1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LÀM rõ QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG bước GIẢI QUYẾT XUNG đột với mỹ TRƯỚC KHI QUYẾT ĐỊNH sử DỤNG bạo lực CÁCH MẠNG và PHÂN TÍCH nội DUNG ĐƯỜNG lối

28 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 125,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản tuyên bố nêu rõ Pháp và các nước tham dự hội nghị long trọng cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào, Campuchia là độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BÀI TẬP NHỎ 2

LÀM RÕ QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG BƯỚC GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT VỚI MỸ

TRƯỚC KHI QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG BẠO LỰC CÁCH MẠNG VÀ PHÂN TÍCH

NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI CHIẾN THUẬT CHUNG CỦA CÁCH MẠNG CẢ NƯỚC

THÔNG QUA ĐẠI HỘI LẦN 3 THÁNG 9/1960

Trang 2

MỤC LỤC

1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam sau khi ký Hiệp định Giơnevơ 3

1.1 Bối cảnh thế giới

1.2 Bối cảnh trong nước

2 Quá trình Đảng từng bước giải quyết xung đột với Mĩ

2.1 Hành động hiếu chiến của Mĩ

2.2 Quá trình Đảng giải quyết xung đột với Mĩ

2.3 Tiểu kết

3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng

3.1 Bối cảnh lịch sử

3.2 Nội dung đường lối chiến lược chung

3.3 Tiểu kết

4 Tổng kết

5 Tài liệu tham khảo

Trang 3

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU KHI KÝ

HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ

1.1 BỐI CẢNH THẾ GIỚI

Thứ nhất, về tham vọng bá chủ của Mỹ.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, với chiến thắng thuộc về phe đồng minh cùng với

đó là sự tan rã của chủ nghĩa phát xít, các nước đế quốc bất kể thắng hay thua đều bị tàn

phá một cách nghiêm trọng và phải gánh chịu hậu quả to lớn Nhưng đối với Mỹ thì hoàn

toàn ngược lại, sau Thế Chiến thứ hai, Mỹ vươn lên trở thành nước tư bản giàu nhất thế

giới và là chủ nợ của thế giới Ngoài ra, về mặt quân sự Mỹ có lực lượng cực kì to lớn và

độc quyền về vũ khí nguyên tử Từ những cơ sở đó, Mỹ đã thực hiện chiến lược toàn cầu

với quy mô trên toàn thế giới Chiến lược toàn cầu đã thể hiện rõ tham vọng trở thành bá

chủ thế giới của Mỹ với ba mục tiêu chính

Một là, ngăn chặn và đẩy lùi, tiến tới tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa trên

phạm vi toàn thế giới

Hai là, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản

quốc tế, phong trào chống chiến tranh, vì hoà bình, dân chủ trên thế giới

Ba là, khống chế, nô dịch các nước đồng minh của Mỹ.

Mỹ đã nhanh chóng thực hiện chiến lược ấy trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ởkhu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng bởi vì Mỹ nhận

thấy khu vực này chính là một trong những trọng điểm cần được khai thác với tài nguyên

khoáng sản dồi dào, nguồn nhân lực đông và có vị trí chiến lược quan trọng

Thứ hai, về xu hướng hòa hoãn của thế giới.

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc, Châu Âu bị tàn phá nặng nề cùng vớivai trò lu mờ của Anh, Pháp và nước Đức trên bờ vực bị chia cắt, thì Mỹ và Liên Xô nổi lên

với vai trò là siêu cường thế giới, giàu có và nắm quyền chi phối toàn bộ hệ thống chính trị

quốc tế Nhưng do đứng trên hai ý thức hệ khác nhau nên dẫn đến những xung đột liên

Trang 4

tiếp nổi lên, mặc dù không trực tiếp đối đầu nhưng đó là lại khởi đầu cho Chiến tranh lạnh.

Thời điểm chiến tranh lạnh đạt mức đỉnh cao, cuối năm 1953 và đầu 1954, thế giới dần xuất

hiện xu thế đi vào hòa hoãn giữa các nước lớn, họ tìm cách tránh xung đột quân sự trực tiếp

và dần chuyển sang hòa hoãn với nhau Biểu hiện cụ thể nhất của xu thế hòa hoãn này là các

nước lớn Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô triệu tập Hội nghị ngoại trưởng bốn nước tại Béc-lin

năm 1954 bàn về vấn đề Đức - Áo Do bất đồng quá lớn trong việc giải quyết các vấn đề

chính trị, Hội nghị thất bại nên chuyển sang bàn về vấn đề Biển Đông Ngày 18-2-1954, Hội

nghị ngoại trưởng bốn nước đưa ra lời tuyên bố cuối, trong đó Hội nghị sẽ xem xét vấn đề

Đông Dương Điều này đã mở ra một hướng mới cho khả năng kết thúc chiến tranh ở Việt

Nam, Đông Dương thông qua biện pháp thương lượng hòa bình

Thứ ba, về hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng quốc tế.

Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh về cả kinh tế, quân sự, khoa học kĩthuật và nhất là sự lớn mạnh của Liên Xô

Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên phạm vi quốc tế

Ngoài ra, ở các nước tư bản nổi lên cao những phong trào hòa bình, dân chủ Cụ thể đó chính

là thắng lợi của cách mạng Cuba năm 1959, từ đó tạo bước đà cho Cuba gia nhập phe xã hội

chủ nghĩa, từ đó hệ thống xã hội chủ nghĩa đã lan rộng ra đến phía Tây bán cầu

Trên những cơ sở đó, tạo điều kiện cho cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triểnmạnh mẽ

Bên cạnh đó, xuất hiện những bất đồng, chia rẽ trong hệ thống xã hội chủ nghĩa,đặc biệt là giữa Liên Xô và Trung Quốc

1.2 BỐI CẢNH TRONG NƯỚC

Từ năm 1945 đến trước năm 1954 những thuận lợi về quốc tế là sau cuộc Chiến tranhthế giới thứ 2, cục diện khu vực và thế giới có những sự thay đổi lớn có lợi cho cách mạng

Việt Nam Liên Xô trở thành thành trì của chủ nghĩa xã hội Nhiều nước ở Đông Âu, được sự

ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô đã lựa chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội

phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Châu Á, Châu Phi và khu vực

Trang 5

Mỹ latinh dâng cao Khó khăn là trên thế giới phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu

mới chia lại hệ thống thuộc địa thế giới ra sức tấn công đàn áp phong trào cách mạng thế

giới, trong đó có cách mạng Việt Nam do lợi ích cục bộ của mình các nước lớn không

nước nào cũng hộ lập trường Độc Lập và công nhận địa vị pháp lý của nhà nước Việt

Nam Dân chủ Cộng hòa Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc bị bao vây

cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài Cách mạng ba nước Đông Dương nói chung,

cách mạng Việt Nam nói riêng phải đương đầu với nhiều bất lợi, khó khăn thử thách hết

sức to lớn và rất nghiêm trọng

Thuận lợi ở trong nước là Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tự do; nhân dân ViệtNam từ thân phận nô lệ, bị áp bức trở thành chủ nhân của chế độ dân chủ mới Đảng

Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước Đặc biệt việc

hình thành hệ thống chính quyền cách mạng với bộ máy thống nhất từ cấp Trung ương

đến cơ sở, ra sức phục vụ lợi ích của Tổ quốc, nhân dân Khó khăn ở trong nước là hệ

thống chính quyền cách mạng mới được thiết lập còn rất non trẻ thiếu thốn yếu kém về

nhiều mặt; hậu quả của chế độ cũ để lại rất nặng nề sự tàn phá của nạn lũ lụt, nạn đói năm

1945 rất nghiêm trọng Nhiều ruộng đất bị bỏ hoang, tài chính ngân phố kiệt quệ thủ tục

lạc hậu, thói hư tật xấu ,tệ nạn xã hội chưa khắc phục, 95% dân số thất học mù chữ,

Thách thức lớn nhất khi trọng nhất lúc này là âm mưu hành động quay trở lại thống trị

Việt Nam một lần nữa của thực dân Pháp

Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết Hội nghị đã thông qua bản tuyên bố cuốicùng về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương Bản tuyên bố nêu rõ Pháp và các nước tham

dự hội nghị long trọng cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào,

Campuchia là độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cam kết chấm dứt cuộc

chiến tranh và lập lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương Kết quả hội nghị phản ánh xu thế

chung và cục diện tình hình quốc tế lúc bấy giờ Đây là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên

Công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia Đánh dấu

kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mở ra một

Trang 6

trang sử mới cho dân tộc Việt Nam, Bạn mở đường cho cuộc đấu tranh giành độc lập

thống nhất toàn toàn cho nhân dân ba nước Đông Dương sau này

Sau Hội nghị Giơnevơ, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi mới, vừa đứngtrước nhiều khó khăn, phức tạp

Thuận lợi: Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tể, quân sự, khoahọc kỹ thuật, nhất là của Liên Xô; phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở

châu Á, châu Phi vả khu vực Mỹ latinh; phong trào hòa bình, dân chủ lên cao ở các nước

tư bản chủ nghĩa; miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làm căn cứ địa vững chắc cho cả

nước; thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau chín năm kháng chiến; có ý chí độc

lập thống nhất Tổ quốc của nhân dân từ Bắc chí Nam

Khó khăn: Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, âm mưu làm bá chủthế giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng; thế giới buớc vào thời kỳ chiến tranh

lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; xuất hiện sự bất

đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc; đất nước ta bị

chia làm hai miền, kinh tế miền Bắc nghèo nàn, lạc hậu, miền Nam trờ thành thuộc địa kiểu

mới của Mỹ và đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta

Một Đảng lãnh đạo hai cuộc cách mạng khác nhau, ở hai miền dất mrớc có chế độchính trị khác nhau là đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam sau tháng 7-1954 Đặc

điểm bao trùm và các thuận lợi, khó khăn nêu trên là cơ sở để Đảng ta phân tích, hoạch

định đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước trong giai đoạn mới

Thứ nhất là phải đề ra được đường lối đúng đắn, vừa phù hợp với tình hình mỗimiền, tình hình cả nước, vừa phù hợp với xu thế chung của thời đại : từ chiến tranh

chuyển sang hòa bình; nước nhà tạm chia làm hai miền; từ nông thôn chuyển vào thành

thị; từ phân tán chuyển đến tập trung

Thứ hai là nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau,

nhưng quan hệ hữu cơ với nhau… nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình,

Trang 7

thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên

chủ nghĩa xã hội

Quan trọng nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là ”giải phóngmiền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người

cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam” “Con đường phát

triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về

tay nhân dân” Đó là con đường “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính

trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang đế đánh đổ quyền thống trị

của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhản dân”

Trang 8

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG BƯỚC GIẢI QUYẾT

XUNG ĐỘT VỚI MĨ

2.1 HÀNH ĐỘNG HIẾU CHIẾN CỦA MĨ

Hiệp định Giơnevơ được ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, chỉ riêng phái đoàn của Mỹ

từ chối ký Hiệp định Giơnevơ nhưng ra Tuyên bố nước này "sẽ coi mọi sự tái diễn của

các hành động bạo lực vi phạm Hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm

trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế", có những tuyên bố cứng rắn đối với việc phân

chia Việt Nam : "tiếp tục cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử

tự do được giám sát bởi Liên Hợp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng”1 Kết

thúc Hội nghị Giơnevơ, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ đã tuyên bố ghi nhận và cam kết

tôn trọng quyết định của các bên tham gia Hội nghị Giơnevơ Nhưng liền sau đó, chính

Tổng thống Mỹ lại tuyên bố: “Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội

nghị Giơnevơ và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy” Cũng như Tổng thống

của mình, thượng nghị sĩ (4 năm sau trở thành Tổng thống) John F Kennedy tuyên bố:

“Nó (Quốc gia Việt Nam) là con đẻ của chúng ta Chúng ta không thể từ bỏ nó”2

Việt Nam xác định Mỹ là kẻ thù trực tiếp ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được kýkết, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đoán trước Mỹ sẽ tìm cách phá bỏ Hiệp định để chia cắt

Việt Nam: “Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hoà sẽ tiếp tục cố gắng đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ

quốc Đồng thời, chúng ta phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu của đế

quốc Mỹ định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh

quân sự có tính chất xâm lược, chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược

và khống chế Đông Dương cùng Đông Nam Á”.

Mỹ chống lại việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, nhưng khi Hiệp định được ký kết thì

Mỹ coi Hiệp định là một cơ sở mở đường cho chúng hất cẳng Pháp nhảy vào thực hiện

1 Tuyên bố của Mỹ tại Hội nghị Giơnevơ 1954 (bản tiếng Anh).

2 Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.43-44

Trang 9

chính sách thực dân mới ở miền Nam Việt Nam Từ tháng 6 năm 1954, Mỹ ép Pháp đưa Ngô

Đình Diệm được Mỹ nuôi dưỡng về làm Thủ tướng thay Bửu Lộc, lập bộ máy tay sai của Mỹ

ở miền Nam, chuẩn bị cho Mỹ thay Pháp, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới hòng chia cắt

và thống trị lâu dài đất nước ta Mặt khác, muốn xây dựng miền Nam thành một căn cứ quân

sự để tiến công ra Bắc và hệ thống xã hội chủ nghĩa từ phía Đông Nam khi có điều kiện; biến

miền Nam thành một mắt xích trong hệ thống căn cứ quân sự ở Đông Nam

Á nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống vùng này

Đế quốc Mỹ sử dụng nhiều thủ đoạn về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, nhất lànhanh chóng thiết lập bộ máy chính quyền tay sai Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm

làm Tổng thống, đó là chính quyền dựa vào Mỹ, bất hợp pháp, xây dựng lực lượng quân đội

được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ Bộ máy chính quyền, lực

lượng quân đội Sài Gòn trở thành công cụ đắc lực nhằm thi hành chính sách thực dân mới

của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Đế quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức chống

phá các lực lượng cách mạng, khủng bố dã man những người đòi hiệp thương tổng tuyển cử,

thống nhất đất nước Chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách “tố cộng”, “diệt

cộng”, lập “khu trù mật”, “khu dinh điền” nhằm mục đích bắt bớ, trả thù tất cả những người

yêu nước kháng chiến cũ Với khẩu hiệu “giết nhầm còn hơn bỏ sót”, chúng thẳng tay giết

hại các chiến sĩ cách mạng và những người dân vô tội Chúng đàn áp phong trào đấu tranh

đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ của các tầng lớp nhân dân; gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm

máu ở Bến Tre, Quảng Nam, Phú Yên Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã xé bỏ Hiệp

định Giơnevơ, cự tuyệt tổng tuyển cử thống nhất đất nước Ngày 13-5-1957, Ngô Đình Diệm

thăm Mỹ và tuyên bố: “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”, đó là lập trường và hành

động bán nước trắng trợn Mỹ ra sức xây dựng các đô thị miền Nam, tạo ra bộ mặt kinh tế

phồn vinh Nhưng thực chất, chúng muốn tranh giành đất, giành dân

ở miền Nam Từ đó, tạo bước đệm cho các cuộc chiến tranh xâm lược miền Bắc, sang các

nước láng giềng Lào và Campuchia

Trang 10

2.2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT VỚI MĨ

Sau hội nghị Trung ương lần 6, đánh giá tình hình mới, Đảng đã xác định và chỉ rõ

kẻ thù mới của dân tộc ta là đế quốc Mỹ và tay sai với chính sách xâm lược thực dân mới

của chúng, sớm vạch ra một cách đúng đắn hai chiến lược cách mạng, phải đồng thời tiến

hành trên hai miên Nam Bắc nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất

đất nước Ta đã khẩn trương ổn định, củng cố được miền Bắc làm căn cứ địa vững chắc,

làm trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng cả nước Đó là nhân tố cực kỳ quan trọng

trước khi cả nước ta bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước

Tháng 9-1954, Bộ Chính trị ra nghị quyết về "Tình hình mới, nhiệm vụ mới vàchính sách mới của Đảng", vạch rõ những đặc điểm của cách mạng nước ta, trong đó đặc

điểm quan trọng nhất là đất nước tạm thời chia cắt hai miền, từ nông thôn đến thành thị,

từ phân tán đến tập trung, đề ra nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới Bộ Chính trị đề

ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của miền Bắc là hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi

kinh tế quốc dân, trước hết là phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp, ôn định xã hội,

ôn định, đời sống nhân dân, tăng cường và mở rộng hoạt động quan hệ quốc tế để sớm

đưa miền Bắc trở lại bình thường sau 9 năm chiến tranh Nông nghiệp được coi là trọng

tâm trong khôi phục kinh tế Công nghiệp, tiểu thủ công và giao thông vận tải được khôi

phục, một số nhà máy mới được xây dựng

Thời kỳ này ở miền Bắc, quân đội ta tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trước mắt,cùng toàn dân khắc phục hậu quả chiến tranh, chấn chỉnh tổ chức, cải tiến trang bị, bước đầu

xây dựng theo phương hướng chính quy, hiện đại Việc tổng kết kinh nghiệm chiến đấu trong

kháng chiến chống Pháp bắt đầu được thực hiện Công tác huấn luyện quân sự, diễn tập thực

nghiệm và thực binh được đẩy mạnh Trình độ chiến đấu, nghệ thuật quân sự của quân đội ta

có bước phát triển, tiến bộ mới trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, học tập kinh nghiệm của bạn

và huấn luyện quân sự Ở miền Nam, lực lượng vũ trang mới hình thành, quy mô tổ chức của

các đơn vị vũ trang tập trung phổ biến là trung đội, đại đội và một số tiểu đoàn Hình thức tác

chiến chủ yếu là du kích, hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị và nổi dậy đồng khởi Xuất

hiện một số trận phục kích (Giồng Thị Đàm, Gò Quản Cung),

Trang 11

tập kích (Tua Hai), bao vây bứt rút đồn bảo an dân vệ, diệt ác ôn Vũ khí chủ yếu là thu

của địch và tự tạo Một số trận có kết hợp với vận động binh lính địch và nội ứng Một số

nơi đã xuất hiện chiến đấu chống càn, phối hợp giữa đấu tranh chính trị trực diện của

quần chúng có tổ chức với tác chiến du kích của lực lượng vũ trang

Từ thực tiễn cách mạng miền Nam, tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn đã dự thảo Đềcương cách mạng Việt Nam ở miền Nam Bản Đề cương đã được đưa ra thảo luận tại Hội

nghị Xứ ủy Nam Bộ họp tại Phnôm Pênh tháng 12-1956 Trong đó, xác định: “Muốn

chống Mỹ - Diệm, ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường

nào khác; dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng làm căn bản; xây dựng Mặt trận để

đoàn kết nhân dân chống Mỹ và tay sai…” Đề cương cách mạng miền Nam là một trong

những văn kiện quan trọng góp phần vào sự hình thành đường lối kháng chiến chống Mỹ,

cứu nước

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 13 (tháng 12-1957), Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh đã xác định ngày càng rõ hơn nhiệm vụ của cách mạng cả nước: “Nước ta đồng

thời tiến hành hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách

mạng xã hội chủ nghĩa Hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng, coi nhẹ một

nhiệm vụ nào cũng đều sai lầm” Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, diễn ra trong 2

đợt: Đợt 1 vào tháng 1-1959 tại Hà Nội, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, một số cán bộ

Khu ủy khu V, vùng Tây Nguyên, Xứ ủy Nam Bộ cũng ra dự Hội nghị đã chỉ rõ nhiệm

vụ cơ bản của miền Nam là: “Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ

xâm lược và gây chiến, đánh đổ Tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của

đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam,

thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ Cải thiện đời sống nhân dân, giữ

vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực

góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới”1

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.20, tr 81,82

Trang 12

Phương pháp cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhândân bằng bạo lực của nhân dân: “Cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả

năng chuyển thành đấu tranh vũ trang trường kỳ giữa ta và địch và thắng lợi cuối cùng

nhất định về ta Trong khi lãnh đạo, Đảng phải thấy trước khả năng ấy để chuẩn bị chu

đáo và chủ động đối phó trong mọi tình thế”

Đợt 2, vào tháng 7-1959, Hội nghị xác định: “Cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam

còn lâu dài, gian khổ, khó khăn và phức tạp, Đảng bộ miền Nam tin tưởng dưới sự lãnh đạo

của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng miền Nam nhất định sẽ thắng

lợi, hòa bình độc lập, dân chủ, thống nhất trong toàn quốc sẽ được thực hiện”1

Trên cơ sở thống nhất ý kiến của hai đợt họp, tháng 7-1959 Hội nghị Trung ương 15chính thức thông qua Nghị quyết Trong đó xác định cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh

đạo có hai nhiệm vụ chiến lược song song tiến hành là cách mạng XHCN ở miền Bắc và

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ tuy tính chất khác nhau

nhưng có quan hệ hữu cơ, cùng tác động, ảnh hưởng và hỗ trợ lẫn nhau: “Hai miền tiến

hành hai nhiệm vụ khác nhau nhưng đánh đổ chế độ thống trị Mỹ - Diệm, giải phóng

miền Nam là nhiệm vụ chung, vì lợi ích và yêu cầu chung của nhân dân cả nước”

Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ của cách mạng miền Nam: “Giải phóng miền Nam khỏiách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng,

hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, góp phần xây dựng một nước Việt Nam

hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh… Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn

dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống

trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân

chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống

của nhân dân, giữa vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân

chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới” Đồng thời Nghị quyết

xác định phương pháp tiến hành đấu tranh ở miền Nam là: “Khởi nghĩa giành

1 Trịnh Nhu (2002), Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Trang 13

chính quyền về tay nhân dân” và theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng

thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần

chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc

và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”

Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đưa cách mạng miền Nam bước sang giai đoạn pháttriển mới Sau Hội nghị, nhằm đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng miền Nam, Bộ Chính

trị chủ trương lập đội vận tải quân sự dọc Trường Sơn (gọi tắt là Đoàn 559) và đơn vị vận

tải vượt biển Đông (gọi tắt là Đoàn 759) , sau đổi tên thành Đoàn 125, có vai trò và vị trí

chiến lược trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trong 2 năm (năm 1959

và 1960), các con đường này đã đưa vào miền Nam hàng nghìn cán bộ, chiến sỹ và hàng

chục nghìn tấn hàng quân sự đầu tiên chi viện cho phong trào cách mạng ở miền Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đã đến với các địa phương ở miền Nambằng nhiều con đường, đi vào quần chúng đúng lúc họ đang ở vào tình thế “không muốn

sống như cũ” và đang khát khao mong đợi đường lối của Đảng Cán bộ, quần chúng hiểu

Nghị quyết với tinh thần là “Đảng cho đánh rồi” Từ đó tạo nên phong trào Đồng khởi rộng

khắp các tỉnh miền Nam nhằm phá ách kìm kẹp của địch, xây dựng chính quyền cách mạng,

theo phương châm dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với sự hỗ

trợ của lực lượng vũ trang, tiêu biểu là tỉnh Bến Tre Chỉ sau một tuần Đồng khởi (từ đêm 16

dạng sáng ngày 17-1-1960), tỉnh đã có 22 xã được giải phóng hoàn toàn, 29 xã diệt ác vây,

giải phóng nhiều ấp Ở những nơi giành thắng lợi, chính quyền tự quản và lực lượng vũ trang

được thành lập, bọn tay sai các ôn bị đưa ra xét xử, ruộng đất của địa chủ được chia cho nông

dân Thắng lợi phong trào Đồng khởi tỉnh Bến Tre đã tác động mạnh đến phong trào cách

mạng hầu hết các tỉnh Nam Bộ Ở Bà Rịa, đêm ngày 2-3-1960, lực lượng vũ trang đột nhập

Bình Ba, diệt 3 bốt địch, mở đầu cho cuộc nổi dậy Nhân dân huyện Châu Thành, Long Đất,

Xuyên Mộc tiến hành khởi nghĩa, kết hợp với lực lượng vũ trang diệt nhiều tên ác ôn, giải

phóng thôn ấp Hầu hết các ban tề ấp, xã tan rã, mất hiệu lực, 865 xã trong tổng 1.193 xã

toàn Nam Bộ và 3.200 trong tổng 5.721 thôn ở miền núi Khu V không còn chính quyền địch

Các tổ chức phản động cũng ta rã theo Hàng nghìn binh lính, hạ sỹ

Trang 14

quan và một số sỹ quan địch đầu hàng Hàng loạt khu dinh điền, khu trù mật, khu tập

trung của Mỹ - Diệm bị phá tan Ruộng đất được về tay nông dân Lực lượng vũ trang

nhân dân phát triển mạnh với 3 hình thức: Các đội tự vệ, du kích xã; các đội vũ trang ở

huyện, tỉnh; các đơn vị bộ đội tập trung của khu ngày càng lớn mạnh, là sức mạnh lớn

của phong trào cách mạng ở miền Nam

Tóm lại, Nghị quyết 15 đã đưa ra những nội dung,

Về mâu thuẫn xã hội: Trên cơ sở phân tích đặc điểm tình hình cách mạng ở miền

Nam có hai mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với bọn đế quốc Mỹ xâm

lược và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm ; Mâu thuẫn giữa nhân dân, trước hết là nông

dân với địa chủ phong kiến

Về lực lượng tham gia cách mạng: Nghị quyết xác định gồm giai cấp công nhân ,

nông dân, tư sản dân tộc và tiểu tư sản lấy liên minh công - nông làm cơ sở

Về đối tượng của cách mạng: Đế quốc Mỹ, tư sản mại bản, địa chủ phong kiến và

tay sai của đế quốc Mỹ

Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam: là giải phóng miền Nam thoát khỏi ách

thống trị của đế quốc và phong kiến , thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng,

xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh

Nhưng trên con đường dài thực hiện nhiệm vụ cơ bản ấy, cách mạng miền Nam phải đi

từng bước từ thấp đến cao

Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam: là “đoàn kết toàn dân đánh đổ tập

đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở

miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân

dân, thực hiện thống nhất nước nhà; tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam á và

thế giới

Nghị quyết nhấn mạnh: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền

Nam là con đường cách mạng bạo lực, giành chính quyền về tay nhân dân Theo tình hình cụ

thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần

Ngày đăng: 25/10/2022, 15:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000, tập 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000, tập 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
[3] Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia"
[4] Trịnh Nhu (2002), Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975)
Tác giả: Trịnh Nhu
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[6] Văn Hùng, (19/07/2014), Hiệp định Giơ-ne-vơ- thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự và đối ngoại đúng đắn của Đảng. Truy cập từ:http://www.xaydungdang.org.vn/Home/quoc-te/2014/7589/Hiep-dinh-Gionevo-thang-loi-cua-duong-loi-chinh-tri-quan-su.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định Giơ-ne-vơ- thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự và đối ngoại đúng đắn của Đảng
[7] Tạp chí Tổ chức Nhà nước, (20/07/2014), Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954: Những bài học lớn cho công tác đối ngoại Việt Nam hôm nay. Truy cập từ:https://tcnn.vn/news/detail/6053/Hoi_nghi_Gio_ne_vo_nam_1954_Nhung_bai_hoc _lon_cho_cong_tac_doi_ngoai_Viet_Nam_hom_nayall.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954: Những bài họclớn cho công tác đối ngoại Việt Nam hôm nay
[5] TS. Nguyễn Huy Phương, (25/01/2022), Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu. Truy cập từ:https://baria-vungtau.dcs.vn/article?item=b72f8afa5b43075b0b53538a619daee1 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w