COVID 19 ĐÁNH GIÁ NHANH TÁC ĐỘNG KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA ĐẠI DỊCH ĐỐI VỚI TRẺ EM VÀ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM HÀ NỘI, THÁNG 8 NĂM 2020 Lời cảm ơn Đánh giá nhanh này là một phần trong chương trình hỗ trợ toà.
Giới thiệu và mục tiêu
Các ca mắc đầu tiêu Đóng cửa trường học
Cách ly toàn xã hội
Nới lỏng cách ly toàn xã hội
WEAR A MASK WASH YOUR HANDS
AVOID CONTACT WITH SICK PEOPLE
Biểu đồ 1 thể hiện các mốc thời gian trong hai thập kỷ qua, cho thấy bằng chứng rõ ràng được thu thập kịp thời thông qua đánh giá và phân tích tác động dựa trên nghiên cứu thực nghiệm Dữ liệu tập trung vào trẻ em và gia đình ở cấp độ hộ gia đình và cá nhân, cho thấy vai trò quan trọng của bằng chứng đối với quá trình ra quyết định của các nhà hoạch định chính sách và đối tác phát triển Những kết quả này hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng các chính sách ứng phó kịp thời và hiệu quả, cả ở ngắn hạn lẫn dài hạn Việc dựa trên bằng chứng thực nghiệm giúp tối ưu hóa tác động của các chương trình hỗ trợ và tăng cường khả năng đáp ứng của hệ thống xã hội trước các thách thức.
Trên quy mô toàn cầu, Tổng thư ký Liên hợp quốc và Tổng giám đốc UNICEF đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích tác động kinh tế và xã hội của COVID-19 đối với trẻ em Các tuyên bố này nhằm hướng tới cung cấp bằng chứng khoa học thực nghiệm ban đầu về những ảnh hưởng của đại dịch lên đời sống, giáo dục và quyền trẻ em Việc tiếp cận dữ liệu và đánh giá sớm sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng hiểu rõ hơn các hệ quả kinh tế - xã hội và từ đó quyết định các biện pháp can thiệp phù hợp Mục tiêu cuối cùng là xây dựng cơ sở dữ liệu uy tín để bảo đảm chăm sóc, giáo dục và phúc lợi cho trẻ em không bị bỏ lại phía sau giữa đại dịch.
COVID-19 đã tác động đáng kể đến trẻ em và các gia đình tại Việt Nam, ảnh hưởng đến sức khỏe, giáo dục và sinh hoạt hàng ngày Nghiên cứu này do UNICEF hợp tác triển khai với Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội nhằm đánh giá mức độ tác động của đại dịch và nhu cầu hỗ trợ của cộng đồng, từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp phù hợp Kết quả cho thấy tác động không đồng nhất giữa các khu vực và hoàn cảnh gia đình, đồng thời làm nổi bật nhu cầu cấp thiết về thông tin, chăm sóc sức khỏe tâm lý, dịch vụ y tế sẵn có và các chương trình giáo dục hỗ trợ trẻ em và gia đình Những bài học rút ra từ nghiên cứu có thể giúp Việt Nam cải thiện phản ứng y tế công và tăng cường khả năng phục hồi cho trẻ em và gia đình chịu ảnh hưởng bởi COVID-19.
4/2020 với những mục tiêu sau:
Mục tiêu 1 của nghiên cứu là đánh giá tác động tích cực và tiêu cực ngắn hạn và dài hạn của đại dịch COVID-19 đối với trẻ em tại Việt Nam, tập trung vào những nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em trong hộ gia đình nghèo và cận nghèo, trẻ khuyết tật và trẻ mồ côi Nghiên cứu xem xét các tác động tiêu cực như gián đoạn học tập, gia tăng nguy cơ mất an ninh dinh dưỡng và căng thẳng tâm lý, đồng thời cân nhắc cả các cơ hội tiềm năng như phát triển kỹ năng tự học, tiếp cận giáo dục từ xa và sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng Đánh giá sẽ bao gồm tác động tới sức khỏe thể chất và tâm lý của trẻ trong ngắn hạn, cũng như các hệ quả lâu dài đối với cơ hội giáo dục, phát triển thể chất và tinh thần, nhằm đề xuất các biện pháp can thiệp và chính sách bảo vệ trẻ em hiệu quả hơn Kết quả mong đợi cung cấp bằng chứng để thúc đẩy các chương trình hỗ trợ trẻ em dễ bị tổn thương, tăng cường tiếp cận giáo dục và dịch vụ y tế, và nâng cao khả năng phục hồi của trẻ em và gia đình trước các biến cố y tế trong tương lai.
Khảo sát và tổng hợp cho thấy cha mẹ và người chăm sóc trẻ tại Việt Nam đã áp dụng nhiều chiến lược ứng phó nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 lên trẻ em Các biện pháp chủ chốt gồm duy trì lịch sinh hoạt ổn định, cân bằng giữa học tập trực tuyến và nghỉ ngơi, quản lý thời gian màn hình, và tạo môi trường gia đình an toàn, yêu thương Cha mẹ chú trọng hỗ trợ học tập tại nhà bằng cách thiết kế không gian học tập yên tĩnh, lên kế hoạch thời gian hợp lý và khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động sáng tạo tại gia để duy trì động lực Bên cạnh giáo dục, chăm sóc sức khỏe tâm lý được đẩy mạnh với các cuộc trò chuyện mở, lắng nghe trẻ và tìm kiếm hỗ trợ chuyên gia khi cần thiết Đồng thời, dinh dưỡng đầy đủ, rèn luyện thể chất đều đặn và an toàn thông tin trên mạng được chú trọng để bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ ở Việt Nam trong bối cảnh đại dịch.
Đoạn văn này phân tích các yếu tố thúc đẩy và rào cản đối với các chiến lược ứng phó của cha mẹ và người chăm sóc trẻ trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tại Việt Nam và đề xuất các lựa chọn chính sách, kèm khuyến nghị ngắn hạn và dài hạn nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực lên trẻ em đồng thời đảm bảo lợi ích và phúc lợi cho trẻ và gia đình Các yếu tố thúc đẩy có thể bao gồm sự linh hoạt trong quản lý thời gian, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và hỗ trợ xã hội, trong khi các rào cản có thể là bất bình đẳng thu nhập, giới hạn công nghệ và thiếu tiếp cận giáo dục từ xa đầy đủ Trên cơ sở phân tích này, bài viết đề xuất các giải pháp chính sách nhằm tăng cường an toàn sức khỏe, hỗ trợ tài chính cho gia đình và nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục và chăm sóc trẻ, với các khuyến nghị cụ thể cho ngắn hạn và dài hạn nhằm giảm thiểu hậu quả tiêu cực của đại dịch và đảm bảo phúc lợi cho trẻ em và gia đình.
Ba cấu phần sau của nghiên cứu được thực hiện nhằm đáp ứng ba mục tiêu của nghiên cứu:
2.1 Tổng quan tài liệu và phân tích dữ liệu thứ cấp
Nhóm nghiên cứu đã rà soát, trích dẫn và phân loại tài liệu chính và dữ liệu thứ cấp về tác động của đại dịch COVID-19 lên trẻ em và vị thành niên từ 2–18 tuổi và gia đình tại Việt Nam, tập trung vào ba lĩnh vực chính: (1) tác động ngắn hạn và dài hạn đối với trẻ em Việt Nam (trực tiếp) và gia đình các em (gián tiếp); (2) chiến lược ứng phó được cha mẹ/người chăm sóc trẻ áp dụng nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 đối với trẻ em; và (3) các yếu tố thúc đẩy và rào cản đối với các chiến lược ứng phó của cha mẹ/người chăm sóc trẻ và các lựa chọn chính sách.
Bài viết trình bày các khuyến nghị cho cả giai đoạn ngắn hạn lẫn dài hạn, đồng thời khai thác bằng chứng và các nghiên cứu quan trọng do các tổ chức khác thực hiện để làm sáng tỏ tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu cắt ngang nhằm phân tích các biến tại một thời điểm cụ thể Phương pháp này thu thập dữ liệu từ các cộng đồng ở khu vực thành thị và nông thôn, cũng như từ các khu công nghiệp tại Hà Nội, nhằm so sánh giữa các nhóm dân cư và khu vực công nghiệp đồng thời đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố nghiên cứu.
Nội, thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) và tỉnh Vĩnh
Kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích được áp dụng để lựa chọn các người cung cấp thông tin là cha mẹ và thanh thiếu niên từ các nhóm khác nhau, bao gồm người sống trong các khu cách ly tập trung của Chính phủ và các khu vực bị phong tỏa, người lao động chính thức và không chính thức, và người di cư Ở mỗi địa điểm nghiên cứu (tổng cộng sáu địa điểm), hai người mẹ hoặc cha hoặc người chăm sóc trẻ trong độ tuổi từ 2-5 tuổi, và hai người mẹ hoặc cha hoặc người chăm sóc trẻ và vị thành niên trong độ tuổi từ 6-18 tuổi đã được lựa chọn Tổng cộng 148 người tham gia (6% là người cha và 94% là người mẹ) đã được phỏng vấn qua điện thoại.
Phương pháp nghiên cứu
Tổng quan tài liệu và phân tích dữ liệu thứ cấp
Nhóm nghiên cứu đã rà soát, trích dẫn và phân loại các tài liệu chính và dữ liệu thứ cấp về tác động của đại dịch COVID-19 lên trẻ em và vị thành niên từ 2-18 tuổi và gia đình tại Việt Nam, tập trung vào ba lĩnh vực chính: (1) tác động ngắn hạn và dài hạn của đại dịch đối với trẻ em Việt Nam (trực tiếp) và gia đình các em (gián tiếp); (2) chiến lược ứng phó mà cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ áp dụng nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của COVID-19; và (3) các yếu tố thúc đẩy và rào cản đối với các chiến lược ứng phó của cha mẹ/người chăm sóc và các lựa chọn chính sách.
Chúng tôi trình bày các khuyến nghị cho hai giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, dựa trên bằng chứng và các nghiên cứu quan trọng từ các tổ chức khác nhằm cung cấp bối cảnh về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tại Việt Nam Nội dung phân tích làm rõ các yếu tố then chốt và định hướng hành động, đồng thời bảo đảm tính phù hợp với thực tế địa phương và xu hướng toàn cầu Mục tiêu là đề xuất các biện pháp thực thi có căn cứ để tăng cường năng lực phát triển và thúc đẩy tăng trưởng bền vững ở Việt Nam.
Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang nhằm đo lường các biến số tại một thời điểm, giúp nắm bắt tổng quan nhanh chóng về thực trạng Nghiên cứu được triển khai ở các cộng đồng thuộc khu vực thành thị và nông thôn, đồng thời mở rộng tới các khu công nghiệp tại Hà Nội, từ đó so sánh và phân tích các yếu tố ảnh hưởng giữa các khu vực khác nhau.
Nội, thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) và tỉnh Vĩnh
Phương pháp lấy mẫu có chủ đích được áp dụng để chọn người cung cấp thông tin là cha mẹ và thanh thiếu niên từ các nhóm khác nhau, bao gồm người sống trong các khu cách ly tập trung của Chính phủ và khu vực bị phong tỏa, người lao động chính thức và không chính thức, cũng như người di cư Tại mỗi địa điểm nghiên cứu (sáu địa điểm), hai người cha hoặc mẹ hoặc người chăm sóc trẻ ở độ tuổi 2-5 và hai người cha hoặc mẹ hoặc người chăm sóc trẻ và vị thành niên ở độ tuổi 6-18 được lựa chọn Tổng cộng 148 người tham gia phỏng vấn qua điện thoại, trong đó 6% là cha và 94% là mẹ.
2 Phương pháp nghiên cứu người tham gia phỏng vấn, những người từ các hộ gia đình nghèo chiếm tỷ lệ 3,4%, cận nghèo chiếm 6,1% 9 , và những người khác chiếm 90,5% Dữ liệu thu thập được làm sạch và lưu trữ bằng phần mềm Epidata Dữ liệu được phân tích sử dụng phần mềm Stata 16 Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phân tích thống kê mô tả.
Nghiên cứu định tính
Việc thu thập dữ liệu định tính không được thực hiện ở 148 cá nhân đã tham gia cung cấp thông tin cho nghiên cứu định lượng Người tham gia nghiên cứu định tính gồm cha mẹ, người chăm sóc trẻ, các bên liên quan, đại diện của các dân tộc thiểu số và thanh thiếu niên từ 16–18 tuổi Nhóm nghiên cứu đã dùng hướng dẫn phỏng vấn sâu bán cấu trúc để phỏng vấn các đối tượng tham gia và áp dụng kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích cho một nhóm khác gồm 36 người Phỏng vấn sâu được tiến hành qua điện thoại, Zoom và ứng dụng Zalo nhằm tìm hiểu các tác động kinh tế - xã hội thực tế và tiềm ẩn đối với trẻ em Tính bảo mật và quyền riêng tư được đảm bảo: tên của từng đáp viên không được đưa vào bản ghi âm; sau khi hoàn thành mỗi cuộc phỏng vấn, bản ghi âm được thu thập và gán mã ẩn danh trước khi viết lại nội dung phỏng vấn; toàn bộ nội dung phỏng vấn được viết lại nguyên văn Dữ liệu sau đó được phân tích dựa trên kỹ thuật phân tích nội dung.
Đạo đức nghiên cứu
Các người tham gia phỏng vấn trong nghiên cứu đều dựa trên tinh thần tự nguyện và được giải thích chi tiết về mục đích nghiên cứu, nội dung phỏng vấn và quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ thời điểm nào mà không chịu hậu quả Họ được cung cấp đầy đủ thông tin về cách nhóm nghiên cứu bảo vệ tính bảo mật thông tin họ cung cấp và được yêu cầu đồng ý bằng lời nói tham gia nghiên cứu và cho phép ghi âm cuộc phỏng vấn Phê duyệt đạo đức cho nghiên cứu được thực hiện bởi Hội đồng Đánh giá Độc lập thuộc trường Đại học YTCC Hà Nội.
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu này có một số hạn chế trong việc đánh giá tác động kinh tế - xã hội của đại dịch COVID-19 đối với trẻ em và gia đình; thiết kế cắt ngang không cho phép khám phá sâu mỉa mài và phân tích mối quan hệ nhân quả Thứ hai, kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích và cỡ mẫu nhỏ (148 người tham gia nghiên cứu định lượng và 36 người tham gia nghiên cứu định tính) có thể dẫn đến sai lệch chọn mẫu và ảnh hưởng tới khả năng khái quát hóa kết quả Mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ các tác động của đại dịch đối với những trẻ em dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt là trẻ khuyết tật, nhưng do đặc thù của phương pháp lấy mẫu và khung thời gian, nhóm nghiên cứu chỉ có thể tiếp cận một số gia đình có trẻ khuyết tật Trong nhiều gia đình được lựa chọn, phụ nữ được xem là người chăm sóc trẻ chính và được mời tham gia đánh giá này.
Phụ nữ chiếm tỉ lệ cao trong nhóm người cung cấp thông tin chính cho cả nghiên cứu định lượng và phỏng vấn định tính Tuy nhiên, do các thủ tục yêu cầu của Chính phủ còn phức tạp, nhóm nghiên cứu không thể hoàn thành phỏng vấn tại các khu cách ly tập trung ở TP Hồ Chí Minh và chỉ có thể thực hiện số lượng phỏng vấn hạn chế ở các khu vực cách ly tập trung tại Hà Nội Do bối cảnh bùng phát COVID-19, các phần định lượng và định tính được tiến hành trên nền tảng trực tuyến hoặc qua điện thoại, nên không thể quan sát trực tiếp phản ứng hay cảm xúc của người tham gia.
3.1 Tình hình kinh tế hộ gia đình và tính dễ bị tổn thương trong bối cảnh đại dịch COVID-19 Đại dịch COVID-19 và các biện pháp can thiệp không dùng thuốc đã khiến nhiều người dân, đặc biệt là những người ở khu vực nông thôn và dân tộc thiểu số rơi vào tình trạng nghèo đói do mất việc làm, thiếu việc làm và mất thu nhập Tới cuối tháng 6 năm 2020, ước tính khoảng 30.8 triệu người ở Việt Nam đã bị tác động tiêu cực bởi COVID-19 và
53,7% người lao động phải đối mặt với việc giảm thu nhập khoảng 10%, đặt ra thách thức cho các nhóm dễ bị tổn thương tài chính như người gặp khó khăn trả tiền thuê nhà, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao, người có thu nhập thấp và người lao động không chính thức Ví dụ, tỷ lệ nghèo trong các hộ gia đình có người làm việc trong ngành may mặc có thể tăng gấp đôi từ 14% lên 28% do hậu quả của đại dịch Việc mất 50% thu nhập có thể làm tăng gấp đôi tỷ lệ nghèo trong thời gian sáu tháng đối với các hộ gia đình làm việc trong ngành dệt may, may mặc và sản xuất hàng da Một nửa số hộ gia đình ở khu vực nông thôn được khảo sát bởi Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn cho biết thu nhập trung bình giảm 38,3% từ các hoạt động nông nghiệp; 73% hộ được khảo sát cho biết thu nhập của họ từ các hoạt động phi nông nghiệp giảm trung bình 46,8%.
Sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 có thể dẫn tới tình trạng mất việc làm trên diện rộng, đặc biệt là đối với những việc làm không chính thức tại Việt Nam
Nhiều người lao động từ “có việc làm” thành tạm thời bị cho nghỉ việc, thiếu việc làm hoặc thậm chí trở thành thất nghiệp trong đợt bùng phát đại dịch COVID-19 Tính tới ngày 20/6/2020, tổng vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đã giảm 15,1% so với cùng kỳ năm 2019 và Chỉ số Sức khỏe Doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam (VCCI) đưa ra dự báo sẽ giảm từ 62,5% trong
Quý I năm 2020 xuống 30,9% trong Quý II Khoảng
45,6% doanh nghiệp tư nhân và 25,8% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài báo cáo đạt được ít hơn
50% doanh thu so với kế hoạch đề ra trong Quý I năm
Đến giữa tháng 4 năm 2020, có khoảng 5 triệu lao động mất việc làm do đại dịch COVID-19, trong đó 1,2 triệu người (24%) làm việc trong ngành công nghiệp chế biến và sản xuất; 1,1 triệu người (22%) làm việc trong ngành bán buôn và bán lẻ; và 740.000 người thuộc các ngành còn lại bị ảnh hưởng bởi đại dịch.
Các phát hiện chính
Tình hình kinh tế hộ gia đình và tính dễ bị tổn thương trong bối cảnh đại dịch COVID-19
COVID-19 và các biện pháp can thiệp phi dược đã gây tổn thương lớn cho người dân Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và cộng đồng dân tộc thiểu số, khi họ rơi vào nghèo đói do mất việc làm, thiếu việc làm và mất thu nhập Tính đến cuối tháng 6 năm 2020, ước tính có khoảng 30.8 triệu người ở Việt Nam bị tác động tiêu cực bởi đại dịch này.
53,7% người lao động phải đối mặt với mức giảm thu nhập 10%, điều này đặt ra thách thức cho các nhóm dễ bị tổn thương về tài chính, các hộ gia đình gặp khó khăn với chi phí nhà ở, nhu cầu cao về chăm sóc sức khỏe, người lao động thu nhập thấp và người làm việc không chính thức; ví dụ, tỷ lệ nghèo trong các hộ có người làm việc trong ngành may mặc có thể tăng từ 14% lên 28% do tác động của đại dịch, và mất 50% thu nhập có thể làm tăng gấp đôi tỷ lệ nghèo trong vòng sáu tháng đối với các hộ làm việc trong ngành dệt may, may mặc và sản xuất hàng da; tại khu vực nông thôn, khoảng một nửa số hộ được khảo sát cho biết thu nhập từ hoạt động nông nghiệp giảm 38,3%, trong khi 73% hộ cho biết thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp giảm trung bình 46,8%.
Sự bùng phát của dịch COVID-19 có thể dẫn tới mất việc làm trên diện rộng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới thu nhập của nhiều gia đình tại Việt Nam Đặc biệt, lao động trong khu vực việc làm không chính thức dễ bị tổn thương khi chuỗi cung ứng và nhu cầu thị trường suy giảm Thất nghiệp tạm thời và giảm thu nhập có thể làm tăng gánh nặng tài chính cho người lao động và các hộ gia đình Chính sách hỗ trợ việc làm và an sinh xã hội trở nên cấp thiết để giảm tác động tiêu cực và tạo điều kiện phục hồi cho thị trường lao động Để vượt qua thách thức, cả doanh nghiệp lẫn người lao động cần thích ứng bằng cách chuyển đổi sang hình thức làm việc linh hoạt, đào tạo lại để nâng cao kỹ năng và tăng cơ hội việc làm sau dịch.
Đại dịch COVID-19 bùng phát khiến nhiều người lao động từ trạng thái có việc làm chuyển sang tạm thời nghỉ việc, thiếu việc làm hoặc thậm chí thất nghiệp Tính đến ngày 20/6/2020, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã giảm 15,1% so với cùng kỳ năm 2019, cho thấy tác động tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế và thị trường lao động Chỉ số Sức khỏe Doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố cũng phản ánh tình trạng khó khăn của doanh nghiệp, làm dấy lên lo ngại về khả năng duy trì hoạt động và chu kỳ đầu tư trong giai đoạn tới.
Nam (VCCI) đưa ra dự báo sẽ giảm từ 62,5% trong
Quý I năm 2020 xuống 30,9% trong Quý II Khoảng
45,6% doanh nghiệp tư nhân và 25,8% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài báo cáo đạt được ít hơn
50% doanh thu so với kế hoạch đề ra trong Quý I năm
Đến giữa tháng 4 năm 2020, đại dịch khiến khoảng 5 triệu lao động mất việc làm Trong số này, 1,2 triệu người (24%) thuộc ngành công nghiệp chế biến và sản xuất, 1,1 triệu người (22%) thuộc ngành bán buôn và bán lẻ, và 740.000 người thuộc ngành còn lại.
3 Các phát hiện chính khách sạn (14,8%) Trong số 5 triệu người, 59% người bị tạm thời cho nghỉ việc, 28% bị cắt giảm hoặc luân chuyển công việc, 13% trở thành thất nghiệp 15 Đến giữa năm 2020, Tổ chức Lao động Quốc tế ước tính 10,3 triệu người lao động đã mất việc làm hay bị giảm thu nhập do đại dịch COVID 19 16 Một đánh giá do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tiến hành chỉ ra rằng trong số 46 tỉnh thành tham gia đánh giá, hơn 76% doanh nghiệp được khảo sát đã giảm giờ làm việc của nhân viên thông qua một loạt các lựa chọn từ áp dụng giờ làm việc linh hoạt đến cho nghỉ việc Đến giữa tháng Sáu năm 2020, số người được phê duyệt hưởng trợ cấp thất nghiệp tăng 30% so với cùng kỳ năm 2019 17 Ở cấp thành phố, chỉ riêng trong tháng 5, Trung tâm Dịch vụ Việc làm Hà Nội đã tiếp nhận gần 11.700 đơn thất nghiệp, chiếm 41% số lượng đơn trung bình hàng năm Trong
Trong 5 tháng đầu năm 2020, có khoảng 26.000 doanh nghiệp dừng hoạt động, tăng 36% so với cùng kỳ trước Khoảng 66% trong số 1.300 hộ gia đình được khảo sát ở khu vực nông thôn cho biết có thành viên là lao động nhập cư bị tạm thời mất việc làm hoặc bỏ việc do đại dịch COVID-19.
Trong phần lớn các phản hồi từ cha mẹ tham gia nghiên cứu định lượng và phỏng vấn định tính, đại dịch đã tác động tiêu cực đến tình hình việc làm của họ, bao gồm công việc chính và công việc làm thêm, do nhiều người phải nghỉ việc tạm thời hoặc mất việc hoàn toàn Cụ thể, 57,4% hiện không có việc làm (55,3% ở khu vực nông thôn so với 44,7% ở khu vực thành thị) và 25,7% đang làm các công việc được trả lương thấp hơn trước, với tỉ lệ 63,2% ở nông thôn so với 36,8% ở thành thị, được trình bày tại Hình 1.
Tình trạng mất việc làm khiến thu nhập của nhiều người và gia đình tại Việt Nam giảm đáng kể
Khoảng 44,2% người tham gia cho biết họ không có thu nhập, 40,8% có thu nhập ít hơn trong giai đoạn giãn cách xã hội.
Hình 1: Tình hình việc làm của những người tham gia nghiên cứu trong bối cảnh đại dịch COVID-19
KHÔNG CÓ VIỆC LÀM THU NHẬP ÍT HƠN
Trong thời gian giãn cách xã hội, công việc làm thêm của tôi là lái xe ôm và làm giúp việc bị gián đoạn nghiêm trọng, khiến thu nhập gia đình vốn đã thấp càng trở nên bấp bênh Chồng tôi làm việc tại một quán lẩu cũng mất việc và cho đến nay vẫn chưa tìm được công việc thay thế Với nguồn thu nhập eo hẹp như vậy, chúng tôi gặp nhiều khó khăn để chi trả chi phí sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt là học phí cho hai đứa con.
(ID412- G4+G6, một người mẹ trong gia đình cận nghèo là người lao động không chính thức sống trong một khu vực cách ly tại Hà Nội)
Trong bối cảnh khủng hoảng do COVID-19, người lao động không chính thức là nhóm dễ bị tổn thương nhất trên thị trường lao động vì thiếu chế độ bảo trợ xã hội cơ bản như đảm bảo thu nhập, nghỉ ốm và bảo hiểm y tế so với người lao động chính thức Hầu hết cha mẹ được phỏng vấn trong nghiên cứu định tính là lao động tự do (như lái xe ôm, bán hàng rong hoặc bán vé số), với các công việc bị ảnh hưởng nặng nề và thu nhập giảm 50-70% hoặc mất hoàn toàn Thêm vào đó, các hộ gia đình ở khu vực nông thôn hoặc miền núi, phụ thuộc chủ yếu vào các hoạt động nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi cá, bán hàng ở chợ), bị gián đoạn nghiêm trọng do lệnh hạn chế đi lại và các hoạt động thường xuyên Đặc biệt, các khu vực bị phong tỏa như thôn Hạ Lôi, huyện Mê Linh càng chịu áp lực lớn về thu nhập và khả năng tiếp cận dịch vụ.
Tại Hà Nội, nhiều hộ gia đình nông dân, điển hình là các hộ trồng hoa, buộc phải loại bỏ các sản phẩm không bán được hoặc hư hỏng, khiến thu nhập bị ảnh hưởng nghiêm trọng và gia tăng áp lực lên nguồn thu nhập bất ổn mà họ dựa vào Đại dịch dường như làm gia tăng khó khăn cho các hộ nghèo và cận nghèo, khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh nghèo hơn Theo dữ liệu được trình bày, 30,4% người tham gia đã rút tiền sớm từ tài khoản tiết kiệm để trang trải chi phí sinh hoạt như hóa đơn điện nước, tiền thuê nhà và thực phẩm Khoảng 51,4% người tham gia cho biết họ phải vay tiền từ người thân và/hoặc vay ngân hàng để chi trả các chi phí sinh hoạt trong thời gian giãn cách xã hội.
Một số người tham gia nghiên cứu định tính cho biết họ đã vay vốn ngân hàng để đầu tư vào phục hồi hoạt động nông nghiệp sau đợt giãn cách xã hội Dù dịch COVID-19 đã được kiểm soát sự lây lan và nhiều hoạt động kinh tế đã khởi sắc trở lại, các tác động tiêu cực đối với thu nhập hộ gia đình vẫn còn nặng nề và dự báo sẽ kéo dài trong những tháng tới Những khó khăn này không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của gia đình mà còn tác động đến sự phát triển của trẻ em trong gia đình.
Do đại dịch COVID-19, thôn của tôi bị phong tỏa và cô lập, khiến mọi người không thể ra đồng làm việc như bình thường Hoa trồng của gia đình tôi bị hỏng khiến chúng tôi mất vài mẫu hoa cúc và hoa hồng Từ đó, gia đình tôi không có thu nhập và gặp nhiều khó khăn kinh tế do nguồn thu từ nông nghiệp bị gián đoạn.
(ID405-G2, một người mẹ, nông dân, Hạ Lôi, Hà Nội)
“Thu nhập của tôi đã giảm 50%, gia đình tôi có một khoản tiết kiệm nhỏ và chúng tôi đã phải sử dụng khoản tiết kiệm đó”
(ID402-G1, một người mẹ, người lao động không chính thức sống trong khu vực cách ly, Sơn Lôi, Vĩnh Phúc)
Trong thời gian COVID-19, thu nhập của chị giảm khoảng 70%, khiến nguồn tài chính bị thu hẹp và nợ tăng lên Áp lực tài chính gia tăng cũng ảnh hưởng tới khoản học phí phải đóng cho con vào giữa tháng Sáu Tình hình này đòi hỏi gia đình phải điều chỉnh chi tiêu, cân đối nguồn lực và lên kế hoạch tài chính để đảm bảo việc học tập của con không bị gián đoạn.
(ID414-G5, một người mẹ, quận Thanh Xuân, Hà Nội)
Vừa vay tiền từ ngân hàng để mua một chiếc xe ô tô và đăng ký làm lái xe taxi với mong muốn kiếm thêm thu nhập, tôi phải trả nợ gốc và lãi đều đặn dù đang đối mặt với áp lực tài chính Tuy nhiên, do lệnh cách ly xã hội và sự mất thu nhập, tôi không có nguồn tiền để trang trải chi phí sinh hoạt cũng như thanh toán nợ đúng hạn.
(ID 417-G6, một người cha, người lao động không chính thức, Tân Phú, Tp HCM)
Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Đại dịch COVID-19 và các biện pháp giãn cách xã hội đã gây xáo trộn đáng kể việc các gia đình có trẻ em tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em Trong khi đó, nhiều cơ sở chăm sóc sức khỏe bị quá tải vì công tác kiểm soát lây truyền COVID-19, làm ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ cho mẹ và trẻ.
Trong thời gian giãn cách xã hội từ ngày 01 đến 22/04/2020 tại Việt Nam, các dịch vụ tiêm chủng thường quy đã tạm ngưng, khiến khoảng 100.000 bà mẹ và trẻ sơ sinh không được thăm khám trước và sau sinh hàng tháng Những người tham gia phỏng vấn cho biết người thân đang mang thai sống ở các khu vực bị phong tỏa gặp khó khăn khi tiếp cận dịch vụ chăm sóc thai kỳ và chăm sóc sức khỏe định kỳ trước sinh và sau sinh Khoảng 44% người tham gia nghiên cứu cho biết con họ phải dùng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong thời gian COVID-19 và họ gặp khó khăn hơn trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em so với trước đại dịch Các gia đình sống tại các khu vực bị phong tỏa (như Sơn Lôi, Hạ Lôi, Trúc Bạch) gặp nhiều trở ngại để tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Trong khi các gia đình ở khu vực không bị phong tỏa vẫn có thể đưa trẻ tới các cơ sở y tế công - tư nhân hoặc tự chăm sóc, các gia đình ở khu vực bị phong tỏa chỉ có thể đưa trẻ tới trạm y tế xã để khám và điều trị, không thể đến các cơ sở y tế tuyến trên.
Con trai chị bị viêm họng và do phong tỏa thôn xã, chị không thể đưa cháu tới cơ sở y tế chuyên khoa để được điều trị tốt hơn Thay vào đó, chị đưa cháu tới trạm y tế xã, nhưng bác sĩ ở đây không còn tận tình như trước đại dịch Ở khu vực bị phong tỏa, chị cũng gặp nhiều khó khăn trong việc mua thuốc cho con.
(ID409-G3, một người mẹ, Hạ Lôi, Hà Nội)
“Trong suốt thời gian giãn cách xã hội, tôi đến trạm y tế xã ít hơn; thay vì thế, tôi gọi điện cho bác sĩ để được tư vấn.”
Đại dịch và các biện pháp giãn cách xã hội đã làm gián đoạn lịch tiêm chủng của nhiều trẻ, kể cả ở những vùng có tỉ lệ tiêm chủng thấp trước đó Số trẻ dưới 5 tuổi đến khám và được tiêm chủng tại các trạm y tế xã suy giảm lần lượt là 47,8% và 74,7%, khiến cho các dịch vụ tiêm chủng thường quy tại Việt Nam bị tạm ngừng một thời gian và khoảng 420.000 trẻ dưới 1 tuổi có nguy cơ không được tiêm chủng phòng ngừa DPT-HepB-Hib và b-OPV Sự chậm trễ trong tiêm chủng có thể dẫn tới tái xuất hiện các bệnh vốn có thể kiểm soát được tốt Trong quý I/2020 có khoảng 2.132 ca nghi ngờ mắc sởi, 770 ca được lấy mẫu và 617 ca (80%) cho kết quả dương tính Tại 13 và 7 tỉnh lần lượt cho thấy giảm hơn 10% số ca sởi, rubella và bạch hầu Gần đây, nhiều ca mắc bạch hầu mới được phát hiện ở Tây Nguyên, miền Trung và Nam bộ, đưa tổng số ca nhiễm lên tới 126 với 3 trường hợp tử vong ở trẻ em kể từ ngày 20/6/2020 Dịch bệnh này có thể lan rộng trên toàn quốc nếu tỷ lệ tiêm chủng không được duy trì.
Phần lớn phụ huynh có con ở độ tuổi tiêm chủng cho biết đã lỡ các đợt tiêm chủng do đại dịch COVID-19; tác động này có thể khác nhau giữa trẻ sống ở ngoài khu vực phong tỏa và trẻ sống trong khu vực bị phong tỏa Nhiều cha mẹ ngại đưa con đến cơ sở y tế vì sợ lây nhiễm COVID-19 ở nơi đông người, khiến lịch tiêm chủng bị hoãn Trong khu vực bị phong tỏa, trạm y tế xã đã ngừng hoạt động tiêm chủng để ngăn ngừa sự lây lan của dịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế, và các cơ sở y tế tuyến đầu phải ưu tiên nguồn lực cho công tác phòng chống COVID-19 tại khu vực này.
Trong thời gian giãn cách xã hội, trạm y tế xã buộc phải tạm dừng các hoạt động tiêm chủng, khiến con tôi bị lỡ lịch tiêm phòng sởi và không được tiêm kịp thời.
(ID402-G1, một người mẹ, Sơn Lôi, Vĩnh Phúc)
“Khoảng lúc Tết trước khi dịch bệnh bùng phát, tôi đã cho con đi tiêm vắc-xin cúm A và viêm não Nhật
Bác sĩ đã đặt lịch cho chúng tôi đến tiêm mũi tiếp theo, nhưng cuối cùng lại bị lỡ; tôi nhận thấy trạm y tế xã đã thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh và đảm bảo chất lượng dịch vụ Tuy nhiên, đưa trẻ ra ngoài trong thời điểm đỉnh bùng phát dịch là rất rủi ro, nên gia đình tôi quyết định hoãn tiêm chủng cho con và sẽ đưa con đi tiêm bổ sung sau khi tình hình ổn định.
(ID414-G5, một người mẹ, quận Thanh Xuân, Hà Nội)
Tiếp cận dinh dưỡng
Mặc dù tần suất và chất lượng bữa ăn ở trẻ em được cho là giảm, các tác động đến suy dinh dưỡng như gầy còm và thấp còi chỉ có thể được xác định thông qua theo dõi và đánh giá kéo dài cả năm Nhiều bà mẹ được phỏng vấn trong nghiên cứu định tính cho biết tần suất ăn của con đã giảm so với trước khi trường học đóng cửa Khoảng 70,4% người tham gia sống ở khu vực thành thị cho biết con họ ăn ít bữa hơn trong ngày, trong khi tỷ lệ này ở nông thôn là 29,6% Thêm vào đó, đại dịch đã ảnh hưởng đáng kể tới khả năng đảm bảo dinh dưỡng của nhiều hộ gia đình, đặc biệt là các nhóm trẻ dễ bị tổn thương như trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ trong các gia đình nghèo và cận nghèo, hoặc trẻ em tại các khu vực bị phong tỏa.
Chất lượng dinh dưỡng của các bữa ăn gia đình đã bị giảm đáng kể do giá thực phẩm tăng, đặc biệt là thịt lợn, khiến sự đa dạng và các dưỡng chất thiết yếu bị hạn chế Điều này đi kèm với tình trạng nhiều cha mẹ mất việc làm và gặp khó khăn duy trì thu nhập đủ sống, đặc biệt với lao động tự do hoặc làm việc trong các khu công nghiệp Khoảng 34,5% người tham gia nghiên cứu cho biết họ phải sử dụng thực phẩm chất lượng thấp hơn và đồng thời trả giá cao hơn bình thường Giá thịt lợn tăng thêm gánh nặng chi tiêu cho các gia đình Tại các khu vực bị phong tỏa, nơi chợ dân sinh đóng cửa và có hạn chế đi lại, nhiều hộ gia đình có xu hướng tích trữ thực phẩm, tận dụng lương thực tự trồng hoặc nhận hỗ trợ thực phẩm từ chính quyền địa phương như mì và trứng Hậu quả là nhiều gia đình phải đối mặt với việc giảm sự đa dạng và chất lượng bữa ăn, khiến trẻ em không được ăn uống đầy đủ dinh dưỡng cần thiết để phát triển cả về thể chất và nhận thức.
Giờ ăn của con đã bị thay đổi và số lượng bữa ăn giảm khi nghỉ học Trước đây, khi đi học, con ăn sáu bữa một ngày, gồm bốn bữa ở trường và hai bữa ở nhà Khi nghỉ học, con chỉ có ba bữa: sáng và trưa gộp thành một bữa, buổi chiều các con được ăn nhẹ với sữa, bánh quy hoặc trái cây, và tối ăn cùng gia đình So với trước đại dịch khi con còn đi học, chất lượng và sự đa dạng của các món ăn đã giảm đi rất nhiều Chị thấy cho con đi học ở trường yên tâm hơn.
(ID414-G5, một người mẹ, quận Thanh Xuân, Hà Nội)
“Chất lượng bữa ăn của bé cũng giảm hơn trước, vì chị không có thu nhập.”
(ID410-G4, mẹ của một trẻ khuyết tật, Tp HCM)
Ba mẹ em bị ảnh hưởng công việc nên mất thu nhập, khiến gia đình gặp khó khăn về tài chính Nhà em không có tiền để đi chợ hay mua thực phẩm hàng ngày, vì vậy em phải ăn cơm hộp và mì gói liên tục.
(ID436-G14, thiếu niên, nữ, 16 tuổi, Tp HCM)
Chăm sóc sức khỏe tâm thần và tâm lý của trẻ em
Đại dịch đã làm tăng căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở trẻ em, đồng thời tạo nên những thay đổi lớn trong hoạt động xã hội và đời sống hàng ngày của các em Do giãn cách xã hội và đóng cửa trường học, cuộc sống của trẻ bị xáo trộn nghiêm trọng và phải ở trong bốn bức tường giới hạn Sự hạn chế này có thể gây buồn chán, thiếu động lực, thất vọng, căng thẳng và lo âu, từ đó làm tăng nguy cơ khủng hoảng sức khỏe tâm thần và tâm lý ở trẻ em Nhiều thanh thiếu niên tham gia phỏng vấn cho biết họ sợ hãi trước sự bùng phát của đại dịch và những hậu quả tâm lý liên quan.
COVID-19 đã khiến trẻ em và thanh thiếu niên sợ bị lây nhiễm, không chỉ lo cho bản thân mà còn cho các thành viên trong gia đình Qua cuộc phỏng vấn, nhiều phụ huynh cho biết họ nhận thấy sự lo lắng ở con cái, và một số em ở độ tuổi học đường cảm thấy bất an mỗi khi có thông tin cập nhật về đại dịch được đăng tải trên các phương tiện truyền thông xã hội Có em thậm chí sợ đến nỗi không dám chạm vào tờ bài tập về nhà do giáo viên phát vì sợ bị lây nhiễm.
Trẻ em và gia đình sống trong khu vực phong tỏa hoặc khu cách ly tập trung ngày càng đối mặt với sự bất an và lo lắng Một người mẹ tham gia nghiên cứu cho biết khi có ca mắc mới được phát hiện trong khu phố, con trai cô trở nên lo lắng và ảnh hưởng đến giấc ngủ của cả gia đình Một người mẹ khác cho biết khi gia đình phải chuyển tới khu cách ly tập trung trong 14 ngày, con gái cô rất sợ hãi, và cô con gái 9 tuổi coi khu cách ly như một "nhà tù" Bên cạnh đó, trẻ em ở độ tuổi tiểu học trở lên thường đối mặt với nhiều thách thức về sức khỏe tâm thần và tâm lý hơn so với trẻ mẫu giáo do nhận thức khác biệt về môi trường xung quanh.
Trong nghiên cứu định tính này, có 12 người tham gia đặc biệt lo lắng về kỳ thi tốt nghiệp quốc gia sắp tới do sự gián đoạn việc học tập khi trường học đóng cửa Các ý kiến cho thấy việc gián đoạn học tập đã làm giảm khả năng ôn luyện và tự tin ở thí sinh, làm tăng áp lực thi cử và có thể ảnh hưởng tới kết quả cuối cùng Kết quả nhấn mạnh nhu cầu hỗ trợ giáo dục và các biện pháp ôn thi hiệu quả để đảm bảo một kỳ thi tốt nghiệp quốc gia công bằng và thành công cho mọi thí sinh.
“Em khá lo lắng và sợ dịch COVID Em sợ rằng người nhà em có thể bị mắc và em có thể bị lây nhiễm bất kỳ lúc nào.”
(ID 433-G14, thiếu niên dân tộc thiểu số, nam, 16 tuổi,
“Xung quanh em nhiều bạn lo lắng về dịch COVID-19 chị ạ Một số bạn thậm chí lo lắng thái quá và không muốn bất kỳ ai lại gần.”
(ID 435-G14, thiếu niên, nữ, 18 tuổi, Vĩnh Phúc)
Cháu nhà chị rất sợ COVID-19, không ngủ được tí nào, nhất là từ khi có Bệnh nhân số 17 được phát hiện gần khu vực nhà mình Vì căn nhà nằm sát khu vực phong tỏa của phường Trúc Bạch nên cháu càng lo lắng và sợ hãi Chính vì vậy cháu đã không ra ngoài trong suốt một tháng.
(ID 412-G4+G6, người mẹ trong một gia đình cận nghèo,
Vì ảnh hưởng của COVID-19, con trai tôi phải ở nhà và học trực tuyến qua mạng Cháu dành quá nhiều thời gian một mình trong phòng để ngồi học qua máy tính và hầu như không nói chuyện với ai Tôi nghĩ cháu đang rất căng thẳng.
(ID 429-G13, một người mẹ dân tộc thiểu số, Quốc Oai,
Em đang học lớp 12 và kỳ thi tuyển đại học đang đến gần Khi nghe tin về lệnh cách ly xã hội khiến học sinh không được đến trường và phải ở nhà, em cảm thấy lo lắng và không biết nên ôn tập ra sao hay bù đắp lượng kiến thức cần thiết cho kỳ thi đại học Em tìm kiếm các phương pháp học tại nhà hiệu quả, luyện đề và tận dụng nguồn tài liệu trực tuyến để duy trì tiến độ và chuẩn bị tốt cho kỳ thi trong giai đoạn giãn cách Việc lên kế hoạch học tập, phân bổ thời gian và giữ động lực sẽ giúp em tự tin bước vào kỳ thi với sự chuẩn bị đầy đủ.
Nước sạch, rửa tay và các thực hành vệ sinh khác
Thiếu tiếp cận nước sạch ở một số khu vực đã đặt ra thách thức lớn về vệ sinh cho các gia đình và trẻ em trong cuộc chiến phòng chống COVID-19 Hạn hán gay gắt và xâm nhập mặn đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới 13 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nơi sinh sống và sinh kế của nhiều người dân, khiến việc đảm bảo nước sạch cho sinh hoạt và vệ sinh trở nên khó khăn hơn và làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh.
19 triệu người với một phần ba là trẻ em đã làm trầm trọng thêm vấn đề thiếu nước sạch cho hầu hết các nhóm thiệt thòi nhất 25 Cụ thể, 95.600 gia đình thiếu nước uống và sinh hoạt an toàn trong đợt hạn hán 29 thiếu nước hoặc nước uống và sinh hoạt không an toàn 26 Hơn nữa, 7% phụ nữ và các gia đình sống tại khu vực nông thôn Tây Nguyên và khu vực đồng bằng sông Cửu Long không thể tiếp cận nguồn nước uống và sinh hoạt an toàn, trong khi 70% vẫn phụ thuộc vào điểm lấy nước tập trung 30 do thiếu nước máy được đưa tới từng hộ gia đình Thêm vào đó, 30% trường học tại những khu vực này không có nước chảy 31 Các gia đình dân tộc thiểu số sống tại khu vực miền núi ngoại thành Hà Nội tham gia nghiên cứu không có nước sạch và an toàn để dùng trong giai đoạn bùng phát đại dịch COVID-19 Tất cả đều phải sử dụng nước suối để nấu ăn, uống và tắm rửa mặc dù
PHẦN LỚN TRẺ EM VỊ THÀNH NIÊN VÀ TRẺ EM
Tự nguyện thực hiện thường xuyên rửa tay với xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn tay nhanh
“Chúng tôi đã phải dùng nước suối để nấu ăn, tắm rửa Ở đây không có nước máy Tôi nghĩ nếu không có nước sạch để dùng, thì việc này sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của bọn trẻ vì nước có thể chứa những tạp chất gây hại tới đường tiêu hóa và da của bọn trẻ.”
(ID429-G13, một người mẹ dân tộc thiểu số,
Việc thiếu khả năng tiếp cận dụng cụ rửa tay dẫn tới việc không áp dụng các thực hành rửa tay và vệ sinh ở các khu vực khó khăn Điều này làm tăng nguy cơ lây nhiễm và làm giảm hiệu quả các biện pháp vệ sinh cá nhân tại nơi làm việc và cộng đồng Để khắc phục, cần tăng cường cung cấp dụng cụ rửa tay, cải thiện thiết kế khu vực tiếp cận dễ dàng và đẩy mạnh giáo dục về rửa tay đúng cách ở mọi vị trí.
30% người dân ở tỉnh Điện Biên, Gia Lai, Kon Tum và
Ninh Thuận vẫn thiếu dụng cụ rửa tay tại gia đình, một trong những thực hành cơ bản để phòng chống COVID-19 Khoảng 13% hộ gia đình thiếu nước rửa tay cho trẻ em, cho cả gia đình và khách đến thăm Trong khi đó, nhiều hộ vẫn chưa có đầy đủ nước sạch và dụng cụ vệ sinh tay phù hợp, ảnh hưởng đến việc duy trì vệ sinh cá nhân và ngăn ngừa lây nhiễm.
Trong kết quả nghiên cứu, 6% hộ gia đình không có xà phòng hoặc nước rửa tay, và ở một số khu vực nông thôn chất lượng nước rửa tay còn thấp, điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của người tiêu dùng Hầu hết các gia đình tham gia đều được trang bị đầy đủ xà phòng và nước rửa tay tại nhà Tuy nhiên, một số hộ nghèo và cận nghèo ở khu vực bị phong tỏa đã nhận được sự hỗ trợ từ Ủy ban Nhân dân phường và các bên liên quan tại địa phương, nhằm cung cấp dụng cụ phòng ngừa và tăng cường thực hành vệ sinh cá nhân.
COVID-19 như xà phòng, nước rửa tay dạng dung dịch và khẩu trang.
Thực hành rửa tay trong bối cảnh đại dịch
COVID-19 đã có những cải thiện nhưng vẫn là thách thức đối với một số nhóm thiệt thòi Trong nghiên cứu này, hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên thực hiện rửa tay bằng xà phòng một cách tự giác và đầy đủ, như thể hiện ở Hình 3 Tần suất thực hành các biện pháp vệ sinh tay lành mạnh này dường như thường xuyên hơn so với trước khi đại dịch xảy ra.
Những thực hành như vậy vẫn được duy trì ngay cả khi việc cách ly xã hội được nới lỏng, cho thấy sự nhận thức và ý thức tự bảo vệ của cộng đồng trẻ Điều này có thể xuất phát từ việc hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên tham gia nghiên cứu đã tiếp cận đầy đủ thông tin về phòng chống dịch và các biện pháp bảo vệ cá nhân.
COVID-19 qua ti vi, phương tiện truyền thông xã hội, báo chí, cộng tác viên y tế tại địa phương, hoặc từ cha mẹ, nhà trường và giáo viên
“Trong thời gian xảy ra đại dịch, em rửa tay thường xuyên hơn so với trước đây để phòng bệnh.”
(ID 433-G14, thiếu niên dân tộc thiểu số, nam, 16 tuổi,
Nhà chị nhận được sự hỗ trợ từ Ủy ban Nhân dân phường gồm bốn chai nước nhỏ, không phải mua Trong thời kỳ đại dịch, chị và các cháu rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch rửa tay thường xuyên hơn vì trước đây gia đình không có điều kiện để mua những sản phẩm này Khi phường tiếp tục hỗ trợ, gia đình có điều kiện rửa tay thường xuyên hơn và bảo vệ sức khỏe cho cả nhà.
(ID 412-G4+G6, một người mẹ trong hộ gia đình cận nghèo, Trúc Bạch, Hà Nội)
Các hộ gia đình và trẻ em có thể tiếp cận thông tin cập nhật về dịch bệnh thông qua truyền hình và Internet Tại địa phương, chúng tôi đảm bảo cung cấp thông tin chính xác về phòng chống COVID-19 thông qua loa truyền thanh xã, xe lưu động của huyện và các biểu ngữ, áp phích tại cộng đồng; đồng thời phát tờ rơi đến từng nhà để người dân nắm được cách phòng ngừa và biện pháp bảo vệ sức khỏe.
(ID 423-G10, cán bộ công tác xã hội tuyến đầu,
Trong các cuộc phỏng vấn định tính, nghiên cứu cho thấy với trẻ khuyết tật sống tại các trung tâm bảo trợ xã hội, khi các em không thể tự rửa tay sẽ được nhân viên trung tâm hỗ trợ Tuy nhiên, một người mẹ có con khiếm thính cho hay chị không nhận được thông tin về cách hướng dẫn con thực hiện các biện pháp phòng chống COVID-19 như rửa tay và đeo khẩu trang Nhiều người tham gia nghiên cứu cũng nhận thấy việc tuân thủ rửa tay thường xuyên trong bối cảnh đại dịch của nhiều trẻ em ở nông thôn sống ngoài khu vực cách ly không được thực hiện nghiêm túc Đáng chú ý là việc rửa tay của các em với xà phòng và dung dịch rửa tay không được duy trì sau khi nới lỏng lệnh giãn cách xã hội.
Thực tế, em hiếm khi dùng nước rửa tay; trước đây em chỉ dùng sau khi ra khỏi ngoài hoặc chạm vào cửa và những vật dụng được nhiều người tiếp xúc Hiện tại, em không dùng nước rửa tay nữa; em chỉ rửa tay bằng nước sạch.
Em biết rửa tay bằng xà phòng hoặc nước rửa tay tốt cho sức khỏe, nhưng em vẫn thấy mình lười Bố mẹ em cũng ít chú ý đến việc rửa tay đúng cách Ở quê em, thỉnh thoảng có thông tin về rửa tay phát qua loa phóng thanh, nhằm nhắc nhở mọi người duy trì thói quen vệ sinh tay hàng ngày.
(ID 434-G14, thiếu niên, nữ, 16 tuổi,
Cha mẹ báo cáo có nhiều thời gian hơn để chăm sóc con của họ
Việc di chuyển và hoạt động xã hội, chăm sóc và bảo vệ trẻ em, đảm bảo an toàn
sóc và bảo vệ trẻ em, đảm bảo an toàn cho trẻ tại nhà
Xu hướng di chuyển và các hoạt động xã hội tại
Việt Nam đã trải qua sự thay đổi đáng kể trong giai đoạn giãn cách xã hội, tác động đến mạng lưới xã hội và chăm sóc trẻ em Tỷ lệ người tới nhà hàng, trung tâm thương mại, chợ và bãi biển công cộng giảm mạnh; thay vào đó, người dân ở nhà và tham gia các hoạt động trực tuyến, khiến lưu lượng tới các địa điểm công cộng trên toàn quốc giảm 52% tại khu vực bán lẻ và vui chơi giải trí, 49% tại bến xe buýt và tàu hỏa, 29% tại cửa hàng tạp hóa và hiệu thuốc, và 20% tại nơi làm việc; khoảng 64 triệu người, tức hơn một nửa dân số Việt Nam, chỉ thực hiện các hoạt động trên môi trường trực tuyến Hình 4 cho thấy 82,4% cha mẹ tham gia phỏng vấn cho biết họ dành nhiều thời gian với con cái hơn trong nếp sống mới khi giãn cách xã hội; tuy nhiên, nhiều phụ huynh buộc phải nghỉ việc, nghỉ không công hoặc thậm chí bỏ việc để chăm con, một số nhờ ông bà, người thân hoặc trẻ lớn hơn trông trẻ tại nhà hoặc gửi trẻ về quê để giảm chi phí chăm sóc, trong khi những phụ huynh không có người thân ở gần cũng gửi trẻ sang hàng xóm.
Vì gia đình không có ông bà hay người thân ở gần để gửi con, chị đành gửi cháu sang nhà hàng xóm và để các bé ở đó chơi với những bạn cùng tuổi.
(ID 414-G5, một người mẹ, Thanh Xuân, Hà Nội)
“Một số cha mẹ vẫn cần phải đi làm và không có nhiều thời gian cho con cái Họ chỉ nấu cơm và để các con tự trông nhau.”
(ID 428-G12, đại diện công đoàn, khu công nghiệp, Hà Nội)
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, nhân viên y tế và cha mẹ sống trong khu vực cách ly tập trung thường đối mặt với thiếu thời gian dành cho con cái Ca trực dài, giờ làm việc thất thường và sự cô lập khiến họ khó có đủ thời gian để chăm sóc, đồng hành và chia sẻ cùng trẻ Thời gian hạn chế tác động đến sự gắn kết gia đình và sự phát triển của trẻ, vì vậy cần có các giải pháp hỗ trợ như giao tiếp từ xa, tư vấn tâm lý và lịch làm việc linh hoạt để bảo đảm chăm sóc trẻ trong khu vực cách ly.
Trong đại dịch COVID-19, công việc tại trạm y tế xã vất vả hơn rất nhiều, khiến cuộc sống gia đình tôi bị đảo lộn vì tôi phải trực liên tục và không thể chăm sóc con cái Tôi phải gửi các con cho ông bà chăm sóc khi chồng tôi—một công an tuyến đầu trong công tác phòng chống COVID-19—cũng phải đi làm.
(ID 420-G8, một nhân viên y tế, Vĩnh Phúc)
“Chồng tôi và tôi phải ở trong khu vực cách ly tập trung và không thể chăm sóc các con.”
(ID 404-G2, một người mẹ, Hạ Lôi, Hà Nội)
Việc áp dụng cách ly xã hội và đóng cửa trường học khiến trẻ em có nhiều thời gian cho các hoạt động trực tuyến nhưng lại ít tập thể dục; đồng thời, các bậc cha mẹ dường như ít kiểm soát chặt chẽ thời gian trẻ sử dụng điện thoại và lên mạng.
Em dùng Internet nhiều hơn một chút, nhưng các bạn em còn dành nhiều thời gian hơn trên mạng và thậm chí xem nhiều phim hơn trong thời gian cách ly Khi ở nhà lâu ngày, nhiều người dành phần lớn thời gian cho các hoạt động trực tuyến và giải trí trên mạng, đặc biệt là xem phim trực tuyến.
(ID 435-G14, thiếu niên, nữ, 18 tuổi, Vĩnh Phúc)
Quản lý thời gian màn hình cho trẻ là ưu tiên của tôi: tôi thường giới hạn con dùng máy tính và ti vi khoảng 20 phút mỗi lần Tuy nhiên, trong thời gian cách ly xã hội, tôi cho phép con tiếp cận Internet và xem ti vi nhiều hơn vì lúc đó không có nhiều hoạt động khác để làm.
(ID 414-G5, một người mẹ, Thanh Xuân, Hà Nội)
Trước khi bùng phát dịch bệnh, các con thường ra sân đá bóng mỗi chiều và tham gia các hoạt động thể thao ngoài trời Tuy vậy, trong thời gian cách ly xã hội, các con ở nhà nhiều hơn và dành phần lớn thời gian để chơi game, khiến thời gian cho hoạt động ngoài trời giảm sút.
(ID 402-G1, một người mẹ, Sơn Lôi, Vĩnh Phúc)
Không phải lúc nào trẻ cũng có người ở nhà để chơi cùng Gia đình tôi có người chơi với các con, nhưng ở nhiều gia đình khác lại không có ai ở nhà để chơi với trẻ; khi thiếu bạn đồng hành, các con dễ bị cuốn vào điện thoại hoặc ti vi, và điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển cũng như sự gắn kết của gia đình.
(ID 416-G6, một người mẹ, Hà Nội)
Cha mẹ và người chăm sóc tích cực đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ trẻ khỏi nguy cơ lây nhiễm COVID-19 bằng cách cung cấp thông tin chính xác, hướng dẫn thực hành an toàn và chăm sóc sức khỏe toàn diện cho các con Việc truyền đạt các biện pháp phòng ngừa, như đeo khẩu trang đúng cách, rửa tay thường xuyên và tiêm chủng khi đủ điều kiện, giúp trẻ nhận thức và hình thành thói quen bảo vệ bản thân Người chăm sóc cần theo dõi sức khỏe của trẻ, nhận diện sớm các triệu chứng và tư vấn với bác sĩ khi cần, đồng thời tạo môi trường an tâm, đáp ứng nhu cầu cảm xúc và dinh dưỡng để trẻ yên tâm tuân thủ các biện pháp an toàn Thông tin cập nhật từ nguồn tin cậy, hướng dẫn chăm sóc phù hợp và sự đồng hành kiên nhẫn của cha mẹ sẽ giảm thiểu rủi ro lây nhiễm và bảo vệ sức khỏe của cả gia đình.
Trong nghiên cứu, các cha mẹ tham gia cho biết họ đã khuyến khích con cái rửa tay bằng xà phòng và nước, đeo khẩu trang và che miệng khi ho hoặc hắt hơi để ngăn ngừa lây nhiễm Họ cũng cho biết đã tìm mọi cách giúp con vượt qua căng thẳng bằng cách trò chuyện và trả lời các câu hỏi về COVID-19, đồng thời giải thích tại sao con cần ở nhà, rửa tay và áp dụng các biện pháp an toàn khác.
Ở Phú Xuyên, Hà Nội, một thiếu niên nam 16 tuổi được mẹ dặn rửa tay bằng xà phòng và đeo khẩu trang khi ra ngoài Mẹ em cũng khuyên em cách giữ gìn sức khỏe và duy trì tinh thần lạc quan, dù gặp khó khăn trong cuộc sống hàng ngày Những lời dặn này nhấn mạnh tầm quan trọng của thói quen vệ sinh, chăm sóc sức khỏe và thái độ tích cực để bảo vệ bản thân và lan tỏa năng lượng tích cực cho gia đình.
Khi em lo lắng, em thường chia sẻ với bạn bè và gia đình để được đồng cảm và nhận được lời khuyên Bố mẹ luôn động viên em suy nghĩ tích cực và tin vào tương lai, giúp em vượt qua căng thẳng và tự tin tiến về phía trước.
(ID 431-G14, thiếu niên, nam, 18 tuổi,
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, hầu hết người tham gia nghiên cứu cho biết trẻ em được cung cấp đầy đủ thông tin và áp dụng các biện pháp bảo vệ phòng ngừa vi-rút.
Trẻ em Việt Nam nói chung được cung cấp đầy đủ các thông tin và kiến thức về vệ sinh và sức khỏe, giúp bảo vệ bản thân và cộng đồng Các em được giải thích rõ ràng về các thực hành vệ sinh thiết yếu như đeo khẩu trang khi cần thiết, rửa tay bằng xà phòng đúng cách và duy trì khoảng cách vật lý để phòng ngừa lây nhiễm Những thói quen này góp phần nâng cao sức khỏe của trẻ và hình thành nền tảng cho hành vi chăm sóc sức khỏe lâu dài.
(ID419-G8, nhân viên y tế, Hạ Lôi, Hà Nội)
Sự kỳ thị, phân biệt đối xử, và bạo lực đối với trẻ em
Cuộc khủng hoảng COVID-19 làm tăng rủi ro trẻ em phải chứng kiến hoặc trở thành nạn nhân của bạo lực, bóc lột và xâm hại Sự mất cân bằng kinh tế và sự gián đoạn các dịch vụ bảo vệ trẻ làm trầm trọng thêm nguy cơ này, khiến trẻ dễ rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm mà khó tiếp cận sự trợ giúp Hội Phụ nữ Việt Nam cùng các đối tác đang đẩy mạnh giám sát, nhận diện sớm các dấu hiệu bạo lực và cung cấp hỗ trợ y tế, tâm lý và pháp lý cho nạn nhân Đồng thời, tăng cường giáo dục an toàn cho gia đình, cộng đồng và nhà trường, thiết lập kênh báo cáo nhanh và hiệu quả, để trẻ có thể được bảo vệ kịp thời trong mọi hoàn cảnh.
Nam cho biết số lượng người mới đến Ngôi nhà Bình yên, mái ấm dành cho nạn nhân bị xâm hại và bạo lực gia đình, đã tăng gấp đôi kể từ khi dịch bệnh bùng phát vào ngày 25/12.
3,4% người được phỏng vấn cho biết trẻ em phải đối mặt với bạo lực thể chất và lời nói từ người lớn trong gia đình Có sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với trẻ em sống ở những khu vực bị phong tỏa hoặc có thành viên trong gia đình đang cách ly tập trung Một người trả lời cho biết con cô bị kỳ thị vì gia đình sống trong khu vực cách ly.
Gia đình tôi có một người thân bị nhiễm COVID và được đưa đến khu cách ly tập trung, khiến khu phố của chúng tôi rơi vào sự lo lắng Hàng xóm nói rằng con cái họ không nên đến chơi với con trai tôi vì sợ lây nhiễm, khiến con trai tôi khóc rất nhiều.
(ID 403-G1, một người mẹ, Sơn Lôi, Vĩnh Phúc)
Gia đình chị có một người phải tự cách ly tại nhà nhằm ngăn ngừa lây nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Mọi người xung quanh không muốn gặp hay tiếp xúc với chị, và họ không muốn cho con chơi với con chị.
(ID 408-G3, một người mẹ, Vĩnh Phúc)
Khi ở nhà, chị dễ nổi nóng với con hơn trước Có những ngày, chị quát con thậm chí đánh con mà chị cũng không thể kiểm soát được bản thân mình.
(ID 414-G5, một người mẹ, Thanh Xuân, Hà Nội)
Việc học từ xa, vốn dựa trên các nền tảng trực tuyến, dễ khiến trẻ tiếp xúc với nội dung không phù hợp và làm tăng nguy cơ bị xâm hại, bóc lột trên môi trường mạng Để bảo vệ trẻ khi tham gia học trực tuyến, cần đồng bộ giáo dục an toàn mạng với các biện pháp kiểm soát nội dung và sự giám sát của gia đình, thầy cô Các biện pháp thiết thực như nâng cao nhận thức về an toàn internet, thiết lập giới hạn nội dung phù hợp và khuyến khích báo cáo sự cố sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và bảo vệ sự phát triển của trẻ trong thời đại học từ xa.
Thanh thiếu niên, đặc biệt là các em gái, có thể là mục tiêu của xâm hại và bắt nạt trực tuyến, đòi hỏi các chiến lược giáo dục về an toàn mạng, nhận thức cộng đồng và biện pháp bảo vệ trên nền tảng số; đồng thời, đã từng xuất hiện các cuộc thi sắc đẹp dành cho trẻ em gái, đặt ra thách thức về bảo vệ quyền trẻ em và giám sát nội dung để đảm bảo an toàn cho các bạn nhỏ khi tham gia các hoạt động trực tuyến.
12-15 tuổi, và yêu cầu các em gửi bốn bức ảnh khỏa thân để tham gia 12
“Sau khi học trực tuyến xong, một số trẻ lướt
Internet và vào những trang web không phù hợp với lứa tuổi Mặc dù đôi khi trẻ không có chủ ý, nhưng những trang web đen tự nhảy ra và trẻ vô tình nhấn vào Những mâu thuẫn và bắt nạt trên môi trường mạng đôi khi vẫn xảy ra.”
(ID 424-G10, cán bộ công tác xã hội tuyến đầu,
Trẻ em đang đối mặt với nguy cơ bị bắt nạt trên môi trường mạng, và nhiều cha mẹ tham gia nghiên cứu cho biết đã nỗ lực bảo vệ con bằng các biện pháp kiểm soát trên trình duyệt và cài đặt quyền riêng tư nghiêm ngặt trên các ứng dụng và game trực tuyến nhằm hạn chế các tiếp xúc không cần thiết Các quy tắc sử dụng thiết bị số được thiết lập cho trẻ nhằm bảo vệ thông tin cá nhân và tăng cường an toàn khi trẻ truy cập Internet.
“Bố mẹ cũng bảo em không dùng điện thoại để chơi game hay xem phim xấu, không vào những trang web tự động nhảy ra.”
(ID 433-G14, thiếu niên, nam, 16 tuổi, Quốc Oai, Hà Nội)
Trong kết quả từ người tham gia nghiên cứu cho thấy thông tin cá nhân hoặc thông tin không chính xác về trẻ em có người thân nhiễm COVID-19 hoặc đã được đưa vào khu cách ly tập trung bị rò rỉ trên mạng xã hội Những rò rỉ này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần của trẻ và hạ thấp lòng tự trọng, ngay cả khi các xét nghiệm COVID-19 của các em cho kết quả âm tính.
Vào tối thông báo chị gái dương tính với COVID-19, gia đình bạn ấy bất ngờ bị tiết lộ thông tin cá nhân trên mạng xã hội như Facebook, kéo theo nhiều bình luận và lời nói không hay Sự xâm phạm này khiến tâm lý cả gia đình căng thẳng và ảnh hưởng đến sự tự tin của bạn ấy Dù đã quay trở lại trường, bạn ấy vẫn ngại ngùng, chưa hòa đồng và mang chút tự ti, có thể cần thêm thời gian để thích nghi với môi trường học tập và bạn bè.
(ID 423-G10, cán bộ công tác xã hội, Sơn Lôi, Vĩnh Phúc)
Giáo dục và học tập
Trong suốt thời gian diễn ra đại dịch COVID-19, Bộ
GD&ĐT đặt ưu tiên hàng đầu cho việc bảo đảm an toàn cho trẻ em và đẩy mạnh giáo dục số cho tất cả học sinh từ mầm non đến đại học Theo đề nghị của các đối tác phát triển, bao gồm UNICEF, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hỗ trợ việc học không bị gián đoạn dù phải đóng cửa trường học 35.
Phương thức học tập mới, gồm trực tuyến, qua TV, đài phát thanh và tài liệu học tập, mang lại nhiều tiện ích nhưng cũng đặt ra thách thức về khả năng tiếp cận và chất lượng giáo dục cho trẻ em Ví dụ, học trực tuyến chưa được phủ sóng đầy đủ cho các nhóm trẻ thiệt thòi nhất, đặc biệt là những em ở hoàn cảnh kinh tế-xã hội đặc biệt, dẫn đến sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục và chất lượng học tập giữa các nhóm trẻ.
Trong bối cảnh giáo dục trực tuyến, trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ từ các hộ gia đình nghèo gặp nhiều rào cản do thiếu tiếp cận thiết bị, kết nối internet và kỹ năng số Giáo viên ở những vùng khó khăn chưa được chuẩn bị đầy đủ để giảng dạy trực tuyến và tích hợp công nghệ vào bài giảng Trước đại dịch, khoảng 93% giáo viên ở các vùng sâu vùng xa cho biết họ không sử dụng các công nghệ hiện đại trong lớp học.
COVID-19 đã khiến chất lượng giảng dạy trực tuyến bị ảnh hưởng, làm giảm hiệu quả và tiến bộ của quá trình học tập Bên cạnh đó, học sinh dân tộc thiểu số gặp khó khăn khi họ không thể tiếp cận các tài liệu học trực tuyến bằng tiếng mẹ đẻ, khiến việc học trực tuyến trở nên kém hiệu quả Việc thiếu nguồn tài liệu học bằng các ngôn ngữ dân tộc làm gia tăng khoảng cách giáo dục giữa các nhóm học sinh và khu vực Để khắc phục, cần phát triển tài liệu giáo dục đa ngôn ngữ và cải thiện nền tảng học tập trực tuyến, đảm bảo học sinh dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp cận kiến thức.
Ngoài ra, các gia đình có trình độ học vấn thấp và nghèo nhất thường ít tiếp cận với máy tính và công nghệ số, chỉ có sách và các tài liệu học tập khác tại nhà Có 9% người tham gia nghiên cứu cho biết họ không có thiết bị công nghệ thông tin hoặc có điều kiện công nghệ thông tin kém và không có kết nối Internet, do đó con cái không thể tham gia các lớp học trực tuyến thường xuyên Một nửa số đáp viên cho thấy con họ học ít hơn hoặc không học gì trong suốt thời gian trường học đóng cửa Khoảng 37% người tham gia phỏng vấn cho biết con họ gặp vấn đề kỹ thuật trong các lớp học trực tuyến thường xuyên Gần một phần tư người tham gia nghiên cứu cho biết con bị các vấn đề sức khỏe nhẹ sau các buổi học trực tuyến, và bản thân các em học sinh cũng báo cáo về các mức độ lo lắng và các vấn đề tâm lý và xã hội (37%).
Biểu đồ 2 cho thấy tỷ lệ người tham gia nghiên cứu cho biết các vấn đề trẻ em gặp phải khi tham gia lớp học trực tuyến trong bối cảnh COVID-19 Các vấn đề được nêu nhiều nhất gồm gián đoạn kết nối Internet, thiếu thiết bị học tập phù hợp, khó khăn trong quản lý thời gian và duy trì sự tập trung, cũng như hạn chế tương tác với thầy cô và bạn bè khi học trực tuyến Những phát hiện này cho thấy đại dịch đã tác động đáng kể đến chất lượng giáo dục trực tuyến và nhấn mạnh nhu cầu cải thiện hạ tầng công nghệ, hỗ trợ gia đình và phương pháp giảng dạy linh hoạt để nâng cao hiệu quả học tập cho trẻ.
Trẻ em không có các thiết bị công nghệ thông tin (CNTT) hoặc hạ tầng CNTT kém
Trẻ em gặp các sự cố kỹ thuật khi học trực tuyến (không có video, không có âm thanh, gián đoạn internet )
Trẻ em dành ít thời gian hơn cho việc học hoặc hoàn toàn không học
Trẻ em gặp một số vấn đề liên quan đến thói quen đi học, như mờ mắt khi phải nhìn màn hình hoặc sách trong thời gian dài, các vấn đề sức khỏe phát sinh từ sự thay đổi thói quen học tập đột ngột và các rối loạn liên quan đến thính giác, lưng và cổ do tư thế ngồi không đúng hoặc môi trường học tập chưa tối ưu; những dấu hiệu này có thể ảnh hưởng đến khả năng tập trung, chất lượng giấc ngủ và tiến bộ học tập của trẻ, vì vậy để giúp trẻ duy trì thói quen đi học lành mạnh cần chú ý tới tư thế ngồi, bàn ghế phù hợp, thời gian nghỉ ngơi ngắn giữa giờ học, kiểm tra thị lực và thính lực định kỳ, cũng như thiết lập lịch học rõ ràng và mục tiêu học tập vừa sức.
Con trai tôi đang gặp khó khăn về thời gian học và sự tập trung Sau khi trở lại trường học sau đợt COVID-19, cháu bắt đầu nói dối rằng đã làm xong tất cả bài tập ở nhà, nhưng giáo viên đã gọi điện cho tôi xác nhận rằng cháu thực sự chưa làm bài tập nào.
(ID 407-G3, một người mẹ, Hà Nội)
“Trong nhiều buổi học qua Zoom, kết nối Internet kém nên em không theo dõi được bài giảng của cô giáo.”
(ID 432-G14, thiếu niên, nam, 16 tuổi, Phú Xuyên, Hà Nội)
Trẻ em sống trong khu vực cách ly tập trung phải đối mặt với sự gián đoạn học tập nghiêm trọng khi các thiết bị học tập bị hạn chế hoặc không thể tiếp cận suốt thời gian cách ly, điều này có thể làm tăng tỷ lệ bỏ học, đặc biệt ở những nhóm có hoàn cảnh khó khăn thiếu thiết bị, kết nối Internet và nguồn học từ xa phù hợp Vì vậy, cần triển khai ngay các biện pháp cấp bách như cấp phát thiết bị học tập, cải thiện kết nối và tổ chức các chương trình giáo dục từ xa thích ứng với điều kiện của trẻ em trong khu vực cách ly.
Việc học trực tuyến hiện nay phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế của gia đình Chỉ những gia đình có điều kiện mới có thể trang bị cho con cái một máy tính hoặc thiết bị học tập, cùng với đường truyền internet ổn định để học tại nhà Ngược lại, nhiều gia đình khó khăn không thể mua máy tính cho con, khiến việc tham gia học trực tuyến gặp nhiều khó khăn Vì vậy, một số bạn phải sang nhà người thân hoặc các điểm có máy tính để học, nhằm đảm bảo tiếp cận giáo dục từ xa.
(ID 435-G14, thiếu niên, nữ, 18 tuổi, Vĩnh Phúc)
“Trong lớp học, mạng Internet có thể ngắt kết nối do đường truyền kém Vì nhà em không có kết nối
Internet, em phải dùng ké wifi của nhà hàng xóm
Có lúc đang học trực tuyến qua Zoom thì trời đổ mưa Ở khu vực miền núi nơi gia đình em ở, mưa lớn khiến điện bị mất Vì vậy em không thể tiếp tục bài học và buổi học bị gián đoạn Em hy vọng thời tiết sẽ ổn định để em có thể quay lại bài học khi điện được cấp lại.
(ID 433-G14, thiếu niên dân tộc thiểu số, nam, 16 tuổi,
Trong thời gian COVID-19, việc học của con trai chị bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu thiết bị và đường truyền Gia đình không có máy tính, điện thoại hay Internet nên cháu phải học qua chương trình phát trên truyền hình, trong khi trường vẫn tổ chức các lớp học trực tuyến qua Zoom.
(ID 412-G4+G6, một người mẹ thuộc gia đình cận nghèo,
Con tôi bị câm và điếc bẩm sinh Cháu ở nhà suốt một năm qua Đợt vừa rồi, cô giáo liên lạc với gia đình để xem có cho cháu quay lại tham gia lớp học ngôn ngữ cho trẻ câm điếc được không Tuy nhiên gia đình hiện nay gặp khó khăn về kinh tế, không có điều kiện đưa con đi, nên cháu vẫn ở nhà, kể cả trong thời gian dịch bệnh bùng phát.
(ID 411-G4, một người mẹ có con bị khuyết tật,
Trong những ngày cách ly nghiêm ngặt, điện thoại của mẹ tôi hết dữ liệu di động nên tôi không thể học tập gì trong suốt 14 ngày cách ly tập trung; thiếu kết nối Internet khiến quá trình học online bị gián đoạn hoàn toàn Tuy vậy, khi trở về và có lại đường truyền, việc học của tôi được tiếp tục và tiếp nối từ nơi đã dừng lại.
(ID 405-G2, một người mẹ, HN)
“Em nghĩ các thiết bị và tài liệu bổ trợ cho việc học trực tuyến là không đủ.”
(ID 435-G14, thiếu niên, nữ, 18 tuổi, Vĩnh Phúc)
“Về việc học qua chương trình trên ti vi, em thấy đôi khi Thầy, Cô giảng quá nhanh và khó hiểu.”
(ID 433-G14, thiếu niên, nam, 16 tuổi, Quốc Oai, Hà Nội)
Trong thời gian học trực tuyến qua Zoom, đã có một sự cố khi người lạ truy cập và gửi những hình ảnh phản cảm, không phù hợp với lứa tuổi khiến giáo viên không thể xử lý kịp thời Sự việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của các học sinh và chất lượng bài giảng, nhấn mạnh nhu cầu tăng cường an toàn trực tuyến, quản lý truy cập lớp học và hỗ trợ tâm lý cho học sinh để duy trì môi trường học tập hiệu quả trên nền tảng Zoom.
Giáo viên cũng gặp phải nhiều vấn đề khi thực hiện giảng dạy trực tuyến và từ xa:
Bảo trợ xã hội
Vào ngày 10/04/2020, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt gói cứu trợ tài chính trị giá 62 ngàn tỷ đồng
2,6 tỷ USD được phân bổ cho các nhóm bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng COVID-19, nhằm tới đối tượng thụ hưởng trợ giúp xã hội hiện tại, các gia đình nghèo và cận nghèo, những người tạm thời mất việc, chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp nhỏ có thu nhập hàng năm dưới 100 triệu đồng, cùng với lao động không chính thức bị mất việc làm Theo dự kiến, gói hỗ trợ COVID-19 này sẽ giúp cuộc sống hàng ngày của khoảng 20 triệu người trong thời gian bùng phát dịch.
Ngoài ra, một gói cứu trợ khác trị giá 16 tỷ đồng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 15/2020/QÐ-TTg ngày 24/04/2020 thông qua
Ngân hàng Chính sách Xã hội được giao nhiệm vụ hỗ trợ các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi COVID-19, nhưng sau hai tháng vẫn có doanh nghiệp không thể tiếp cận gói hỗ trợ do tiêu chí quá khắt khe Nhiều người lao động được phỏng vấn bởi các phương tiện truyền thông cho biết họ gặp nhiều thách thức khi tiếp cận gói hỗ trợ, đặc biệt là các thủ tục giấy tờ cần thiết để xác minh mất thu nhập do đại dịch Theo kết quả báo cáo từ nghiên cứu định tính, gói cứu trợ được xem là một chính sách ứng phó phù hợp, nhất là với những đối tượng có nhu cầu cấp thiết Trong bối cảnh quản lý phân cấp, một số tỉnh thành có không gian tài khóa thuận lợi đã ủng hộ thực hiện thêm các phương án hỗ trợ bổ sung Ví dụ, TP Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tiền mặt 1.000.000 đồng cho 30.000 giáo viên các trường mầm non tư thục.
Đến ngày 29/06/2020, Bộ LĐTBXH cho biết hơn 11 triệu cá nhân trong số 15,8 triệu đối tượng dễ bị tổn thương và 6.196 hộ kinh doanh trong danh sách được phê duyệt đã nhận được 11.267 tỷ đồng từ tổng 17.500 tỷ đồng đã được phê duyệt của gói trợ giúp xã hội; tuy nhiên, báo cáo lưu ý nhiều thách thức trong triển khai, bao gồm thủ tục phức tạp dẫn đến chuyển tiền chậm và ngân sách đối ứng của địa phương còn hạn chế (30-50% tổng ngân sách địa phương), điều này tồn tại ở một số tỉnh nghèo như Bình Định, Hòa Bình, Nghệ An và Thanh Hóa; hơn một phần tư hộ gia đình nông thôn được phỏng vấn cho biết thủ tục trợ giúp xã hội quá phức tạp, 19,8% hộ gia đình phải đợi nhận trợ giúp lâu và 14,7% cho rằng các yêu cầu để được hỗ trợ quá cao; một đánh giá nhanh vào tháng 5/2020 đã được thực hiện.
Cục Bảo trợ Xã hội (Bộ LĐTBXH) thực hiện trên tất cả các tỉnh được nhận gói trợ giúp xã hội do COVID-19
Báo cáo cho thấy người lao động không chính thức, các doanh nghiệp nhỏ và các gia đình có trẻ em gặp khó khăn khi tiếp cận gói hỗ trợ do thủ tục đăng ký và quy trình sàng lọc quá phức tạp Các bước này khiến việc tiếp cận hỗ trợ trở nên rườm rà và kéo dài, dễ bỏ sót những đối tượng cần được hỗ trợ nhất.
Bố mẹ cháu nhận được tiền hỗ trợ và đồ ăn từ chính quyền địa phương Gia đình cháu được xếp vào nhóm hộ nghèo Cháu và bạn cháu nhận được giảm một nửa học phí sau đại dịch COVID-19.
(G14-ID433, một nam thiếu niên, 16 tuổi, hộ cận nghèo,
Gia đình chị vừa nhận trợ cấp từ gói hỗ trợ của Chính phủ dành cho người bị ảnh hưởng bởi COVID-19; chồng chị là người khuyết tật và được nhận 1,5 triệu đồng, đồng thời gia đình còn nhận thêm 750.000 đồng vì thuộc diện hộ nghèo.
(ID 412-G4+G6, một người mẹ, lao động không chính thức thuộc hộ gia đình cận nghèo, Trúc Bạch, Hà Nội)
“Tôi sống trong khu vực dịch bùng phát và phải cách ly 14 ngày Nhà tôi nhận được trợ cấp với mức 40.000 đồng/người/ngày”
(ID 402-G1, một người mẹ, Vĩnh Phúc)
Nghe nói cán bộ phường đi từng nhà để lập danh sách đối tượng được hưởng trợ cấp, nhưng dường như số tiền ấy chỉ dành cho những người bán hàng rong, xe ôm, lái xe taxi hoặc những người kinh doanh hàng ăn; trong khi tôi làm tại tiệm làm tóc và thuộc lao động không chính thức, chưa nhận được đồng trợ cấp nào ở Hà Nội (ID 416-G6, người lao động không chính thức, Hà Nội).
Cha mẹ để con của họ quyết định hoặc nêu ý kiến, và 27.1% cha mẹ để con của họ được quyết định hoàn toàn
Hình 4: Sự tham gia của trẻ em trong dịch COVID-19
Sự tham gia của trẻ em
Trong thời gian COVID-19 hoành hành, trẻ em Việt
Trẻ em có cơ hội đóng góp ý kiến và tham gia quyết định trong gia đình Tiếng nói của trẻ rất quan trọng để thấu hiểu tác động của đại dịch lên đời sống của các em và nhận diện, đáp ứng kịp thời các nhu cầu của trẻ một cách hiệu quả Dù ý kiến của nhiều trẻ vẫn bị bỏ qua, một số bậc cha mẹ đã lắng nghe con, hướng dẫn con làm việc nhà và khuyến khích con tham gia vào các hoạt động xã hội cũng như các quyết định ảnh hưởng đến bản thân con Hình 5 cho thấy 47,9% cha mẹ được phỏng vấn cho phép trẻ tự ra quyết định và chia sẻ quan điểm cá nhân, trong khi 27,1% tham gia vào quá trình trẻ đưa ra quyết định.
Trong thời gian dịch COVID-19, em phải học tại nhà qua Zoom, nên em đã xin bố mẹ mua một chiếc điện thoại để phục vụ việc học tập Bố mẹ đã lắng nghe và đồng ý mua điện thoại cho em, từ đó giúp em duy trì việc học trực tuyến một cách thuận tiện và hiệu quả.
(ID433-G14, thiếu niên người dân tộc thiểu số, hộ cận nghèo, Quốc Oai, Hà Nội)
Gia đình động viên em tham gia một cuộc thi video nhằm kêu gọi cộng đồng phòng chống COVID-19 Trong cuộc thi này, em có thể thể hiện bằng nhảy hoặc vẽ; em đã chọn nhảy Em đã làm một video và gửi đến ban tổ chức để họ chia sẻ rộng rãi và đánh giá ý tưởng của em.
(ID435-G14, thiếu niên, nữ, Vĩnh Phúc)
Con tôi rất chủ động làm việc nhà, như lau nhà và khử trùng đồ gia dụng, giúp căn nhà sạch sẽ và an toàn hơn Chúng tôi thường xuyên trò chuyện về tình hình COVID-19 trên thế giới và tại Việt Nam, và con tôi thích cập nhật những thông tin mới nhất để biết cách tự bảo vệ sức khỏe cho cả gia đình.
Chúng tôi nói chuyện về chủ đề này thường xuyên”
(ID429-G13, một người mẹ người dân tộc thiểu số,
Các dữ liệu định tính cho thấy thanh thiếu niên chính là tác nhân thay đổi trong ứng phó với
Trong một số khu vực bị phong tỏa vì COVID-19, thanh thiếu niên đã được tập huấn và trang bị đồ bảo hộ để tham gia vào các hoạt động phòng chống dịch tại địa phương.
Thôn tôi có 15 cháu tình nguyện tham gia tổ y tế thôn, hầu hết là học sinh THPT và một vài em là học sinh THCS Các cháu trực cả ngày lẫn đêm, đo thân nhiệt và ghi chép tình trạng sức khỏe của người dân trong khu vực Tất cả các cháu tham gia một cách tự nguyện và nhiệt huyết, và chúng tôi rất ngạc nhiên vì các em làm việc rất tốt.
(ID 423, G10, cán bộ công tác xã hội tuyến đầu, Vĩnh Phúc)
Trong suốt thời gian diễn ra dịch COVID-19, em và mấy người bạn thân thường xuyên cập nhật tin tức từ các nguồn đáng tin cậy như Chính phủ, Bộ Y tế, kênh VTV24 và các trang web uy tín về diễn biến ca mắc mới Nguyện vọng của chúng em là giúp nhiều người tiếp cận thông tin chính xác, đáng tin cậy để giảm bớt nỗi lo lắng và sợ hãi do tin giả gây ra Chúng em cũng chia sẻ những biện pháp phòng chống COVID-19, từ đeo khẩu trang đúng cách đến rửa tay đúng chuẩn, nhằm giúp mọi người có thể tự bảo vệ bản thân trong thời gian dịch bùng phát.
(ID431, nam thiếu niên, 18 tuổi, Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Vai trò giới
Trong thời gian đại dịch COVID-19, phụ nữ dễ mất việc làm hơn nam giới và phải dành nhiều thời gian cho công việc chăm sóc gia đình không được trả lương Tỷ lệ phụ nữ dành ít nhất ba giờ mỗi ngày cho công việc nội trợ không phát sinh thu nhập tăng đột biến lên 73% Đồng thời, những người giúp việc gia đình cũng mất việc do nhu cầu giảm và họ hầu như không nhận được tiền đền bù nào, bởi tiền lương của họ được trả theo giờ làm việc và họ thường không có hợp đồng lao động.
Qua phỏng vấn với một số người tham gia, phụ nữ có nguy cơ bị nghỉ việc cao hơn nam giới; nhiều bà mẹ phải giảm giờ làm hoặc nghỉ việc để tập trung chăm sóc con cái, khác với các ông bố Điều này cho thấy sự bất bình đẳng về vai trò giới giữa cha và mẹ trong nhiều gia đình Bên cạnh đó, công nhân nữ ở các nhà máy may mặc và sản xuất cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc do nhà máy đóng cửa và hạn chế xuất khẩu.
“Theo như tôi thấy trong thời gian dịch COVID-19, phụ nữ dễ bị mất việc và thu nhập hơn so với nam giới Ngay ở quanh khu tôi sống, hầu hết trong các gia đình, người bị mất việc hoặc sa thải là người vợ chứ không phải người chồng.”
(ID 412-G4+G6, một người mẹ thuộc hộ cận nghèo, Trúc
“Trong thời gian giãn cách xã hội, trẻ em không thể đến trường Vì thế, các bà mẹ phải sắp xếp thời gian và công việc để chăm sóc con cái Một chị hàng xóm của tôi cũng có công việc, nhưng đã phải xin ở nhà để chăm con.”
(ID 409-G3, một người mẹ, Hạ Lôi, Hà Nội)
“Khi dịch bệnh bùng phát, tôi thấy hầu hết phụ nữ phải chăm sóc con cái và làm việc nhà nhiều hơn đàn ông.”
(ID 402-G1, một người mẹ, Sơn Lôi, Vĩnh Phúc)
Trong giai đoạn giãn cách xã hội, số lượng đơn hàng giảm tới 70%, phần lớn đến từ các công ty nội địa, khiến nhiều lao động nữ phải đối mặt với khó khăn về việc làm và thu nhập.
(ID 428-G12, đại diện Công đoàn, khu công nghiệp, Hà Nội)
Trong thời gian dịch bệnh, sự bất bình đẳng giới đối với trẻ em vẫn được nhận thấy, dù các gia đình có thể chưa nhận thức được điều này; việc con trai và con gái được đối xử khác nhau có thể tích lũy thành bất bình đẳng giới theo thời gian và gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em gái, đặc biệt là sức khỏe tâm thần và tâm lý của các em.
Tôi vẫn nhận thấy con trai được quan tâm nhiều hơn con gái Ví dụ, một gia đình có một con trai và một con gái cách nhau hai tuổi, trong thời gian dịch bệnh, từ Ủy ban Nhân dân phường chúng tôi đến nhà phát sữa miễn phí cho trẻ em và mang sữa của nhiều nhãn hiệu như Nestle, TH True Milk, Vinamilk, Milo, nên chúng tôi bảo gia đình này: “Anh chị có thể chọn loại sữa tùy thích.” Ngay lập tức, người mẹ gọi con trai ra chọn sữa, rồi hỏi tôi con gái thì được nhận gì.
(ID 424-G10, cán bộ công tác xã hội tuyến đầu,
Hỗ trợ của cộng đồng
Trong suốt thời gian dịch bệnh, sự đoàn kết và gắn kết xã hội được thúc đẩy và tăng cường nhờ tinh thần tương trợ của cộng đồng Nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã tình nguyện đóng góp nguồn lực tài chính, thời gian và các sáng kiến thực tế để ứng phó hiệu quả với dịch bệnh bùng phát Việc phát gạo và nhu yếu phẩm miễn phí cho người dân hộ nghèo, cận nghèo thông qua ATM gạo và siêu thị 0 đồng đã tích cực tăng cường sự đoàn kết tại các khu vực bị phong tỏa và cách ly Những hoạt động này giúp ổn định đời sống người dân, lan tỏa tinh thần chia sẻ và củng cố niềm tin vào cộng đồng trong thời kỳ khó khăn.
Rất nhiều tổ chức và nhà tài trợ đã triển khai các chiến dịch từ thiện nhằm hỗ trợ người gặp khó khăn, ví dụ như thành lập cây ATM gạo miễn phí và phát nhu yếu phẩm như mì tôm, trứng, sữa, quần áo tại một số địa điểm công cộng Ai cần có thể đến nhận, trong khi những người có điều kiện hơn có thể đóng góp để duy trì và mở rộng các hoạt động này.
(ID 414-G5, một người mẹ, Thanh Xuân, Hà Nội)
Thu nhập của gia đình chị quá thấp nhưng chi phí sinh hoạt lại quá cao, khiến chị không mua được thịt và phải nhận hỗ trợ thực phẩm từ Ủy ban Nhân dân xã và Hội Chữ thập đỏ Gói hỗ trợ gồm một thùng mì, một ít gạo, một chai nước mắm và một chai dầu ăn.
(ID 412-G4+G6, một người mẹ thuộc hộ cận nghèo,
Trong giai đoạn giãn cách xã hội, sự hỗ trợ từ cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc ứng phó với các thách thức và vấn đề phát sinh Tại một số trường địa phương, phụ huynh được nhận sổ tay chăm sóc và giáo dục trẻ những năm đầu đời, kèm theo bộ phần mềm và các đường link hữu ích như Vinskills.vn, Kids online và Zoom để phục vụ việc học tại nhà Ở các khu vực miền núi và vùng sâu vùng xa, chính quyền địa phương và nhà trường quyên góp gạo cùng các nhu yếu phẩm nhằm giúp đỡ học sinh là con em của các hộ nghèo và cận nghèo Việc tổ chức và phân phát quyên góp bằng hiện vật đang được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả và công bằng.
“Ở thôn tôi, một số người có điều kiện kinh tế tốt hơn quyên góp gạo và mì tôm cho các gia đình nghèo.”
Trong bối cảnh COVID-19, các mạng lưới giáo dục, nền tảng truyền thông xã hội không chính thức và các chiến dịch truyền thông xã hội được thành lập để lan rộng hỗ trợ tới cha mẹ, người chăm sóc trẻ cùng trẻ em và thanh thiếu niên Công nghệ số và truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến phòng chống dịch, khi các nhóm giữa giáo viên và phụ huynh học sinh trên mạng xã hội được hình thành và duy trì liên tục nhằm cung cấp hướng dẫn chăm sóc và giáo dục con cái, xác thực thông tin và kết nối cộng đồng để cùng nhau bảo vệ sức khỏe tinh thần.
Một số chiến dịch số qua phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội (Facebook, Zalo, YouTube,
TikTok nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân nhờ độ phủ sóng rộng rãi, thể hiện qua các ví dụ như bài hát "Ghen Cô Vy", hashtag "ICT_anti_nCoV" và #ONhaVanVui Ngoài ra, UNICEF Việt Nam và các cơ quan liên quan cũng đang phối hợp để lan tỏa thông điệp phòng chống dịch và tạo tác động tích cực trên hành vi người dùng.
Bộ Y tế đã triển khai chiến dịch truyền thông đại chúng mang tên 'Lòng tốt dễ lây' nhằm khuyến khích đối thoại giữa thanh thiếu niên và các nhà hoạch định chính sách, đồng thời nâng cao tiếng nói của thanh niên Chiến dịch lan tỏa những thông điệp tích cực qua các kênh truyền thông và mạng xã hội, với hashtag #long_tot_de_lay để tăng nhận thức và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng.
Có hai học sinh gặp khó khăn do thiếu thiết bị học trực tuyến, khiến việc tham gia lớp học online bị gián đoạn Nhờ sự hỗ trợ của ban phụ huynh, các em đã có máy tính để tham gia đầy đủ các tiết học trực tuyến.
(ID429-G13, một người mẹ dân tộc thiểu số,
TV là nguồn cập nhật thông tin y tế liên tục về phòng chống COVID-19, giúp người xem nắm bắt các biện pháp phòng ngừa mới nhất Đồng thời, các bài hát bắt tai như “Ghen Cô Vy” được trình chiếu nhằm giúp trẻ em ghi nhớ đúng các bước rửa tay và nâng cao ý thức về phòng chống COVID-19.
(IF416-G6, một người mẹ, Hà Nội)
Trong thời điểm cao điểm của dịch bệnh, xã tôi nhận được rất nhiều hỗ trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong nước lẫn ngoài nước Đối với trẻ em, một công ty sữa đã phân phát 48 thùng sữa với giá 600.000 đồng mỗi thùng, trong khi công ty sữa Cô gái Hà Lan quyên góp 800 thùng Tuy nhiên, cách chúng tôi nhận và phân phát đồ cứu trợ chưa thực sự tốt Nếu tiếp tục nhận hỗ trợ như vậy, mọi sự hỗ trợ nên được tập trung tại một nguồn để tổ chức phân phát cho người dân một cách hiệu quả hơn.
COVID-19 đã để lại tác động vừa tích cực vừa tiêu cực lên đời sống của trẻ em và gia đình qua nhiều khía cạnh kinh tế - xã hội Những nhóm trẻ dễ bị tổn thương nhất gồm trẻ em trong gia đình nhập cư ở nông thôn hoặc nghèo ở thành thị, trẻ em thuộc dân tộc thiểu số, trẻ khuyết tật, lao động không chính thức, người làm nông và người làm việc trong các ngành bị ảnh hưởng nặng bởi dịch bệnh như du lịch, vận tải, may mặc và sản xuất Dịch bệnh làm suy giảm chất lượng và cản trở khả năng tiếp cận toàn diện các dịch vụ xã hội thiết yếu, chẳng hạn như chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em (trước và sau sinh, tiêm chủng định kỳ và dinh dưỡng), cũng như các dịch vụ giáo dục, trợ giúp xã hội và bảo vệ trẻ em.
Việc gián đoạn cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho trẻ em, như tiêm chủng và dinh dưỡng, nhằm ngăn chặn nguy cơ lây nhiễm COVID-19 đã khiến trẻ phải đối mặt với nhiều rủi ro khác nhau Mặc dù học trực tuyến và học từ xa được áp dụng, khoảng cách tiếp cận công nghệ số ở các khu vực khó khăn, gia đình nghèo và trẻ em khuyết tật đã làm gián đoạn việc tiếp cận với giáo dục chất lượng Đồng thời, trẻ em cũng đối diện với nguy cơ bị bạo lực và các vấn đề sức khỏe tâm thần Dù chính phủ đã triển khai gói trợ giúp xã hội để hỗ trợ các nhóm bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch, vẫn có trường hợp khó để một số nhóm dễ bị tổn thương tiếp cận nguồn lực, bao gồm người lao động không chính thức, doanh nghiệp nhỏ và gia đình có trẻ em Điều này cho thấy cần tăng cường bảo vệ trẻ em và mở rộng tiếp cận hỗ trợ.
Trạng thái bình thường mới mang tới nhiều cơ hội cho chính quyền địa phương, cha mẹ, giáo viên, nhân viên y tế và trẻ em, đồng thời thúc đẩy học tập và chăm sóc cộng đồng Nhiều cha mẹ đã dành thời gian dạy con kỹ năng sống thiết yếu, kể cả các kỹ năng làm việc nhà như nấu ăn, giúp trẻ tự tin và tự lập Những thay đổi tích cực về vệ sinh cá nhân, như rửa tay bằng xà phòng, được ghi nhận, nhưng để duy trì các hành vi này cần sự hỗ trợ và nỗ lực có hệ thống Sự đoàn kết và gắn kết xã hội được tăng cường nhờ các mạng lưới và nền tảng truyền thông xã hội cho cha mẹ và người chăm sóc trẻ, nơi họ có thể chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức chăm sóc, giáo dục trẻ em, hoặc tham gia các hoạt động từ thiện như quyên góp hiện vật (gạo và các nhu yếu phẩm) cho những đối tượng gặp khó khăn.
Báo cáo nhanh này nhằm đưa ra các khuyến nghị cho nhà hoạch định chính sách về các phương án đảm bảo phúc lợi của trẻ em và gia đình trong bối cảnh dịch COVID-19 và các đại dịch có thể xảy ra trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Nhóm nghiên cứu khuyến khích các nhà hoạch định chính sách xem xét và thực hiện một chuỗi bước nhằm củng cố hệ thống phúc lợi, tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và an sinh xã hội, đồng thời nâng cao khả năng ứng phó và phục hồi trước các rủi ro dịch bệnh để bảo đảm phúc lợi của trẻ em và gia đình được duy trì bền vững theo thời gian.
COVID-19 đã tác động mạnh tới đời sống của nhiều người Việt, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, và phơi bày những điểm yếu trong cấu trúc kinh tế cũng như mạng lưới dịch vụ xã hội Chính phủ được đề xuất thực hiện các phân tích toàn diện ở cấp vĩ mô và vi mô để từ đó đề xuất các giải pháp trung và dài hạn cho nền kinh tế và các lĩnh vực xã hội trong khuôn khổ kế hoạch và chiến lược 5 năm Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú ý tới các khu vực dễ bị tổn thương nơi người dân phải gánh chịu gánh nặng kép của COVID-19 và thiên tai, như Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với tình trạng thiếu nước, một vấn đề mang tính hệ thống cần được xem xét trong quá trình hoạch định chính sách.