giúp bệnh nhân hoàn toàn dễ chịu, an tâm khi điều trị Kim gập góc và buồng tiêm trong quá trình nghiên cứu chưa phát hiện các bất cập về tính năng và hiệu quả sử dụng

Nhóm nghiên cứu ghi nhận 4 trường hợp bệnh nhân trong khi sử dụng buồng tiêm truyền có triệu chứng sốt cao, kết quả cấy máu dương tính với vi khuẩn, được chẩn đoán là nhiễm khuẩn buồng tiêm

Ba bệnh nhân đều được ngừng sử dụng buồng tiêm sau khi có chẩn đoán xác định, theo dõi tình trạng nhiễm khuẩn Tình trạng các bệnh nhân đã ổn định, cấy máu âm tính sau 2 đến 3 tuần điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ Buồng tiêm tiếp tục được sử dụng bình thường Một trường hợp bệnh nhân nhiễm khuẩn buồng tiêm trên nền bệnh nhân sốt xuất huyết kèm theo nhiễm khuẩn huyết Sau 14 ngày điều trị kháng sinh cấy máu ngoại vi âm tính với vi khuẩn, tuy nhiên cấy máu tại vị trí buồng tiêm còn dương tính với vi khuẩn Klebsiella sp Hướng điều trị tiếp tục sử dụng kháng sinh theo kháng sinh

đồ 10 ngày, nhưng bệnh nhân vẫn còn cơn sốt rét run vào ngày thứ 9 dùng kháng sinh Bệnh nhân được chỉ định tháo buồng tiêm để đảm bảo chất lượng điều trị bệnh ung thư Sau tháo buồng tiêm, bệnh nhân hết sốt, cấy máu âm tính

Nguyên tắc vô khuẩn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hầu hết các thủ thuật xâm lấn trên người bệnh nói chung và thủ thuật tiêm truyền qua buồng tiêm nói riêng Quy trình truyền hóa chất qua buồng tiêm đòi hỏi điều dưỡng không chỉ sử dụng thành thạo buồng tiêm mà còn phải đảm bảo các nguyên tắc vô khuẩn như: rửa tay trước khi tiến hành thủ thuật, sát khuẩn vị trí buồng tiêm tối thiểu 3 lần bằng cồn i ốt, diện sát khuẩn rộng với đường kính 20cm,

sử dụng găng tay vô khuẩn khi đâm kim, nên cố định kim bằng băng dán chuyên dụng biotech

Các bất tiện trong sử dụng buồng tiêm

Có 52% bệnh nhân khi được phỏng vấn cho biết họ không gặp bất cứ khó khăn gì trong suốt quá trình sử dụng buồng tiêm Nghiên cứu chỉ ra 20% bệnh nhân thấy việc sử dụng buồng tiêm có chi phí giá thành cao 18% bệnh nhân đặt buồng tiêm cảm thấy vướng, đau tại vị trí buồng tiêm, cùng tỷ lệ với

số bệnh nhân cho rằng buồng tiêm gây mất thẩm mỹ 14% bệnh nhân nhận thấy việc chăm sóc buồng tiêm là khó khăn, bất tiện đối với mình 4% khác cho thấy bất tiện trong sinh hoạt hàng ngày

Nhóm nghiên cứu ghi nhận được rằng bệnh nhân sử dụng buồng tiêm truyền có thể dễ dàng thay

Trang 8

hoàn toàn không làm ảnh hưởng tới tốc độ truyền

Bằng cách đó, bệnh nhân không còn cảm thấy mệt

mỏi vì phải nằm lâu một chỗ khi truyền hay lo lắng

khi thấy chai dịch không chảy Vị trí buồng tiêm đặt

tại thành ngực, vì vậy bệnh nhân có thể thoải mái

vận động tay chân, và không khó khăn khi thực hiện

các sinh hoạt thường ngày như vệ sinh cá nhân,

mặc quần áo, ăn uống Bệnh nhân có thể đi lại, đọc

báo hay tự rót nước uống Đây là những ưu điểm

mà bệnh nhân không có được khi truyền hóa chất

tĩnh mạch ngoại vi

Vấn đề thẩm mỹ cũng được đặt ra trong nghiên

cứu Theo đó, có một tỷ lệ các bệnh nhân cho rằng

buồng tiêm gây vướng, đau, mất thẩm mỹ do thời

gian đầu họ chưa quen với việc có một buồng tiêm

được cấy dưới da

Nhìn chung, lợi ích của việc sử dụng buồng

tiêm đem lại nhiều hơn những khó khăn, bất tiện

trong quá trình sử dụng Mặc dù vậy, 20% bệnh

nhân trong nghiên cứu cho thấy chi phí khi sử dụng

buồng tiêm còn cao Như đã trình bày ở trên, điều

này được chứng minh khi bệnh nhân sử dụng buồng

phải tự chi trả chi phí kim gập góc Chi phí giá thành

của việc sử dụng buồng tiêm tuy là vấn đề được

nhiều người quan ngại, nhưng việc bệnh nhân được

bảo hiểm cùng chi trả khi đặt buồng tiêm đã phần

nào giảm bớt gánh nặng kinh tế cho người bệnh so

với thời gian trước

Mức độ hài lòng của bệnh nhân khi sử dụng

buồng tiêm

Nghiên cứu về mức độ hài lòng của người bệnh

qua bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh, nhóm thực

hiện thu được kết quả như sau:

- Đánh giá về mức độ an tâm điều trị khi sử

dụng buồng tiêm: 24% người bệnh cảm thấy rất hài

lòng, 68% hài lòng, 8% không hài lòng

- Đánh giá về mức độ thuận tiện của việc

sử dụng buồng tiêm trong sinh hoạt hàng ngày: 90%

bệnh nhân không thấy khó khăn trong việc sử dụng

buồng tiêm, 10% thấy có khó khăn và bất tiện khi

sử dụng

- Đánh giá về chi phí giá thành khi sử dụng

buồng tiêm: 48% bệnh nhân cảm thấy hài lòng, 2%

rất hài lòng, và 14% chưa hài lòng

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn phù hợp với ý

nghĩa của buồng tiêm truyền tĩnh mạch dưới da là

tạo sự an toàn thoải mái và nâng cao chất lượng

sống cho bệnh nhân phải điều trị lâu dài qua đường

truyền tĩnh mạch, đặc biệt là bệnh nhân ung thư

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận

50 bệnh nhân trong nghiên cứu đã trải qua tổng cộng 276 lần truyền hóa chất qua buồng tiêm, trung bình 5.52 lần/ 1 bệnh nhân, tính đến thời điểm tiến hành thu thập số liệu

Mỗi quy trình truyền hóa chất qua buồng tiêm

được thực hiện bởi một điều dưỡng viên với thời

gian trung bình tiến hành một quy trình là 4,06 phút Nhóm nghiên cứu ghi nhận 49 quy trình (tương đương 98%) có số lần đâm kim gập góc qua da vào buồng tiêm là 1 lần

Nhóm nghiên cứu ước tính giá thành của vật tư tiêu hao trong một lần thủ thuật dao động từ

103.050đ đến 213.050đ, trong đó giá kim gập góc dao động từ 85.000đ đến 195.000đ tùy loại kim và bệnh nhân tự chi trả

Nghiên cứu ghi nhận 8% bệnh nhân trong nghiên cứu gặp tai biến nhiễm khuẩn buồng tiêm trong quá trình sử dụng

Có 52% bệnh nhân khi được phỏng vấn cho biết họ không gặp bất cứ khó khăn gì trong suốt quá trình sử dụng buồng tiêm Nghiên cứu chỉ ra 20% bệnh nhân thấy việc sử dụng buồng tiêm có chi phí giá thành cao 18% bệnh nhân đặt buồng tiêm cảm thấy vướng, đau tại vị trí buồng tiêm, cùng tỷ lệ với

số bệnh nhân cho rằng buồng tiêm gây mất thẩm mỹ 14% bệnh nhân nhận thấy việc chăm sóc buồng tiêm là khó khăn, bất tiện đối với mình 4% khác cho thấy bất tiện trong sinh hoạt hàng ngày

Sử dụng buồng tiêm trên bệnh nhân ung thư truyền hóa chất tĩnh mạch mang lại cho người

sử dụng mức độ hài lòng về tính an toàn và tính thuận tiện cao

Chi phí giá thành của việc sử dụng buồng tiêm vẫn còn là khó khăn của người bệnh

Kiến nghị

Tiếp tục nghiên cứu theo dõi tỷ lệ tai biến, phát hiện tai biến trong sử dụng buồng tiêm

Áp dụng truyền hóa chất qua buồng tiêm cho bệnh nhân ung thư có chỉ định truyền hóa chất tĩnh mạch, tạo sự an toàn thoải mái và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 BYT (2013)-Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám

bệnh, chữa bệnh chuyên ngành ung bướu

2 Nguyễn Bá Đức (2008)-Chẩn đoán và điều trị

bệnh ung thư

Trang 9

3 Nguyễn Bá Đức (2010)-Điều trị nội khoa bệnh

ung thư

4 Website:

http://bacsinoitru.vn/content/dung-

5 Wesite:

http://www.dclinicvn.com/index.php/news/detail/

6 Website: http://www.benhhoc.com

7 Aimee S Payne, Diane MF Savarese-Chemotherapy extravasation injury

8 ATI Nursing Education Central access venous device Step-by-step viewing

9 NCCN-Clinical Practice guideline in Oncology

2010

Ngày đăng: 25/10/2022, 19:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w