Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ trí thức đông đảo cho dân tộc Việt Nam như: Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du … Không thể phủ nhận được rằng Nho giáo đã
Trang 1I Tôn giáo của người Việt Nam
1 Khái niệm tôn giáo và 3 tôn giáo bản sắc của người việt:
a Khái niệm tôn giáo:
Tôn giáo bao gồm hệ thống hoàn chỉnh các quan niệm, ý thức tín ngưỡng, thể hiệntập trung ở lòng tin, tình cảm tôn giáo, hành vi và hoạt động tôn giáo Tôn giáo
là hình thức tín ngưỡng có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và giáo hội, được tổ chứcchặt chẽ
Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng,được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm
lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đóđược biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa
lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hànhbằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xãhội tôn giáo khác nhau
b 3 tôn giáo bản sắc của người việt:
Trang 2Đạo giáo ở Việt Nam không tồn tại biệt lập mà hòa trộn với tín ngưỡng bản địa.
Ở Việt Nam, Đạo giáo còn hòa nhập với Nho giáo, tạo nên triết lý sống an nhàn ở ẩn, không màng danh lợi của nhiều nhà nho Việt Nam.
2 Vai trò của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo trong việc hình thành văn hóa Việt nam:
a Vai trò của Nho giáo trong việc hình thành văn hóa Việt nam:
Nho giáo tồn tại lâu bền nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất Nho giáo đã đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hóa tinh thần của xã hội, trước hết nó làm cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ trí thức đông đảo cho dân tộc Việt Nam như: Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du … Không thể phủ nhận được rằng Nho giáo đã tham gia một phần tạo nên diện mạo tinh thần dân tộc vào sự hình thành văn hóa dân tộc, cho nên chúng ta cần thiết phải có sự hiểu biết về Nho giáo, về nh0ng ảnh hưởng của nó đối với nền văn hóa dân tộc cũng như với đời sống tinh thần của con người Việt Nam.
b Vai trò của Phật giáo trong việc hình thành văn hóa Việt nam
Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của mình, đạo Phật được xem là quốc giáo với hệ tư tưởng chủ đạo là Phật giáo vào hai thời kỳ: Nhà Lý (1010- 1225) và nhà Trần (1225-1400).
Có thể khẳng định rằng Phật giáo đã có nh0ng đóng góp xứng đáng vào kho tàng văn hóa phong phú và độc đáo của dân tộc với nhiều di sảng văn hóa vật chất và tinh thần có giá trị như: kiến trúc chùa tháp, các tác phẩm điêu khắc tượng thờ, tranh thờ Phật giáo, đồ thờ cúng,… cùng nh0ng giá trị về tư tưởng, đạo đức, văn học và nhiều nghi lễ Phật giáo khác Ảnh hưởng của Phật giáo với dân tộc và nền văn hóa dân tộc là rất sâu rộng Tinh thần Phật giáo đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các vua triều Lý – Trần trong trị nước, an dân mặc dù Đạo giáo và Nho giáo ở thời kỳ này cũng phát triển Các vị vua tài đức đã tạo nên một triều đại lấy đức từ bi làm căn bản cho chính trị và luôn sống vì dân nên đã cố kết lòng dân để vua tôi, dân chúng đoàn kết chung lòng chống ngoại xâm, xây dựng đất nước.
Trang 3Hành đạo từ bi, đạo đức trong dân chúng nên đời sống xã hội đời Lý – Trần trở thành thuần từ và đẹp đẽ, làm cho dân giàu nước mạnh Thực sự,
an được dân thì nước sẽ cường thịnh, an được dân chính là yêu nước và gi0 nước Việc an dân là truyền thống của Phật giáo nên được các triều đại đương thời giao phó và coi trọng.
c Vai trò của Đạo giáo trong việc hình thành văn hóa Việt nam
Đạo giáo khi vào Việt Nam, hòa quyện với văn hóa tín ngưỡng dân gian đã hình thành một khuynh hướng của nh0ng người thật sự không phải là tín
đồ đạo Lão nhưng có tư tưởng gần với phái Tiên Đạo hay Đạo giáo Thần Tiên, tức ưa thích đời sống thanh tĩnh nhàn lạc Đó là nh0ng bậc trí thức Nho giáo, sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình nơi chốn quan trường hay các bậc anh hùng đã làm xong phận sự nam nhi đến lúc công thành thân thối lui về ẩn dật, vui thú điền viên cùng với thiên nhiên thi phú, cuộc
cờ chén rượu mà theo dòng lịch sử, chẳng hạn như Nguyễn Trãi, Chu Văn
An, Nguyễn Công Trứ, với cuộc sống "tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc; tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn" của học thuyết Lão Trang.
3 Vị trí, vai trò của tôn giáo trong đời sống của người Việt hiện nay
Tôn giáo là nhịp cầu giao lưu văn hóa gi0a các quốc gia
Trước hết, tôn giáo là văn hóa và là một bộ phận cấu thành của văn hóa mỗi quốcgia nên tôn giáo có đóng góp đầu tiên là về văn hóa Tôn giáo khi du nhập vàomỗi quốc gia, nó đã đi trước vấn đề của toàn cầu hóa ngày nay là tạo ra sự giao
lưu văn hóa giữa các nước với nhau Chính nó góp phần làm phong phú văn hóa nước sở tại bằng nh0ng gì văn minh tiến bộ mà tôn giáo ấy mang theo
từ bên ngoài vào đồng thời cũng giới thiệu được đất nước, con người, văn hóa của nước chủ nhà ra thế giới bên ngoài.
Tôn giáo góp phần phát triển kinh tế bền v0ng.
Ngày nay việc du lịch tâm linh là loại hình rất được ưa chuộng Nh0ng chùa Hương Sơn, Yên Tử, Bái Đính, nhà thờ Phát Diệm, Đà Lạt, nhà thờ Đức
Bà Sài Gòn… chẳng những thu hút khách du lịch mà còn tạo ra công ăn việc
làm cho nhiều người nữa
Trang 4Tôn giáo còn mang vai trò kiến tạo và củng cố hòa bình
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã xác định “Tín ngưỡng tự do,lương giáo đoàn kết” Chính điều này đã góp phần giữ được sự đoàn kết giữacác tôn giáo hiện nay và đem đến hoà bình cho con người Việt Nam nói riêng
Tôn giáo tham gia phát triển xã hội ngày một lớn mạnh
Một truyền thống và là thế mạnh của các tôn giáo đấy là làm giáo dục và y tế Bởi
đây là những lĩnh vực cần đến tình yêu thương con người Trước năm 1970, một thống kê cho biết, riêng Giáo hội Công giáo ở miền Nam đã quản lý
1030 trường tiểu học với 258.409 học sinh Công giáo và 97.347 học sinh không Công giáo; 226 trường trung học với 82.827 học sinh Công giáo và 70.101 học sinh không Công giáo; 41 bệnh viện với 7000 giường, 239 trạm phát thuốc; 36 nhà hộ sinh; 9 trại phong với 2.500 bệnh nhân; 82 cô nhi viện với 11.000 trẻ em; 29 nhà dưỡng lão (13)
II Tin ngưỡng của người Việt:
a Khái niệm tín ngưỡng và 4 tín ngưỡng bản sắc của người Việt
Để chỉ những hình thức sơ khai của tôn giáo, những trạng thái tâm lý đặc biệt củacon người (cá nhân hoặc cộng đồng) bao gồm: sự tôn thờ, thành kính và sợ hãiđối với những đối tượng đã được thần thánh hóa, những hoạt động mang sắcthái tâm linh của cá nhân và cộng đồng
b 4 tín ngưỡng bản sắc của người Việt
i Tín ngưỡng Phồn thực
Đây là tín ngưỡng tôn thờ sự giao hợp, sinh nở, nó bắt nguồn từ “ logickhách quan” của đời sống con người Để duy trì đời sống, con người luônphải thực hiện hai dạng hoạt động: sản xuất vật chất, và sản xuất ra chínhcon người về mặt sinh học
Việt Nam thuộc văn hóa gốc nông nghiệp, bởi vậy, nó cũng có đầy đủ cácđặc tính văn hóa của nền văn hóa ấy
Cùng với sự phát triển lịch sử, con người ngày càng trở nên độc lập hơn vớigiới tự nhiên, và những chuẩn mực đạo đức của xã hội văn minh dần trởthành yếu tố chi phối hành vi của các cá nhân trong xã hội khiến các hìnhthức tín ngưỡng phồn thực bị mai một
Những khu vực ở Việt Nam còn lưu lại dấu tích của tín ngưỡng phồn thực:
Hà Tây, Phú Thọ, Nam Định…
Trang 5ii Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng
Thành Hoàng được người Trung Quốc suer dụng vào koangr thế kỷ thứ VI,
Việc thờ phụng Thành Hoàng được diễn ra tại đình làng, và trong các dịp lễhội
iii Tín ngưỡng thờ Mẫu
Do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ rất mạnh đốiv ới văn hóa gốc nông nghiệpnên người Việt có truyền thống thờ các nữ thần, xuất phát từ truyền thốngnày, tín ngưỡng thờ Mẫu ở người Việt dần phát triển thành hệ thống mai tínhthứ lớp và được lưu hành phổ biế trong nhân dân
Cho phép hình dung về vũ trụ quan của người Việt- một khoảng không gianmang tính thứ bậc được các nữ thần cai quản (các Thánh Mẫu): Thành MẫuThượng Thiên, Thánh Mẫu Thoải, Thánh Mẫu Thượng Ngàn, Thành MẫuĐịa Phủ (người ta gọi là Tứ Phủ), sau đó là 5 ông quan thừa hành Tầng thấphơn là bốn thánh Bà Sau đó đến 10 Ông Hoàng Kế tiếp là 12 Cô Tiên.Ngang hàng với họ là 4 Cậu quận phục vụ thánh mẫu Tầng thấp hơn làQuang Ngũ hổ Cuối cùng là Ông Lốt
Nơi thờ cùng các vị này được gọi là: Phủ, Đền, Điện; riêng Ông Lốt đượcthờ tại Miếu
Tín ngưỡng thờ mẫu là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể Gắn bóvới tín ngưỡng này là hệ thống các huyển thoại, thần tích… Trong đó hầubóng và lên đồng được xem là biểu hiện đặc thù của tín ngưỡng thờ Mẫu ởngười Việt
iv Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Cơ sở để hình thành nên tính ngưỡng này là:
o Niềm tin vào việc những người đã khuất luôn có mối liên hệ vô hìnhđối với những người đang sống
o Ý thức tôn trọng cội nguồn và đức tính hiếu thảo của người Việt Mặc
dù tín ngưỡng này là tồn tại ở nhiều dân tộc Đông Nam Á song nó vẫnđược xem như là tín ngưỡng đặctrung cho người Việt vì tính phổ biếncủa nó đối với cộng đồng: hầu như trong mỗi gia đình người việtddefu có bàn thờ gia tiên
Trang 62 Vị trí, vai trò của tín ngưỡng thờ mẫu và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trongvăn hóa Việt Nam
a Vị trí vai trò của tín ngưỡng thờ mẫu
Tín ngưỡng thờ Mẫu đóng vai trò quan trọng trong việc dung nạp các tín ngưỡng, tôn giáo khác ở Việt Nam Góp phần trong truyền thống hòa
đồng các tôn giáo, tín ngưỡng: Thánh, Thần, Phật…đều phù hộ độ trì chocon người Tín ngưỡng thờ Mẫu với tư cách là một tín ngưỡng bản địa, còn
có sự ảnh hưởng ngược lại đối với tôn giáo ngoại nhập như Phật giáo, Cônggiáo…
Tín ngưỡng thờ Mẫu còn có vai trò là liên kết tinh thần gi0a nh0ng người
có cùng một niềm tin vào các “Mẫu”, người ta có thể liên kết với nhau đôi
lúc rất chặt chẽ trên nhiều phương diện ngay cả khi họ không cùng ý thứcchính trị Bởi vì, bản thân tín ngưỡng này đã có sức mạnh cố kết tinh thầnmạnh mẽ Sự cố kế ấy được nâng lên nhờ sự “linh thiêng” của các “Mẫu” vàcác thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu
Tín ngưỡng thờ Mẫu còn là nơi gửi gắm niềm tin, hy vọng, là chỗ dựa tâm linh cho một bộ phận dân cư khi họ tin và đi theo thứ tín ngưỡng này Ngoài ra, lễ hội trong tín ngưỡng thờ Mẫu còn mang tính thiêng liêng,
phản ánh tình cảm, sự ngưỡng mộ về vai trò của người mẹ trong các lĩnhvực của đời sống xã hội Trong sinh hoạt của tín ngưỡng thờ Mẫu đã giúpliên kết mọi người, thậm chí vượt ra khỏi giới hạn của tư tưởng định kiếntôn giáo hoặc sự cục bộ địa phương để cùng hướng về một đối tượng linhthiêng, với một lễ hội thống nhất Nó còn phát khởi mối thiện tâm trong mỗicon người trong các mối quan hệ xã hội
b Vị trí vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Thờ cúng để lưu gi0 kí ức về tổ tiên: Theo “Kính Lễ” lời nói sau đây là của Khổng Tử “ Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân Chẳng nên làm thế Nhưng cọi họ như nh0ng người đang sống thì sẽ là
vô lý Chẳng nên làm thế” Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ n0a, quên bẫng luôn đi, cũng chẳng nên coi hoj như con sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật.
Sự thật, họ vẫn tồn tại trong ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu, để biết tôn kính nh0ng người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại
mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháuchngs ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, một thứ ảo tưởng tốt lànhkhông ảnh hưởng đến ai Việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ,
Trang 7cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòigiống.
Nhắc nhở ý thức về cội nguồn: Về mặt tâm linh thông qua các nghi lễ con người bày tỏ niềm tin long ngưỡng mộ của mình đối với các lực lượng siêu nhiên Vô hình chung qua đó con người cũng thỏa mãn nh0ng nhu cầu và khát vọng của mình vào đời sống thực Nh0ng điều
mà thực tế không mang lại cho họ, đó là một ccachs để giải quyết nh0ng nhu cầu mà cuộc sống trần tục không mang lại cho họ Về mặt xã hội: nh0ng chuẩn mực đạo đức được quy ước có tác dụng điều chỉnh hành vi của con người trong cuộc sống Con người có cảm giác không chỉ phaits
sống có trách nhiệm với cuộc sống thực mà trong đời sống tinh thần luôn cómột cái gì đó thôi thúc họ phải làm điều tốt tránh xa những điều xấu xa Đóphải chăng là lí do cho của sự tồn tại tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Triết lý người Việt
Triết lý của con người Việt Nam
Triết lý Âm – Dương, thuyết Ngũ Hành và hệ thống Lịch Âm thể hiện quan điểmcủa người Việt về thế giới xung quanh và những quy luật phổ quát của thế giới.Mặc dù đây là những văn hóa du nhập từ nước ngoài nhưng người Việt Nam đãứng dụng sáng tạo các triết lí ấy trong việc giải thích các hiện tượng tự nhiên và xãhội
1 Triết lí Âm – Dương:
a Sự ra đời:
Triết lí Âm – Dương ra đời vào thời Ân – Thương (XVII-XI TCN)
Trong văn hóa Trung Hoa, thuyết Âm- - Dương luôn được bổ sung bởithế hệ người kế tiếp nhau
Việc truyền bá văn hóa Trung Hoa vào Việt Nam, một mặt, đã mang đếnKinh dịch, tư tưởng của Đạo gia và Nho gia…mà tất cả lại thấm đẫm tinhthần của thuyết Âm Dương Mặt khác, bản thân người Việt cũng đã cósẵn từ trước những quan điểm về các hiện tượng đối ngẫu và có sẵn quanniệm coi giao hòa âm dương là nguồn gốc của mọi sự phồn thực
Kết hợp cả hai mặt đó, thuyết âm dương đã bắt rễ sâu trong đời sống tâmlinh của người Việt và trở thành triết lý sống của dân tộc
b Những nội dung cơ bản:
Thái cực: là trạng thái âm dương chưa phân, vũ trụ còn nằm trong tìnhtrạng hỗn mang, không định hình, không giới hạn
Trang 8 Lưỡng nghi: là việc tự phân đôi của Thái cực thành Dương (ký hiệu bằngmột vạch liền, tượng trời, tượng số lẻ) và Âm (ký hiệu bằng một vạchđứt, tượng đất tượng số chẵn)
Tử tượng: khi đã tồn tại Âm, Dương – chúng gặp gỡ nhau và gặp gỡchính bản thân mình để tạo thành bốn tổ hợp: Dương – Dương (TháiDương); Âm – Dương (Thiếu Dương); Dương – Âm (Thiếu Âm); Âm –
Âm (Thái Âm) Đó chính là tứ tượng
Bát quái (tám quẻ): tứ tượng lại phối hợp với nhau để tạo thành tám tổhợp gọi là bát quái
Bát quái (những quẻ cơ bản) lại tiếp tục kết hợp với nhau để tạo thành 64quẻ - biểu trưng cho những trạng thái thường gặp ở giới tự nhiên và conngười
Các quy luật cơ bản của Âm Dương bao gồm: Âm Dương đối lậ, ÂmDương là gốc của nhau (trong dương có âm trong âm có dương); Âm tiêuDương trưởng và ngược lại; Âm Dương chuyển hóa (biến dịch); và âmDương giao hòa (cân bằng động)
Áp dụng vào đời sống con người,c ác quy luật cơ bản của Âm – Dươngtạo ra triết lý quân bình trong cuộc sống Có nghĩa là mọi sự vật từ tựnhiên đế xã hội, để tồn dương mà không biến thành cái khác – thì phảicân bằng âm dương Do đó, mỗi con người cần duy trì trạng thái cânbằng Âm Dương trên cả hai phương diện: thể chất và tinh thần
b Những nội dung cơ bản:
Ngũ hành gồm các yếu tố sau: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ
Cơ chế sinh: Kim -> Mộc -> Hỏa -> Thổ (Trong đó Kim được coi là sinhxuất cho thủy, còn thủy thì được xem alf sinh nhập – cái được sinh)
Cơ chế khắc: Kim -> Mộc -> Thổ -> Thủy (Trong đó, đi theo chiều mũitên gọi là khắcs xuất, còn theo chiều ngược lại gọi là khắc nhập)
Việc ứng dụng ngũ hành rất linh động tùy từng trường hợp cụ thể Về cơbản, quy tắc sinh khắc ngũ hành phải lấy lý Âm Dương làm trọng
Trang 9 Ngũ hành thường được người Việt sử dụng để bói toán, áp dụng trong y
lý, địa lý (dương trạch và âm phần), trong việc xác định hôn nhân, kếtbạn, hợp tác làm việc, đặc biệt để xác định mùa và thời tiết…
3 Lịch Âm – Dương và hệ Can Chi:
a Sự ra đời:
Lịch Âm – Dương (thường được gọi là Âm lịch để phân biệt với DươngLịch (Tây lịch) là sự kết hợp giữa thuyết Âm Dương với Ngũ hành đểlượng hóa thời gian nên ra đời muộn hơn thuyết Âm Dương và Ngũhành
Thời điểm xuất hiện của nó cũng không được xác định chính xác, chỉ biếtrằng từ trước thời Xuân thu – Chiếc quốc (XIII – III TCN) người Hạ củaTrung Hoa đã biết dùng lịch này rồi
b Những nội dung cơ bản:
Dựa trên thuyết Âm Dương: Lấy Thái Âm chủ tháng (nguyệt lệnh), lấyThái Dương chủ ngày và giờ (nhật chủ)
Dựa trên thuyết Ngũ hành: lấy độ dài của một chu kì biến đổi ngũ hànhlàm Năm (khởi từ tiết khí từ lập xuân – khí mộc được tính là đầu mộtNăm cho đến tiết đông chí – khí thủy là hết một Năm)
Âm Dương và Ngũ hành hóa từng năm theo hệ can chi tạo thành chu kỳ
60 năm (lục thập hoa giáp)
Hệ can chi của năm (còn gọi là thiên can – gốc là khí dương) bao gồm 10đơn vị: Giáp (dương mộc), ất (âm mộc), bính (dương hỏa), đinh (âmhỏa), mậu (dương thổ), kỷ (âm thổ), canh (dương kim), tân (âm kim),nhâm (dương kim), dậu (âm kim), tuất (dương thổ), hợi (âm thủy)
Hệ chi gồm 12 đơn vị (còn gọi là địa chi – gốc là khí âm) dựa trên cáccon giáp: tý (dương thủy), sửu (âm thổ), dần (dương mộc), mão (âmmộc), thìn (dương thổ), tỵ (âm hỏa), ngọ (dương hỏa), mùi (âm thổ), thân(dương kim), dậu (âm kim), tuất (dương thổ), hợi (âm thủy)
Kết hợp thiên can chi với địa chi tạo thành một chuỗi các năm với chu kì
60 năm quay vòng lại một lần (lục thập hoa giáp)
Với quy tắc Âm Dương giao hòa, thì mỗi một năm đều là kết quả của sựkết hợp thiên nhiên (can) với địa (chi) để tạo ra nhân còn gọi là hành củanăm
Đây chính là bản chất của thuyết tam tài: thiên – địa – nhân (thiên địahợp thành nhân) và được áp dụng như một hệ tọa độ để xác định sự sinhthành, phát triển cũng như diệt vong của mọi sự kiện diễn ra trong thếgiới
Trang 10 Thông thường, người Việt sử dụng hệ thống lịch này trong hoạt động sảnxuất nông nghiệp, trong dự đoán số phận, chuẩn mạch, bốc thuốc, cưới
gả, tang ma… và tất cả những ứng dụng khả dĩ – tùy theo nhu cầu cũngnhư tùy theo trình độ hiểu biết cảu người vận dụng nó
III Văn hóa giao tiếp và nghệ thuật sử dụng ngôn từ
1 Các đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt
Vừa cởi mở, vừa rụt rè
Đặc trưng này bắt nguồn từ văn hóa làng xã: Làng xã Việt Nam là nh0ng không gian văn hóa khép kín, mà ở trong đó mỗi cá nhân sẽ cảm thấy thoải mái trong cộng đồng quen thuộc vì họ hành xử theo nh0ng quy tắc đã có sẵn.
Nhưng vượt ra ngoài cộng đồng thân thuộc mang tính thứ bậc, họ sẽ trở nên lungtúng (do không định vị được chính xác vị thế của mình), và bởi vậy mà mất tự chủ,dẫn đến việc tự khép mình lại (rụt rè)
Mặt khác, người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng việc gi0 gìn các mối quan hệ tốt với mọi thành viên trong cộng đồng, chính tính cộng đồng này là nguyên nhân khiến người Việt Nam đặc biệt coi trọng giao tiếp và trở nên cởi mở hơn Người Việt Nam còn có tính thích thăm viếng Đã thân với nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp nhau bao nhiêu lần đi n0a, lúc rảnh rỗi, họ vẫn tới thăm nhau Thăm viếng không còn là nhu cầu công
việc mà là biểu hiện tình cảm, tình nghĩa có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ.Người Việt Nam còn có tính hiếu khác Có khách đến nhà, dù quen hay lạ thânhay sơ, người Việt dù nghèo khó đến đâu cũng cố gắng tiếp đón chu đáo và tiếp đãithịnh tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon nhất
Sự tồn tại đồng thời của hai tính cách tưởng như trái ngược nhau (cởi mở và rụt rè) nhưng thưc ra chúng lại không hề mâu thuẫn với nhau vì chúng bộc lộ trong nh0ng môi trường khác nhau, chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất Là biểu hiện cho cách ứng xử linh hoạt của người Việt Nam.
Xử sự nặng về tình cảm hơn lý trí
Xét về quan hệ giao tiếp, văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn
người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử: “ Yêu nhau yêu cả đường đi, Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”, “ Yêu nhau củ ấu cũng tròn,
Trang 11Ghét nhau củ hòn cũng méo”, “ Yêu nhau mọi việc chẳng nề, Dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”….
Nếu nói khái quát, người Việt Nam lấy sự hài hòa âm dương làm trọng nhưng vẫn thiên về âm hơn, thì trong cuộc sống, người Việt Nam sống có lí có tình
nh0ng vẫn thiên về tình hơn: “Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình”…
Người Việt Nam luôn coi trọng tình cảm hơn mọi thứ ở đời Ai giúp mình một chútđều phải nhớ ơn, ai bảo ban một chút cũng phải tôn làm thầy
Đây chính là ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo, văn hóa sông nước và chủ nghĩatập thể của văn hóa làng xã
Trọng danh dự thái quá đến mức trở thành bệnh sĩ diện
Danh dự gắn với năng lực giao tiếp: lời hay nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng
tăm; lời dở truyền đến tai nhiều người tạo nên tai tiếng Chính vì quá trọng danh
dự nên người Việt Nam mắc bệnh sĩ diện: “Ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi”, “ Đem chuông đi đấm nước người, Không kêu cũng đấm ba hồi lấy danh”… Ở làng quê, thói sĩ diện thể hiện trầm trọng qua
tục lệ ngôi thứ nơi đình trung và tục chia phần Do danh dự (sĩ diện), các cụ già
bảy tám mười vẫn có thể to tiếng với nhau vì miếng ăn: “Một miếng giữa làng bằng một sang xó bếp” Thói sĩ diện đã tạo nên giai thoại “cá gỗ” nổi tiếng.
Đặc điểm này bắt nguồn từ cơ chế thứ bậc của làng xã và từ quan niệm của Nhogiáo về mẫu người quân tử Cũng vì đặc điểm này mà người Việt Nam rất sợ dưluận và thường thì sống theo dư luận Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tinđồn, tạo nên dư luận như một thứ vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì
sự ổn định của làng xã Người Việt Nam sợ dư luận tới mức như có nhà văn đã
viết: họ “chỉ dám dựa theo dư luận mà sống chứ không ai dám dẫm lên dư luận
mà đi theo ý mình”.
Gi0 ý trong giao tiếp
Trong khi các ngôn ng0 phương Tây và Trung Hoa chỉ sử dụng các đại từ nhân xưng thì Tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan
hệ họ hang để xưng hô, và nh0ng danh từ thân tộc này có các đặc điểm: tính chất thân mật hóa ( trọng tình cảm), coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình; tính chất cộng đồng hóa cao- trong hệ thống
này, không có những từ xưng hô chung chung mà phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị,thời gian, không gian giao tiếp cụ thể; tính tôn ti kĩ lưỡng: người Việt Nam xưng
Trang 12hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn Việc tôn trọng, đề cao dẫn đến tục kiêngtên riêng: xưa kia chỉ gọi đến tên riêng khi chửi nhau; đặt tên con cần nhất làkhông được trùng với tên của những người bề trên trong gia đình, gia tộc cũng nhưngoài xã hội.
Nghi thức trong cách nói lịch sự cũng rất phong phú Do truyền thống tình cảm
và linh hoạt nên người Việt Nma không có một từ “ cảm ơn”, “ xin lỗi” chung chung cho mọi trường hợp như phương Tây Với mỗi trường hợp có thể có một cách cảm ơn, xin lỗi khác nhau: “ Con xin chú” ( cảm ơn khi nhận quà), “
Chị chu đáo quá” (cảm ơn khi được quan tâm), “ Quý hóa quá” ( Cảm ơn khi khách đến thăm)….
Văn hóa nông nghiệp ưa ổn định, sống chú trọng đến không gian nên người Việtphân biệt kĩ lời chòa theo quan hệ xã hội và thoe sắc thía tình cảm Trong khi đóvăn hóa phương Tây ưa hoạt động lại phân biệt kĩ các lời chào theo thời gian nhưchào gặp mặt, chào chia tay, chào buổi sáng,…
Và người Việt Nam không thường bộc lộ trực tiếp cảm xúc, nguyện vọng hay nhu cầu trước mặt người khác Tính tế nhị khiến cho người Việt Nam có thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”, không bao giờ mở đầu tực tiếp, đi thẳng vào đề như người phương Tây Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là
phải xấn xá cầu điền, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn Cũng để đưa đẩy tạo không
khí là truyền thống miếng trầu là đầu câu chuyện Với thời gian, chức năng “mở đầu câu chuyện” này của “miếng trầu” được thay thế bởi chén trà, điều thuốc lá… Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy trong các mối quan hệ Nó tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc kỹ càng khi nói
năng: “Ăn có nhai, nói có nghĩ”; “Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói”; “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”; “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo” …
Thiếu tính quyết đoán
Chính sự đắn đo cân nhắc gi0 ý trong giao tiếp đã khiến cho người Việt Nam
có nhược điểm là thiếu tính quyết đoán, nhưng đồng thời gi0 được sự hòa thuận, không làm mất lòng ai Người Việt Nam rất hay cười, nụ cười là một bộ
phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt; người ta có thể gặp nụ
cười Việt Nam vào cả lúc ít chờ đợi nhất Tâm lý ưa hòa thuận khiến người Việt
Nam luôn chủ trương nhường nhịn: “Một sự nhịn là chín sự lành”; “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê” … Nhưng cũng do đó mà
Trang 13trong kinh doanh người Việt Nam thường không lựa chọn phương án kinh doanhmạo hiểm mà thiên về phương án mà họ coi là chắc ăn, mặc dù không đạt hiệu quảcao.
2 Các đặc trưng trong nghệ thuật ngôn từ.
- Mang tính ước lệ cao:
Xu hướng ước lệ bộc lộ ở chỗ Tiếng Việt thích diễn đạt bằng các con số biểu trưng.Trong khi người Pháp nói de toutes parts (từ tất cả các phía), người Anh nói he opens his eyes (nó mở những con mắt của nó) thì người Việt nói từ ba bề bốn bên,
từ khắp bốn phương trời; nó mở to đôi mắt Ở những trường hợp, khi người châu
Âu dùng từ “tất cả” thì người Việt dùng các từ chỉ số lượng ước lệ [Phan Ngọc
1989: 24]: ba thu, nói ba phải, ba mặt một nhời, năm bè bảy mối, tam khoanh tứ đốm, trăm khôn ngàn khéo, tiền trăm bạc vạn, trăm họ, vạn sự, ngàn thu…
Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ổn định có quan hệ tốt với hết thảy mọingười dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn từ – một biểu hiệnkhác của tính biểu trưng
Tính so sánh và tương phản ca (Câu đối ứng)
Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ổn định có quan hệ tốt với hết thảy mọingười dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn từ Tính cân xứng làmột đặc tính rất điển hình của tiếng Việt Theo nguyên lý cấu trúc loại hình, tiếngViệt là một ngôn ngữ đơn tiết, song nó chứa một khối lượng không nhỏ các từ songtiết; điều quan trọng hơn nữa là mỗi từ đơn tiết lại hầu như đều có thể có nhữngbiến thể song tiết, dạng láy, cho nên thực chất trong ngôn từ, lời nói Việt thì cấu
trúc song tiết lại là chủ đạo Các thành ng0, tục ng0 tiếng Việt đều cấu tạo theo
cấu trúc có hai vế đối ứng: trèo cao / ngã đau; ăn vóc / học hay; một quả dâu da / bằng ba chén thuốc; biết thì thưa thốt / không biết dựa cột mà nghe… Tiếng
Việt rất phát triển hình thức câu đối là một loại sản phẩm văn chương đặc biệt, nóvừa công phu tỷ mỷ, lại vừa cô đúc ngắn gọn Trong một tác phẩm “mini” ấy thểhiện đủ cả cái đẹp cân đối nhịp nhàng của hình thức và cái uyên thâm của chiều
sâu triết lý phương Đông Ở Việt Nam xưa kia, nhà nhà, đình đình, chùa chùa… nơi nào cũng đều có treo câu đối Và trong mọi dịp, người ta đều làm câu đối từ việc hiếu cho đến việc hỷ Câu đối ch0 Hán có, ch0 Nôm có,vừa Hán vừa Nôm cũng có.
Giàu tính nhịp điệu và tiết tấu( chất thi ca)
Trang 14Ở Việt Nam, văn xuôi truyền thống cũng là một thứ văn xuôi thơ, thế mạnh đó còn
do tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu thanh điệu, tự thân các thanh điệu đã tạo nên
tính nhạc cho câu văn rồi Từ nh0ng bài văn xuôi viết theo lối biền ngẫu như
Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, hoặc viết theo lối tự do như thơ dụ hàng
của Nguyễn Trãi gửi địch, cho tới nh0ng lời văn nôm bình dân … khắp nơi,
ta đều gặp một lối cấu trúc cân đối, nhịp nhàng, chặt chẽ và có tiết tấu vần điệu Thậm chí ngay cả trong việc chửi nhau, người Việt cũng chửi nhau một cách
có bài bản, cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ (không chỉ lời chửi, mà cả cách thức
chửi, dáng điệu chửi)… cũng mang đầy tính nhịp điệu Không phải ngẫu nhiên
mà ngôn ng0 dân gian Việt Nam vẫn gọi đùa việc chửi bằng các từ chỉ các loại hình nghệ thuật diễn xướng như ca, hát, tế… (ta thường nghe thanh niên nói
với nhau: Mày nói vậy, bà ấy tế cho một trận bây giờ; Tao vừa bị mẹ tao ca cho một bài…)
Ở Việt Nam, văn chương truyền thống là văn chương thơ; và thơ truyền thống
là thơ có vần điệu, cấu trúc cân đối, nhịp nhàng Chỉ có sau này, từ đầu thế kỷ
XX, do ảnh hưởng của phương Tây, thơ tự do và tiểu thuyết mới xuất hiện Nhưngngay trong thể loại tiểu thuyết mới xuất hiện do ảnh hưởng của văn xuôi phươngTây này cũng vẫn bộc lộ rất đậm nét dấu ấn của truyền thống cân đối nhịp nhàng,
biểu trưng ước lệ Đây là những câu văn tả người của Tản Đà: Tiếng nói nhẹ bao nhiêu, dáng người mềm bấy nhiêu; mềm bao nhiêu, chín bấy nhiêu
Không chỉ tiểu thuyết mà ngay cả văn chính luận Việt Nam cũng có thể mang đầy chất thơ nhờ sự cấu tạo cân đối nhịp nhàng Đọc Tuyên ngôn độc lập hay nh0ng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoặc nh0ng câu sau đây của
Người, ta thấy rất rõ chất thơ đó: “Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường”; “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh.”
Giàu chất biểu cảm (ảnh hưởng của một nền văn hóa trọng tình)
Về mặt từ ng0, chất biểu cảm này thể hiện ở chỗ các từ, bên cạnh yếu tố gốc mang sắc thái nghĩa trung hòa, thường có rất nhiều biến thể với những sắc thái
nghĩa biểu cảm: Bên cạnh màu xanh trung tính, có đủ thứ xanh rì, xanh rờn, xanh rợn, xanh ngắt, xanh um, xanh lè, xanh lét… Bên cạnh màu đỏ trung tính thì có đỏ rực, đỏ au, đỏ lòm, đỏ loét, đỏ hoe…
Các từ láy mang sắc thái biểu cảm mạnh cũng rất phổ biến trong tiếng Việt Ở
trên vừa nói tiếng Việt thiên về thơ, mà thơ là mang đậm chất tình cảm rồi, cho nên
Trang 15từ láy với bản chất biểu cảm rất phù hợp với nó Chính nhờ sức biểu cảm của các
từ láy mà thơ Nguyễn Du đã khắc họa rất đạt một Tú Bà với hình ảnh Nhác
trông nhờn nhợt màu da, Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao… Một Mã Giám Sinh với hình ảnh Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, Trước thầy sau tớ lao xao…
Về mặt ng0 pháp, tiếng Việt sử dụng rất nhiều các hư từ có sắc thái biểu cảm:
à, ư, nhỉ, nhé, chăng, chớ, hả, phỏng, sao, chứ… Cấu trúc “iếc hóa” mang sắc
thái đánh giá (sách siếc, bàn biếc…) cũng góp phần quan trọng trong việc tăng
cường hệ thống các phương tiện biểu cảm cho tiếng Việt
Khuynh hướng biểu cảm còn thể hiện ở chỗ trong lịch sử văn chương truyền thốngkhông có những tác phẩm anh hùng ca ca ngợi chiến tranh; có nói đến chiến tranhchăng thì chỉ là nói đến nỗi buồn của nó (ví dụ: Chinh phụ ngâm, một truyện thơNôm dài nói về nỗi lòng của người vợ có chồng đi chinh chiến)
Linh hoạt và mềm dẻo (ảnh hưởng của văn hóa sông nước và văn hóa giaotiếp)
Tính động, linh hoạt này trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ pháp Trong khi ngữ phápbiến hình của các ngôn ngữ châu Âu là một thứ pháp chặt chẽ tới mức máy móc thìngữ pháp tiếng Việt tổ chức chủ yếu theo lối dùng các từ hư để biểu hiện các ýnghĩa và quan hệ ngữ pháp, khiến cho người sử dụng được quyền linh hoạt tối đa.Ngữ pháp của các ngôn ngữ phương Tây là ngữ pháp hình thức, còn ngữ pháp ViệtNam là ngữ pháp ngữ nghĩa Chính vì linh hoạt như vậy mà tiếng Việt có khả năngdiễn đạt khái quát rất cao: Chẳng hạn, trong khi người Việt có thể nói một câukhông thời, không thể, không ngôi như Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng (tục
ngữ), thì người Anh và Pháp bắt buộc phải nói: Near the ink, you are black; near the light, you will shine
3 Mặt tích cực và hạn chế về văn hóa giao tiếp của người Việt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
3.1 Mặt tích cực
- Thái độ giao tiếp: và trau dồi kiến thức giao tiếp năng động trong giao tiếp, giúp tích cực trong việc học hỏi, tạo nên một môi trường sôi nổi hòa đồng thân
thiện…
- Quan hệ giao tiếp Lấy tình cảm là nguyên tắc chủ đạo là đặc trưng trong:
văn hóa giao tiếp của người Việt, bày tỏ được sự trân trọng, kính mến khi giao