Gia cố nền là một trong những nhiệm vụ chính quan trọng trong xây dựng công trình. Hiện nay có nhiều biên pháp gia cố nền khác nhau, phù hợp cho từng loại điều kiện địa chất công trình khác nhau, ví dụ như gia tải trước, giếng cố kết, khoan phụt, phương pháp trộn vôi, phương pháp dùng cọc khoan nhồi. Bài viết Phương pháp gia cố nền đất cát bằng công nghệ sinh học đưa ra đánh giá tổng quan về các kết quả chính đã đạt được của các nhóm nghiên cứu trên thế giới trong hướng đi này.
Trang 1PHƯƠNG PHÁP GIA CỐ NỀN ĐẤT CÁT BẰNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Phạm Phú Vinh
Trường Đại học Thủy lợi, email: phamphuvinh@tlu.edu.vn
1 GIỚI THIỆU CHUNG
Gia cố nền là một trong những nhiệm vụ
chính quan trọng trong xây dựng công trình
Hiện nay có nhiều biên pháp gia cố nền khác
nhau, phù hợp cho từng loại điều kiện địa
chất công trình khác nhau, ví dụ như gia tải
trước, giếng cố kết, khoan phụt, phương pháp
trộn vôi, phương pháp dùng cọc khoan nhồi
Bên cạnh các phương pháp gia cố nền phổ
biến này, hiện nay đã có một xu hướng mới
là mô phỏng các quá trình tạo vôi hóa nhờ vi
khuẩn trong tự nhiên để gia cố nền Có nhiều
nhóm vi khuẩn khác nhau có thể làm được
việc này với nguyên lý chung là tạo carbon
vô cơ từ quá trình trao đổi chất của chúng,
quá trình này đồng thời tang độ kiềm của môi
trường trong đất, từ đó khi có ion canxi trong
nước ngầm thì sẽ kết tủa CaCO3 với gốc
carbon vô cơ Hướng nghiên cứu này hiện
nay đã đạt được một số thành tựu đáng kể
trên thế giới, từng bước được nghiên cứu cụ
thể hóa để có thể áp dụng được vào thực tế
sản xuất Bài bào này sẽ đưa ra đánh giá tổng
quan về các kết quả chính đã đạt được của
các nhóm nghiên cứu trên thế giới trong
hướng đi này
2 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG
PHÁP GIA CỐ NỀN DÙNG VI KHUẨN
Sử dụng vi khuẩn để tạo vôi hóa trong đất,
MICP, đã thu hút được nhiều sự quan tâm và
đầu tư nghiên cứu của nhiều nhóm nghiên
cứu khác nhau trên thế giới trong thời gian
gần đây Có nhiều nhóm vi khuẩn khác nhau
có thể làm được việc này, bao gồm các nhóm
vi khuẩn có khả năng quang hợp, nhóm vi khuẩn khử ni-tơ, nhóm vi khuẩn thủy phân ure, nhóm vi khuẩn cố định đạm, nhóm vi khuẩn khử sul-phat, và nhóm vi khuẩn oxy hóa methane (Zhu et al., 2016) Nguyên lý chung của phương pháp này là lợi dụng quá trính trao đổi chất của vi khuẩn, tạo ra gốc carbonate và tăng độ kiềm của môi trường, sau đó cung câp ion canxi dưới dạng một muối hòa tan để tạo kết tủa canxi c arbonate CaCO3 Các kết tủa CaCO3 sẽ bám vào các hạt cát, có tác dụng kết dính các hạt cát rời lại với nhau, từ đó gia tang cường độ cho nền cát của công trình Hiện nay các nghiên cứu tập trung vào nhóm vi khuẩn thủy phân ure và nhóm vi khuẩn khử ni-tơ và đã đạt được các kết quả đáng kể
3 PHƯƠNG PHÁP TẠO KẾT TỦA ĐÁ VÔI (MICP) DÙNG VI KHUẨN THỦY PHÂN URE
Đối với nhóm vi khuẩn thủy phân ure, phương pháp này đã được nghiên cứu thí nghiệm trong phòng thành công Các kết quả đạt được đều cho thấy c ường độ của đất loại cát được tang lên nhiều lần, cát rời được vôi hóa thành khối cứng với cường độ lên tới vài MPa Thí nghiệm hiện trường thử nghiệm công nghệ MICP với vi khuẩn thủy phân ure
đã được tiến hành với mục đích gia cố lớp trầm tích cuội sỏi để có thể khoan đặt đường ống mà không cần phải đào mở đường dẫn (van Paassen, 2011) Ban đầu phương pháp được thử nghiệm cho một thùng cuội sỏi 3m3,
và ống khoan dẫn được khoan thành công qua lớp cuội sỏi dày, sau khi rút ống khoan
Trang 2dẫn ra thì hố khoan vẫn giữ được sự ổn định
theo yêu cầu (Hình 1a) Tại hiện trường
phương pháp này đã được thi công thành
công, đường ống được khoan dẫn xuyên qua
tầng cuội sỏi theo thiết kề (Hình 1b)
Hình 1 Thí nghiệm hiện trường
dùng phương pháp MICP với
vi khuẩn thủy phân ure
Hiện nay phương pháp MICP dùng vi
khuẩn thủy phân ure được nghiên cứu không
chỉ cho mục đích cải tạo nền cát mà còn c ho
nhiều ứng dụng khác nhau, bao gồm các ứng
dụng như kiểm soát xói, khống c hế bụi c ông
trường, quản lý thấm trong nền, khống c hế
hiện tượng cát chảy với tính khả thi cao
(Dejong et al., 2013) Mặc dù vậy, phương
pháp này có một số hạn chế nên chưa được
đưa vào ứng dụng rộng rãi trong thực tế sản
xuất Hạn chế chính của phương pháp là việc
nuôi tách vi khuẩn thủy phân ure khá phức
tạp và tốn kém, bên cạnh đó phương pháp
này để lại lượng lớn ammonium chloride
NH4Cl trong đất cân phải được được xử lý
4 PHƯƠNG PHÁP TẠO KẾT TỦA ĐÁ VÔI KẾT HỢP GIẢM ĐỘ BÃO HÒA CỦA ĐẤT (MIDP) DÙNG VI KHUẨN KHỬ NI-TƠ
Đối với nhóm vi khuẩn khử ni-tơ, bên cạnh tác dụng tạo vôi hóa để tang cường độ của đất, gốc ni-trat được khử thành khí ni-tơ
N2 và làm xuất hiện pha khí trong đất, do đó đất bão hòa hoàn toàn sẽ trở thành đất không bão hòa Với tính chất này, phương pháp MIDP sử dụng vi khuẩn khử ni-tơ ngoài việc
có thể làm tang cường độ đất nhờ vào kết quả vôi hóa, có thể đồng thời khống chế hiện tượng cát chảy nhờ vào pha khí mới sinh ra Một nền cát bão hòa hoàn toàn, chỉ c ần giảm
độ bão hòa nước từ 100% xuống 95% là đã giảm được đáng kể nguy c ơ mất ổn định do hiện tượng cát chảy Bên cạnh đó, khi gốc ni-trat được khử hoàn toàn thành N2 thì phản ứng không để lại các chất dư có hại c ho môi trường Đây là ưu điểm của phương pháp MIDP so với phương pháp MICP dùng vi khuẩn thủy phân ure
Hình 2 Mức độ suy giảm độ bão hòa nước
và độ thấm thủy lực qua các lần xử lý (Hình lấy từ (Pham et al., 2018b)
Thí nghiệm trong phòng trên cát rời dùng phương pháp MIDP với vi khuẩn khử ni-tơ cho thấy chỉ cần qua 1 lần xử lý trong vài ngày, độ bão hòa của đất cát đã được giảm từ 100% xuống trong khoảng 80% - 85% tương ứng với hàm lượng pha khí chiếm 15% - 20% thể tích lỗ rỗng (Pham et al., 2018a) Thí nghiệm xử lý mẫu nhiều lần cho thấy một phần pha khí này có thể tồn tại rất ổn định trong mẫu (Hình 2) Kết hợp tác dụng của
Mức độ thay đổi độ bão hòa nước
(a)
(b)
Trang 3pha khí và sự phát triển của vi khuẩn tạo nên
các màng biofilm đã làm suy giảm đáng kể
độ thấm thủy lực của mẫu cát Cũng trong thí
nghiệm trên, hàm lượng CaCO3 tạo ra trong
mẫu được xác định ở mức trung bình khoảng
0.54% Dựa vào tốc độ suy giảm độ bão hòa
nước, tốc độ vôi hóa được xác định là 0.26 %
khối lượng/ngày, hiệu quả gần bằng với
phương pháp MICP
Kết quả này cho thấy phương pháp này
hoàn toàn khả thi cho ứng dụng kiểm soát
hiện tượng cát chảy giữ ổn định công trình
trên nền cát Thí nghiệm với tải trong động
trên bàn rung bởi He et al (2013) đã xác nhận
điều này Để có thể kiểm soát được pha khí
tạo ra bởi phương pháp MIDP, các yếu tố
trạng thái của mẫu đất, cụ thể ở đây là điều
kiện áp suất, bên cạnh đó là nhiệt độ, cùng với
thông số kĩ thuật của phương pháp là lượng
muối ni-trat dùng để tạo ra khí N2 là các thông
số quyết định cần phải được xét đến
5 KẾT LUẬN
Các nghiên cứu và các kết quả đã đạt được
cho thấy các phương pháp cải tạo nền cát
dùng vi khuẩn c ó thể cho kết quả khả quan
Phương pháp MIDP dùng vi khuẩn khử ni-tơ
có thể làm thay đổi ứng xử cơ học – thủy lực
của mẫu đất Phương pháp này đồng thời tạo
vôi hóa và sản sinh ra pha khí trong mẫu nên
có thể trở thành một phương phá gia cố nền
cát hiệu quả Các thông số kĩ thuật của
phương pháp, bao gồm hàm lượng muối dùng
để nuôi vi khuẩn và số lần xử lý cũng như
các thông số trạng thái của mẫu, bao gồm giá
trị áp lực nước lỗ rỗng và nhiệt độ, cần phải
được xem xét nghiên cứu toàn diện để có thể
hoàn thiện phương pháp và ứng dụng vào
thực tế sản xuất
6 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Dejong, J T., Soga, K., Kavazanjian, E., Burns, S., Van Paassen, L A., Qabany, A A., Aydilek, A., Bang, S S., Burbank, M., Caslake, L F., Chen, C Y., Cheng, X., Chu, J., Jefferis, S., Kuo, M., Laloui, L., Larrahondo, J., Manning, D a C., Martinez, B., Montoya, B M., Nelson, D C., Palomino, A., Renforth, P., Santamarina, J C., Seagren, E A., Tanyu, B., Tsesarsky, M & Weaver, T 2013 Biogeochemical process and geotechnical applications: progress, opportunities and
challenges Geotechnique, 63(4)
[2] Pham, V P., Van Der Star, W R L & Van Paassen, A L 2018a Quantifying the desaturation effect of biogenic gas
formation in sandy soil UNSAT2018 The
Unsaturated Soils Hong Kong
[3] Pham, V P., Van Paassen, L A., Van Der Star, W R L & Heimovaara, T J 2018b Evaluating Strategies to Improve Proces s Efficiency of Denitrification-Based MICP
144(8),doi:10.1061/(ASCE)GT.1943-5606.0001909
[4] Van Paassen, L A 2011 Bio-mediated ground improvement: From laboratory
experiment to pilot applications Geo-Frontiers 2011: Advances in Geotechnical Engineering Dallas, Texas, United States:
American Society of Civil Engineers [5] Zhu, T & Dittrich, M 2016 Carbonate Precipitation through Microbial Activities
in Natural Environment, and Their Potential
in Biotechnology: A Review Frontiers in Bioengineering and Biotechnology,
4(10.3389/fbioe.2016.00004