1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng kiểm toán căn bản

62 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ Thể trong lời mở đầu “ Giải thích những chuẩn mực kiểm toán” của Vương Quốc Anh đã định nghĩa: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của mộ

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH

BỘ MÔN KẾ TOÁN - KHOA KINH TẾ

BÀI GIẢNG KIỂM TOÁN CĂN BẢN

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)

Quảng Ninh tháng 1/2021

Trang 2

CHƯƠNG I:

CÁC KHÁI NIỆM VỀ KIỂM TOÁN 1.1 Bản chất, chức năng của kiểm toán

1.1.1 Khái niệm kiểm toán

Trong quá trình phát triển, có rất nhiều cách khái niệm kiểm toán, có thể khái quát các cách hiểu về kiểm toán theo 3 quan điểm chính sau:

- Theo quan điểm thứ nhất: Kiểm toán được hiểu theo đúng thời cuộc của nó, phát sinh cùng thời với cơ chế thị trường, một số quốc gia theo quan điểm thứ nhất như Vương Quốc Anh, Hoa Kỳ, Cộng Hòa Pháp

Cụ Thể trong lời mở đầu “ Giải thích những chuẩn mực kiểm toán” của Vương Quốc Anh đã định nghĩa:

“Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc

đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”\

Hoặc theo quan niệm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ:

“ Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về các thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp của những thông tin có thể lượng hóa với những tiêu chuẩn đã được thiết lập”

Quan niệm Trong giáo dục và đào tạo kiểm toán ở Cộng Hòa Pháp:

“ Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản kế toán niên độ của một tổ chức

do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”

Các định nghĩa trên tuy có sự khác nhau về từ ngữ song chung quy đều bao hàm trong các khái niệm đó 5 yếu tố cơ bản:

+ Chức năng của kiểm toán: Xác minh và bày tỏ ý kiến;

+ Đối tượng kiểm toán: Các bảng khai tài chính của các tổ chức hay một thực thể kinh tế;

+ Khách thể kiểm toán: Tổ chức hoặc thực thể kinh tế được kiểm toán;

+ Chủ thể kiểm toán: Kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ

+ Cơ sở thực hiện kiểm toán: Luật định, tiêu chuẩn, hay chuẩn mực chung

- Theo quan điểm thứ 2: Kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, tức là rà soát các thông tin từ chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán

Trang 3

- Theo quan điểm hiện đại: Đối tượng của kiểm toán không chỉ giới hạn là các bảng khai tài chính mà còn mở rộng nhiều lĩnh vực khác như kiểm toán thông tin, kiểm toán quy tắc, kiểm toán hiệu quả, kiểm toán hiệu năng

+ Kiểm toán thông tin (imformation audit): Hướng vào việc đánh giá tính trung thực

và hợp pháp của các tài liệu (thông tin) làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế và tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán + Kiểm toán tính quy tắc (Regularity audit): Hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, thể lệ, luật pháp của đơn vị trong quá trình hoạt động

+ Kiểm toán hiệu quả: Xem xét đến hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Đối tượng trực tiếp là các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: Mua bán, sản xuất hay cung cấp dịch vụ Kiểm toán loại này giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định chính sách và phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện, cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán

+ Kiểm toán hiệu năng (Effectiveness audit): Xem xét kết quả đầu ra có đạt được kết quả như dự kiến hay không và nếu đạt được thì các yếu tố đầu vào như thế nào

VD: Một dự án xây dựng đường cao tốc, kiểm toán viên xem xét xem mục tiêu của dự

án (đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, lưu thông hàng hóa thuận lợi ) có đạt được hay không và nếu đạt được thì chi phí thực hiện dự án là tiết kiệm hay lãng phí Nếu mục tiêu đạt được với chi phí thấp thì có thể đánh giá là dự án có tính hiệu năng cao và ngược lại

- Theo quan điểm hiện đại: Quan niệm về kiểm toán được chấp nhận phổ biến hiện nay là:

“ Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên (KTV) độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin được kiểm toán nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”

1.1.2 Bản chất kiểm toán

Từ khái niệm kiểm toán trên, bản chất của kiểm toán là gì? Ta đi trả lời những câu hỏi sau: Ai kiểm toán? Kiểm toán cái gì?Mục đích kiểm toán? Phương pháp kiểm toán

và căn cứ kiểm toán?

+ Kiểm toán viên độc lập ( Chủ thể của quá trình kiểm toán): Là những người có đủ năng lực theo quy định, và là người độc lập về kinh tế, tình cảm, chuyên môn và năng lực

+ Bằng chứng kiểm toán: Là các tài liệu, các thông tin mà kiểm toán viên sử dụng

để phân tích, xem xét và đưa ra kết luận

+ Thông tin được kiểm toán: Đối tượng kiểm toán

Trang 4

+ Các chuẩn mực đã được thiết lập: Là thước đo để đánh giá các thông tin được kiểm toán, các quy định, tiêu chuẩn, chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán

+ Đơn vị được kiểm toán (khách thể kiểm toán): Có thể là tổ chức pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân

*) Các yêu cầu cụ thể đối với kiểm toán viên

- Kỹ năng và khả năng của kiểm toán viên : KTV là người có chuyên môn tốt, đáp ứng yêu cầu công việc

- Đạo đức của kiểm toán viên:

+ Kiểm toán viên phải là người thẳng thắn, trung thực, có lương tâm nghề nghiệp, phải

là người trong sáng, công minh và không được phép để cho sự định kiến thiên lệch lấn

át tính khách quan

+ Kiểm toán viên phải có thái độ vô tư, không bị các lợi ích vật chất chi phối và điều

đó không phù hợp với tính khách quan chính trực

+ Kiểm toán viên phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp với uy tín của ngành nghề, uy tín của bản thân của hãng, phải tự kiềm chế những đức tính có thể phá hoại uy tín nghề nghiệp

+ Kiểm toán viên phải có đức tính cẩn thận trong việc tiến hành kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán

- Tính độc lập của kiểm toán viên: Khi hành nghề kiểm toán viên phải thể hiện tính độc lập của mình, không được để cho các ảnh hưởng chủ quan hoặc khách quan hoặc sự chi phối của vật chất làm mất đi tính độc lập của mình đối với khách hàng kiểm toán

- Tôn trọng bí mật: Kiểm toán viên phải tôn trọng các bí mật của những thông tin đã thu thập được trong quá trình kiểm toán

- Tôn trọng pháp luật: Trong khi hoạt động nghề kiểm toán phải luôn luôn coi trọng và chấp hành đúng các chế độ thể lệ, nguyên tắc và luật pháp của Nhà nước và những nguyên tắc chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam và kiểm toán quốc tế

- Các chuẩn mực nghiệp vụ: Kiểm toán viên phải tiến hành công việc nghiệp vụ của mình theo những chuẩn mực nghiệp vụ chuyên ngành phù hợp với công việc đó

1.1.3 Các chức năng của kiểm toán

b) Chức năng bày tỏ ý kiến:

- Được hiểu với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng của thông tin và cả pháp lý, tư vấn qua xác minh Đây là chức năng phát sinh và hình thành sau chức năng xác minh

- Cách thức thực hiện chức năng bày tỏ ý kiến có sự khác biệt:

+ Ở khu vực công cộng:

* Sự phán quyết như những quan tòa: Ví dụ như ở Pháp và các nước Tây Âu

* Phương thức tư vấn: Như ở Bắc Mỹ và nhiều nước Châu Á – Thái Bình Dương

+ Ở khu vực kinh doanh hay các dự án ngoài ngân sách nhà nước:

Trang 5

* Các lời khuyên và các đề án thông qua thư quản lý

1.2 Phân loại kiểm toán

1.2.1 Khái quát các cách phân loại kiểm toán

Có hai cách phân loại kiểm toán cơ bản : Theo chức năng kiểm toán (hay đối tượng kiểm toán, kiểm toán cái gì) và theo chủ thể kiểm toán (ai kiểm toán)?

1.2.2 Phân loại theo chức năng ( Kiểm toán cái gì?)

Chia làm 3 loại : Kiểm toán BCTC; kiểm toán hoạt động(Nghiệp vụ) và kiểm toán tuân thủ

Kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán hoạt động Kiểm toán tuân thủ

- Là việc xác minh và bày tỏ ý

kiến về các bảng khai tài chính

do các kiểm toán viên thực hiện

theo luật định

- Là việc thẩm tra các trình tự

và các phương pháp tác nghiệp cụ thể để đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động của một đơn vị

- Là việc kiểm tra mức độ tuân thủ các thủ tục, các nguyên tắc, chế độ, quy chế, pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc các

cơ quan chức năng nhà nước

đã đề ra hay không của các đơn vị được kiểm toán

- Các đặc trưng:

+ Đối tượng kiểm toán: Là các

bảng khai tài chính (Bảng cân

đối kế toán, báo cáo kết quả

hoạt động sản xuất kinh doanh,

thuyết minh báo cáo tài chính,

báo cáo lưu chuyển tiền tệ)

+ Chủ thể kiểm toán: Chủ yếu

là kiểm toán độc lập và kiểm

toán nhà nước

+ Khách thể kiểm toán: Là các

doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức

có bảng khai tài chính cần được

chuẩn mực kế toán, các văn bản

pháp luật có liên quan

- Các đặc trưng:

+ Đối tượng kiểm toán: Các nghiệp vụ cụ thể

+ Chủ thể kiểm toán: Chủ yếu là kiểm toán nội bộ

+ Khách thể kiểm toán:

Doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức hoặc một bộ phận, một chi nhánh của doanh nghiệp, đơn vị

+ Trình tự kiểm toán:

Thường xuôi theo trình tự tiến hành của kế toán

+ Cơ sở tiến hành kiểm toán:

Không có chuẩn mực chung

để đánh giá về hiệu năng, hiệu quả

+ Kết quả kiểm toán: Thường

có giá trị pháp lý không cao

- Các đặc trưng:

+ Đối tượng kiểm toán: Là mức độ tuân thủ về pháp luật, nội quy, quy chế của các đơn

vị được kiểm toán

+ Chủ thể tiến hành kiểm toán: Kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập

+ Khách thể kiểm toán: Bao gồm các doanh nghiệp, các tổ chức, các chi nhánh, các bộ phận của doanh nghiệp, thậm chí cá nhân

+ Cơ sở tiến hành kiểm toán: Bao gồm hệ thống pháp luật, chế độ chính sách, nội quy, quy chế + Kết quả kiểm toán: Có

Trang 6

1.2.3 Phân loại theo chủ thể kiểm toán( Ai kiểm toán?)

Gồm có 3 loại : kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ

+ Kết quả kiểm toán: Kiểm toán

đưa ra ý kiến và thể hiện kết

luận kiểm toán trên các báo cáo

kiểm toán Chủ thể kiểm toán

có thể đưa ra phán quyết hoặc

những lời khuyên cho những

nhà quản lý bằng thư quản lý

Kết quả kiểm toán báo cáo tài

trong bộ máy nhà nước có

nhiệm vụ tiến hành kiểm toán

tài sản của nhà nước

- Là bộ máy tổ chức của các kiểm toán viên chuyên nghiệp hành nghề kiểm toán

và thực hiện các dịch vụ có liên quan theo yêu cầu của khách hàng

- Là bộ máy tổ chức của các kiểm toán viên không chuyên nghiệp, hoạt động kiểm toán phục vụ cho mục đích quản trị nội bộ

+ Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu:

Kiểm toán tài chính và kiểm

toán tuân thủ

+ Mối quan hệ giữa kiểm toán

nhà nước với khách thể kiểm

toán: Kiểm toán nhà nước tiến

hành kiểm toán bắt buộc và

định kỳ đối với các đơn vị, tổ

chức có sử dụng vốn, kinh phí

từ ngân sách nhà nước; Kiểm

toán nhà nước tiến hành kiểm

- Các đặc trưng:

+ Chủ thể kiểm toán: Là các kiểm toán viên chuyên nghiệp

+ Khách thể kiểm toán: Các doanh nghiệp hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, các công

ty tham gia vào thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân

có yêu cầu

+ Lĩnh vực kiểm toán: Kiểm toán tài chính, kiểm toán nghiệp vụ, kiểm toán tuân thủ hoặc tiến hành các nghiệp vụ,

tư vấn khác

- Các đặc trưng:

+ Chủ thể kiểm toán: Là các kiểm toán viên không chuyên nghiệp

+ Khách thể kiểm toán: Doanh nghiệp, đơn vị hay một chi nhánh của doanh nghiệp

+ Lĩnh vực: Kiểm toán nghiệp vụ và kiểm toán tuân thủ

+ Mối quan hệ giữa chủ thể kiểm toán và khách thể kiểm toán: Kiểm toán nội

bộ tiến hành kiểm toán không thu phí, kiểm toán mang tính chất bắt buộc đối với khách thể kiểm

Trang 7

1.3 Đối tượng và khách thể kiểm toán

1.3.1 Đối tượng kiểm toán

Đối tượng kiểm toán là tất cả các vấn đề cần được kiểm toán trước hết và chủ yếu là

thực trạng hoạt động tài chính trong các đơn vị

Đối tượng kiểm toán trước hết là các tài liệu kế toán vì đây là đối tượng quan tâm trực

tiếp của cả các nhà quản lí và những người quan tâm khác

Nhưng với mọi người quan tâm, các con số và tài liệu kế toán không còn ý nghĩa nếu như không gắn liền với thực trạng tài chính của đơn vị kiểm toán Có điều này là do tính phức tạp của quan hệ tài chính và giới hạn về trình độ, phương tiện xử lí thông tin nên kế toán không thể thu thập được tất cả các thông tin tài chính

Chính vì vậy, kiểm toán không chỉ giới hạn đối tượng ở tài liệu kế toán mà còn bao

gồm cả thực trạng của hoạt động tài chính dù đã được phản ánh trong tài liệu kế

toán hay chưa được phản ánh trong tài liệu kế toán

Hơn nữa để phù hợp với sự phát triển của kế toán và nhu cầu của quản lí, kiểm toán

còn quan tâm tới các lĩnh vực khác của quản lí như hiệu quả sử dụng nguồn lực, hiệu năng của các chương trình, mục tiêu, dự án cụ thể

Cụ thể các đối tượng của kiểm toán như sau:

- Thực trạng hoạt động tài chính - đối tượng chung của kiểm toán

Hoạt động tài chính là dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh tế trong đầu tư,

trong kinh doanh, trong phân phối và thanh toán nhằm đạt tới lợi ích kinh tế xác định

Ở đây, các mối quan hệ tài chính là nội dung bên trong của hoạt động tài chính và tiền chỉ là hình thức biểu hiện, là phương tiện để giải quyết các mối quan hệ kinh tế đó

- Tài liệu kế toán - đối tượng cụ thể của kiểm toán

Tài liệu kế toán là hệ thống các chứng từ, sổ sách, các bảng biểu và báo cáo tài chính

kế toán

toán không thu phí; mối quan hệ

này được thể hiện trên lệnh

kiểm toán

+ Kết quả kiểm toán: Do kiểm

toán nhà nước tiến hành có giá

+ Kết quả kiểm toán: Có giá trị pháp lý cao, đáp ứng nhu cầu về thông tin cho đối tượng kiểm toán

toán và trên lệnh kiểm toán

+ Kết quả kiểm toán: Không có giá trị pháp lý cao

Trang 8

Theo Luật kế toán: Tài liệu kế toán là chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo

kế toán quản trị, báo cáo kiểm toán, báo cáo kiểm tra kế toán và các tài liệu khác có liên quan đến kế toán

- Thực trạng tài sản và các nghiệp vụ tài chính - đối tượng cụ thể của kiểm toán

+ Trong một đơn vị kinh doanh hay sự nghiệp, tài sản dược biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất khác nhau với yêu cầu về qui cách, phẩm chất, bảo quản, bảo dưỡng khác nhau, lại được lưu trữ trên nhiều kho, bãi khác nhau với những người

quản lí khác nhau

Mối liên hệ giữa những người quản lí với nhau cũng như giữa người quản lí với người

sở hữu tài sản được thực hiện theo những xu hướng và phương thức khác nhau song có

xu hướng ngày càng tăng dần sự cách biệt giữa người sở hữu với người bảo quản và sử dụng tài sản

Mặt khác, khi sản xuất phát triển, qui mô tài sản cũng tăng lên, qui mô kinh doanh mở rộng, các mối liên kết kinh tế ngày càng đa dạng, phức tạp dẫn đến khả năng cách biệt giữa tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kế toán

Thực tế đó đã thúc đẩy sự ra đời của kiểm toán cùng tính tất yếu phải đặt thực trạng của tài sản vào đối tượng kiểm toán

+ Tài sản trong kinh doanh có dạng vật chất và nguồn hình thành đa dạng, chúng luôn vận động và được thể hiện bởi các nghiệp vụ cụ thể

Dựa trên quá trình vận động này, đặc tính riêng của từng loại tài sản, mối quan hệ kinh

tế của mỗi loại và sự đa dạng của các nghiệp vụ nên kiểm toán được chia thành các phần hành kiểm toán cụ thể phù hợp với đối tượng của mình

- Hiệu quả và hiệu năng - đối tượng cụ thể của kiểm toán

Tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính là những đối tượng gắn liền với sự phát sinh và phát triển của kiểm toán Song theo quan điểm hiện đại, đối tượng kiểm toán còn bao gồm cả hiệu năng và hiệu quả

Việc mở rộng đối tượng kiểm toán như vậy cũng xuất phát từ những đòi hỏi thực tế của quản lí trong điều kiện qui mô kinh doanh và hoạt động sự nghiệp ngày càng mở rộng, trong khi nguồn lực ngày càng bị giới hạn

Đặc biệt trong cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, để thực hiện tiết kiệm và giành lợi thế trong cạnh tranh thì vấn đề hiệu quả, hiệu năng cần được đặt ra cho từng nghiệp

vụ cụ thể

Đặc điểm

Trang 9

+ Đây là đối tượng mới phát sinh của kiểm toán và nó bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thập kỉ 80 của thế kỉ XX trở lại đây

+ Hiệu quả và hiệu năng là một bộ phận của kiểm toán nghiệp vụ và gắn liền với một nghiệp vụ hay một dự án, một chương trình cụ thể

+ Trước khi tiến hành cuộc kiểm toán hiệu năng, hiệu quả thì cần phải đặt ra các chuẩn mực cụ thể và rõ ràng Các chuẩn mực cụ thể ở đây có thể là mục tiêu, qui trình, nội qui, các thông số kĩ thuật hoặc các chỉ tiêu kinh tế

+ Thường thì việc đặt ra các chuẩn mực cho kiểm toán hiệu năng là khó hơn cho các chuẩn mực kiểm toán hiệu quả

+ Đối với việc đặt ra các chuẩn mực cho tính hiệu năng thì chúng luôn bao gồm các mục tiêu và mục đích cụ thể của tổ chức, còn các chuẩn mực cho tính hiệu quả thì thường được xác định bởi mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra

Tóm lại, thông qua nghiên cứu cụ thể về đối tượng kiểm toán có thể thấy đối tượng chung của kiểm toán là thực trạng hoạt động tài chính và hiệu quả thực hiện các nội dung, chương trình, dự án

Có thể phân chia đối tượng kiểm toán đó thành các đối tượng cụ thể khác nhau như thông tin kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính cùng hiệu quả, hiệu năng của các nghiệp vụ, các chương trình, các dự án

Đối tượng kiểm toán thực chất là trả lời câu hỏi : Kiểm toán cái gì?

- Kiểm toán báo cáo tài chính : Là các bảng khai tài chính (Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ)

- Kiểm toán hoạt động : Là Các nghiệp vụ cụ thể

- Kiểm toán tuân thủ: Là mức độ tuân thủ về pháp luật, nội quy, quy chế của các đơn

vị được kiểm toán

1.3.2 Khách thể kiểm toán

Khách thể kiểm toán là các đơn vị cụ thể mà đối tượng kiểm toán của kiểm toán được

thực hiện trong đơn vị đó

Kiểm toán bao gồm 5 yếu tố cơ bản là chức năng, đối tượng, khách thể kiểm toán, chủ thể kiểm toán, cơ sở tiến hành Trong đó cần phải phân biệt đối tượng kiểm toán với khách thể kiểm toán, theo đó đối tượng kiểm toán có thể hiểu như sau:

Có 2 loại khách thể kiểm toán gồm:

- Khách thể kiểm toán bắt buộc là những đơn vị, tổ chức, cơ quan được các văn bản

pháp quy của Nhà nước qui định phải được kiểm toán hằng năm bởi chủ thể kiểm toán

Trang 10

- Khách thể tự nguyện: Các đơn vị không bắt buộc phải kiểm toán mà do bản thân

đơn vị có nhu cầu và tự nguyện mời kiểm toán

Trong mối quan hệ với chủ thể kiểm toán có thể phân chia các khách thể kiểm toán như sau:

- Khách thể của kiểm toán Nhà nước: Thường là các đơn vị, cá nhân, có sử dụng

ngân sách Nhà nước như: Các dự án, công trình do Ngân sách Nhà nước đầu tư, các doanh nghiệp Nhà nước, các đơn vị nghiệp công cộng, các cơ quan kinh tế, các đoàn thể xã hội, các cá nhân có nguồn từ Ngân sách Nhà nước

- Khách thể của kiểm toán độc lập: Bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nước

ngoài, các công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã và các chương trình dự án có nguồn kinh phí từ bên ngoài ngân sách Nhà nước

Khách thể của kiểm toán nội bộ: Bao gồm các bộ phận cấu thành trong đơn vị,

các nghiệp vụ, các chương trình, dự án cụ thể trong đơn vị, các cá nhân trong đơn

vị

Tóm lại, khách thể của kiểm toán có thể là đơn vị kế toán như các xí nghiệp, các đơn vị sự nghiệp hay cá nhân hoặc là một công trình, dự án cụ thể hoặc một bộ phận của một đơn vị nào đó

Một cuộc kiểm toán

Khi một khách thể kiểm toán có quan hệ với một chủ thể kiểm toán nhằm thực hiện một nhiệm vụ xác định được gọi là một cuộc kiểm toán Trong một cuộc kiểm toán thường bao gồm 5 yếu tố xác định sau:

- Đối tượng kiểm toán cụ thể

- Chủ thể kiểm toán xác định

- Khách thể kiểm toán tương ứng

- Thời hạn kiểm toán cụ thể

- Cơ sở tiến hành kiểm toán

Khách thể kiểm toán thực chất trả lời câu hỏi : Kiểm toán ai?

Cơ bản khách thể kiểm toán là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân Tùy thuộc từng loại kiểm toán khác nhau, khách thể kiểm toán có thể khác nhau:

- Đối với Kiểm toán báo cáo tài chính chủ thể kiểm toán Là các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức

có bảng khai tài chính cần được kiểm toán

- Đối với Kiểm toán hoạt động chủ thể kiểm toán là Doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức hoặc một

bộ phận, một chi nhánh của doanh nghiệp, đơn vị

Trang 11

- Đối với Kiểm toán tuân thủ chủ thể kiểm toán Bao gồm các doanh nghiệp, các tổ chức, các chi nhánh, các bộ phận của doanh nghiệp, thậm chí cá nhân

1.4 Quy trình kiểm toán

Cơ bản quy trình chung các cuộc kiểm toán đều thực hiện 3 bước : Lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán

Tùy thuộc từng đối tượng kiểm toán, trình tự tiến hành kiểm toán có thể khác nhau

- Đối với Kiểm toán báo cáo tài chính : Ngược so với trình tự kế toán, Nếu trình tự kế toán đi

từ A đến B thì quy trình kiểm toán BCTC đi từ B về A

- Đối với Kiểm toán hoạt động : Thường xuôi theo trình tự tiến hành của kế toán

- Đối với Kiểm toán tuân thủ : Theo trình tự các nội quy, quy định cụ thể, theo căn cứ pháp lý chung được thừa nhận

1.5 Chuẩn mực kiểm toán(CMKT)

Chuẩn mực: là những nguyên tắc hay tiêu chuẩn tối thiểu để các thành viên tuân theo

và làm cơ sở đánh giá chất lượng công việc

Một yếu tố có ảnh hưởng rất quan trọng tới chất lượng, tính chuyên nghiệp của hoạt động kiểm toán chính là chuẩn mực kiểm toán

Chuẩn mực kiểm toán là những nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và việc xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán giữa KTV và các bên liên quan theo hướng và mục tiêu xác định

CMKT thường có hai hình thức thể hiện cơ bản là luật hoặc pháp lệnh về kiểm toán và chuẩn mực thực hành

Hình thức biểu hiện

Chuẩn mực kiểm toán có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau, biểu hiện chủ yếu ở 2 hình thức cơ bản:

Luật kiểm toán: là những chế định cụ thể do Quốc hội ban hành, và chính phủ sẽ ban

hành các văn bản hướng dẫn cụ thể

Hệ thống chuẩn mực kiểm toán cụ thể: bao gồm những nguyên tắc cơ bản về nghiệp

vụ và về việc xử lí các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán

Ngoài ra, chuẩn mực kiểm toán cụ thể là những hướng dẫn, những giải thích về những nguyên tắc cơ bản để kiểm toán viên có thể áp dụng trong thực tế, để đo lường và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán

Những chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến

(Generally accepted auditing standards – GAAS)

Trang 12

Chuẩn mực kiểm toán chung được thừa nhận rộng rãi gồm mười chuẩn mực Mười chuẩn này được chia thành 3 nhóm: nhóm chuẩn mực chung, nhóm chuẩn mực thực hành và nhóm chuẩn mực báo cáo

- Nhóm chuẩn mực chung

Nhóm này gồm 3 chuẩn mực và được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của một cuộc kiểm toán Chúng bao gồm các chuẩn mực đào tạo nghiệp vụ và sự thành thạo chuyên môn, tính độc lập, cũng như sự thận trọng nghề nghiệp thích đáng Cụ thể:

+ Việc kiểm toán phải do một người hay một nhóm được đào tạo nghiệp vụ tương xứng và thành thạo chuyên môn như một kiểm toán viên thực hiện

+ Trong tất cả các vấn đề liên quan tới cuộc kiểm toán kiểm toán viên phải giữ một thái độ độc lập

+ Kiểm toán viên phải duy trì sự thận trọng nghề nghiệp đúng mực trong suốt cuộc kiểm toán (lập kế hoạch, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán)

- Nhóm chuẩn mực thực hành

Ba chuẩn mực thực hành này yêu cầu kiểm toán viên phải tuân thủ khi thực hiện công việc kiểm toán thực tế Những chuẩn mực này đề cập tới việc lập kế hoạch và giám sát công việc kiểm toán, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và thu thập đầy đủ các bằng chứng có hiệu lực Cụ thể:

+ Phải lập kế hoạch chu đáo cho công việc kiểm toán và giám sát chặt chẽ những người giúp việc nếu có

+ Phải hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm toán nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán và xác định nội dung, thời gian và qui mô của các thử nghiệm sẽ thực hiện

+ Phải thu được đầy đủ bằng chứng có hiệu lực thông qua việc kiểm tra, quan sát, thẩm vấn và xác nhận để có được những cơ sở hợp lí cho ý kiến về báo cáo tài chính được kiểm toán

Các chuẩn mực báo cáo: Bốn chuẩn mực báo cáo cung cấp cho kiểm toán viên

những chỉ dẫn để lập báo cáo kiểm toán

Những chuẩn mực này nhấn mạnh về việc báo cáo kiểm toán phải đưa ra được những vấn đề có liên quan tới tuân thủ các nguyên tắc kế toán được thừa nhận rộng rãi, tính nhất quán, sự trình bày khai báo, và việc đưa ra ý kiến trên báo cáo kiểm toán Cụ thể: + Báo cáo kiểm toán phải xác nhận bảng khai tài chính có được trình bày phù hợp với những nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi hay không

Trang 13

+ Báo cáo kiểm toán phải chỉ ra các trường hợp không nhất quán về nguyên tắc giữa kì này với các kì trước

+ Phải xem xét các khai báo trên bảng khai tài chính có đầy đủ một cách hợp lí không tra những trường hợp khác được chỉ ra trong báo cáo

+ Báo cáo kiểm toán phải đưa ra ý kiến về toàn bộ bảng khai tài chính hoặc khẳng định không thể đưa ra ý kiến được kiến theo việc nêu ra lí do Trong mọi trường hợp kí tên vào báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải nêu ra trong báo cáo đặc điểm cuộc kiểm toán và mức độ trách nhiệm của kiểm toán viên

Năm 1948, hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ đã ban hành các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận rộng rãi ( GAAS), gồm 10 chuẩn mực chia thành 3 nhóm : Nhóm chuẩn mực chung (gồm có 3 chuẩn mực); nhóm chuẩn mực thực hành ( 3 chuẩn mực) và nhóm chuẩn mực báo cáo ( gồm 4 chuẩn mực)

Ở VIệt Nam, hệ thống chuẩn mực kiểm toán do Bộ Tài chính chịu trách nhiệm soạn thảo

và ban hành Về cơ bản, các chuẩn mực kiểm toán của Việt Nam dựa trên cơ sở các chuẩn mực kiểm toán quốc tế

Ngoài các chuẩn mực kiểm toán cho KTV độc lập ( chủ yếu lĩnh vực kiểm toán tài chính), kiểm toán nhà nước cũng đã soạn thảo và ban hành Luật kiểm toán Ngân sách nhà nước và chuẩn mực kiểm toán nhà nước gồm 10 chuẩn mực

CHƯƠNG II : BÁO CÁO KIỂM TOÁN

2.1 Báo cáo kiểm toán và ý nghĩa của báo cáo kiểm toán

a) Báo cáo kiểm toán

Tùy mỗi quốc gia, mỗi hãng kiểm toán có thể có những quy định khác nhau về báo cáo kiểm toán song theo thông lệ kiểm toán quốc tế, một báo cáo kiểm toán phải bao gồm các yếu tố cơ bản dưới đây:

- Nội dung của BCKT:

+ Tiêu đề: Để phân biệt với các báo cáo khác

+ Địa chỉ: Phải ghi địa chỉ, nơi nhận báo cáo kiểm toán phù hợp với yêu cầu của thư hẹn kiểm toán, thông thường là ghi địa chỉ của khách hàng

+ Xác địn báo cáo tài chính được kiểm toán: Bao gồm tên doanh nghiệp có báo cáo, ngày lập báo cáo, kỳ hạn của báo cáo tài chính

+ Các thông lệ và chuẩn mực kiểm toán được tuân theo khi thực hành kiểm toán + Các ý kiến nhận xét về báo cáo tài chính

+ Chữ ký: Kiểm toán viên phải ghi rõ, đầy đủ họ tên và hàm cấp, một số quốc gia quy định việc ký tên và báo cáo kiểm toán là đại diện của các hãng kiểm toán, hoặc

cả của kiểm toán viên và của hãng kiểm toán

+ Địa chỉ của kiểm toán viên

+ Ngày thành lập báo cáo kiểm toán

b) Ý nghĩa của báo cáo kiểm toán

• Tạo niềm tin cho những người quan tâm

Trang 14

• Góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính

• Góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý

2.2 Các loại ý kiến và các loại báo cáo kiểm toán

- Các dạng báo cáo kiểm toán: Báo cáo kiểm toán sẽ thể hiện chi tiết, rõ ràng ý kiến của kiểm toán viên về các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, tùy thuộc vào kết quả của từng cuộc kiểm toán cụ thể Nói chung có 4 loại ý kiến nhận xét đồng thời có

4 loại báo cáo như sau:

+ Ý kiến chấp nhận toàn phần (Báo cáo chấp nhận toàn bộ): Được đưa ra khi kiểm toán viên cho rằng báo cáo kiểm toán đã phản ánh một cách trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính của đơn vị và phù hợp với chuẩn mực hay chế độ kế toán hiện hành Ý kiến chấp nhận toàn phần cũng được đưa ra trong trường hợp báo cáo tài chính tuy có sai sót nhưng đã được hiệu chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên

+ Ý kiến chấp nhận từng phần (Báo cáo chấp nhận từng phần): Là loại ý kiến nhận xét khi kiểm toán viên nhận thấy không chấp nhận toàn bộ được, vì còn nhiều điểm chưa chấp nhận được hoặc chưa đồng ý với doanh nghiệp Ý kiến chấp nhận từng phần có 2 dạng:

Dạng 1: Ý kiến “ ngoại trừ”: Đó là khi kiểm toán viên bị giới hạn về phạm vi

kiểm toán hoặc bất đồng ý kiến với nhà quản lý về việc áp dụng chuẩn mực và chế độ

kế toán

Dạng 2: Ý kiến “tùy thuộc vào”: Khi kiểm toán viên nhận thấy không thể chấp

nhận toàn bộ được vì số liệu mập mờ, không chắc chắn, để kết luận được thì phải phụ thuộc vào một số dữ liệu khác

+ Ý kiến không chấp nhận (ý kiến trái ngược) (Báo cáo không chấp nhận): Thông thường kiểm toán viên đưa ra ý kiến này khi có sự bất đồng nghiêm trọng với giám đốc của đơn vị về việc lựa chọn, áp dụng chuẩn mực và chế độ kế toán hoặc sự không phù hợp giữa các thông tin trong đối tượng kiểm toán

+ Ý kiến từ chối (Không thể đưa ra ý kiến): Kiểm toán viên đưa ra ý kiến này khi hậu quả của việc bị giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc các thông tin bị thiếu liên quan đến một số lượng lớn khoản mục đến mức mà kiểm toán viên không thể thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để có thể đưa ra ý kiến

Chú ý: Ý kiến từ chối và ý kiến không chấp nhận đều có điểm giống nhau là cả hai chỉ được đưa ra khi có những sự kiện quan trọng, nhưng đây là hai trường hợp hoàn toàn khác nhau:

- Ý kiến từ chối được sử dụng khi kiểm toán viên không đủ thông tin để kết luận về tính trung thực, hợp lý của đối tượng được kiểm toán

- Ý kiến không chấp nhận được đưa ra khi kiểm toán viên có bằng chứng đầy đủ và thích hợp để kết luận về tính trung thực hợp lý của đối tượng được kiểm toán

Trang 15

CHƯƠNG III : GIAN LẬN VÀ SAI SÓT TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO 3.1 Gian lận và sai sót

3.1.1 Gian lận

- Gian lận: là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích là tư lợi Trong lĩnh vực tài chính kế toán, gian lận là trình bày sai lệch có chủ định các thông tin trên báo cáo tài chính do một hay nhiều người trong ban giám đốc công ty, các nhân viên hoặc bên thứ 3 thực hiện Chẳng hạn, làm giả tài liệu, tham ô tài sản, giấu diếm hoặc cố tình bỏ sót kết quả các hoạt động

3.1.2 Sai sót

- Sai sót : là lỗi không cố ý, thường được hiểu là sự nhầm lẫn hoặc do yếu kém về năng lực nên gây ra sai phạm Chẳng hạn, sai sót có thể là lỗi cộng số, bỏ sót hoặc áp dụng sai nguyên tắc, chế độ kế toán tài chính do thiếu năng lực

3.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến gian lận và sai sót

- Các yếu tố có thể dẫn đến gian lận:

+ Sự xúi giục: Xúi giục được xem như một áp lực có thể có từ phía cá nhân người thực hiện hành vi gian lận hoặc bởi một người nào đó

+ Cơ hội thuận lợi để thực hiện hành vi gian lận

+ Thiếu liêm khiết: Thiếu liêm khiết sẽ làm cho sự kết hợp giữa xúi giục và thời cơ biến thành hành động gian lận

- Các yếu tố có thể dẫn đến sai sót:

+ Do năng lực, trình độ yếu kém

+ Do sức ép về tâm lý, điều kiện, thời gian làm việc để hoàn tất báo cáo

+ Do tác phong làm việc không cẩn thận, thiếu trách nhiệm

Trang 16

+ mức độ nghiêm trọng của sai sót lại phụ thuộc vào quy mô của sai sót và tính lặp đi, lặp lại của sai sót

3.1.4 Trách nhiệm đối với gian lận và sai sót

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 “ Gian lận và sai sót” Giám đốc hoặc người đứng đầu đơn vị được kiểm toán chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các gian lận và sai sót trong đơn vị thông qua việc xây dựng và duy trì thường xuyên hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp

Trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán là giúp đỡ đơn vị được kiểm toán phát hiện, xử lý, ngăn ngừa gian lận và sai sót nhưng kiểm toán viên và công ty kiểm toán không chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc ngăn ngừa các gian lận và sai sót ở đơn vị mà họ kiểm toán

3.2 Trọng yếu và rủi ro

3.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của tính Trọng yếu trong kiểm toán

a) Khái niệm

Trọng yếu, xét trong mối quan hệ với nội dung kiểm toán, là khái niệm chung chỉ về quy

mô, tính hệ trọng của sai phạm (kể cả bỏ sót thông tin kinh tế, tài chính) hoặc là đơn lẻ hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể, nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc rút ra những kết luận sai lầm

Trong khái niệm trọng yếu bao hàm 2 mặt liên quan đến nhận thức đối tượng:

- Mặt lượng: Tầm cỡ (quy mô)

- Mặt chất: Tính hệ trọng

VD: Tổng doanh thu của đơn vị là 5 tỷ đồng, giá vốn là 5,5 tỷ đồng, kết quả kinh doanh lỗ 500 triệu đồng Nhưng kế toán đơn vị ghi giảm giá vốn còn 4,5 tỷ đồng, kết quả kinh doanh lãi 500 triệu đồng

+ Quy mô sai lệch: 500 triệu đồng

+ Tính hệ trọng: Giả sử người sử dụng thông tin là các nhà đầu tư, họ quan tâm đến kết quả kinh doanh và quyết định đầu tư hi vọng có lời và họ đưa ra quyết định sai

b) Ý nghĩa của tính trọng yếu trong kiểm toán

Trọng yếu rất quan trọng trong việc lập kế hoạch kiểm toán và thiết lập phương pháp kiểm toán, tính trọng yếu được kiểm toán viên xem xét đến khi:

- Xác định phạm vi của cuộc kiểm toán

- Xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các phương pháp kiểm toán

- Xác định mức trung thực và hợp lý của các thông tin trong báo cáo tài chính

*) Vận dụng trọng yếu trong kiểm toán

Việc vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán được thực hiện thông qua 5 bước:

Bước 1: Ước lượng sơ bộ ban đầu về tính trọng yếu

Trang 17

Là việc làm của KTV nhằm xác định mức sai phạm tối đa nhưng vẫn chấp nhận được

Có nghĩa là ở mức sai phạm đó đối tượng kiểm toán vẫn được coi là trung thực, hợp lý hay những quan điểm này chưa làm thay đổi quan điểm và quyết định của người sử dụng thông tin

Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thường được các công ty kiểm toán chuyên nghiệp (doanh nghiệp kiểm toán) chỉ đạo cho các KTV Trên thực tế kiểm toán viên thường

ấn định mức trọng yếu ban đầu thấp hơn so với mức chỉ đạo của các công ty kiểm toán VD: Mức chỉ đạo về tính trọng yếu của công ty kiểm toán quốc tế đối với tổng tài sản

là 3% - 6% thì kiểm toán viên thường ấn định sai phạm trọng yếu ban đầu là 2% - 4%

Bước 2: Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho từng bộ phận, từng khoản

mục

Sau ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính, KTV phải tiến hành phân bổ ước lượng này cho từng khoản mục, bộ phận hay từng chỉ tiêu

Cơ sở để phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục là:

+ Kinh nghiệm của KTV về sai sót của các khoản mục

+ Chi phí kiểm toán cho từng khoản mục ( Khoản mục nào chi phí kiểm toán nhiều hơn thì phân bổ nhiều hơn) Thường khoản mục hàng tồn kho chi phí kiểm toán sẽ lớn hơn

vì phải kiểm kê hàng tồn kho

Bước 3: Ước lượng sai sót cho từng bộ phận

Sau khi phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho từng khoản mục, kiểm toán viên thực hiện kiểm toán cho từng khoản mục theo mẫu đã chọn Từ sai sót

đã phát hiện trong mẫu đã chọn kiểm toán viên phải ước lượng sai sót cho tổng thể khoản mục đó để so sánh với ước lượng lượng ban đầu về tính trọng yếu của khoản mục đó từ đó đưa ra ý kiến chấp nhận hay không chấp nhận khoản mục đó

Bước 4: Ước lượng tính sai sót kết hợp của từng bộ phận

Đây là bước tổng hợp sai sót dự kiến của các khoản mục trên BCTC

Bước 5: So sánh sai sót kết hợp ước tính với ước lượng ban đầu (hoặc đã điều

chỉnh) về tính trọng yếu

Đây là việc so sánh bước 4 với bước 1 Trong quá trình kiểm toán việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cũng có thể được điều chỉnh lại tùy thuộc vào tình hình thực tế về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát

3.2.2 Rủi ro kiểm toán và các loại rủi ro có liên quan

a) Khái niệm

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400, rủi ro kiểm toán (AR) là rủi ro kiểm toán viên và các công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán vẫn còn những sai sót trọng yếu

Trang 18

VD: Sau khi tiến hành kiểm toán những khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị A, kiểm toán viên đã đưa ra ý kiến rằng BCTC của đơn vị đã trình bày trung thực hợp lý nhưng trên thực tế các báo cáo đã được kiểm toán này vẫn còn tồn tại những sai phạm trọng yếu mà kiểm toán viên không phát hiện ra trong quá trình kiểm toán Rủi ro này luôn luôn có thể tồn tại ngay cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch chu đáo và thực hiện một cách thận trọng

b) Các loại rủi ro kiểm toán

Đối tượng kiểm toán được kiểm toán qua nhiều giai đoạn với các bộ phận kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xác định tương ứng với đối tượng kiểm toán: Rủi

ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện

Rủi ro tiềm tàng - IR

Rủi ro tiềm tàng là rủi ro vốn có do khả năng từng hoạt động, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ

Mức độ rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh, loại hình kinh doanh và cả năng lực nhân viên của khách thể kiểm toán Kiểm toán viên không tạo ra và cũng không kiểm soát rủi ro tiềm tàng, họ chỉ có thể đánh giá chúng

Để đánh giá rủi ro tiềm tàng kiểm toán viên có thể dựa vào nhiều nguồn khác nhau như: Kết quả của cuộc kiểm toán viên năm trước, thu thập các thông tin về ngành kinh doanh của khách thể kiểm toán

Rủi ro kiểm soát - CR

Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trong từng hoạt động, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán

và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời

Rủi ro kiểm soát cũng như rủi ro tiềm tàng tồn tại khách quan nằm ngay trong doanh nghiệp, không phụ thuộc vào công việc kiểm toán có tiến hành hay không Việc thiết kế, xây dựng và vận hành một hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả, hiệu lực là trách nhiệm và bổn phận của chủ doanh nghiệp Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên cần phải có sự hiểu biết và tìm hiểu về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp để có căn cứ đánh giá về rủi ro kiểm soát là cao hay thấp

Rủi ro phát hiện – DR

Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra các sai sót trọng yếu trong từng hoạt động, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được

Rủi ro phát hiện liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán Rủi ro phát hiện sẽ tăng nếu như việc lập và thực hiện kế hoạch kiểm toán không

Trang 19

được thực hiện nghiêm túc hoặc bản thân kiểm toán viên có năng lực nghề nghiệp hạn chế

Rủi ro kiểm toán (AR) = IR x CR x DR

Chú ý: Kiểm toán viên không thể giả sử rằng rủi ro tiềm tàng là bằng 0 và cũng không thể đặt niềm tin tuyệt đối vào hệ thống kiểm soát nội bộ (CR = 0) để không cần đến các bước thu thập bằng chứng kiểm toán

3.2.3 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro

Hai khái niệm trọng yếu và rủi ro có mối quan hệ mật thiết với nhau Tùy thuộc mức độ trọng yếu của sai phạm, ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ rủi ro của kiểm toán

CHƯƠNG IV :

CƠ SỞ DẪN LIỆU VÀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN 4.1 Cơ sở dẫn liệu

Cơ sở dẫn liệu là căn cứ của các khoản mục và thông tin trình bày trong báo cáo

tài chính do Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị chịu trách nhiệm lập trên cơ sở các chuẩn mực, chế độ kế toán quy định phải được thể hiện rõ ràng hoặc có cơ sở đối với từng chỉ tiêu trong báo cáo tài chính

Cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính phải có đủ các tiêu chuẩn sau:

Trang 20

- Hiện hữu: Một tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu hay một khoản nợ phải trả phản ánh trên báo cáo tài chính phải thực tế tồn tại (có thực) vào thời điểm lập báo cáo

- Quyền và nghĩa vụ: Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên báo cáo tài chính đơn vị phải có quyền sở hữu hoặc có trách nhiệm hoàn trả tại thời điểm lập báo cáo

- Phát sinh: Một nghiệp vụ hay một sự kiện đã ghi chép thì phải xảy ra có liên quan đến đơn vị trong kỳ xem xét

- Đầy đủ: Toàn bộ tài sản, các khoản nợ, nghiệp vụ hay giao dịch đã xảy ra và có liên quan đến đơn vị trong kỳ báo cáo

- Đo lường, tính toán: Một tài sản, công nợ, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí phải được ghi chép theo giá trị thích hợp trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được thừa nhận)

- Đầy đủ: Toàn bộ tài sản, các khoản nợ, các khoản doanh thu, chi phí, các nghiệp

vụ hay giao dịch đã xảy ra và có liên quan đến kỳ báo cáo phải được ghi chép đầy đủ

- Chính xác: Một nghiệp vụ hay một sự kiện được ghi chép theo đúng giá trị của

nó, doanh thu hay chi phí được ghi nhận đúng kỳ, đúng khoản mục và đúng về toán học, các phép tính cộng dồn và chuyển sổ là đúng

- Trình bày và công bố: Các khoản mục được phân loại, diễn đạt và công bố phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành

VD:

Trên báo cáo của công ty A có ghi chép một tài sản cố định là ô tô tải trị giá 700 triệu, có nghĩa là người quản lý công ty đã khẳng định họ có quyền sở hữu đối với tài sản này, giá trị của tài sản đúng là 700 triệu

Khi kiểm toán khoản mục tài sản cố định, kiểm toán viên phải thu thập bằng chứng phải đảm bảo các vấn đề về sự hiện hữu, quyền và nghĩa vụ đối với ô tô tải:

- Sự hiện hữu: Kiểm toán viên phải quan sát xem công ty này thực sự có xe ô tô tải như đã mô tả hay không

- Quyền và nghĩa vụ: KTV phải kiểm tra thêm về hồ sơ, giấy tờ xe để đảm bảo xe

có do công ty làm chủ sở hữu hay không

- Về tính toán, đo lường: KTV phải kiểm tra các chứng từ liên quan đến việc mua

xe ô tô xem đã được ghi đúng nguyên giá hay chưa

- Về tính chính xác: Kiểm toán viên phải thu thập các tài liệu như hợp đồng mua bán, biên bản bàn giao đưa vào sử dụng xem là tài sản này đã thực sự được đưa vào sử dụng hay chưa, có thực sự là tài sản cố định trong kỳ hay là của kỳ trước

đã khấu hao hết

Trang 21

- Trình bày và công bố: Kiểm toán viên kiểm tra xem trên báo cáo tài chính của công ty, tài sản này có được phản ánh trong mục tài sản cố định hay không hay được phản ánh trong các mục khác

4.2 Bằng chứng kiểm toán

a) Khái niệm

Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do KTV thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa vào các thông tin này KTV hình thành nên các ý kiến của mình

b) Phân loại bằng chứng kiểm toán

- Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc:

+ Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên khai thác và phát hiện bằng cách như quan sát, kiểm kê, điều tra, tính toán lại

+ Bằng chứng kiểm toán do khách hàng ( Đơn vị được kiểm toán) tạo lập và cung cấp Ví dụ như các phiếu thu, phiếu chi, các báo cáo do đơn vị được kiểm toán lập + Bằng chứng kiểm toán do bên thứ 3 cung cấp: Là các bằng chứng do bên thứ 3 độc lập có quan hệ với đơn vị được kiểm toán cung cấp được kiểm toán viên thu thập như: Các tài liệu xác nhận của bên thứ 3, hóa đơn của người cung cấp, các giấy báo nợ, báo có của ngân hàng liên quan

- Phân loại bằng chứng kiểm toán theo hình thức (loại hình) của BCKT:

+ Các chứng từ kế toán

+ Các ghi chép kế toán và ghi chép khác của đơn vị

+ Các văn bản, báo cáo của bên thứ 3

+ Các biên bản làm việc có liên quan (với cơ quan tài chính, thuế, hải quan, ngân hàng);

+ Các báo cáo tài chính và báo cáo kế toán nội bộ

+ Giải trình của các nhà quản lý và cán bộ nghiệp vụ trong đơn vị

VD: Hãy phân loại một số bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên thu thập được

trong quá trình kiểm toán?

- Hóa đơn của nhà cung cấp

- Thư xác nhận của ngân hàng

- Biên bản kiểm kê hàng tồn kho

- Biên bản xác định giá trị góp vốn

*)Chứng từ kiểm toán

Trang 22

Chứng từ kiểm toán là nguồn tài liệu sẵn có cung cấp cho kiểm toán viên Chứng từ kiểm toán vừa là đối tượng kiểm toán (đặc biệt là kiểm toán nội bộ) đồng thời lại là chứng từ kiểm toán (trước hết là kiểm toán báo cáo tài chính)

Chứng từ kiểm toán vừa là cơ sở hoạch định nội dung, mục tiêu kiểm toán vừa minh chứng bằng văn bản các hoạt động, nghiệp vụ

Chứng từ kiểm toán bao gồm:

- Các tài liệu kế toán:

+ Các chứng từ kế toán: Phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập, phiếu xuất

+ Các bảng kê, bảng tổng hợp chứng từ gốc: Bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng tổng hợp nhâp xuất tồn

+ Các đơn từ khiếu nại

4.3 Câu hỏi ôn tập và bài tập kiểm tra chương IV

CHƯƠNG V

HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ RỦI RO KIỂM SOÁT

5.1 – KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

Trang 23

Trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, chức năng kiểm tra kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp

Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị; bảo đảm độ tin cậy của các thông tin; bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động

Theo đó, kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các đơn vị,

tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị:

1/ Bảo vệ tài sản của đơn vị:

Tài sản của đơn vị bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình, chúng

có thể bị đánh cắp, lạm dụng vào những mục đích khác nhau hoặc bị hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp Điều tương tự cũng có thể xảy ra đối với các tài sản phi vật chất khác như sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng

2/ Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin:

Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý Như vậy các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế, tài chính

3/ Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý:

Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được tuân thủ đúng mức Cụ thể hệ thống kiểm soát nội bộ cần:

- Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp;

- Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận trong mọi hoạt động của doanh nghiệp;

- Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập báo cáo tài chính trung thực và khách quan

Trang 24

4/ Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý

Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp

Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết qủa hoạt động trong doanh nghiệp được thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp

Tuy nằm trong một thể thống nhất song bốn mục tiêu trên đôi khi cũng có mâu thuẫn với nhau như giữa tính hiệu quả của hoạt động với mục đích bảo vệ tài sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy Nhiệm vụ của các nhà quản lý là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp hài hoà bốn mục tiêu trên

Khi tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, KTV cần nhận thức được rằng mỗi hệ thống kiểm soát nội bộ dù được thiết kế hoàn hảo đến đâu cũng không thể ngăn ngừa hay phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra, đó là những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo Chuẩn mực kiểm

toán quốc tế ISA 400, Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, những hạn chế đó

được xác định như sau:

Ban Giám đốc thường yêu cầu giá phí của một thủ tục kiểm tra không vượt quá những lợi ích mà thủ tục đó mang lại

Phần lớn công tác kiểm tra nội bộ thường tác động đến những nghiệp vụ lặp đi lặp lại mà không tác động đến những nghiệp vụ bất thường

Không loại trừ được rủi ro, sai sót của con người, xuất phát từ sự thiếu chủ ý, đãng trí, sai sót về xét đoán hoặc do không hiểu các chỉ thị

Khả năng vượt tầm kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ do có sự thông đồng của một người trong ban giám đốc hay một nhân viên với những người khác ở trong hay ngoài đơn vị

Khả năng những người chịu trách nhiệm thực hiện kiểm soát nội bộ lạm dụng đặc quyền của mình

Do có sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát có khả năng không còn thích hợp và do đó không được áp dụng

5.2 – CÁC MỤC TIÊU CHI TIẾT CỦA KSNB ĐỐI VỚI BCTC

Trang 25

Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt động các đơn vị và tổ chức cần xây dựng và không ngừng củng cố hệ thống kiểm soát nội

bộ với bốn yếu tố chính: môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin, các thủ tục kiểm soát và hệ thống kiểm toán nội bộ

Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong đơn vị và bên ngoài

đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ

Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát chung chủ yếu liên quan tới quan điểm, thái độ và nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lý trong doanh nghiệp Trên thực tế, tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra kiểm soát trong các hoạt động của một tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào các nhà quản lý tại doanh nghiệp đó Nếu các nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu được đối với mọi hoạt động trong đơn vị thì mọi thành viên của đơn vị đó sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm tra kiểm soát và tuân thủ mọi qui định cũng như chế độ đề ra Ngược lại nếu hoạt động kiểm tra kiểm soát bị coi nhẹ từ phía các nhà quản lý thì chắc chắn các qui chế về kiểm soát nội bộ sẽ không được vận hành một cách có hiệu quả bởi các thành viên của đơn vị

Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:

Đặc thù về quản lý:

Các đặc thù về quản lý đề cập tới các quan điểm khác nhau trong điều hành hoạt động doanh nghiệp của các nhà quản lý Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các qui định và cách thức tổ chức kiểm tra kiểm soát trong doanh nghiệp Bởi vì chính các nhà quản lý này đặc biệt là các nhà quản lý cấp cao nhất sẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ áp dụng tại doanh nghiệp

Cơ cấu tổ chức:

Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong doanh nghiệp sẽ góp phần tạo ra môi trường kiểm soát tốt Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quuyết định, triển khai các quyết định đó cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định đó trong toàn bộ doanh nghiệp Một cơ cấu tổ chức hợp lý còn góp phần ngăn ngừa

có hiệu qủa các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế toán của doanh nghiệp

Trang 26

Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động và các lĩnh vực của doanh nghiệp sao cho không bị chồng chéo hoặc bỏ trống: thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng; bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau trong các bước thực hiện công việc

Như vậy, để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả, các nhà quản

lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Thiết lập được sự điều hành và sự kiểm soát trên toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, không bỏ sót lĩnh vực nào, đồng thời không có sự chồng chéo giữa các

bộ phận

- Thực hiện sự phân chia rành mạch ba chức năng: xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ

và bảo quản tài sản

- Đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các bộ phận nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng

Chính sách nhân sự

Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp Nếu nhân viên có năng lực và tin cậy, nhiều quá trình kiểm soát có thể không cần thực hiện mà vẫn đảm bảo được các mục tiêu đề ra của kiểm soát nội bộ Bên cạnh đó, mặc dù doanh nghiệp có thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc

và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy hiệu quả

Tóm lại, với những lý do nêu trên, các nhà quản lý doanh nghiệp cần có những chính sách cụ thể và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật nhân viên Việc đào tạo, bố trí cán bộ và đề bạt nhân sự phải phù hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, đồng thời phải mang tính

kế tục và liên tiếp

Công tác kế hoạch

Hệ thống kế hoạch và dự toán, bao gồm các kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, thu chi quĩ, kế hoạch hay dự toán đầu tư, sửa chữa tài sản cố định, đặc biệt là kế hoạch tài chính gồm những ước tính cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự luân chuyển tiền trong tương lai là những nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học và nghiêm túc thì hệ thống kế hoạch và dự toán đó sẽ trở thành công cụ

Trang 27

kiểm soát rất hữu hiệu Vì vậy trong thực tế các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiện những vấn đề bất thường và xủ lý, điều chỉnh kế hoạch kịp thời Đây cũng là khía cạnh mà kiểm toán viên thường quan tâm trong kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp, đậc biệt trong việc áp dụng các thủ tục phân tích

Uỷ ban kiểm soát

Uỷ ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của đơn vị như thành viên của Hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát Uỷ ban kiểm soát thường có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty

- Kiểm tra và giám sát công việc của kiểm toán viên nội bộ

- Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính

- Dung hoà những bất đồng (nếu có) giữa Ban giám đốc với các kiểm toán viên bên ngoài

Môi trường bên ngoài:

Môi trường kiểm soát chung của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của các Nhà quản lý cũng như sự thiết kế và vận hành các qui chế và thủ tục kiểm soát nội bộ Thuộc nhóm các nhân tố này bao gồm: Sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước

Như vậy môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ những nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp, trong đó nhân tố chủ yếu và quan trọng là nhận thức về hoạt động kiểm tra kiểm soát và điều hành hoạt động của các nhà quản lý doanh nghiệp

Hệ thống kế toán

Hệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống

chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán Trong đó, quá trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát nội bộ cuả doanh nghiệp

Mục đích của một hệ thống kế toán của một tổ chức là sự nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó,

Trang 28

thoả mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động kế toán Một hệ thống

kế toán hữu hiệu phải bảo đảm các mục tiêu kiểm soát chi tiết:

- Tính có thực: cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những nghiệp vụ không có thực vào sổ sách của đơn vị

- Sự phê chuẩn: bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy ra phải được phê chuẩn hợp lý

- Tính đầy đủ: bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

- Sự đánh giá: bảo đảm không có sai phạm trong việc tính toán các khoản giá và phí

- Sự phân loại: bảo đảm các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ tài khoản

và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán

- Tính đúng kỳ: Bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện kịp thời theo qui định

- Quá trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác: số liệu kế toán được ghi vào sổ phụ phải được tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Các thủ tục kiểm soát

Các thủ tục kiểm soát do các nhà quản lý xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ

bản: nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng và chế độ uỷ quyền

Nguyên tắc phân công phân nhiệm:

Theo nguyên tắc này, trách nhiệm và công việc cần được phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều người trong bộ phận Việc phân công phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hoá trong công việc, sai sót ít xảy ra và khi xảy ra thường dễ phát hiện

Nguyên tắc bất kiêm nhiệm:

Nguyên tắc này qui định sự cách ly thích hợp về trách nhiệm trong các nghiệp

vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn

Ví dụ trong tổ chức nhân sự không thể bố trí kiêm nhiệm các nhiệm vụ phê chuẩn và thực hiện, thực hiện và kiểm soát, ghi sổ tài sản và bảo quản tài sản

Ở nước ta, để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, Điều 9 - Điều lệ tổ chức

kế toán nhà nước, đã qui định “Cán bộ kế toán ở các đơn vị quốc doanh, công ty

Trang 29

hợp doanh, và các đơn vị có sử dụng kinh phí của Nhà nước hoặc đoàn thể không được kiêm nhiệm làm thủ kho, thủ quĩ, tiếp liệu và các công tác vật chất khác Lãnh đạo đơn vị, kể cả lãnh đạo công tác tài chính, kế toán của các đơn vị nêu trên không được bố trí những người thân trong gia đình làm công tác tài chính kế toán, thủ kho, thủ quĩ tại đơn vị mình”

Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn:

Theo sự uỷ quyền của các nhà quản lý, các cấp dưới được giao cho quyết định

và giải quyết một số công việc trong một phạm vi nhất định Quá trình uỷ quyền được tiếp tục mở rộng xuống các cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mất tính tập trung của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, để tuân thủ tốt các quá trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ kinh

tế phải được phê chuẩn đúng đắn Sự phê chuẩn được thực hiện qua hai loại: phê chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể

Sự phê chuẩn chung được thực hiện thông qua việc xây dựng các chính sách chung về những mặt hoạt động cụ thể cho các cán bộ cấp dưới tuân thủ Ví

dụ việc xây dựng và phê chuẩn bảng giá bán sản phẩm cố định, hạn mức tín dụng cho khách hàng

Sự phê chuẩn cụ thể được thực hiện theo từng nghiệp vụ kinh tế riêng

Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, các thủ tục kiểm soát còn bao gồm: việc qui định chứng từ sổ sách phải đầy đủ, quá trình kiểm soát vật chất đối với tài sản và sổ sách và kiểm soát độc lập việc thực hiện các hoạt động của đơn vị

Hệ thống kiểm toán nội bộ

Hệ thống kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị

tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ đơn vị

Theo các chuẩn mực thực hành kiểm toán nội bộ do Viện kiểm toán nội

bộ Hoa Kỳ ban hành năm 1978, “Kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá độc lập được thiết kế trong một tổ chức để kiểm tra, đánh giá các hoạt động của

tổ chức như là một hoạt động phục vụ cho một tổ chức” Mục tiêu của kiểm

toán nội bộ là giúp đỡ các thành viên của tổ chức hoàn thành trách nhiệm của họ một cách hiệu quả

Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), kiểm toán nội bộ là “một hoạt động đánh giá được lập ra trong một doanh nghiệp như là một loại dịch vụ cho

Trang 30

doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”

Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ Bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin kịp thời và và xác thực về các hoạt động trong doanh nghiệp, chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các qui chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả Tuy nhiên, bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ phát huy tác dụng nếu:

Về tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để không giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải được giao một quyền hạn tương đối rộng rãi và hoạt động tương đối độc lập với phòng kế toán và các

bộ phận hoạt động được kiểm tra

Về nhân sự, bộ phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn những nhân viên

có năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phù hợp với các qui định hiện hành

5.3 – CƠ CẤU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

Hệ thống KSNB thường gồm 5 yếu tố :

Môi trường kiểm soát

Là những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ, trong đó toàn bộ thành viên của đơn vị, tổ chức nhận thức được tầm quan trọng của việc chấp hành nội quy, quy định của công ty Một môi trường kiểm soát tốt là động lực thúc đẩy cho sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống kiểm soát nội bộ

Quy trình đánh giá rủi ro

Bất kỳ cơ quan, tổ chức nào trong quá trình hoạt động cũng có thể bị tác động bởi các rủi ro bên trong hoặc bên ngoài, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, chất lượng của công ty Muốn quản lý có hiệu quả thì hệ thống kiểm soát nội bộ cần xác định các rủi ro đó để tìm hướng khắc phục cho phù hợp

Hệ thống thông tin và truyền thông

Trang 31

Chất lượng hệ thống là tốt khi đảm bảo các nội dung sau:

+ Thường xuyên cập nhật các thông tin quan trọng cho chủ thể quản lý (ban lãnh đạo)

và những người có thẩm quyền

+ Hệ thống truyền thông đảm bảo cho đối tượng quản lý (nhân viên ở mọi cấp độ) có thể hiểu và nắm rõ các nội quy, quy định của tổ chức, đảm bảo cho thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác

+ Thiết lập các kênh thông tin để các đối tượng quản lý báo cáo công việc cũng như khó khăn mắc phải Xây dựng các chương trình, kế hoạch ứng cứu sự cố mất thông tin

số liệu

Hoạt động kiểm soát

Là các chính sách, thủ tục nhằm đảm bảo rằng các chỉ đạo của chủ thể quản lý được thực hiện Hoạt động kiểm soát bao gồm các vấn đề liên quan đến: đánh giá tình hình hoạt động, xử lý thông tin, kiểm soát vật chất, phân nhiệm

Yếu tố giám sát, thẩm định

Là quá trình theo dõi và đánh giá việc thực hiện kiểm soát nội bộ để khi môi trường thay đổi thì hoạt động của tổ chức vẫn diễn ra theo đúng lộ trình Đây là nhân tố cuối cùng cũng là yếu tố quan trọng trong quá trình hoạt động của hệ thống kiểm soát nội

bộ

Tùy vào loại hình hoạt động mục tiêu và quy mô của tổ chức mà hệ thống kiểm soát nội bộ được sử dụng khác nhau, nhưng để hoạt động hiệu quả, hệ thống này cần có đủ

+) Môi trường kiểm soát: là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến hoạt động của

hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một môi trường trong đó toàn bộ thành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội

bộ hay không Ví dụ, nhận thức của ban giám đốc thế nào về tầm quan trọng của liêm chính và đạo đức nghề nghiệp, về việc cần tổ chức bộ máy hợp lý, về việc phải phân công, ủy nhiệm, giao việc rơ ràng, về việc phải ban hành bằng văn bản các nội quy, quy chế, quy trình SXKD Một môi trường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng quan trọng cho sự hoạt động hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ

Môi trường kiểm soát bao gồm các nội dung cơ bản: Quan điểm, cách thức điều hành

của lãnh đạo, công tác kế hoạch; tính trung thực và giá trị đạo đức; cơ cấu tổ chức bộ

Ngày đăng: 25/10/2022, 12:58

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm