1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH tâm lý học GIA ĐÌNH bản đôi

144 50 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 29,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy từ lâu gia đình, theo quan điểm xã hội học, đã được nghiên cứu một cách sâu sắc với các quan hệ kinh tế, quan hệ người như là động lực phát triển xã hội.. Như vậy từ lâu gia đình

Trang 1

TRUONG DAI HOC SU PHAM HÀ NỘI

PGS.TS NGO CONG HOAN

3140 TRINH

TÂM LÝ HỌC GIA †

(Dành cho học viên ngành Gido duc Mam non

Hệ đào tạo Tại chức và Từ xa)

(Dành cho học viên ngành Giáo dục Mẫm non

Hệ đào tạo Tại chức và Từ xa)

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

I Kh H.C: HI.C

UI Nt

trié

IV Ar V, Các tIỂ (

VỊ Str

Trang 3

| / | MUC LUC

LO? BIG) THiGU 4⁄1 eesti

Chuong 1: NHUNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH cc s5 7

L Khái niệm chung về gia dink oo ccc cv 2k2 21111122 112221 re 7

II Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lí học gia đình 2.2 222122222 ksse2 13

HIL Phương pháp nghiên cứu các hiện tuong tam If ee eeeeeee tenes L§

Chương 2: CƠ SỐ TÂM LÍ CÁC CHỨC NÀNG CỦA GIÁ ĐÌNH 23

[ Một số khía cạnh tâm lí khi thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người 25

_ TI Một số đặc điểm của tâm lí vợ, chồng khi thực hiện chức năng kinh tế 28

II Chức năng thoả mãn các nhu cầu — sinh lí cho các thành viên trong

IV Chúc năng giáo dục con cát, còn gọi là chúc năng xã hội hoá trẻ em 41

V Chức năng chăm sóc sức khoẻ người cao tudi t1 11111111111 511 1111111111111 1111111 kg 30

Chương 3: BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÍ TRONG GIÁ ĐÌNH 84

I Khái niệm chung về bầu không khí tâm lí trong gia đình 34

II Các yếu tố cơ bản tạo thành bầu không khí tâm lí trong gia đình SỐ

II Các loại bầu không khí tâm lí trong gia đình c ii 63

IV Ảnh hưởng bầu không khí tâm lí trong gia đình đối với sự phát triển

AEG OM c2 222222222222 tt 2 n2 E2 eeeerrerree 66

- Chương 4: NHŨNG ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỔ TÂM Lf GIA DINH

TRƯỚC VÀ SAU KHI ĐỨA TRẺ RA ĐỜI - 82

IV Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí ở các bà mẹ khi mang thai 89

V Các kiểu quan hệ vợ chồng và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển

LOD GIGL UNGU a nõă-1.ố 5

Chương 1: NHŨNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH c.ccccscc 7

[ Khái niệm chung về gia đình ác 1 212211111212 11H HH HH He 7 I1 Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lí học gia đình , cv vs 2n no 13

HH Phương pháp nghiên cứu các hiện tượng tâm ÏÍ cv che 1S

Chuong 2: COSO TAM LI CAC CHUC NANG CUA GIÁ ĐÌNH 23

1 Một số khía cạnh tâm lí khi thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người 25

- H Một số đặc điểm của tâm lí vợ, chồng khi thực hiện chức năng kinh tế 28

HI Chức năng thoả mãn các nhu cầu — sinh lí cho các thành viên trong

IV Chúc năng giáo dục con cai, con gọi là chức năng xã hội hoá trẻ em 4I

V Chức năng cham sóc sức khoẻ người cao TUOL cece sees teece tees encessneeeeeniiee SO

Chitong 3: BAU KHONG KHÍ TÂM LÍ TRONG GIÁ ĐÌNH 34

1 Khái niệm chung về bầu không khí tâm lí trong gia đình 34

H Các yếu tố cơ bản tạo thành bầu không khí tâm lí trong gia đình SỐ

II Các loại bầu không khí tâm lí trong gia đình ào 63

IV Ảnh hưởng bầu không khí tâm lí trong gia đình đối với sự phát triển

- Chương 4: NHŨNG ẢNH HƯỚNG CUA YEU TO TAM Li GIA DINH

TRUGC VA SAU KHI ĐỨA TRẺ RA ĐỜI - -. ccc¿ 82

J Ban chat quan hệ vợ chồng cctcthhhhheeriiririee 82

II Những yếu tố tâm lí thuận lợi cho quá trình hình thành và phát triển

HH Những yếu tố tâm lí không thuận lợi trong quá trình hình thành, phát šš12ì8i 761 0 1 87

IV Anh hưởng của các yếu tố tâm lí ở các bà mẹ khi mang thai 89

.V Các kiểu quan hệ vợ chồng và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển U1 TT 2Q ng HH THẾ HH TH HH TT TH TH HH HH TH TH HT 92

VỊ Stress ở trẻ trong quan hệ gia đình -cscScscc2c 221 2222211211122 105

Trang 4

Chuong 5: NOLDUNG TAM LI CUA NEP SONG, TRUYEN THONG, THÓI

QUEN CỦA GIA ĐÌNH VÀ SỰHÌNH THÀNH NHÂN CÁCH TRẺ 113

[ Khái niệm chung về truyền thống, nếp sống, thói quen và nội dung tâm

lí của chúng "— ` 113

LÍ Những ảnh hưởng của truyền thống, nếp sống, thói quen của gia đình

tới sự hình thành nhân cách trể sSs se tccen ren Hee 127

IL Quan điểm của các thành viên trong gia đình đối với sự hình thành

Chương 5: NỘI DỤNG TÂM LÍ CỦA NẾP SỐNG, TRUYỀN THỐNG, THÓI

QUEN CỦA GIA ĐÌNH VÀ SỰHÌNH THÀNH NHÂN CÁCH TRẺ

ï Khái niệm chung về truyền thống, nếp sống, thói quen và nội dung tâm

Trang 5

Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình bên vững không chỉ là niềm

hạnh phúc cho mỗi cá nhân mà còn là sự lành mạnh và an toàn của toàn

xã hội

Xây dựng gia đình đâm ấm, hạnh phúc đang là vấn để thu hút sự

quan tâm của nhiều người ở nước ta cũng như các nước tiên tiến trên thế

giới Cùng với những biến động của xã hội, gia đình cũng có những thay

đổi về chất Trong khi tiếp nhận ảnh hưởng tích cực của những trào lưu

tiến bộ về kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hoá xã hội v.v của thời đại

_ đang diễn ra trong phạm vi toàn cầu, gia đình còn gặp phải những biến

động mang tính chất tiêu cực đã làm tan vỡ không ít tổ ấm, kéo theo sự

suy thoái của nhiều nhân cách, làm ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của

_ thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ thơ Do đó, gia đình đầm ấm, hạnh phúc khóng

chỉ là niềm mong ước của mọi người mà còn là một trách nhiệm của các

lực lượng xã hội đối với thế hệ trẻ

Để mỗi gia đình thực sự là tổ ấm, là nơi nuôi đưỡng và giáo dục con

cái, nơi phụng dưỡng bố mẹ già, là nơi chăm lo cho hạnh phúc lứa đôi,

cần phải có hiểu biết mọi mặt về cuộc sống gia đình Cuốn Tâm lí học gia

“đình của PGS.TS Ngô Công Hoàn sẽ cung cấp cho bạn đọc những hiểu

biết về những đặc điểm, những quy luật tâm lí diễn ra trong cuộc sống

thường ngày của mỗi gia đình Trong cuốn sách này tác giả đã tập hợp

được khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà triết học, xã hội học,

tâm lí học, giáo dục học, trong và ngoài nước, và đã đề cập vấn đề gia

đình trên nhiều mặt trong cuộc sống đương đại cũng như trong truyền

thống dân toc

Cuốn Tâm lí học gia đình vừa là một giáo trình cần thiết cho việc

-_ giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng sư phạm, vừa là một cuốn

sách phổ biến kiến thức bổ ích dành cho tất cả những ai quan tâm đến vấn

đề xây dựng hạnh phúc gia đình, đặc biệt là các bạn trẻ, những người sẽ

là chủ nhân tương lai tổ ấm của chính mình

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

PGS.PTS Nguyễn Ánh Tuyết

,113 113 127

138

142

LỜI GIỚI THIỆU

Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình bên vững không chỉ là niềm hạnh phúc cho mỗi cá nhân mà còn là sự lành manh và an toàn của toàn

xã hội

Xây dựng gia đình đầm ấm, hạnh phúc đang là vấn để thu hút sự

quan tâm của nhiều người ở nước ta cũng như các nước tiên tiến trên thế

giới Cùng với những biến động của xã hội, gia đình cũng có những thay đổi về chất Trong khi tiếp nhận ảnh hưởng tích cực của những trào lưu tiến bộ về kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hoá xã hội v.v của thời đại _đang diễn ra trong phạm vi toàn cầu, gia đình còn gặp phải những biến động mang tính chất tiêu cực đã làm tan vỡ không ít tổ ấm, kéo theo sự suy thoái của nhiều nhân cách, làm ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ thơ Do đó, gia đình đầm ấm, hạnh phúc không chỉ là niềm mong ước của mọi người mà còn là một trách nhiệm của các luc lượng xã hội đối với thế hệ trẻ

Để mỗi gia đình thực sự là tổ ấm, là nơi nuôi dưỡng và giáo dục con cái, nơi phụng dưỡng bố mẹ già, là nơi chăm lo cho hạnh phúc lứa đôi, cần phải có hiểu biết mọi mặt về cuộc sống gia đình Cuốn Tâm lí học gia đình của PGS.TS Ngô Công Hoàn sẽ cung cấp cho bạn đọc những hiểu

biết về những đặc điểm, những quy luật tâm lí diễn ra trong cuộc sống thường ngày của mỗi gia đình Trong cuốn sách này tác giả đã tập hợp

được khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà triết học, xã hội học, tâm lí học, giáo dục học, trong và ngoài nước, và đã đề cập van dé gia đình trên nhiều mặt trong cuộc sống đương đại cũng như trong truyền thống dân tộc

_ Cuốn Tám lí học gia đình vừa là một giáo trình cần thiết cho việc

- giảng đạy trong các trường đại học và cao đẳng sư phạm, vừa là một cuốn

sách phổ biến kiến thức bổ ích dành cho tất cả những ai quan tâm đến vấn

đề xây dựng hạnh phúc gia đình, đặc biệt là các bạn trẻ, những người sẽ

là chủ nhân tương lai tổ ấm của chính mình

_ Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

PGS.PTS Nguyễn Ánh Tuyết

Trang 7

Chuong I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VE GIA ĐÌNH

1 KHAI NIEM CHUNG VE GIA ĐÌNH

1 Gia đình là øì?

Theo C Mac va Ph Angghen thì gia đình là "mối quan hệ giữa

chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái

Theo định nghĩa của Đào Văn Tập trong Tự điển Việt Nam phó

thông: "Gia đình chỉ tất cả mọi người quen thuộc trong một nhà” Trong

Từ điển Hán Việt của Dao Duy Anh từ Gide quyến có nghĩa là người thân

thuộc trong một nhà

Bác sĩ Nguyễn Khác Viện đã viết trong Từ điển tâm lí: Gia đình

(Famille) gồm bố mẹ, con và có hay không một số người khác ở chung một

nha PGS PTS Đặng Xuân Hoài coi gia đình là một đơn vị nhỏ nhất của xã

hội, phụ thuộc vào xã hội và là tấm gương phản chiếu mọi thành tựu, cũng

như mâu thuẫn của xã hội (dưới góc nhìn của Tâm lí học xã hội)

Nha xã hội học Nga T A Pha-na-xê-va tổng kết có ba quan điểm

khác nhau về gia đình:

- Quan điểm thứ nhất: Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, liên kết

với nhau bằng một chỗ ở, bằng một ngân sách chung và các mối quan

hệ ruột thịt

- Quan điểm thứ hai: Cho rằng cần bổ sung thêm vào định nghĩa trên

cho hoàn chỉnh là giữa các thành viên có quan hệ gắn bó giúp đỡ lẫn

nhau "Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội liên kết với nhau trong một nhà,

_ bằng một ngân sách chung và các mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau bằng

tình.cảm và trách nhiệm”

- Quan điểm thứ ba: Gia-đình hiện tại là một nhóm xã hội bao gồm

bố mẹ và con cái của một vài thế hệ, các thành viên trong gia đình có

quan hệ ràng buộc về vật chất và tính thần theo những nguyên tắc, mục

đích sống như nhau về các vấn đề chủ yếu trong sinh hoại

Như vậy có thể thống kê rất nhiều định nghĩa về gia đình, bởi vì các

tác giả đúng trên các góc độ khoa học khác nhau để xem xét khái niệm về

gia đình Gần đây rất nhiều khoa học nghiên cứu gia đình, ví dụ xã hội

học nghiên cứu gia đình chính là những vấn đề xã hội của gia đình hiện

đại, họ coi gia đình là một hiện tượng xã hội trên hai bình diện

Chương I

NHŨNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ ĐÌNH

I KHAI NIEM CHUNG VE GIA DINH

1 Gia đình là øì?

Theo C Mac va Ph Angghen thi gia đình là “mối quan hệ giữa chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái -

Theo định nghĩa của Đào Văn Tập trong Tự điển Việt Nam pho

thông: "Gia đình chỉ tất cá mọi người quen thuộc trong một nhà” Trong

Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh từ Gi# quyến có nghĩa là người thân

thuộc trong một nhà

Bác sĩ Nguyễn Khác Viện đã viết trong Từ điển tâm lí: Gia đình (Famille) gồm bố mẹ, con và có hay không một số người khác ở chung mội nhà PGS PTS Đặng Xuân Hoài coi gia đình là một đơn vị nhỏ nhất của xã hội, phụ thuộc vào xã hội và là tấm gương phản chiếu mọi thành tựu, cũng như mâu thuẫn của xã hội (dưới góc nhìn của Tâm lí học xã hội)

Nhà xã hội học Nga T A Pha-na-xê-va tổng kết có ba quan điểm khác nhau về gia đình:

- Quan điểm thứ nhất: Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, liên kết

với nhau bằng một chỗ ở, bằng một ngân sách chung và các mối quan

hệ ruột thh

- Quan diém thit hai: Cho rang cần bổ sung thêm vào định nghĩa trên

cho hoàn chỉnh là giữa các thành viên có quan hệ gắn bó giúp đỡ lấn nhau "Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội liên kết với nhau trong một nhà, -_ bằng một ngân sách chung và các mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau bằng

tình.cảm và trách nhiệm"

- Quan điểm thứ ba: Gia-đình hiện tại là một nhóm xã hội bao gồm

bố mẹ và con cái của một vài thế hệ, các thành viên trong gia đình có quan hệ ràng buộc về vật chất và tỉnh thần theo những nguyên tắc, mục đích sống như nhau về các vấn đề chủ yếu trong sinh hoại

— Như vậy có thể thống kê rất nhiều định nghĩa về gia đình, bởi vì các

tác giả đứng trên các góc độ khoa học khác nhau để xem xét khái niệm về gia đình Gần đây rất nhiều khoa học nghiên cứu gia đình, ví dụ xã hội học nghiên cứu gia đình chính là những vấn đề xã hội của gia đình hiện đại, họ coi gia đình là một hiện tượng xã hội trên hai bình diện

Trang 8

* Các mối quan hệ bên trong gia đình (quan hệ giữa các thành viên

bên trong gia đình và quan hệ giới tính);

* Quan hệ và tác động qua lại giữa gia đình và xã hội (quan hệ gia, đình

và họ hàng, làng xã, các tổ chúc sản xuất, chính tri, van hod, )'”

- Kinh tế học nghiên cứu gia đình với tư cách là đơn vị kinh tế, đơn

vị tiêu dùng

- Nhân chúng học nghiên cứu gia đình theo sự biến đổi đa dạng của

các mô hình gia đình giữa các nền văn hoá

- sử học nghiên cứu các mô hình gia đình đã qua trong các thời kì

lịch sử

- Dân tộc học nghiên cứu các đặc trưng gia đình 0 cdc dân tộc

khác nhau

Để cho khái niệm gia đình bao ham duoc một nội dung chuẩn xác

chúng ta hãy xét các đặc trưng cơ bản của gia đình

1 - Gia đình là một nhóm xã hội (một thiết chế xã hội), một người

không thể là gia đình được, nhất thiết phải có từ hai người trở lên

2 - Trong gia đình phi có cả hai giới tính (nam, nữ), đây là đặc trưng

cơ bản của nhóm xã hội mà chúng ta gọi là gia đình Gia đình bao gồm các

giới tính khác nhau thông qua quan hệ hôn nhân (gọi tất là đặc trưng giới

(ính) Tuy nhiên, một số gia đình, vì lí do này lí do khác bị khuyết thiếu

(người vợ, người chồng)

- Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình phải là guan hệ ruột

thị: huyết thống, nghĩa là có quan hệ tdi sản xiết con người, không có

quan hệ này không thể gọi là gia đình đúng nghĩa (Trong thực tế có gia

đình không thực hiện chức năng này, nhưng vẫn gọi là gia đình nhưng sự

tồn tại của nó chỉ có thể trong một thời gian nhất định)

4 - Trong gia đình, giữa các thành viên gắn bó với nhau về đặc điểm

(huyết thống) /đm sinh lí Bố mẹ sẽ truyền lại cho con cái những đặc

diểm thể chất qua kênh gen di truyền sinh học Thông qua nếp sống sinh

#

- Ph Ảngghen: Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu trẻ nhân và của nhà nước Lời tựa

viết cho lần xuất bản thứ nhất năm 1884 trong C.Mác - Ph.Ăngghen tuyển tập - tập 6

NXB Su that Ha Noi 1984 tr.26

- Lê Ngọc Văn: Nơi hướng tiếp cận cơ bản và hai khái niệm then chốt ì ‘ong nghiên cứu

xử hội học về gia dale Trong cuốn "Nhận diện gia dinh Viet Nam hién nay" (Ki yéu hội

* Quan hệ và tác động qua lại giữa gia đình và xã hội (quan hệ gia đình

và họ hàng, làng xã, các tổ chức sản xuất, chính trị, van hoa, )'”

- Kinh tế học nghiên cứu gia đình với tư cách là đơn vị kinh tế, đơn

| - Ga đình là một nhóm xã hội (một thiết chế xã “hội), mỘt người

không thể là gia đình được, nhất thiết phải có từ hai người trở lên

2- Trong gia đình phải có ca hai giới tính (nam, nữ), đây là đặc trưng

cơ bản của nhóm xã hội mà chúng ta gọi là gia đình Gia đình bao gồm các giới tính khác nhau thông qua quan hệ hôn nhân (gọi tất là đặc mrưng giới (tính) Tuy nhiên, một số gia đình, vì lí do này lí do khác bị khuyết thiếu

(người vợ, người chồng)

- Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình phải là guan hệ ruột ihit huyết thống, nghĩa là có.quan hệ (ái sản xuất con người, không có quan hệ này không thể gọi là gia đình đúng nghĩa (Trong thực tế có gia đình không thực hiện chức năng này, nhưng vẫn gọi là gia đình nhưng sự tồn tại của nó chỉ có thể trong một thời gian nhất định)

4 - Trong gia đình, giữa các thành viên gắn bó với nhau về đặc điểm (huyết thống) (âm sinh lí Bố mẹ sẽ truyền lại cho con cái những đặc điểm thể chất qua kênh gen di truyền sinh học Thông qua nếp sống sinh

i

- Ph Angghen: Ngudén géc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước Lời tựa

viết cho lần xuất bản thứ nhất năm [884 trong C.Mdc - Ph.Angghen tuyén tập - tập 6

NXB Sư thật Hà Nội 1984 tr.26

- Lê Ngọc Văn: Hưi hướng tiếp cận cơ bản và hai khái niệm then chốt trong nghién cứu

xử hội học về gia đình Trong cuốn "Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay" (Kỉ yếu hội

nghị) Hà Nội 1991: tr 18-24,

Trang 9

hoạt, truyền thống, phong tục tập quán: con cái mang những đấu ấn tâm

lí của cha mẹ, ông bà trong đời sống tính thân của mình

5 - Quan hệ kính tế, các thành viên trong gia đình sống và hoạt done

bằng một ngân sách chung, do các thành viên lao động trong gia đình

dem lại thu nhập cho gia đình

6 - Các thành viên trong øra đình sống trong môi nhà,

Từ các đặc trưng trên, chúng ta có thể định nghĩa pía đình dưới sóc

độ tâm lí học như sau: Giư đình là một nhóm nho vũ hỏi, các thành viên

If, cing c6O chung cdc eid ni vit chat tinkthdn ốu ch trong các thoi

diém lịch sử nhất định

(Trong một số trường hợp, gia đình chỉ có quan hệ hôn nhân hay

huyết thống)

2 Các loại gia đình và mô hình của chúng ⁄# MIC

Nhu trên đã phân tích, các đặc trưng cơ bản của gia dinh khi xét các

loại hình và cơ cấu gia đình không thể tách khỏi những đặc trưng cơ bản

đó Trong xã hội hiện đại, người ta thường nói đến năm thiết chế cơ ban

và mối quan hệ của chúng đó là: nhà nước, tôn giáo, kinh tế giáo dục và

gia đình; coi gia đình là một tế bào của xã hội, một nhóm nhỏ xã hội góp

phần tạo thành xã hội Nhà duy vật biện chứng Ph Ángghen đã viết:

"Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy cho đến

cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Một mặt là sản

xuất ra tư liệu sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo, nhà ở và những công cụ

-_ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản „

thân con người, là sự truyền nòi giống Cái quyết định sức sản xuấi

trên một mặt là đo trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do

trình độ phát triển của gia đình”

Như vậy từ lâu gia đình, theo quan điểm xã hội học, đã được nghiên

cứu một cách sâu sắc với các quan hệ kinh tế, quan hệ người như là động

lực phát triển xã hội

a Cơ cấu gia đình - Nhóm xã hội nhỏ hay còn gọi là nớm thân

tình, nhóm sơ cấp (theo Ch H Cooley, nhà xã hội học Mĩ) có đặc điểm:

Toàn bộ hành vi cá nhân, tính cách con người và các sắc thái tình cảm

được bộc lộ rõ ràng, các thành viên trong nhóm sơ cấp gắn bó, hiểu biết

lẫn nhau và quan tâm đến tất cả hành vị của những người frong nhóm

VIên

đình đơn

hoạt, truyền thống, phong tục tập quấn; con cát mang những đấu ấn tam

lí của cha mẹ, ông bà trong đời sống tĩnh thần của mình

5 - Quan hệ kinh tế, các thành viên trong gia đình sống và hoạt động bằng một ngân sách chung, đo các thành viên lao động trong, sia đình dem lai thu nhập cho gia đình

6 - Các thành viên trong gia đình song trong mot nha

Từ các đặc trưng trên, chúng ta có thể định nghĩa sía đình dưới sóc

độ tâm lí học như sau: Giœ đình là một nhóm nho vĩ hỏi, các thành viện

Lân hoặc huvớt thông, tâm - xinh -

2 Các loại gia đình và mô hình của chúng ⁄f oC

Như trên đã phân tích, các đặc trưng cơ bản của gia đình khi xét các loại hình và cơ cấu gia đình không thể tách khỏi những đặc trưng cơ bản

đó Trong xã hội hiện đại, người ta thường nói đến năm thiết chế cơ bản

và mối quan hệ của chúng đó là: nhà nước, tôn giáo, kinh tế giáo dục và gia đình; coi gia đình là một tế bào của xã hội, một nhóm nhỏ xã hội góp phần tạo thành xã hội Nhà duy vật biện chứng Ph Ángghen đã viết:

"Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sứ, quy cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo nhà ở và những công cụ

ˆ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó: mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Cái quyết định sức sản xuất trên một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình”

Như vậy từ lâu gia đình, theo quan điểm xã hội học, đã được nghiên cứu một cách sâu sắc với các quan hệ kinh tế, quan hệ người như là động

lực phát triển xã hội

a Cơ cấu gia đình - Nhóm xã hội nhỏ hay còn gọi là nhóm thân tình, nhóm sơ cấp (theo Ch H Cooley, nhà xã hội học MỸ?) có đặc điểm: Toàn bộ hành vi cá nhân, tính cách con người và các sác thái tình cảm được bộc lộ rõ ràng, các thành viên trong nhóm sơ cấp gắn bó, hiểu biết lẫn nhau và quan tâm đến tất cả hành vị của những người trong nhóm

Trang 10

Yiên trong gia đình

Do đó, cơ cấu gia đình được hiểu là số lượng thành phần và mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình

Nếu lấy hôn nhân làm chuẩn thì có:

- Gia đình một vợ một chồng ` Sơ đồ gia đình đơn hôn

gọi là gia đình đơn hôn hoặc gia đình Vo chéng

son tre l

- Gia đình đa hôn một chồng Sơ đồ gia đình da hôn nhiều vợ hoặc một vợ nhiều chồng Chồng Vợ 3

Vol Vo2 Néu theo xố thế hệ trong gia đình thì có:

- Gia đình hai thế hệ là gia đình kiểu hạt nhân Đây là loại gia đình

dang phát triển mạnh ở đất nước ta trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước hiện nay, đặc biệt ở các đô thị

Loại gia đình này có cha, mẹ - con cái (gia đình có hai thế hệ)

Sơ đồ gia đình hạt nhân

to 2

(1, 2 con trai hoặc con gai) |

- Gia đình ba thế hệ trở lên là gia đình mở rộng Đây là loại gia đình dang cé xu thé giam dan ở nước ta

Nghiên cứu các mối quan hệ liên nhân cách của các thành viên trong

gia đình chính là cách tiếp cận cơ cấu, thành phần, số lượng các thành

viên trong gia dinh

Do đó, cơ cấu gia đình được hiểu là số lượng thành phần và mối

quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình

Nếu lấy hôn nhân làm chuẩn thì có:

- Gia đình một vợ một chồng ` Sơ đồ gia đình đơn hôn

gọi là gia đình dơn hôn hoặc gia đình Vo chéng son tre l

- Gia đình đa hôn một chồng _ Sơ đồ gia đình da hôn

nhiều vợ hoặc một vợ nhiều chồng Chồng Vo3 ,

Vợi- "Vợ 2

Nến theo xố thế hệ trong gia đình thì có: |

- Gia dinh hai thé hé 1a gia dinh kiểu hạt nhân Đây là loại gia đình

dang phát triển mạnh ở đất nước ta trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, đặc biệt ở các đô thị

Loại gia đình này có cha, mẹ - con cái (gia đình có hai thế hệ)

Sơ đồ gia đình hạt nhân Cha Mẹ

|“ 2

(1, 2 con trai hoặc con gái)

- Gia đình ba thế hệ trở lên là gia đình mở rộng Đây là loại gia đình đang có xu thế giảm dân ở nước ta

Trang 11

Cũng cần lưu ý, gia đình mở rộng sau chiến tranh ở nước ta còn có

sự Xáo trộn về cơ cấu: bố có con riêng, mẹ có con riêng (vì lí do chiến

tranh một bên mất vợ, một bên mất chồng nếu kết hôn lần thứ hai) Sau

đó họ có con chung (con anh, con tôi, con chúng ta) &

Cơ cấu gia đình thay đổi theo sự phát triển của nên kinh tế xã hội,

hình thát xã hội Độ bền vững, quy mô, các mối quan hệ giữa các thành

viên trong gia đình biến động cùng với sự phát triển xã hội, sự sinh sôi,

nảy nở các gia đình mới; sự gìn giữ tính ổn định: phong tục, truyền thống

nếp sống của mỗi gia đình phụ thuộc vào những nguyên nhân khách

quan, chủ quan và theo tập quán của người Việt Nam “Đèn nhà ai nhà ấy

rạng” vẫn còn tồn tại.cho đến nay Gia đình hiện nay là cơ sở kinh tế quan

trong cha su phát triển kinh tế - xã hội đất nước ta trong thời kì công

nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nết căn cứ vào số con trong gia đình thì có:

- Gia đình có quy mô nhỏ có mội, hai con

- Gia đình có quy mô lớn có từ ba, bốn con trở lên

Nếu căn cứ vào sự thiếu hay đủ cha mẹ thì có:

- Gia đình đầy đủ cả cha lẫn mẹ

- Gia đình không đầy đủ chỉ còn cha hoặc mẹ (do goá bụa hoặc lí

hôn )

b Kiểu gia đình theo các mối quan hệ giữa các thành viên

* A E Litrcô căn cứ vào cấu trúc gia đình và mối quan hệ giữa các

thành viên trong gia đình để chia làm bốn loại:

- Những gia đình đầy đủ (có cả cha lẫn me)

- Những gia đình không đầy đủ (thiếu vợ hoặc chồns)

- Những gia đình mở rộng (có những người họ hàng ruột thịt khác là

thành viên trong gia đình)

- Những gia đình biến dạng (có bố dượng, dì ghẻ)

ting

ong anh

Cũng cần lưu ý, gia đình mở rộng sau chiến tranh ở nước ta còn có

sự xáo trộn về cơ cấu: bố có con riêng, mẹ có con riêng (vì lí do chiến tranh một bên mất vợ, một bên mất chồng nếu kết hôn lần thứ hai) Sau

đó họ có con chung (con anh, con tôi, con chúng ta) a

So do gia dinh mo rong

Me Bố Mẹ TT Bố

Con | Con |

_ Con 2

/ coos CA mal

Cơ cấu gia đình thay đổi theo sự phát triển của nền kinh tế xã hội

hình thát xã hội Độ bền vững, quy mô, các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình biến động cùng với sự phát triển xã hội, sự sinh sôi, nảy nở các gia đình mới: sự gìn giữ tính ổn định: phong tục, truyền thống nếp sống của mỗi gia đình phụ thuộc vào những nguyên nhân khách quan, chủ quan và theo tập quán của người Việt Nam “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” vẫn còn tồn tại.cho đến nay Gia đình hiện nay là cơ sở kinh tế quan lrọng của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước ta trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nếu căn cứ vào số con trong gia đình th có:

- Gia đình có quy mô nhỏ có một, hai con

- Gia đình có quy mô lớn có từ ba, bôn con trở lên

_ Nếu căn cứ vào sự thiếu hay đủ cha mẹ thì có:

- Gia đình đầy du ca cha lan me

- Gia dinh khong đầy đủ chỉ còn cha hoặc mẹ (do goá bụa hoặc li

b Kiểu gia đình theo các mốt quan hệ giữa các thành viên

* A, E LHrcô căn cứ vào cấu trúc gia đình và mối quan hệ giữa các

thành viên trong gia đình để chia làm bốn loại:

- Những gia đình đầy đủ (có cả cha lẫn mẹ)

- Những gia đình không đầy đủ (thiếu vợ hoặc chồng)

_= Những gia đình mở rộng (có những người họ hàng ruột thịt khác là thành viên trong gia đình)

- Những gia đình biến dạng (có bố dượng, dì phẻ)

Trang 12

* Nếu lấy mục đích giáo dục con cái làm tiêu chuẩn V Kudriasev

(1975) đã chia gia đình thành ba loại gia đình (theo quan điểm về lội

phạm học)

-1 - Những gia đình trong đó cha mẹ không muốn giáo dục con cát

theo mt cầu của xã hội, mặc dù có thể và có khả nãng làm điều đó,

- Những gia đình mà cha mẹ không thể giáo dục con chu đáo đúng

dân (do quá bận công việc, bệnh tật, ốm dau, vắng mặt một thời gian

dài ) mặc dù họ mong muốn và có khả năng làm dược điều ấy

- Những gia đình trong đó cha mẹ không biết cách giáo dục con cái

(do trình độ văn hoá, sư phạm thiếu nếp sống cần thiết trong gia đình)

F Dựa vào bầu không khí tâm lí trong gia đình mà phân chia thi

A B Xakharov (1961) chia gia đình làm ba loại:

I - Những gia đình bình yên (bầu không khí tâm lí tốt)

2 - Những gia đình không bình yên

- Những gia đình bình yên giả tạo:

t Xét về mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình

E: A Aidemilier chía gia đình ra làm sáu loại:

L- Gia đình hài hoà: Sự giao tiếp tình cảm giữa các thành viên trong

gia đình ấm áp, hoà thuận Vai trò của họ bù trừ được cho nhau, không

mot ai trong gia dinh chiếm đoạt quyền hạn, nghĩa vụ của người khác

- Gia dình không hài hoà: Một trong hai người cha hoặc mẹ giữ vai

trò quá áp đảo, còn người kia quá phụ thuộc Sở thích của người này được

thoa mãn nhờ sự nhường nhịn, thiệt thòi, mất mắt của người kia

3 - Gia đình biến đổi: Các thành viên trong gia đình có khả năng bù

trừ cho nhau, hiểu biết chia sẻ với nhau trong các vấn đề đời sống, nhưng

trong quan hệ tình cảm thiếu cân bằng, thiếu sự đồng điệu

4 - Gia đình rạn nứt: Xung đột gay gắt, khả năng cha (mẹ) rời bỏ gia

đình rất cao

5 - Gia đình thụ động, thân ái giả tạo: Sự áp chế tuyệt đối của cha

(mẹ) gây nên tình trạng lệ thuộc thụ động của người kia, sự khoe khoang

lộ liều cuộc sống gia đình; thiếu hẳn sự ấm áp thân ái trong tình cảm các

thành viên trong gia đình

6 Gia đình dự tan vố: Một trong hai người (vợ hoặc chồng) đã rời bỏ

nhà ra đi nhưng ở một mức độ nào đó vẫn tiếp tục giữ liên hệ với gia đình

và thực hiện một phần nghĩa vụ, chức năng của mình (đóng gop kinh té,

cham sóc con cái về mat tinh cam, )

-J - Những gia đình trong đó cha mẹ không muốn giáo dục con cát

theo yêu cầu của xã hội, mặc dù có thể và có khả năng làm điều đó

- Những gia đình mà cha mẹ không thể giáo dục con chu dao dung

dan do quá bán công việc, bệnh tật, ốm dau, vắng mặt một thời gian

đài ) mặc dù họ mong muốn và có khả năng làm được điều ãy

3 - Những gia đình trong đó cha mẹ không biết cách giáo dục con cái (do trình độ văn hoá, sư phạm thiếu nếp sống cần thiết trong gia đình)

* Dựa vào bầu không khí tâm lí trong gia đình mà phân chia thì

A B Xakharov (1961) chia gia đình làm ba loại:

| - Những gia đình bình yên (bầu không khí tâm lí tốD

2 - Những øia đình không bình yên

- Những gia đình bình yên giả tạo:

*# Xét về mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình

LE A Aidemilier chia gia dinh ra lam sau loại:

| - Gia dành hài hoà: Sự giao tiếp tình cảm giữa các thành viên trong gia đình ẩm áp, hoà thuận Vai trò của họ bù trừ được cho nhau, không một ai trong gia đình chiếm doạt quyền hạn, nghĩa vụ của người khác

- Gia dình không hài hoà: Một trong hai người chà hoặc mệ giữ vai trò quá áp đảo, còn người kia quá phụ thuộc Sở thích của người này được thoá mãn nhờ sự nhường nhịn, thiệt thòi, mất mát của người kia

3 - Gia đình biến đổi: Các thành viên trong gia đình có khả ñãng bù

trừ cho nhau, hiểu biết chia sẻ với nhau trong các vấn đề đời sống, nhưng

trong quan hệ tình cảm thiếu cân bằng, thiếu sự đồng điệu

4 - Gia đình rạn nứi: Xung đột gay gắt, khả năng cha (me) rời bỏ gia đình rất cao

5 - Gia dink thu dong, than di gia tao: Swap chế tuyệt đối của cha

(mẹ) gây nên tình trạng lệ thuộc thụ động của người kia, sự khoe khoang

lộ liễu cuộc sống gia đình; thiếu hẳn sự ấm áp thân ái trong tình cảm các thành viên trong gia đình

6 Gia đình dã tan vố: Một trong hai người (vợ hoặc chồng) đã rời bỏ nhà ra đi nhưng ở một mức độ nào đó vẫn tiếp tục giữ liên hệ với gia đình

và thực hiện một phần nghĩa vụ, chức năng của mình (đóng góp kinh tế, chăm sóc con cái về mặt tình cảm ) | SỐ

L2

Trang 13

Set

un

Theo kết qua tổng điều tra đân số qua các năm gần đây cho thấy, quy

mô gia đình Việt Nam liên tục giảm trong vòng hơn 20 năm từ 5.22

người/hộ gia đình năm 1979 xuống 4,88 người/hộ gia đình năm 1989 và

4,6 người/hộ gia đình năm 1999,

Quy mô gia đình thay đổi theo các vùng miền khác nhau Ví dụ:

Đồng bằng sông Hồng có quy mô gia đình thấp nhất: 4,1 người/hộ Vùng

Tây Bắc cao nhất: 5,2ngườihộ: Đồng bằng sông Cửu Long 4§ người:

Đồng bằng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ 4.6 người Trong

cả nước, số hộ từ ! đến 4 người chiếm trên một nửa (55%) Ở Đồng bằng

sông Hồng, cứ ba hộ thì có đến 2 hộ chỉ có từ I đến 4 người (Tổng điều

tra đân số và nhà ở Việt Nam 1999, Kết quả điều tra mẫu: 30)

Hiện nay xu hướng phát triển chung của gia đình Việt Nam là quy mô gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân, tạo điều kiện thúc đấy quá trình phát triển

kinh tế, dân chủ trong gia đình và khẳng định tự do cá nhân

Tóm lại, mỗi cách phân loại gia đình đều có cơ sở xuất phát, căn cứ

khoa học (xã hội học, tâm lí học, tội phạm học, giáo duc .); song phan

lớn dựa vào các quan hệ xã hội trong sia đình và cơ câu của chúng, số

lượng thế hệ trong gia đình và số con trong gia đình cũng là những tiêu

chí phân loại gia đình

x Il POI TUGNG, NHIEM VU CUA TAM Li HOC GIA DINH

-1, Đối tượng nghiên cứu của tâm lí học gia đình

Tâm lí học Xã hội nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong các quan hệ

xã hội, sự hình thành và phát triển các quy luật tâm lí từ các quan hệ xã hội

đó Gia đình được hình thành từ quan hệ xã hội vợ - chồng từ quan hệ

vợ chồng, nhiều hiện tượng tâm lí xã hội được nảy sinh trong sia đình Do

VẬY, tâm lí học gia đình như là khoa học nghiên cứu các quy luật tâm lí

được hình thành và phát triển từ quan hệ vợ - chồng cha mẹ - Con Cái

Tâm lí học gia đình nghiên cứu sự khác biệt tâm lí về vai trò của vợ, chồng của các thành viên trong gia đình như là sự khác biệt tâm lí giới

tính - đó là một bộ phận của tâm lí học xã hội

ISCV tội cái

inh

ng

ng

Theo kết quả tổng điều tra dân số qua các năm gan day cho thay, quy

mô gia đình Việt Nam liên tục giảm trong vòng hơn 20 năm từ 5,22 người/hộ gia đình năm 1979 xuống 4,68 người/hộ gia đình năm 1989 và 4,6 người/hộ gia đình năm 1999,

Quy mô gia đình thay đổi theo các vùng miền khác nhau Ví dụ: Đồng bằng sông Hồng có quy mô gia đình thấp nhất: 4.1 người/hộ Vùng Tây Bắc cao nhất: 5,2ngườihộ: Đồng bằng sông Cửu Long 4§ người: Đồng bằng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ 4.6 người Trong

cả nước, số hộ từ 1 đến 4 người chiếm trên một nửa (55%) Ở Đồng bằng sông Hồng, cứ ba hộ thì có đến 2 hộ chỉ có từ I đến 4 người (Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999 Kết quả điều tra mẫu: 30)

Hiện nay xu hướng phát triền chung của gia đình Việt Nam là quy mo

gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân, tạo điều kiên thúc đẩy quá trình phát triển

kinh tế, đân chủ trong gia đình và khẳng định tự do cá nhân

Tóm lại, mỗi cách phân loại gia đình đều có cơ sở xuất phát, căn cứ khoa học (xã hội học, tâm lí học, tội phạm học, giáo dục .); song phần lớn dựa vào các quan hệ xã hội trong sia đình và cơ câu của chúns, số lượng thế hệ trong gia đình và số con trong gia đình cũng là những tiêu chí phân loại gia đình

`ễ II ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÍ HỌC GIA ĐÌNH

-1 Đối tượng nghiên cứu của tâm lí học gia đình

Tâm lí học gia đình là một phân môn của Tâm lí học xã hội, bởi lẽ: Tâm lí học xã hội nghiên cứu các nhóm xã hội, các quy luật tâm lí nảy sinh, hình thành và phát triển trong các nhóm xã hội, mà gia đình

là nhóm nhỏ xã hội

Tâm lí học Xã hội nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong các quan hệ

Xã hội, sự hình thành và phát triển các quy luật tâm lí từ các quan hệ xã hội

đó Gia đình được hình thành từ quan hệ xã hội vợ - chồng từ quan hệ

vợ chồng, nhiều hiện tượng tâm lí xã hội được nảy sinh trong gia đình Do vậy, tâm lí học gia đình như là khoa học nghiên cứu các quy luật tâm lí được hình thành và phát triển từ quan hệ vợ - chồng cha mẹ - con cai Tâm lí học gia đình nghiên cứu sự khác biệt tâm lí về vai trò của vợ, _ chồng của các thành viên trong gia đình như là sự khác biệt tâm lí giới tính - đó là một bộ phận của tâm lí học xã hội

Trang 14

j

Vai trò quản lí của vợ chồng trong một gia đình, những yếu tố tâm lí

chỉ phối vào quá trình quản lí các hoạt động chung của gia đỉnh - với ý

nghĩa này tâm lí gia đình như là một bộ phận của tâm lí học quản lí

Như vậy, tâm lí học gia đình như Jà một chuyên ngành tâm lí học ứng dụng của tâm lí học xã hội trong cuộc sống gia đình Tâm lí học gia

đĩnh cũng như các ngành tâm lí học đám đông tâm lí học tôn giáo, tâm lí

Dựa vào các quy luật chung nhất của tâm lí học và xã hội học, tâm lí học xã hội nghiên cứu các quy luật tâm lí nảy sinh, hình thành và phát

triển trong gia đình

Tóm lại - tâm lí học gia đình nghiên cứu các quy luật tâm lí nảy sinh, hình thành và phát triển trong các quan hệ xã hội của gia đình

2 Nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lí học gia đình Eee

- Nghiên cứu cơ sở tâm lí của tình yêu, hôn nhân nam, nữ thanh niên,

tiền hôn nhân

- Nghiên cứu những khía cạnh tâm lí diễn ra trong quá trình thực hiện các chức năng của gia đình

- Nghiên cứu những yếu tố kinh tế, giáo dục, văn hoá xã hội tác động lén quá trình hình thành và phát triển bầu không khí tâm lí trong gia đình

- Gia đình là nhóm xã hội đầu tiên nơi con người sinh ra, lớn lên, mỗi cá nhân chịu sự chi phối từ tâm lí gia đình Vậy các cơ chế hình

thành tâm lí cá nhân từ gia đình cũng là nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lí

hoạt mỗi gia đình Đó cũng là những hướng nghiên cứu mới đối với gia

đình Việt Nam từ đó những xu hướng tâm lí mới trong gia đình như: Cho

con du học nước ngoài, mọi người trỏng gia đình nâng cao trình độ học

vấn, học thêm ngoại ngữ; khẳng định thương hiệu các sản phẩm hàng hoá

{4

1

hoạt dộng tích cực ở đó Do vậy, quá trình hình thành, phát triển tâm lí -

trẻ em trong gia đình như thế nào? Đó cũng là nhiệm vụ nghiên cứn của tâm

Vai trò quản lí của vợ, chồng trong một gia đình, những yếu tố tâm lí

chỉ phối vào quá trình quản lí các hoạt động chung của gia đỉnh - với ý nghĩa này tâm lí gia đình như là một bộ phận của tâm lí học quản lí

Như vậy, tâm lí học gia đình như là một chuyên ngành tâm lí học

ứng dụng của tâm lí học xã hội trong cuộc sống gia đình Tâm lí học gia

đĩnh cũng như các ngành tâm lí học đám đông tâm lí học tôn giáo, tâm lí

Dựa vào các quy luật chung nhất của tâm lí học và xã hội học, tâm lí

học xã hội nghiên cứu các quy luật tâm lí nảy sinh, hình thành và phát

triển trong gia đình

Tóm lại - tâm lí học gia đình nghiên cứu các quy luật tâm lí nảy sinh, hình thành và phát triển trong các quan hệ xã hội của gia đình

2 Nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lí học gia đình

Trang 15

do gia đỉnh mình lao động sáng tạo ra đang từng bước được phát triển

Sự giao lưu, hội nhập, và nhập khẩu nhiều sản phẩm văn hoá vật chất, tỉnh

thần từ nhiều quốc gia vào Việt Nam và ngược lại người Việt Nam đi học

tập, xuất khẩu lao động, công tác, xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài từ

đó tạo ra những đặc điểm tâm lí tự tin vào bản thân mình trong hợp tác

với mọi người cùng với nhiều yếu tố kinh tế, tâm lí xã hội khác xu

hướng lấy chồng, lấy vợ người nước ngoài tăng lên - Đó cũng là những

nhiệm vụ mới đặt ra cho tâm lí học gia đình ở Việt Nam nghiên cứu

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU NHŨNG HIỆN TƯỢNG TÂM LÍ

TRONGGIA DINH

1 Phương pháp luận nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong gia đình

Có thể nói chưa bao giờ các khoa học lại tập trung nghiên cứu về gia

đình nhiều như hiện nay Thời đại kinh tế tri thức, trước đây khi nói đến

giàu có người ta đề cập đến một nhóm người, một đất nước, quốc gia giàu

có, hưng thịnh Nay sự giàu có đến với tùng cá nhân, từng sia đình; hàng

năm danh sách các tỉ phú trên thế siới được tạp chí lforbcs công bố Ví

du: Tai san khổng lồ của cựu Chủ tịch hãng phần mềm Microsost - Bill

Gates nam 2007 là 59 tỉ USD”) Trong khi đó có những quốc gia chậm

phát triển, đói nghèo, nước nhỏ, thu nhập cả năm không bằng tài sản của

Bill Gates Theo kinh tế học gia đình, nghiên cứu gia đình như một đơn vị

sản xuất và tiêu thụ

Các nhà xã hội học nghiên cứu gia đình trong hệ thống các mối quan

hệ xã hội Luật học coi gia đình là chủ thể của pháp chế Dân tộc học

nghiên cứu các nghỉ lễ gia đình (cưới xin, tang ma, sinh đẻ ), các quan

hệ tộc người trong gia đình

Chính vì sự khác biệt về đối tượng nhiệm vụ nghiên cứu mà phương

pháp luận nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong gia đình phải xuất phát

từ các cách tiếp cận sau: |

l.I Nghiên cứu các hiện tượng tâm li gia đình trong cái chung,

cái riêng và cái đơn nhất

Gia đình Việt Nam cũng như bao gia đình các quốc gia trên thế giới

họ có các quan hệ xã hội vợ - chồng; cha mẹ và con cát quan hệ kinh

do gia đình mình lao động sáng tạo ra đang từng bước dược phát triển

Sự giao lưu, hội nhập, và nhập khẩu nhiều sản phẩm văn hoá vật chất, tĩnh thần từ nhiều quốc gia vào Việt Nam và ngược lại người Việt Nam đi học tập, xuất khẩu lao động, công tác, xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài từ

đó tạo ra những đặc điểm tâm lí tự tin vào bản thân mình trong hợp tác

với mọi người cùng với nhiều yếu tố kinh tế tâm lí xã hội khác xu hướng lấy chồng, lấy vợ người nước ngoài tăng lên - Đó cũng là những

nhiệm vụ mới đặt ra cho tâm lí học gia đình ở Việt Nam nghiên cứu

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHŨNG HIỆN TƯỜNG TÂM LÍ TRONG.GIA ĐÌNH

1 Phương pháp luận nghiên cứu các hiện tượng fâm lí trong gia đình

Có thể nói chưa bao giờ các khoa học lại tập trung nghiên cứu về øia đình nhiều như hiện nay Thời đại kinh tế tri thức, trước đây khi nói đến giàu có người ta đề cập đến một nhóm người, một đất nước, quốc gia giàu

có, hưng thịnh Nay sự giàu có đến với từng cá nhân, từng gia đình: hàng năm danh sách các tÏ phú trên thế giới được tạp chí Forbes công bố Ví dụ: Tài sản khổng lồ của cựu Chủ tịch hãng phần mềm Microsost - BI Gates nam 2007 là 59 tỉ USD", Trong khi đó có những quốc gia chậm: phát triển, đói nghèo, nước nhỏ, thu nhập cả năm không bằng tài sản của Bill Gates Theo kinh té hoc gia đình, nghiên cứu gia đình như một đơn vị

sản Xuất và tiêu thụ

Các nhà xã hội học nghiên cứu gia đình trong hệ thống các mối quan

hệ xã hội Luật học coi gia đình là chủ thể của pháp chế Dân tộc học nghiên cứu các nghi lễ gia đình (cưới xin, tang ma, sinh đẻ ), các quan

hệ tộc người trong gia đỉnh

Chính vì sự khác biệt về đối tượng nhiệm vụ nghiên cứu mà phương pháp luận nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong gia đình phải xuất phát

từ các cách tiếp cận sau: |

Td Nghién citu cac hién tuong tam li gia dinh trong cai chung, cái riêng và cai don nhát

Gia đình Việt Nam cũng như bao gia đình các quốc gia trên thế giới

họ có các quan hệ xã hội vợ - chồng: cha mẹ và con cái quan hệ kinh

tr

° MT: Bill Gates tiếp tục đứng đầu danh sách 400 người giàu nhất Tiền phong số 265 ngày 22/9/2007

Trang 16

tờ, giáo dục Cá chung, cái phổ biến không chỉ là quan hệ xã hội mà

nguồn gốc, cội nguồn gia đình trong xã hội hiện đại được xây dựng từ sự

tự nguyện đến với nhau của hai giới (nam và nữ) từ tình yêu hai giới đến

hôn nhân

Do có nhiều điểm chung và phổ biến nên các chức năng của gia đình

cũng có nhiều điểm chung và phổ biến như: Gia đình là nơi giúp cá nhân

diều chỉnh hành vị giới; là nơi sinh đẻ bảo tồn, bảo toàn giống nòi; là nơi

xã hội hoá trẻ em, giáo dục con cái theo mẫu, mô hình nhân cách của xã

hội dương thời

Tuy nhiên, nghiên cứu gia đình chúng ta vẫn nhận thấy được những

khác biệt giữa các gia đình ở các cộng đồng xã hội khác nhau, được thể

hiện như là nếp sống, truyền thống gia đình - khác biệt này tạo ra những

nét riêng cho các gia đình ở các dòng tộc, dòng họ, địa phương, dân tộc,

ví dụ sia đình Việt Nam có cái riêng của mình đó là có bàn thờ tổ tiên

(bàn thờ gia tiên) Trong khi đó những gia đình theo các tôn giáo khác

nhau thì họ có cái riêng của họ phù hợp với các giáo li tôn giáo đó

Nghiên cứu gia đình không thể bỏ qua cái đơn nhất, cát có một

không hai của mỗi gia đình, cái đơn nhất bắt nguồn từ sự khác biệt cá

nhân của mỗi thành viên trong gia đình; vẫn là thực hiện chức năng giáo

dục con cái, nhưng mỗi gia đình có cách giáo dục riêng; Có gia đình ít

chú ý đến giáo dục con trong gia đình, đứa trẻ lớn lên chủ yếu bằng nhập

tâm, bắt chước các khuôn mẫu hành ví ở những người xung quanh để tồn

tại và phát triển để thích ứng; Nhưng có gia đình lại quá quan tâm đến

mức đứa trẻ bị động, nhút nhát, ỷ lại vào người khác Các thói quen của

các thành viên trong gia đình nếp sống các gia đình cũng khác nhau bắt

nguồn từ quá trình tổ chức cuộc sống sinh hoạt gia đình khác nhau

1.2 Nghiên cứu tâm lí gia đình với cách tiếp cận lịch sử

Gia đình là một thiết chế xã hội cơ bản, nó được hình thành rất sớm

trong quá trình phát triển xã hội loài người, cùng với lịch sử phát triển xã

hội, gia đình luôn luôn vận động và phát triển để thích ứng với các quan

hè xã hội, kinh tế, văn hoá và giáo dục của xã hội |

Sự phát triên các hình thái kinh tế - xã hội, kéo theo sự phát triển,

thay đổi các quan niệm tổ chức cuộc sống gia đình Từ kinh tế tự cấp, tu

túc đến kinh tế thị trường hàng hoá; quy mô gia đình thay đổi, kiểu quan

nh::

tế, giáo dục Cái chung, cái phố biến không chí là quan hệ xã hội mà

nguồn gốc, cội nguồn gia đình trong xã hội hiện đại được xây dựng từ sự

tự nguyện đến với nhau của hai giới (nam và nữ) từ tình yêu hai giới đến

hôn nhân | ¬

[Do có nhiều điểm chung và phổ biến nên các chức năng của gia đình

cũng có nhiều điểm chung và phổ biến như: Gia đình là nơi giúp cá nhân diều chỉnh hành vi giới; là nơi sinh đẻ bảo tồn, bảo toàn giống nòi; là nơi

xã hội hoá trẻ em, giáo dục con cái theo mẫu, mô hình nhân cách của xã hội đương thời

Tuy nhiên, nghiền cứu gia đình chúng ta vẫn nhận thấy được những khác biệt giữa các gia đình ở các cộng đồng xã hội khác nhau, được thể hiện như là nếp sống, truyền thống gia đình - khác biệt này tạo ra những nét riêng cho các gia đình ở các dòng tộc, dòng họ, địa phương, dân tộc,

ví dụ gia đình Việt Nam có cái riêng của mình đó là có bàn thờ 16 tiên (bàn thờ gia tiên) Trong khi đó những gia đình theo các tôn giáo khác nhau thì họ có cái riêng của họ phù hợp với các giáo lí tôn giáo đó

Nghiên cứu gia đình không thể bỏ qua cái đơn nhát, cát có một

không hai của mỗi gia đình, cái đơn nhất bắt nguồn từ sự khác biệt cá

nhân của mỗi thành viên trong gia đình; vẫn là thực hiện chức năng giáo dục con cái, nhưng mỗi gia đình có cách giáo dục riêng; Có gia đình ít chú ý đến giáo đục con trong gia đình, đứa trẻ lớn lên chủ yếu bảng nhập lâm, bắt chước các khuôn mẫu hành vi ở những người xung quanh để ton

tại và phát triển để thích ứng: Nhưng có gia đình lại quá quan tâm đến

mức dứa trẻ bị động, nhút nhát, ỷ lại vào người khác Các thói quen của các thành viên trong gia đình nếp sống các gia đình cũng khác nhau bắt nguồn từ quá trình tổ chức cuộc sống sinh hoạt gia đình khác nhau

12.N ghiên cứu tâm lí gia đình với cách tiếp cận lịch sử Gia đình là một thiết chế xã hội cơ bản, nó dược hình thành rất sớm trong quá trình phát triển xã hội loài người, cùng với lịch sử phát triển xã hội, gia đình luôn luôn vận động và phát triển để thích ứng với các quan

hè xã hội kinh tế, văn hoá và giáo dục của xã hội |

Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội, kéo theo sự phát triển, thay đổi các quan niệm tổ chức cuộc sống gia đình Từ kinh tế tự cấp, tự túc đến kinh tế thị trường hàng hoá; quy mô gia đình thay đổi, kiểu quan

16

Trang 17

hệ vợ chồng dân chủ, bình đăng ngày càng nhiều ở các sia đình, gía đình

hiện nay đã thực sự là đơn vị kinh tế cơ sở, đơn vị tiêu dùng

Nghiên cứu gia đình xưa và nay để có những nhận thức khách quan

toàn diện và khoa học, từ đó có khả năng giải thích, lí giải được những mâu

thuẫn trong gia đình Việt Nam hiện nay về các vấn đẻ: trọng nam khinh

nữ; thừa kế tài sản: trách nhiệm và bổn phận nghĩa vụ và quyền của vợ

chồng đối với nhau; cha mẹ - con cát với nhau theo đó xảy dựng gia định

hạnh phúc, gia đình thực sự là tổ ấm của các thành viên trong gia đình

1.3 Nghiên cứu gia đình theo quan điển phái triển

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có an toàn, phát triên thì xã

hội mới ổn định và phát triển; Gia đình và xã hội quan hệ tác động qua lại

lẫn nhau, chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lẫn nhau Sự thực hiện các

chức năng cơ bản của gia đình tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát

triển xã hội Ví dụ: Dân số của xã hội do gia đình cung cấp; kinh tế của

xã hội phát triển bắt nguồn từ gia đình; Sự phát triển văn hoá, giáo dục

của xã hội đều bắt nguồn từ gia đình

Xã hội nói chung và các cộng đồng xã hội (các dòng họ, dân tộc )

về đại thể là luôn ở trạng thái vận động và phát triển Do vậy gia đình

cũng luôn ở trạng thái vận động và phát triển

Gia đình phát triển từng ngày, sự ra đời của một đứa trẻ trong gia đình, sự lớn lên của một cá nhân về lứa tuổi, thể chất diễn ra liên tục từng

ngày, tháng, năm Gia đình liên tục phát triển, ngay cả một thời điểm

nào đó ta thấy một gia đình suy thoái thì chính lúc đó ta nhận thấy con

cái, cháu họ đã, đang xây dựng thêm các gia đình mới Từ một gia đình

mở rộng đến vài gia đình (Tre già, măng mọc) trẻ hình thành, cứ như vậy

gia đình mới phát triển, phủ định nguồn gốc sinh ra mình

Sự phát triển các chức năng, các hoạt động chung, các quan hệ xã

hội liên tục diễn ra trong gia đình Do vậy, khi nghiên cứu gia đình

phải nhận thức được ý nghĩa này để có những nhận xét đánh giá khác

nhau, khoa học

Tóm lại, phương pháp luận tiếp cận lịch sử, phát triển, mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất, giúp cho chúng ta có cách nhận

thức đúng đắn, khoa học và khách quan trong nghiên cứu các vấn đề tâm

‘If xay ra trong gia đình Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá -

ung

thé

ting tộc, HIẾN hác

not

ca ido

hệ vo chéng dan chủ, bình đăng ngày cang nhiéu 6 cdc gia dinh, gia dinh

hiện nay đã thực sự là đơn vị kinh tế cơ sở, đơn vị tiêu dùng

Nghiên cứu gia đình xưa và nay để có những nhận thức khách quan toàn điện và khoa học, từ đó có khả năng giải thích, lí giải được những mâu thuẫn trong gia đình Việt Nam hiện nay về các vấn đề: trọng nam khinh nữ; thừa kế tài sản; trách nhiệm và bổn phận nghĩa vụ và quyền của vo chồng dối với nhau; cha mẹ - con cát với nhau theo đó xảy dựng gia đình hạnh phúc, gia đình thực sự là tổ ấm của các thành viên trong gia đình

1.3 Nghiên cứu gia đình theo quan điểm phát triển

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có an toàn, phát triển thì xã hội mới ổn dịnh và phát triển; Gia đình và xã hội quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lẫn nhau Sự thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển xã hội Ví dụ: Dân số của xã hội do gia đình cung cấp; kinh tế của

xã hội phát triển bắt nguồn từ gia đình; Sự phát triển văn hoá, giáo dục của xã hội đều bắt nguồn từ gia đình

Xã hội nói chung và các cộng đồng xã hội (các dòng họ, dân tộc )

về đại thể là luôn ở trạng thái vận động và phát triển Do vậy gia đình

cũng luôn ở trạng thái vận động và phát triển

Gia đình phát triển từng ngày sự ra đời của một đứa trẻ trong gia

đình, sự lớn lên của một cá nhân về lứa tuổi, thể chất điễn ra liên tục từng

ngày, tháng, năm Gia đình liên tục phát triển, ngay cả một thời điểm nào đó ta thấy một gia đình suy thoái thì chính lúc đó ta nhận thấy con cái, cháu họ đã, đang xây dựng thêm các gia đình mới Từ một gia đình

mở rộng đến vài gia đình (Tre già, mãng mọc) trẻ hình thành, cứ như vậy,

gia đình mới phát triển, phủ định nguồn gốc sinh ra mình

Sự phát triển các chức năng, các hoạt động chung, các quan hệ xã hội liên tục điễn ra trong gia đình Do vậy, khi nghiên cứu gia đình phải nhận thức được ý nghĩa này để có những nhận xét đánh giá khác

nhau, khoa hoc

Tóm lại, phương pháp luận tiếp cận lịch sử, phát triển, mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất, giúp cho chúng fa có cách nhận

thức đúng đắn, khoa học và khách quan trong nghiên cứu các vấn đề tâm

- lí xảy ra trong gia đình Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá

17

Trang 18

2 Các phương pháp nghiên cứu tâm lí Học gia đình

2.1 Phương pháp quan sát

Cũng như các khoa học: Tâm lí học đại cương, Xã hội phương

pháp quan sát được sử dụng trong nghiên cứu các hiện tượng tâm lí xảy ra

trong đời sống gia đình Tuỳ theo mục đích quan sất và chương trình kế

hoạch quan sát có thể chia làm hai loại phương pháp quan sát

* Quan sat trực tiếp

- Nhà nghiên cứu (nhà khoa học) có thể đến trực tiếp gia đình, trong

các buổi sinh hoạt thường nhật (ngày chủ nhật hoặc vào ngày nghị, lễ )

theo đõi một số những diễn biến hành vi, hành động hoặc thái độ, cảm

xúc của các thành viên trong gia đình hoặc một thành viên nào đó

trong gia đình

- Quan sát các quan hệ xã hội như vợ - chồng; cha - con; mẹ - con;

anh - em; chị - em; ông - bà; ông, bà - cháu Theo đó dựa vào các mục

đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà thu thập các thông tin, sự kiện nhằm

khẳng định, phủ định một giả thuyết khoa học nào đó về gia đình trong

các công trình nghiên cứu tâm lí về gia đình

* Quan sdt gián tiếp

Nhà nghiên cứu (nhà khoa học) có thể quan sát qua các Kĩ thuật

nghe, nhìn qua camera, theo dõi gián tiếp những xung đột, hoặc những

hành vi, cử chỉ quyến luyến của con cái đối với cha mẹ; thèo dõi những

sinh hoạt gia đình như ăn uống, nghỉ ngơi, vui choi giai tri trong gia

đình, đặc biệt những thói quen, nếp sống được con cái trong gia đình

nhập tâm, bất chước cha mẹ (kế cả những thói quen tốt, xấu ) Trong

những trường hợp quan sát gián tiếp, cần được chủ gia đình cho phép vì -

mục đích khoa học (không được tuỳ tiện theo dõi trộm, hoặc nghe lén lút

mà không được gia đình đồng ý)

Có thể nói phương pháp quan sát dùng trong nghiên cứu các hiện tượng

tam lí gia đình cho ta thu thập được những số liệu, thông tin sinh động,

khách quan và khá trung thực (tuy nhiên các mức độ khách quan, tin cậy phụ

thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn, đạo đức của nhà nghiên cứu)

2.2 Phương pháp điều tra viết (Ankét)

Nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong gia đình có thể thu thập các

thông tin, sự kiện thông qua bảng câu hỏi, được thiết kế theo các mục i i

đích nghiên cứu đã đặt trước

* Quan sát trực tiếp

- Nhà nghiên cứu (nhà khoa học) có thể đến trực tiếp gia đình, trong các buổi sinh hoạt thường nhật (ngày chủ nhật hoặc vào ngày nghỉ, lễ ) theo đõi một số những diễn biến hành vi, hành động hoặc thái độ, cảm xúc của các thành viên trong gia đình hoặc một thành viên nào đó trong gia đình

- Quan sát các quan hệ xã hội như vợ - chồng; cha - con; me - con;

anh - em; chị - em; ông - bà; ông, bà - cháu Theo đó dựa vào các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà thu thập các thông tin, sự kiện nhằm khẳng định, phủ định một giả thuyết khoa học nào đó về gia đình trong các công trình nghiên cứu tâm lí về gia đình

* Quan sát gián tiếp

Nhà nghiên cứu (nhà khoa học) có thể quan sát qua các kĩ thuật nghe, nhìn qua camera, theo dõi gián tiếp những xung đột, hoặc những hành vi, cử chỉ quyến luyến của con cái đối với cha mẹ; thèo dõi những sinh hoạt gia đình như ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí trong gia đình, đặc biệt những thói quen, nếp sống được con cái trong gia đình nhập tâm, bắt chước cha mẹ (kể cả những thói quen tốt, xấu ) lrong những trường hợp quan sát gián tiếp, cần được chủ gia đình cho phép vì mục đích khoa học (không được tuỳ tiện theo dõi trộm, hoặc nghe lén lút

mà không được gia đình đồng ý)

Có thể nói phương pháp quan sát dùng trong nghiên cứu các hiện tượng tam lí gia đình cho ta thu thập được những số liệu, thông tin sinh động, khách quan và khá trung thực (tuy nhiên các múc độ khách quan, tin cậy phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn, đạo đức của nhà nghiên cứu)

2.2 Phương pháp điều tra viết (Ankét) Nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong gia đình có thể thu thập các thông tin, sự kiện thông qua bảng câu hỏi, được thiết kế theo các mục đích nghiên cứu đã đặt trước be

Trang 19

Điều rất quan trọng của các bang hỏi là cách chỉ dẫn thực hiện trả

lời các câu hỏi cũng như thiết kế các câu hỏi sao cho mạch lạc, rõ

rang va dién ta được mục đích và nhiệm vụ cần nghiên cứu Ví dụ nhà

tâm lí muốn nghiên cứu sự bình đẳng giới trong gia đình, có thể sử

dụng các câu hỏi sau đây:

Câu hói: Khi quyết định chọn trường cho con vào học, bạn sẽ lựa

chọn cách nào sau đây; đề nghị trả lời một cách chính

xác nhất:

1) Suy nghĩ Kĩ và trao đổi, thảo luận với vợ (chồng) trước khi quyết định

2) Trao đổi trước với vợ (chồng) và con để mọi người nêu quan điểm

của mình, rồi sau đó lựa chọn hợp lí nhất

-3) Mặc dù có trao đổi với vợ (chồng) và con nhưng bản thân đã quyết

định trước đó rồi

4) Việc học của con, không cần bàn bạc mà chỉ cần con thích học ở

dâu thì để cho nó tự chọn

-3) Quyết định cho con học trường nào vợ (chồng) toàn quyền quyết

định, không cần phải bàn bạc (quyết định này thuộc về chủ gia đình)

Bảng hỏi có thể đưa trực tiếp cho các thành viên trong gia đình, tại

nhà ở của họ, với sự có mặt của người nghiên cứu; cũng có thể gửi qua

bưu điện để các thành viên trong gia đình tự trả lời các câu hởi theo các

hình thức đánh dấu vào các ô trống hợp lí (với các câu hỏi đóng); viết bổ

sung ý kiến của mình (với các câu hỏi mở, nhiều phương án trả lời không

đặt trước) Các câu hỏi dùng để diễn tả các trạng thái tâm lí, hoặc chỉ dẫn

cách thức trả lời, ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ trung thực, độ tin cậy

của các thông tin, sự kiện thu thập từ bảng hỏi, do vậy cần thiết kế sao

cho câu hỏi mạch lạc, dễ hiểu, có thể trả lời được

2.3 Phương pháp phỏng vấn

- Trong nghiên cứu gia đình, phương pháp phỏng vấn từng thành

viên đem lại nhiều thông tin có thể trái chiều khác nhau, song lại có ý

nghĩa giúp cho việc tham vấn tâm lí, trị liệu tâm lí gia đình có hiệu quả

= Thường trong nghiên cứu tâm lí gia đình người ta sử dụng hai hình

ng

gia

inh ong ) VÌ lút

mg

ng,

shu

sác HỤC

Điều rất quan trọng của các bảng hỏi là cách chỉ dân thực hiện trả lời các câu hỏi, cũng như thiết kế các câu hỏi sao cho mạch lạc, rõ ràng và điễn tả được mục đích và nhiệm vụ cần nghiên cứu Ví dụ nhà tâm lí muốn nghiên cứu sự bình đăng giới trong gia đình, có thể sử dụng các câu hỏi sau đây:

Câu hỏi: Khi quyết định chọn trường cho con vào học, bạn sẽ lựa

chọn cách nào sau đây; để nghị trả lời một cách chính xác nhất:

1) Suy nghĩ kĩ và trao đối, thảo luận với vợ (chồng) trước khi quyết định

2) Trao đổi trước với vợ (chồng) và con để mọi người nêu quan điểm

của mình, rồi sau đó lựa chọn hợp lí nhất

-3) Mặc dù có trao đổi với vợ (chồng) và con nhưng bản thân đã quyết định trước đó rồi

4) Việc học của con, không cần bàn bạc mà chỉ cần con thích học ở

đâu thì để cho nó tự chọn

5) Quyết định cho con học trường nào vợ (chồng) toàn quyền quyết

định, không cần phải bàn bạc (quyết định này thuộc về chủ gia đình) Bảng hỏi có thể đưa trực tiếp cho các thành viên tong sia đình, tại nhà ở của họ, với sự có mặt của người nghiên cứu; cũng có thể gửi qua bưu điện để các thành viên trong gia đình tự trả lời các câu hởi theo các hình thức đánh dấu vào các ô trống hợp lí (với các câu hỏi đóng); viết bổ sung ý kiến của mình (với các câu hỏi mở, nhiều phương án trả lời không

đặt trước) Các câu hỏi dùng để diễn tả các trạng thái tâm lí, hoặc chỉ dẫn

cách thức trả lời, ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ trung thực, độ tín cậy của các thông tin, sự kiện thu thập từ bảng hỏi, do vậy cần thiết kế sao

cho câu hỏi mạch lạc, đễ hiểu, có thể trả lời được

2.3 Phương pháp phỏng vấn

- Trong nghiên cứu gia đình, phương pháp phỏng vấn từng thành viên đem lại nhiều thông tin có thể trái chiều khác nhau, song lại có ý ughia giúp cho việc tham vấn tâm lí, trị liệu tâm lí gia đình có hiệu quả

;= Thường trong nghiên cứu tâm lí gia đình người ta sử dụng hai hình thức (hai loại) phỏng vấn:

Trang 20

ee

ee

+ Phỏng vấn đã được chuan bi truéc théo chi đề, thậm chí các câu

hỏi đã được chuẩn bị trước theo một trình tự nhất định nhằm các mục -

đích nghiên cứu khác nhau

+ Phỏng vấn không được chuẩn bị trước (thực chất là không chuẩn bị

trước các câu hỏi cụ thể những vấn để nghiên cứu hoặc hướng phỏng vấn

đã có) Trong những trường hợp này, để hai bên hiểu biết nhau hơn, người

nghiên cứu cần giải thích các câu hỏi tỉ mí hơn, bằng mọi cách khuyến

khích kích thích sự trả lời ở các đối tượng phỏng vấn; những vấn để xảy

ra trong gia đình, thường các đối tượng được phòng vấn không muốn cho

người ngoài biết, vì vậy họ thường lắng tránh hoặc trả lời thiếu thong tin

Ví dụ: khi xung đột xảy ra trong gia đình, với tư cách là vợ (chồng), anh

(chị) thường giải quyết theo cách nào?

_3.4 Phương pháp nghiên cứu chiều doc

Đây là phương pháp nghiên cứu tiến hành trên một đối tượng: hay

một quan hệ xã hội trong gia đình (vợ hoặc chồng; quan hệ vợ - chồng )

trong một khoảng thời gian dài

nguyên nhan chinh, phu, dan dén li than, li hon

Vý dụ 2: Nghiên cứu các mối quan hệ trong gia đình có trẻ bị rối nhiều hành vi tâm lí Các nhà tâm lí học đã nghiên cứu nhiều năm rồi đi

đến nhận xét ở những gia đình này thường có những đặc điểm sau:

- Bố mẹ không hiểu những đặc điểm phát triển nhân cách trẻ, thường

kìm hãm các nhu cầu của chúng như: nhu cầu được an toàn, được thừa nhận,

dược tôn trọng, được thương yêu, được tự kháng định mình

- Bố mẹ không thừa nhận cá tính của trẻ, không tin vào kinh nghiệm của trẻ, xúc phạm lòng tự trọng của trẻ

- Những yêu cầu và mong muốn của bố mẹ không tương xứng với nhu cầu và khả năng của trẻ

+ Phỏng vấn đã được chuẩn bị trước théo chủ đề, thậm chí các câu hỏi đã được chuẩn bị trước theo một trình tự nhất định nhằm các mục đích nghiên cứu khác nhau

+ Phỏng vấn không được chuẩn bị trước (thực chất là không chuẩn bị

trước các câu hỏi cụ thể những vấn đề nghiên cứu hoặc hướng phỏng vân

đã có) Trong những trường hợp này, để hai bên hiểu biết nhau hơn, người

nghiên cứu cần giải thích các câu hỏi tỉ mĩ hơn, bằng mọi cách khuyến khích kích thích sự trả lời ở các đối tượng phỏng vấn; những vấn đề xảy

ra trong gia dinh, thường các đối tượng được phỏng vấn không muốn cho người ngoài biết, vì vậy họ thường lắng tránh hoặc trả lời thiếu thông tin

Ví dụ: khi xung đột xảy ra trong gia đình, với tư cách là vợ (chồng), anh (chị) thường giải quyết theo cách nào?

2.4 Phuong phap nghiên cứu chiều đọc Đây là phương pháp nghiên cứu tiến hành trên một đối tượng: hay một quan hệ xã hội trong gia đình (vợ hoặc chồng: quan hệ vợ - chồng )

> ~ \ A ` ^ˆ ? La

V/ du 1: Nghiên cứu các nguyên nhân dân đến li than, li hon cua cac cập vợ chồng: từ nghiên cứu các mẫu quan hệ vo - chồng trong một số

năm rồi so sánh với các cặp vợ chồng có độ bên vững cao để chỉ ra các

nguyên nhân chính, phụ, dân đến l¡ thân, li hon

Ví du 2: Nghiên cúu các mối quan hệ trong gia đình có trẻ bị rối nhiễu hành vi tâm lí Các nhà tâm lí học đã nghiên cứu nhiều nãm rồi đi đến nhận xét ở những gia đình này thường có những đặc điểm sau:

- Bố mẹ không hiểu những đặc điểm phát triển nhân cách trẻ, thường

kim hãm các nhu cầu của chúng như: nhu cầu được an toàn, được thừa nhận,

dược tôn trọng, được thương yêu, được tự kháng định mình

- Bố mẹ không thừa nhận cá tính của trẻ, không tin vào kinh nghiệm của trẻ, xúc phạm lòng tự trọng của trẻ |

- Những yêu cầu và mong muốn của bố mẹ không tương xứng với nhu cau va khả năng của trẻ

Trang 21

- là phương pháp nghiên cứu các hiện trạng đang xảy ra Ở các gia đình khác nhau trong cùng một thời điểm Ví dụ nghiên cứu các nội dung

giáo dục con cái trong gia đình hiện nay ở thành phố Bằng nghiên cứu

các loại hình gia đình trong thành phố với các mâu thuân khác nhau (mức

thu nhập, gia đình người lao động, công chức Nhà nước, chủ doanh

nghiệp ) từ đó thống kê những nội dung giáo dục ưu tiền của các mẫu

khác nhau của một gia đình rồi nhận xét

| 2.6 Phương pháp nghiên cứu tiền sử - thường được sử dung nghiên

cứu những đặc điểm hình thành và phát triển tâm lí trẻ em trong gia đình,

-_ từ đớ xác định nguyên nhân chỉ phối các rối nhiều tâm lí trẻ (thường hay

sử dụng trong tâm lí học lâm sàng trẻ em) Đây là phương pháp nghiền

cứu các sự kiện, trạng thái đã xảy ra ở những thời điểm trước đây (thuộc

quá khứ) tại thời điểm nghiên cứu

Ví dụ: Đứa trẻ trầm cảm, xuất hiện trạng thái trầm cam từ khi bố mẹ

li hôn, đứa trẻ bị:bỏ rơi không được bố mẹ quan tâm chăm sóc, hiện nay

trẻ ở với bà ngoại

Ngoài những phương pháp liệt kê trên, tâm lí học gia đình còn sử dụng các phương pháp của tâm lí học xã hội, tâm lí học dại cương như:

Trắc nghiệm, thực nghiệm để nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong

-gia đình, theo đó phát hiện những quy luật tâm lí được hình thành và chì

phối vào đời sống sinh hoạt của các thành viên trong gia đình, các quan

hệ xã hội (vợ - chồng, cha, mẹ - con cái; anh, chị - em ) trong gia đình

¬ 2.5 Phương pháp nghiên cứu theo chiều ngang

- là phương pháp nghiên cứu các hiện trạng dang xảy ra ở các giá đình khác nhau trong cùng một thời điểm Ví dụ nghiên cứu các nội dune giáo dục con cái trong gia đình hiện nay ở thành phố Bàng nghiên cứu các loại hình gia đình trong thành phố với các mâu thuan khác nhau (mức thu nhập gia đình người lao động, công chức Nhà nước, chủ doanh nghiệp ) từ đó thống kê những nội dung giáo dục ưu tiền của các mẫu khác nhau của một gia đình rồi nhận xét

| 2.6 Phuong pháp nghiên cứu tiển sử - thường được sử dụng nghiên cứu những đặc điểm hình thành và phát triển tâm lí trẻ em trong gia đình,

từ đớ xác định nguyên nhân chi phối các rối nhiều tâm lí trẻ (thường hay

sử dụng trong tâm lí học lâm sàng trẻ em) Đây là phương pháp nghiên cứu các sự kiện, trạng thái đã xảy ra ở những thời điểm trước đây (thuộc

quá khứ) tại thời điểm nghiên cứu

Ví dụ: Đứa trẻ trầm cảm, xuất hiện trạng thái tram cam từ khi bố mẹ

li hôn, đứa trẻ bị bỏ rơi không được bố mẹ quan tâm chăm sóc, hiện nay trẻ Ở với bà ngoại

Ngoài những phương pháp liệt kê trên, tâm lí học gia đình còn sử dụng các phương pháp của tâm lí học xã hội, tâm lí học đại cương như: Trắc nghiệm, thực nghiệm để nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong -gia đình, theo đó phát hiện những quy luật tâm lí được hình thành và chỉ phối vào đời sống sinh hoạt của các thành viên trong gia đình, các quan

hệ xã hội (vợ - chồng, cha, mẹ - con cái; anh, chị - em ) trong gia đình

Trang 22

CÂU HỎI ÔN TẬP CÂU HỎI ÔN TẬP

x Phân tích những đặc trưng cơ bản của gia đình, Nêu định nghĩa

| gia dinh? iadinh? ma © Way “ 7 f7 |

X 2 Phân tích đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lí học gia

đình ME z AM

pe 3 Trình bày phương pháp luận và một số phương pháp nghiên cứu

cụ thể thường sử dụng trong nghiên cứu tâm lí học gia đình teh

po 1 Phân tích những đặc trưng cơ bản của gia đình, Nêu định nghĩa

gia đình? “Wae) € Mau GF Phân tích đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lí học gia

Trình bày phương pháp luận và một số phương pháp nghiên cứu

cụ thể thường sử dụng trong nghiên cứu tâm lí học gia đình lưới

Trang 23

CƠ SỞ TÂM LÍ CÁC CHỨC NANG CUA GIA ĐÌNH

Về các chức năng của gia đình cũng có nhiều quan điểm khác nhau

Theo GS§.TS triết học người Nga G V Oxipop thì gia đình thực hiện các

chức nãng “tái tạo và nối đõi nòi giống, giáo dục con cái, tổ chức sinh

hoạt vào thời gian nhàn rỗi""”,

Quan hệ cơ bản nhất theo G V Oxipop của gia đình đó là hôn nhân

"nếu như hôn nhân không phải là cơ sở của gia đình thì nó không phải là

đối tượng của luật pháp, thí dụ tình bạn chẳng hạn” (C Mác và

Ph Angghen)

Ở các nền văn hoá khác nhau, việc xác định các chức năng cơ bản

cũng khác nhau Ở nước Anh gia đình hạt nhân là phổ biến, theo tác gia

Tony Bilton, Kernvin Bonnett thi gia dinh thuc hiện bốn chức năng cơ

ban dé 1a”:

- Chức năng sinh sdn bao gém sit thu thai va de con

- Chức năng tính dục, hay là giao hop hop li dé dam bao thu thai

- Chite ndng xd hoi hod, dua con edi vao nén van hod cua xd hor

- Chức năng duy trì, cũng cấp sự hỗ trợ về kinh tế và đảm bdo vẻ vải chất cho con cái khí chúng trưởng thành

Gia đình hạt nhân đang thực hiện tốt các chức năng trên Theo các _nhà khoa học xã hội Anh thì khi gia đình hạt nhân thực hiện các chức

năng đó thì nó sẽ là một thiết chế xã hội phổ biến

Đối với các nhà khoa học xã hội Mĩ, các chức năng cơ bản của gia đình phù hợp với nền văn hoá của họ là:

- Chức năng điều chỉnh hành vị giới

—= Chúc năng sinh san tái sn xuất rd con HgHỜI

- Chức năng chăm xóc va bdo vé tré em

- Chức năng gắn vai trò và thiết lập vị thế đã được thừa kế trong gia đình

- Chức năng kinh tế:

1G, V.Oxipop Những cơ sở nghiên cứu xã hội học NXB Tiến bệ và KHXH - 1988 tr.75

ˆ!** TonyBilton, Kevin Bonnett Nhập môn xã hội học NXB Khoa học xã hội Hà Nội

1993 tr 236

23

zhia gia

cứu

„6

` Chương 2

CƠ SỞ TÂM LÍ CÁC CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

Về các chức năng của gia đình cũng có nhiều quan điểm khác nhau

Theo GS.TS triết học người Nga G V ÔOxipop thì gia đình thực hiện các chức năng "tái tạo và nối dõi nòi giống, giáo dục con cái, tố chức sinh

hoạt vào thời gian nhàn rỗi""",

Quan hệ cơ bản nhat theo G V Oxipop của gia đình đó là hon nhân

"nếu như hôn nhân không phải là cơ sở của gia đình thì nó không phải là đối tượng của luật pháp, thí dụ tinh ban chang han" (C Mac va

Ph Angghen)

Ở các nền văn hoá khác nhau, việc xác định các chức năng cơ bản

cũng khác nhau Ở nước Anh, gia đình hạt nhân là phô biến, theo tác giả Tony Bilton, Kernvin Bonnett thì gia đình thực hiện bốn chức nang co

bản đó làt”:

- Chức năng sinh sản bao gồm su thu thai va de con

- Chức năng tính dục, hay là giao hợp hợp lí để đảm báo thụ thai

- Chức năng xã hội hoá, đưa con cái vào nên văn hoá của xd hor

- Chức năng duy trì, cung cấp sự hỗ trợ về kinh tếvà đảm báo vẻ vải chất cho con cái khi chúng trưởng thành

Gia đình hạt nhân đang thực hiện tốt các chức nang trén Theo cac nhà khoa học xã hội Anh thì khi gia đình hạt nhân thực hiện các chức

_ năng đó thì nó sẽ là một thiết chế xã hội phổ biến

Đối với các nhà khoa học xã hội Mĩ, các chức nãng cơ bản của gia

đình phù hợp với nền văn hoá của họ là:

- Chức năng điều chỉnh hành vì giới

- Chức năng sinh san tái sẳn xuất ra con người

- Chức năng chăm sóc và bảo vệ trẻ em

- Chức năng gắn vai trò và thiết lập vị thế đã dược thìa kế Irong gia dinh

- Chức năng kinh tế

+ V Oxipop Những cơ sở nghiên cứa xã hội học NXB Tiến bộ và KHXH - 1988 tr.75

`! TonyBilon, Kevin Bonnett Nhập môn xd hội học NXB Khoa học xã hội Hà Nội

1993 tr 236

23

Trang 24

Ca hai quan điểm trên đều có điểm chung khi bàn về chức nang

điều chỉnh hành vi giới; chức năng tính dục hay là giao hợp đều đặn để

đảm bảo thụ thai Chúc năng trên đảm bảo thoả mãn nhu cầu tình cảm,

sinh lí mà chỉ trong gia đình, trong quan hệ vợ, chồng mới được đáp ứng

một cách đầy đủ, toàn diện Chính sự không thoả mãn nhu cầu này trong

gia đình dẫn đến hậu quả l¡ thân, li hôn, ngoại tình, gây nên tan vỡ gia

đình và chiếm tỉ lệ phần trăm khá cao ở các nước phát triển

* Theo nhà tâm lí học Trung Quốc Từ Thanh Hán, °) thì gia đình '

thực hiện bốn chức năng:

- Chức năng duy trì nòi giống: Gia đình là nơi hợp pháp để nam nữ

biểu hiện ham muốn tình dục, cuộc sống tình dục hài hoà của vợ chồng

không chỉ là nhân tố quan trọng để duy trì tình cảm mà còn để bảo tồn

nòi giống |

- Chức năng giáo đục trẻ: Bố mẹ là người thầy đầu tiên của trẻ, giáo

dục giả đình có ý nghĩa quan trọng cả đời người đối với trẻ Giáo dục trẻ

thành những người tài, có sức khoẻ, thông minh, phẩm chất tốt là trách

nhiệm bát buộc của mỗi gia đình

- Chức năng kinh tế

- Chức năng thoả mãn các nhụ câu về tâm Íí, sinh lí để phát triển

toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ và nhân cách trong sự yên ổn, an

toàn trong gia đình

|

Hội thảo khoa học về "Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay và vai

IrÒ người phụ nữ Irong gia đình” tại Hà Nội vào ngày 25/4 - 26/4/1990 do

Trung tâm nghiên cứu khoa học về phụ nữ thuộc Viện Khoa học xã hội _

Việt Nam tổ chức đã có nhiều báo cáo nói đến chức năng gia đình: chức

năng sinh đẻ, tái sản xuất ra con người; chúc năng kinh tế, chức năng thoả

mãn các nhu cầu tâm lí, tình cảm; chức năng giáo dục con cái, chức năng

chăm sóc sức khoẻ người già |

Ở đây chỉ giới thiệu một số chức năng cơ bản dưới góc độ tâm lí học

và giáo dục học phù hợp với truyền thống và những biến đổi đang diễn ra

ở gia đình Việt Nam hiện nay: |

có VỐI

mô qué phé

san nhí

chí

ng

nói:

nhil nhị đưc

Cả hai quan điểm trên đều có điểm chung khi bàn về chức năng

điều chỉnh hành vi giới; chức năng tính dục hay là giao hợp đều đặn để

dam bao thu thai Chúc năng trên đảm bảo thoả mãn nhu cầu tinh cam,

sinh lí mà chỉ trong gia đình, trong quan hệ vợ, chồng mới được đáp ứng một cách đầy đủ, toàn diện Chính sự không thoả mãn nhu cầu nay trong gia đình dẫn đến hau qua li than, li hon, ngoại tình, gây nên fan vỡ gia đình và chiếm tỉ lệ phần trăm khá cao ở các nước phát triển

* Theo nhà tâm lí học Trung Quốc Từ Thanh Hán ”? thì gia đình '

- Chức năng kinh tế

- Chức năng thoả mãn các nhu cầu về tâm lí, sinh lí để phát triển

toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ và nhân cách trong sự yên ổn, an toàn trong gia đình

| Hội tháo khoa học về "Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay và vai

rò người phụ nữ trong gia đình” tại Hà Nội vào ngày 25/4 - 26/4/1990 do Trung tâm nghiên cứu khoa học về phụ nữ thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức đã có nhiều báo cáo nói đến chức năng gia đình: chức nang sinh de, tái sản xuất ra con người; chức năng kinh tế, chức năng thoả , mmãn các nhu cầu tâm lí, tình cảm; chức năng giáo dục con cát, chức năng chăm sóc sức khoẻ người già

2 Ki st "aA ^ ` a “ ~ ° 7," 4 ˆ ˆ 4

O day chi gidi thiéu một số chức năng cơ bản dưới góc độ tâm lí học

và giáo dục học phù hợp với truyền thống và những biến đổi đang diễn ra

ở gia đình Việt Nam hiện nay:

“Từ Thanh Hán: 500 giải đáp tâm lí con người NXB Thanh Hoá 2005 tr.157-158

f

Trang 25

I MOT SO _KUEA CANH TÂM LÍ KHI THỰC HIẾN CHÚC NÀNG TẠI SAN_

XUAT RA CON NGƯỜI (CHỨC NANG SINH DE)

Tất cả các nhốm Xã hội, các thiết chế xã hội Không có nhóm xã hội nào tái sản xuất ra con người trừ gia đình Như các dặc trưng gia dinh da

phân tích ở trên nhất thiết trong quan hệ gia đình phải có giới tính năm -

nữ chồng - vợ là quan hè ra đời rất sớm bất nguồn từ những như câu cơ

bản có tính chất sinh học Nếu không có quan hệ hôn nhân (nam - nữ) và

tái sản xuất ra con người thì quan hệ giữa hai người có the chỉ là tỉnh bạn,

tình đồng nghiệp, đồng chí Mọi quan hệ người suy cho đến cùng đẻu

có những sản phẩm nhất định, ví dụ: quan hệ "làm ăn kinh tế” người ta bỏ

vốn chung nhau rồi chia lãi; quan hệ “đồng nghiệp” giữa các giáo viên bộ

môn, sản phẩm chung đó là chất lượng giảng dạy và học tập ở học sinh

quan hệ hợp tác về văn hoá, văn học nghệ thuật Sản phẩm là các tác

phẩm văn học nghệ thuật không có quan hệ nào lại không cần dén moi

sản phẩm chung Sản phẩm chụng của vợ chồng trong gia đình chính là

những đứa con Sự chung góp về tình cảm, thân xác “máu thịt” của vợ

chồng tạo thành đứa trẻ "con người" Có thể nói để có một sản phẩm con

người, trước đó đôi nam nữ thanh niên đã trải qua một thời kì yêu đương

nóng bỏng, buồn rồi vui, tin tưởng, nghỉ ngờ, giận hờn, bực dọc

Đi đến hôn nhân, nam nữ thanh niên đã trải qua nhiều mối quan hệ nhiều lần lựa chọn, có người ngay mối tình dau da di đến hôn nhân

nhưng cũng không ít người trải qua nhiều lần yêu đương mới kết hôn

được Các nhà văn, nhà thơ đã từng gọi là "Vị đắng của tình yêu”

Nhiều thành tựu nghiên cứu khoa học về tình yêu đã đi đến nhận xét

trong khi yêu đương, tâm lí của người đang yêu có những trạng thái đặc

biệt sau:

- Hiệu ứng nhiễm sắc được gọi là "đẹp trong mắt người nhìn Khi bị

tình yêu chi phối, hầu hết mọi người chỉ nhìn thấy ưu điểm của đổi

phương, rồi phóng đại lên: “Yêu nhau yêu cả duong di’

- Mất hiệu ứng cá tính hoá: Khi yêu một người sẽ bị sức hút từ người

đó làm mất đi cá tính củá mình, đặc biệt đứng trước người yêu, con người

trở nên mềm mỏng hơn, độ lượng hơn, mất đi những toan tính, bực dọc

ï MỘT SỐ RHÍA CANH TÂM LÍ KHI THỤC HIẾN CHỨC NÀNG TẠI SÀN

XUẤT RA CÓN NGƯỜI (CHÚC NANG SINH DE)

Tất cả các nhóm Xã hội, các thiết chế xã hội Không có nhóm xa hoi nào tái sản xuất ra con người trừ gia đình Như các đặc trưng gia đình da phân tích ở trèn nhất thiết trong quan hệ gia đình phải có giới tính năm -

nữ chồng - vợ là quan hệ ra đời rất sớm bất nguồn từ những như cầu cơ

bản có tính chất sinh học Nếu không có quan hệ hôn nhân (nam - nữ) và

tái sản xuất ra con người thì quan hệ giữa hai người có thê chỉ là tỉnh bạn, tình đồng nghiệp, đồng chí Mọi quan hệ người suy cho đến cùng đẻu

có những sản phẩm nhất định, ví dụ: quan hệ "làm ăn kinh tế” người ta bỏ vốn chung nhau rồi chia lãi; quan hệ "đồng nghiệp” giữa các giáo viên bộ môn, sản phẩm chung đó là chất lượng giảng dạy và học tập ở học sinh quan hệ hợp tác về văn hoá, văn học nghệ thuật Sản phẩm là các tác phẩm văn học nghệ thuật không có guan hệ nào lại khong dan dén moi

sản phẩm chưng Sản phẩm chung của vợ chồng trong gia đình chính là

những đứa con Sự chung góp về tình cảm, thân xác "máu thịt” của vợ

chồng tạo thành đứa trẻ "con người" Có thể nói để có một sản phẩm con

người, trước đó đôi nam nữ thanh niên đã trải qua một thời kì yêu dương nóng bỏng, buồn rồi vui, tin tưởng, nghỉ ngờ, giận hờn, bực dọc

Đi đến hôn nhân, nam nữ thanh niên đã trải qua nhiều mối quan hệ nhiều lần lựa chọn, có người ngay mối tình đầu đã đi đến hôn nhân nhưng cũng không ít người trải qua nhiều lần yêu dương mới kết hón

được Các nhà văn, nhà thơ đã từng gọi là "VỊ đẳng của tình yêu”

Nhiều thành tựu nghiên cứu khoa học về tình yêu đã đi đến nhận xét trong khi yêu đương, tâm lí của người đang yêu có những trạng thát đặc _ biệt sau: -

- Hiệu ứng nhiễm sắc được gọi là "đẹp trong mất người nhìn Khi bị

tình yêu chi phối, hầu hết mọi người chỉ nhìn thấy ưu điểm của đối phương, rồi phóng đại lên: "Yêu nhau yêu cả đường đi”

- Mất hiệu ứng cá tính hoá: Khi yêu một người sẽ bị sức hút từ người

đó làm mất đi cá tính củá mình, đặc biệt đứng trước người yêu, con người trở nên mềm mỏng hơn, độ lượng hơn, mất đi những toan tính, bực dọc của cá nhân

- Hiêu ứng phấn chấn: sức mạnh của tình yêu khiến người ta cảm thấy tinh than phan chan han lên Quan sát khoa học nhận thấy, người con gái được yêu mặt mày rạng rỡ hơn, hay nói, hay cười hơn đôi lúc hát

25

Trang 26

những bài hát mình yêu thích một mình Tâm trạng bồn chồn khi chuẩn

bi gap người yêu

- Hiệu ứng shi nhớ; trong đầu óc mình lúc nào cũng xuất hiện hình

ảnh người mình yêu ở mọi tư thế, ở ánh mắt, nụ cười, thậm chí những

dáng nét bên ngoài, màu sắc quần áo:

“Mình về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ miệng hoa mình cười?”

- Hiện tượng thiếu đũng khí: trong khi yêu, người ta thường không

du can dam để nói, bày tỏ thái độ của mình Thậm chí không dám ngăn,

hoặc nói ra một vài thói quen xấu của đối phương, sợ người yêu hiểu lầm

- Hiện tượng ghen: khi yêu, người ta rất nhạy cảm và không vui khi

người mình yêu, mình ngưỡng mộ có quan hệ với người khác giới, chỉ

tnone đối phương yêu mình là người duy nhất “Trái tim dành cho minh"

- Nghịch lí trong tình yêu (chuyển hoá ngược của tình yêu): do tình

yêu không thành công, nên chuyển thành thù hận

Hiểu biết được những hiện tượng tâm lí trong khi yêu để các bậc cha

ine nhẹ nhàng, định hướng dúng cho con cái, làm cho gia đình thực sự là

chỗ dựa tỉnh thần, an toàn cho con ở tuổi thanh niên Không nên can thiệp

thô bạo, cưỡng bức, áp đặt thô thiển dẫn đến xung đột trong gia đình

Từ phân tích trên có thể dé nhận thấy hôn nhân và gia đình trải qua

Giai doan 1: Ở giai đoạn này, nam nữ thanh niên gặp nhau cảm mến

nhau, có nhụ cầu giao tiếp trao đổi tư tưởng, tình cảm để nhận thức, hiểu

nhau về những phẩm chất nhân cách, về nguồn øốc xã hội những thói

quen nếp sống của cả hai bên Khi đã chín muối, hiểu nhau thì tình yêu

đôi lứa chuyển giai đoạn đến hôn nhân _

Giai đoạn 2: Giai đoạn này chính là giai đoạn hôn nhân, về mặt pháp

ti sau Khi có đăng kí kết hôn, về mặt tình cảm có chung những rung cảm

nghia la yêu dương đích thực

Giai doạn 3: Sau hôn nhân "tuần trăng mật” Sự thoả mãn như: cầu

tỉnh thần, nhu cầu sinh lí đạt được đỉnh cao của nó Tuỳ phong tục tập

quán và nhu cầu của gia đình, của cá nhân vợ và chồng mà xuất hiện nhu

cầu có con ngay hay chậm hơn Sự tái sản xuất ra con người chủ yếu xảy

ra Ở giai đoạn này Giai đoạn này với mục tiêu xây dựng gia đình, thích

phi với cuộc sống chung | x

doi chỉ:

VỚI

kh

thà cat

mt dir

“Mình về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ miệng hoa mình cười?”

- Hiện tượng thiếu dũng khí: trong khi yêu, người ta thường không

dủ cạn đảm để nói, bày tỏ thái độ của mình Thậm chí không dám ngăn, hoặc nói ra một vài thói quen xấu của đối phương, sợ người yêu hiểu lầm

- Hiện tượng ghen: khi yêu, người ta rất nhạy cảm và không vui khi tpười mình yêu, mình ngưỡng mộ có quan hệ với người khác giới, chỉ nnone đối phương yêu mình là người duy nhất “Trái tim dành cho mình”

- Nehich lí trong tình yêu (chuyển hoá ngược của tình yêu): do tình ˆ he, © *

yêu không thành công, nên chuyển thành thù hận

Hiểu biết được những hiện tượng tâm lí trong khi yêu để các bậc cha

¡ne nhẹ nhàng, định hướng dúng cho con cái, làm cho gia đình thực sự là chỗ dựa tỉnh thần, an toàn cho con ở tuổi thanh niên Không nên can thiệp thỏ bạo, cưỡng bức, áp đặt thô thiển dẫn đến xung đội trong gia đình

Từ phân tích trên có thể để nhận thấy hôn nhân và gia đình trải qua

Giai đoạn }: Ổ giai đoạn này, nam nữ thanh niên gặp nhau cảm mến

nhau, có nhụ cầu giao tiếp trao đổi tư tưởng, tình cảm để nhận thức, hiểu

nhau về những phẩm chất nhân cách, về nguồn gốc xã hội những thói quen nếp sống của cả hai bên Khi đã chín muối, hiểu nhau thì tình yêu đôi lứa chuyển giai đoạn đến hôn nhân

Giai doạn 2: Giai đoạn này chính là giai đoạn hôn nhân, về mặt pháp

ra ở giai đoạn này Giai đoạn này với mục tiêu xây dựng gia đình, thích

Trang 27

đoạn mới, giai đoạn mà vợ chồng phải lo toan nhiều việc ăn, ở, mặc,

chăm sóc con cái Chức năng làm vợ, làm mẹ trở thành hiện thực đối

với nữ; Chức năng làm cha đối với nam trong gia đình: Giai đoạn này này

nở nhiều quan hệ phức tạp vốn có của gia đình mà các giai đoạn trước

không có

Xã hội phát triển, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển nhiều thành tựu khoa học, nhất là ngành y đã đi vào ngõ ngách của đời sống tình

cảm gia đình, đi vào những điều "cấm kị", "bí ẩn" đầy giới tính mà trước

đây dư luận xã hội coi là thiêng liêng, bất khả xâm phạm ở mỗi con người

"Quyển con người - sở hữu của mỗi cá nhân được đem ra nghiên cúu,

hướng dẫn" Cái "khoái cảm trong sinh hoạt vợ chồng" phần lớn để lại sản

phẩm là đứa trẻ - thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người, nay "cái

khoái cảm trong sinh hoạt vợ chồng” - không đơn thuần thực hiện chức

nang trên mà còn có ý nghĩa giải trí, thoả mãn một nhu cầu sinh lí có khoa

học Từ sự can thiệp của các thành tựu khoa học, nhất là y học - gia đình

vẫn còn giữ được sự ổn định nhưng đồng thời cũng xuất hiện nhiều yếu tố

không bền vững của gia đình, ngoài ra sự ổn định của gia đình còn bị chỉ

phối bởi nhiều yếu tố khác: nhất là kinh tế, quan hệ xã hội )

V.A.Xu-khôm-linxki đã từng viết "Có hàng chục, hàng trăm ngành nghề, công việc khác nhau: người xây dựng đường sắt, người kia làm nhà

ở, người thì làm bánh mì, người thì chữa bệnh, người thì may quần áo

Nhưng có một công việc phổ biến nhất, phức tạp nhất và cao quý nhất, như

nhau đối với mọi gia đình, đồng thời lại có tính đặc thù và không lặp lại

trong mỗi gia đình - đó là sự sáng tạo ra con người " "Sự sáng tạo ra con

người - đó là sự nỗ lực cao nhất của tất cả các sức mạnh tinh thần của bạn

Đó là sự khôn ngoan, là tài nghệ, là nghệ thuật rong cuộc sống của ban”

_"_ Gia đình là tổ chức xã hội duy nhất có chức năng tái sản xuất ra

con người

Đây là chức năng số một của gia đình truyền thống Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, chức năng này không phải lúc nào cũng tôn tại

với các gia đình Trên thực tế xuất hiện những cặp vợ chồng không

muốn có con hoặc không thể có con (trường hợp nhận con nuôi hay gia

nở nhiều quan hệ phức tạp vốn có của gia đình mà các giai đoạn trước không có

Xã hội phát triển, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển, nhiều

thành tựu khoa học, nhất là ngành y đã đi vào ngõ ngách của đời sống tình cảm gia đình, đi vào những điều "cấm ki", "bf an" đầy giới tính mà trước đây dư luận xã hội coi là thiêng liêng, bất khả xâm phạm ở mỗi con người

"Quyền con người - sở hữu của mỗi cá nhân được đem ra nghiên cứu, hướng dẫn" Cái "khoái cảm trong sinh hoạt vợ chồng" phần lớn để lại sản phẩm là đứa trẻ - thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người, nay "cái khoái cảm trong sinh hoạt vợ chồng" - không đơn thuần thực hiện chức nang trén ma con có ý nghĩa giải trí, thoả mãn một nhu cầu sinh lí có khoa học Từ sự can thiệp của các thành tựu khoa học, nhất là y học - gia đình vẫn còn giữ được sự ổn định nhưng đồng thời cũng xuất hiện nhiều yếu tố không bên vững của gia đình, ngoài ra sự ổn định của gia đình còn bị chỉ phối bởi nhiều yếu tố khác: nhất là kinh tế, quan hệ xã hội )

V.A.Xu-khôm-linxki đã từng viết "Có hàng chục, hàng trăm ngành

nghề, công việc khác nhau: người xây dựng đường sắt, người kia làm nhà

ở, người thì làm bánh mì, người thì chữa bệnh, người thì may quần áo Nhưng có một công việc phổ biến nhất, phức tạp nhất và cao quý nhất, như nhau đối với mọi gia đình, đồng thời lại có tính đặc thù và không lặp lại trong mỗi gia đình - đó là sự sáng tạo ra con người " "Sự sáng tạo ra con người - đó là sự nỗ lực cao nhất của tất cả các sức mạnh tinh thần của bạn

Đó là sự khôn ngoan, là tài nghệ, là nghệ thuật trong cuộc sống của ban", _ ` Gia đình là tổ chức xã hội duy nhất có chức năng tái sản xuất ra

con người

Đây là chức năng số một của gia đình truyền thống Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, chức năng này không phải lúc nào cũng tồn tại với các gia đình Trên thực tế xuất hiện những cặp vợ chồng không muốn có con hoặc không thể có con (trường hợp nhận con nuôi hay gia

đình đồng giới)

U'E.I.Xecmiajcơ, 142 tình huống giáo dục gia đình NXB Giáo dục 1991 tr 18

27

Trang 28

suất cao, góp phần ổn định đời sống gia đình trong những "ngày ba tháng

tam” Ở nước ta hiện nay, trên 9 triệu gia đình nông dân sống bằng nông

nghiệp và các ngành nghề khác ở nông thôn; ở thành phố, cán bộ công

nhân viên chức đời sống ngày càng được nâng cao, đảm bảo cho đời sống

gia đình ồn định |

Nhiều làng quê xưa, nay đã và đang làm nhiều nghề truyền thống

như đệt, may thêu, làm đồ mĩ nghệ, đồ mộc, trồng dâu nuôi tắm, đan lát,

làm bánh, đay, Tuy nhiên, vấn đề thị trường, nơi tiêu thụ, chất lượng

hàng hoá, tự do cạnh tranh gặp nhiều khó khăn Hiện nay lao động nữ

trong nóng nghiệp chiếm 60-70%, chủ hộ nông thôn là phụ nữ chiếm từ

20-30% Như vậy người phụ nữ ở nông thôn cực kì vất vả, họ là người lao

động chính phải lo từ cày bừa, giống vốn, kĩ thuật và toàn bộ các khâu

chăm sóc, ngoài ra còn chăn nuôi lợn, gà, chăm sóc con cái Thời gian lao

động trong ngày thường đến 12 giờ trong một ngày

Kinh tế hệ gia đình là tổng thể các hoạt động nhằm dem lại thu nhập cho cỉ hộ Kinh tế gia đình nhằm đem lại sự tồn tại và phát triển gia đình

Những nguồn thu từ lương CBCNV, sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp,

lâm nghiệp, các nghành nghề, các loại sản xuất và dịch vụ, bao gồm cả

các sản phẩm nhận khoán, gia công cho kinh tế quốc doanh, các trang

trai, hợp tác xã nhắm thoả mãn các nhu cầu ăn, mặc, học hành, chăm

sóc sức khoẻ, vui chơi giải trí, các hoạt động lễ hội Trong nhiều năm

tới kinh tế gia đình ở Việt Nam đang vươn dần trở thành cơ sở của:nền

\

Kinh tế quốc đân

Sự.phát triển kinh tế thị trường đã tạo ra những biến đổi sâu sắc về

chức năng kinh tế gia đình:

- Kinh tế hộ gia đình đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền

kinh tế quốc dân -

- Kinh tế gia đình đang gặp nhiều khó khăn về vốn, đầu tư khoa học

kĩ thuật tiên tiến, sản phẩm sản xuất ra có nhiều rủi ro như dịch bệnh

Nhiều làng quê xưa, nay đã và đang làm nhiều nghề truyền thống

như đệt, may, thêu, làm đồ mĩ nghệ, đồ mộc, trồng dâu nuôi tằm, đan lát, làm bánh, đay, Tuy nhiên, vấn đề thị trường, nơi tiêu thụ, chất lượng hàng hoá, tự do cạnh tranh gặp nhiều khó khăn Hiện nay lao động nữ trong nông nghiệp chiếm 60-70%, chủ hộ nông thôn là phụ nữ chiếm từ 20-30% Như vậy người phụ nữ ở nông thôn cực kì vất vả, họ là người lao động chính phải lo từ cày bừa, giống vốn, kĩ thuật và toàn bộ các khâu chăm sóc, ngoài ra còn chăn nuôi lợn, gà, chăm sóc con cái Thời gian lao động trong ngày thường đến 12 giờ trong một ngày

Kinh tế hộ gia đình là tổng thể các hoại động nhằm đem lại thu nhập

cho cả hộ Kinh tế gia đình nhằm đem lại sự tồn tại và phát triển gia đình

Những nguồn thu từ lương CBCNV, sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp, -

lâm nghiệp, các nghành nghề, các loại sản xuất và dịch vụ, bao gồm cả

các sản phẩm nhận khoán, gia công cho kinh tế quốc doanh, các trang trại, hợp tác xã nhằm thoả mãn các như cầu ăn, mặc, học hành, chăm sóc sức khoẻ, vui chơi giải trí, các hoạt động lễ hội Trong nhiều năm

tới kinh tế gia đình ở Việt Nam đang vươn dần trở thành cơ sở của-nền \

kinh tế quốc dân

Sự.phát triển kinh tế thị trường đã tạo ra những biến đổi sâu sắc về

chức năng kinh tế gia dinh:

- Kinh tế hộ gia đình đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân °

- Kinh tế gia đình đang gặp nhiều khó khăn về vốn, đầu tư khoa học

kĩ thuật tiên tiến, sản phẩm sản xuất ra có nhiều rủi ro như dịch bệnh

28

Trang 29

Các số liệu nghiên cứu khảo sát thực tiễn ở nhiều tỉnh và thành phố

trong cả nước của đề tài "Đánh giá nhu cầu của các vợ chồng trẻ Về xây

dựng mô hình gia đình trẻ Việt Nam phát triển bền vững theo chuẩn mực

“no ấm", "bình đẳng", "tiến bộ", "hạnh phúc” và "bền vững” do Viện

Nghiên cứu Thanh niên thực hiện năm 2004, Th.Sĩ Nguyễn Thị Bích

Điểm làm chủ nhiệm” cho thấy ba vấn để ưu tiên mà các vợ chồng trẻ

lựa chọn cần tập trung là:

- Phát triển kinh tế gia đình chiếm 81,3%

- Chăm sóc: giáo dục con cái chiếm 73.3%

- Củng cố các mối quan hệ gia đình chiếm 52,3%

Kinh tế hộ gia đình hiện nay đã thực sự góp phần quan trọng vào xoá

đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa, nông

nhàn ở nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội và cho gia

đình, vì vậy góp phần đáng kể vào sự tăng nhanh chóng thu nhập bình

quân đầu người tronp các hộ gia đình Theo điều tra mức sống dân cư

1997-1998 và kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002 của Tổng

cục Thống kê cho thấy: Tính chung mức chỉ tiêu bình quân đầu người của

dân cư Việt Nam đã tăng từ 1,3 triệu đồng năm 1993 lên 2,8 triệu đồng

năm 1998 và 3,2 triệu đồng năm 2002”) Từ sự tăng nhanh chóng thu

nhập bình quân đầu người của cư đân Việt Nam, cùng với mức sống của

mọi ngươi dân tăng lên đáng kể đã tác động trực tiếp đến các gia đình trẻ

hiện nay Theo kết quả khảo sát về những vấn đề bức xúc nhất hiện nay

về kinh tế gia đình của các cặp vợ chồng trẻ do Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích

lang

ong ong

ong

ống

lát, dng ini

1 tt

lao 1au lao lập

dựng mô hình gia đình trẻ Việt Nam phát triển bên vững theo chuẩn mực

"no ấm", "bình đẳng", "tiến bộ", "hạnh phúc” và "bền vững" do Viện Nghiên cứu Thanh niên thực hiện năm 2004, Th.Sĩ Nguyễn Thị Bích Điểm làm chủ nhiệm?” cho thấy ba vấn dé ưu tiên mà các vợ chồng trẻ

lựa chọn cần tập trung là:

- Phát triển kinh tế gia đình chiếm 81,3%

- Chăm sóc' giáo dục con cái chiếm 73.3%

- Củng cố các mối quan hệ gia đình chiếm 52,3%

Kinh tế hộ gia đình hiện nay đã thực sự góp phần quan trọng vào xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa, nông nhàn ở nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội và cho gia đình, vì vậy góp phần đáng kể vào sự tăng nhanh chóng thu nhập bình quân đầu người trong các hộ gia đình Theo điều tra mức sống dân cư 1997-998 và kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002 của Tổng cục Thống kê cho thấy: Tính chung mức chi tiêu bình quân đầu người của dân cư Việt Nam đã tăng từ 1,3 triệu đồng năm 1993 lên 2,8 triệu đồng năm 1998 và 3,2 triệu đồng năm 2002 Tir su tang nhanh chóng thu nhập bình quân đầu người của cư đân Việt Nam, cùng với mức sống của

‘moi ngươi dân tăng lên đáng kể đã tác động trực tiếp đến các gia đình trẻ hiện nay Theo kết quả khảo sát về những vấn để bức xúc nhất hiện nay

về kinh tế gia đình của các cặp vợ chồng trẻ do Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích -_ Điểm tổng kết ở bảng sau:

- Bảng 1: Những vấn đề bức xúc của các gia đình trẻ hiện nay

Trang 30

Thiéu von 52,4 | 34,3 | 11,6 1,8 3,37- 1 Thiéu von 52,4 34,3 | 11,6 1,8 3,37 |

Thiếu đất canl hiếu đất c :

kc an) 98,9 | 29,9] 345 | 67 | 281 | 5 2 | Lhiếu đấtcanh| eo |2oo| 345 | 67 | 281 | 5 tac

Các số liệu bảng trên cho thấy, kinh tế gia đình đang thực sự là sự:

quan tâm của các gia đình trẻ hiện nay, cao nhất tỉ lệ phần trăm là thiếu

vốn để làm ăn (52,4%) tiếp đến là thiếu hoặc không có việc làm, thu nhập

thấp (50,2%), thiếu kiến thức trong hoạt động kinh tế (29,6%) Toạ đàm

với nhóm các vợ chồng trẻ ở Võ Ninh - Quảng Bình là vùng nông thôn

cho thấy: Ở nông thôn hiện nay, do đa số là làm ruộng nên vấn đề kinh tế

là vấn đề bức xúc nhất trong các gia đình trẻ Ví dụ, trong các cặp vợ

chồng trẻ sau khi kết hôn thì thường không có vốn để làm ăn, hoặc có vốn

thì vốn cũng rất nhỏ, còn công việc ổn định thi chưa có, nên nhiều thanh

niên thường hay bỏ làng, xã đi làm ăn xa, hoặc đi lao động xuất khẩu, do

Các số liệu bảng trên cho thấy, kinh tế gia đình đang thực sự là sự quan tâm của các gia đình trẻ hiện nay, cao nhất tỉ lệ phần trăm là thiếu vốn để làm ăn (52,4%) tiếp đến là thiếu hoặc không có việc làm, thu nhập - thấp (50,2%), thiếu kiến thức trong hoạt động kinh tế (29,6%) Toạ đàm với nhóm các vợ chồng trẻ ở Võ Ninh - Quảng Bình là vùng nông thôn cho thấy: Ở nông thôn hiện nay, do đa số là làm ruộng nên vấn đề kinh tế

là vấn đề bức xúc nhất trong các gia đình trẻ Ví dụ, trong các cặp vợ

chồng trẻ sau khi kết hôn thì thường không có vốn để làm ăn, hoặc có vốn thì vốn cũng rất nhỏ, còn công việc ổn định thì chưa có, nên nhiều thanh niên thường hay bỏ làng, xã đi làm ăn xa, hoặc đi lao động xuất khẩu, do

Trang 31

đó hay xảy ra mâu thuần giữa hai vợ chồng” Trên 70% lực lượng lao

động trẻ nằm ở nông thôn, giải quyết việc làm cho lực lượng thanh niên

nông thôn cũng là một nhu cầu bức xúc của toàn xã hội

* Sự phân công lao động trong gia đình Theo số liệu điều tra của Nguyễn Linh Quân về quan hệ giới của gia đình nông thôn miền núi thuộc xã Cát Thịnh, huyện Chăn Yên, tính Yên

Bái, một xã nghèo thuộc miền núi phía Bác: Dân số có 7620 người

(6/2001) thuộc 1.645 hộ có 10 dân tộc sinh sống Kinh - 44.6%; Tày -

22,5%; Mông - 17,8%; Dao - 8%; Nùng - 5,5%; Thái I.3%; còn lại 0.3%

là các dân tộc Ê Đê, Xa Phang, Phù Lá, Cao Lan Về sản xuất và kinh

doanh chủ yếu là sản xuất và buôn bán dịch vụ Cát Thịnh sản xuất lúa

cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi Tất cả những người được hỏi

đều cho rằng tất cả các hoạt động kinh tế của gia đình thì cả nam và nữ

(vợ, chồng) đều tham gia Qua các ý kiến cho thấy: “Trong nông nghiệp

thì người đàn ông bao giờ cũng xốc vác các công việc nặng nhọc như:

cày, bừa, gánh phân, phun thuốc trừ sâu, phun thuốc trừ có, khi thu hoạch

thì vận chuyển, tuốt lúa Còn nữ đảm nhiệm các công việc nhẹ hơn: gieo

hạt, nhổ mạ, cấy, nhổ cỏ, gặt, phơi cất trữ, bảo quản và bán” (Phỏng vấn

chi Hoang Thi Nh dan toc Tày) Đối với trồng cây công nghiệp: "Nam

giới làm đất, phân cấp đất, phun thuốc trừ sâu, vận chuyển chè đi bán Nữ

làm chính: chăm sóc chè, mua phân, mua thuốc trừ sâu, hái chè Các công

việc không phân biệt được ai làm chính: trồng chè, bón phân (thảo luận

nhóm nam thôn Văn Hưng, dân tộc Kinh)

Khác với hoạt động sản xuất, hoạt động buôn bán dịch vụ ở Cát Thịnh chủ yếu do người phụ nữ thực hiện, sự tham gia của nam giới

không đáng kể: phỏng vấn sâu chị Nguyễn Thị M dân tộc Kinh "Kinh tế

nhà em đúng là một tay em làm thật, nhưng nếu không có ông chồng thì

một mình em không làm được Chả phải ông ấy làm giúp mình đâu Ông

giáo nhà em có biết giá cả gì đâu" Thảo luận nhóm nam thôn Ba Khe -

dân tộc Tày: "Nếu muốn giàu có, phải là chăn nuôi, trồng rừng và buôn

bán Biết buôn bán là giàu hơn nhưng không dám làm vì không có vốn,

không có điều kiện”

* Suv phân công lao động trong gia đình Theo số liệu điều tra của Nguyễn Linh Quân về quan hệ giới của gia

đình nông thôn miền núi thuộc xã Cát Thịnh huyện Chấn Yên tính Yên

Bái, một xã nghèo thuộc miền núi phía Bắc: Dân số có 7820 người (6/2001) thuộc 1.645 hộ có 10 dân tộc sinh sống Kinh - 44.6%; Tày - 22,5%: Mông - 17,8%; Dao - 8%; Nùng - 5,5%; Thái 1,3%; còn lại 0.3%

là các dân tộc Ê Đê, Xa Phang, Phù Lá, Cao Lan Vẻ sản xuất và kinh

- doanh chủ yếu là sản xuất và buôn ban dịch vụ Cát Thịnh sản xuất lúa, cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi Tất cả những người được hỏi

đều cho rằng tất cả các hoạt động kinh tế của gia đình thì cả nam và nữ

(vợ, chồng) đều tham gia Qua các ý kiến cho thấy: “Trong nông nghiệp thì người đàn ông bao giờ cũng xốc vác các công việc nặng nhọc như:

cày, bừa, gánh phân, phun thuốc trừ sâu, phun thuốc trừ có, khi thu hoạch thì vận chuyển, tuốt lúa Còn nữ đảm nhiệm các công việc nhẹ hơn: gico

hạt, nhổ mạ, cấy, nhé cd, gặt, phơi cất trữ, bảo quản và bán” (Phỏng vấn

chị Hoàng Thị Nh dân tộc Tày) Đối với trồng cây công nghiệp: "Nam giới làm đất, phân cấp đất, phun thuốc trừ sâu, vận chuyển chè đi bán Nữ làm chính: chăm sóc chè, mua phân, mua thuốc trừ sâu, hái chè Các công việc không phân biệt được ai làm chính: trồng chè, bón phân (thảo luận

nhóm nam thôn Văn Hưng, dân tộc Kinh)

Khác với hoạt động sản xuất, hoạt động buôn bán dịch vụ ở Cát Thịnh chủ yếu do người phụ nữ thực hiện, sự tham gia của nam giới

‘khong đáng kể: phỏng vấn sâu chị Nguyễn Thị M dân tộc Kinh “Kinh tẾ nhà em đúng là một tay em làm thật, nhưng nếu không có ông chồng thì một mình em không làm được Chả phải ông ấy làm giúp mình đâu Ông xiáo nhà em có biết giá cả gì đâu" Thảo luận nhóm nam thôn Ba Khe - dân tộc Tày: "Nếu muốn giàu có, phải là chãn nuôi, trồng rừng và buôn bán Biết buôn bán là giàu hơn nhưng không dám làm vì không có vốn,

l;không có điều kiện”

Trang 32

Việc tiếp cận nguồn lực chủ yếu do người chồng (nam giới) Theo

cán bộ xã thì người đứng tên số đỏ đất đai (mặc dù chưa cấp), số chính,

các giấy tờ về gia đình chủ hộ hầu như là nam giới, chủ hộ nữ không

dáng kể

Tóm lại, trong sản xuất kinh doanh, vai trò chủ đạo phần lớn là ở

người chồng, nam giới trong gia đình Đối với xã miền núi nghèo thì vấn

để thiểu vốn, thiếu các phương tiện, thiết bị kĩ thuật máy móc, thậm chí

thiếu đất canh tác, thiếu kiến thức về sản xuất kinh doanh càng trở nên

bức xúc:

Trong chức năng kinh tế gia đình, còn một khía cạnh khác là chức

năng tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá do lao động xã hội sản xuất ra

Hàng hoá của xã hội bán ra được các gia đình mua sắm; sức mua của dân

mạnh thì mới kích thích được sản xuất phát triển Kinh tế gia đình phát

triển (đân có giàu thì nước mới mạnh), mức sống được nâng cao sẽ là

tt

động lực thúc dấy nên Kinh tế toàn xã hội phát triển

Cùng với đời sống tình cảm trong các quan hệ xã hội ở gia đình thì

Kinh tế gia định là một trong những yếu tố vật chất có ý nghĩa quan trọng

đảm bảo sự "no ấm” "ổn định" "bền vững” và "hạnh phúc” của gia đình

Chức năng này đảm bảo cho sự tổn tại và phát triển của gia đình

thông qua sự đóng góp về kinh tế của các thành viên Sư tồn tại kinh tế

của gia đình dược da ai mặt hoạt động: một là hoạt động kinh

tế để dem lại thu nhập cho gia đình (có thể là ngân sách do tác thành viên

trống gia đình đóng góp hoặc một hoặc một số thành viên cung cấp

nguồn tài chính nhưng tất cả đều có sự gắn bó, liên kết về mặt vật chất);

hai là tiêu dùng các giá trị vật chất của xã hội Trên thực tế hai mặt này là

một bởi lẽ không xuất hiện nhu cầu tiêu dùng thì cũng không có đòi hỏi

phải hoạt động kinh tế

Chức này cũng bao gốm các chức năng khác như: nuôi con, chăm

sóc người già và các thành viên không có khả năng lao động, v.v Tuy

nhiên, trong nhiều trường hợp các chức này được đảm bảo bởi xã hội

thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội và các tổ chức y tế cộng đồng như ở

các nước phương Tây 2

32

—ở

Việc tiếp cận nguồn lực chủ yếu do người chồng (nam giới) Theo

cán bộ xã thì người đứng tên số đỏ đất đai (mặc dù chưa cấp), số chính,

các giấy tờ về gia đình chủ hộ hầu như là nam giới, chủ hộ nữ không

Chức năng này đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia đình

thông qua sự đóng góp về kinh tế của các thành viên Sự tồn tại kinh tế

hai là tiêu dùng các giá trị vật chất của xã hội Trên thực tế hai mặt này là một, bởi lẽ không xuất hiện nhu cầu tiêu dùng thì cũng không có đòi hỏi phái hoạt động kinh tế

Chức này cũng bao gồm các chức năng khác như: nuôi con, chăm

#óc người già và các thành viên không có khả năng lao động, v.v Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các chức này được đảm bảo bởi xã hội thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội và các tổ chức y tế cộng đồng như ở các nước phương Tây

32

Trang 33

HH CHUC_NANG THOA MAN CAC _NHU CAU TAM - SINH Li CHO CAC

THANH VIEN TRONG GIA ĐÌNH

1 Nhu câu là những đòi hỏi tất yếu hợp quy luật của cá nhân để

tôn tại và phát triển cá nhân theo yêu cầu đòi hỏi của xã hội đương thời

- Nhu cầu của con người được xuất hiện khi cơ thể cá nhân ở trạng

+ Mất cân bang vé trang thai sinh If - xuat hién cdc nhu cau sinh lí

nhu thiéu dudng chat xuat hién nhu cau dinh dưỡng (thèm an một thức ăn

nào đó) Cơ thể thiếu nước xuất hiện nhu cầu uống nước

+ Mất cân bằng về giao tiếp xã hội - xuất hiện nhu cầu nhận thức bản thân, nhu cầu nhận thức vẻ người khác (người khác giới) nhu cầu hợp tác

nhu cầu hoà nhập vào các nhóm xã hội

+ Mất cân bằng về tâm lí (tình cảm, nhận thức, quyền lực, yêu

thương ) con người có nhu cầu ham muốn, tìm tòi cái mới để thoả mãn

nhu cầu nhận thức |

2 Nhu cầu có những đặc điểm sau

- Tính đối tượng của nhu cầu, nhu cầu nào cũng hướng đến một dối tượng xác định Ví dụ: Nhu cầu dinh dưỡng sẽ hướng tới một loại lương

thực, thực phẩm nào đó, (ăn cơm, ăn phở, an bánh, hoa quả, ); nhu cầu

gắn bó, giao tiếp với ai, phải có một người cụ thể để thoả mãn nhu cầu gắn

bó, giao tiếp, ví dụ: Đứa trẻ năm đầu, mẹ là đối tượng để thoả mãn nhu cầu

gắn bó, giao tiếp

- Phương tiện thoả mãn nhu câu: Các cá nhân muốn chiếm lĩnh đối tượng thì nhu cầu mới được thoả mãn Ví dụ: Muốn ăn cơm phải dùng

thìa, đũa bát, muốn có cơm phải cày, bừa, cấy trồng lúa mới có thóc

muốn có gạo để nấu cơm phải có máy xay, sát lúa thì mới có gạo Muốn

thoả mãn nhu cầu nhận thức thì các ðiác quan mắt, tai, xúc giác (da, đôi

bàn tay, ) mũi, lưỡi phải thính, tính nhạy Sách, báo, tạp chí, các

phương tiện thông tin đại chúng (tivi, radio, máy vi tính, ) đó là các

phương tiện giúp con người thoả mãn nhu cầu nhận thức

- Khả năng lợp tác với những người xung quanh: Để thoả mãn bất kì một nhu cầu nào của cá nhân, cá nhân đó phải biết hợp tác với những

người xung quanh Muốn được bú mẹ no nê đứa trẻ phải biết hợp tác với

mẹ (phương tiện hợp tác ban đầu là tiếng khóc, tay chân cử động, tiếp

theo là các phản ứng hành vi xúc cảm biểu cảm trên nét mặt, phản ứng

HE CHUC NANG THOA MAN CAC NHŨU CẤU TÂM - SINH LÍ CHO CÁC

THANH VIÊN TRÔNG GIA ĐÌNH

1 Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu hợp quy luật của cá nhân để tôn tại và phát triển cá nhân theo yêu cầu đòi hỏi của xã hội đương thời

+ Mất cân bằng về giao tiếp xã hội - xuất hiện nhủ cầu nhận thức bản thân, nhu cầu nhận thức về người khác (người khác giới) nhu cầu hợp tác nhu cầu hoà nhập vào các nhóm xã hội

+ Mất cân bằng về tâm lí (nh cảm, nhận thúc, quyền lực, yêu thương ) con người có nhu cầu ham muốn, tìm tòi cát mới để thoả mãn nhu cầu nhận thức

2 Nhu cầu có những đặc điểm sau

- Tính đối tượng của nhu cầu, nhu cầu nào cũng hướng đến một dối tượng xác định Ví dụ: Nhu cầu dinh dưỡng sẽ hướng tới một loại lương

- thực, thực phẩm nào đó, (ăn cơm, ăn phở, ãn bánh, hoa quả, ); như cầu

gắn bó, giao tiếp với ai, phải có một người cụ thể để thoả mãn nhu cầu gắn

bó, giao tiếp, ví dụ: Đứa trẻ năm đầu, mẹ là đối tượng để thoả mãn nhu cầu

gắn bó, giao tiếp

- Phương tiện thoả mãn nhụ cầu: Các cá nhân muốn chiếm lĩnh đối tượng thì nhu cầu mới được thoả mãn Ví dụ: Muốn ăn cơm phải dùng thìa, đũa, bát, muốn có cơm phải cày, bừa, cấy trồng lúa mới có thóc, muốn có gạo để nấu cơm phải có máy xay, sát lúa thì mới có gạo Muốn thoả mãn nhu cầu nhận thức thì các Šiác quan mắt, tai, xúc giác (da, đôi bàn tay, ) mũi, lưỡi phải thính, tỉnh nhạy Sách, báo, tạp chí, các phương tiện thông tin đại chúng (tivi, radio, máy vị tính, ) đó là các phương tiện giúp con người thoả mãn nhu cầu nhận thức

- Khả năng hợp tác với những người xung quanh: Để thoả mãn bất kì

một nhu cầu nào của cá nhân, cá nhân đó phải biết hợp tác với những

người xung quanh Muốn được bú mẹ no nê đứa trẻ phải biết hợp tác với

mẹ (phương tiện hợp tác ban đầu là tiếng khóc, tay chân cử động, tiếp theo là các phản ứng hành vị xúc cảm biểu cảm trên nét mặt, phản ứng

,

33

Trang 34

hanh vi toan than, tu thế, rồi đến ngôn ngữ nói) Muốn thoả mãn nhu

cầu gắn bó, giao tiếp với bạn đời, phải biết thể hiện bằng nét mặt các

phản ứng hành vi xúc cảm, biểu cảm yêu thương, trìu mến; phải biết nói

những điều thân thiết, yêu thương để đối tượng cảm nhận chính xác nhu

cầu cần gì, muốn gì

- Nhu cầu của cá nhân phụ thuộc vờo các điều kiện tự nhiên và xã

hội chỉ phối, phải nhận thức được các quy luật tự nhiên và xã hội thì nhu

cầu của cá nhân mới được thoả rnãn hợp lí Sự phát triển cá nhân trong

gia đình và xã hội có nhiều tiêu chí xác định Song có một tiêu chí quan

trọng là sự phát triển nhận thức (cá nhân phải lĩnh hội và sử dụng được

các tri thức, hiểu biết của loài người, cộng đồng xã hội) để điều chỉnh,

điều khiển hành vi, hoạt động thoả mãn nhu cầu hợp lí cho mình

- Nhu câu cá nhân phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính, giáo dục gia

đình, nghề nghiệp, frình độ nhận thức do vậy, những đòi hỏi thoả mãn

nhu cầu mang tính cá nhân cao Cũng là nhu cầu ăn, nhưng có người ăn

đơn giản, nhưng cũng có người đòi hỏi sự cầu kì về món ăn, bữa ăn,

không khí tâm lí trong khi ăn to

- Nhu cầu của cá nhân liên tục được phát triển ngay từ trong ©

phương thức tổ chức cuộc sống gia đình, đến cộng đồng xã hội Hướng -

phát triển của nhu cầu theo đối tượng (phạm vi đối tượng thoả mãn nhu

cầu) ngày càng nhiều, đa dạng phong phú (từ bú sữa mẹ đến ăn cơm,

bánh, bún, phở, miến, mì sợi, ) theo phương tiện (từ bằng tay, đến sử

dụng các phương tiện công cụ trung gian) như : từ bóc cam đến gọt cảm,

bằng tay, bằng dạo, đến cho vào máy quay sinh tố để uống nước cam

Tất cả những đặc điểm thoả mãn nhu cầu cá nhân đều được hình

thành và phát triển từ gia đình, Tất cả các phương thức thoả mãn nhu

cầu cá nhân mang tính xã hội hiện đại (đương thời) hoặc không hiện đại

(truyền thống) đều được hình thành từ gia đình Do xậy, nhân cách

gốc của mỗi cá nhân được hình thành từ gia đình |

Trong tất cả các loại nhu cầu cơ bản của con người như nhu cầu

dinh dưỡng (ăn, uống đủ các dưỡng chất); nhu cầu gắn bó - giao tiếp;

nhu cầu xúc cảm, biểu câm; nhu cầu nhận thức; nhu cầu vận động (vui

chơi học tập và lao động); nhu cầu.an toàn đều được hình thành và

phát triển từ gia đình Nhiều nhà khoa học phân ra làm hai loại để

nghiên cứu sâu về nhu cầu, căn cứ vào đối tượng thoả mãn nhu cầu

chúng ta có: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh than -

hành vi toàn thân, tư thế, rồi đến ngôn ngữ nói) Muốn thoả mãn nhu cầu gắn bó, giao tiếp VỚI ¡ bạn đời, phải biết thể hiện bằng nét mặt các phản ứng hành vi xúc cam, biểu cảm yêu thương, tru mến; phải biết nói những điều thân thiết, yêu thương để đối tượng cảm nhận chính xác nhu cầu cần gì, muốn gì

- Như cầu của cá nhân phụ thuộc vào các diéu kiện tự nhiên và xế hội chỉ phối, phải nhận thức được các quy luật tự nhiên và xã hội thì nhu

cầu của cá nhân mới được thoả rnãn hợp lí Sự phát triển cá nhân trong

gia đình và xã hội có nhiều tiêu chí xác định Song có một tiêu chí quan trọng là sự phát triển nhận thức (cá nhân phải lĩnh hội và sử dụng được các tri thức, hiểu biết của loài người, cộng đồng xã hội) để điều chỉnh, điều khiển hành vi, hoạt động thoả mãn nhu cầu hợp lí chò mình

- Nhu cdu cá nhân phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính, giáo đục gia đình, nghề nghiệp, frình độ nhận thúc do vậy, những đòi hỏi thoả mãn nhu cầu mang tính cá nhân cao Cũng là nhu cầu ăn, nhưng có người ăn đơn giản, nhưng cũng có người đòi hỏi sự cầu kì về món ăn, bữa ăn, không khí tâm lí trong khi ăn

- Nhu cầu của cá nhân liên tục được phát triển ngay từ trong phương thức tổ chức cuộc sống gia đình, đến cộng đồng xã hội Hướng phát triển của nhu cầu theo đối tượng (phạm vi đối tượng thoả mãn nhu cầu) ngày càng nhiều, đa dạng phong phú (từ bú sữa mẹ đến ăn cơm, bánh, bún, phở, miến, mì sợi, ) theo phương tiện (từ bằng tay, đến sử dụng các phương tiện công cụ trung gian) như : từ bóc cam đến gọt cảm, bằng tay, bằng dạo, đến cho vào máy quay sinh tố để uống nước cam

Tất cả những đặc điểm thoả mãn nhu cầu cá nhân đều được hình thành và phát triển từ gia đình Tất cả các phương thức thoả mãn nhu cầu cá nhân mang tính xã hội hiện đại (đương thời) hoặc không hiện đại (truyền thống) đều được hình thành từ gia đình Do xậy, nhân cách gốc của mỗi cá nhân được hình thành từ gia đình

Trong tất cả các loại nhù cầu cơ bản của con người như nhu cầu

dinh dưỡng (ăn, uống đủ các dưỡng chất); nhu cầu gắn bó - giao tiép;

nhu cầu xúc cảm, biểu cảm; nhu cầu nhận thức; nhu cầu vận động (vui chơi học tập và lao động); nhu cầu.an toàn đều được hình thành và phát triển từ gia đình Nhiều nhà khoa học phân ra làm hai loại để nghiên cứu sâu về nhu cầu, căn cứ vào đối tượng thoả mãn nhu cầu chúng ta có: nhu cầu vật chất và nhu cầu tĩnh thần

34

Trang 35

Nhu cầu vật chất hướng đến các đối tượng vật chất để thoả mãn

nhu cầu như: cơm ăn, nước uống, quần áo mặc, nhà ở, xe CO

Nhu cầu tỉnh thần hướng đến các đối tượng phi vật chất mang tính xã hội như nhu cầu nhận thức (đối tượng, là tri thức khoa học), tín ngưỡng, tình

cảm, quyền lực, tự khẳng định mình, hoà nhập, hợp tác

Ngoài các nhu cầu vật chất thì nhu cầu tĩnh thần (nhụ cầu về tam If)

6 gia đình trong xã hội hiện đại ngày càng phong phú, da dang - xuat

phát từ xu hướng quy mô gia đình nhỏ (hạt nhân) ngày càng phát triển

mạnh, trình độ dân trí ngày càng nâng cao, tạo điều kiện thúc đẩy quá

trình dân chủ trong gia đình và khẳng định tự do cá nhân Theo đó sự

đáp ứng nhu cầu tâm lí, tình cảm cho các thành viên trong gia đình ngày

càng trở nên bức xúc

+ Khi các nhu cầu vật chất như ăn, uống, mặc, nhà ở đã được thoả mãn, thậm chí có nhiều gia đình ở mức sống khá giả thì nhu cầu tinh

thần, tâm lí, tình cảm lại càng phát triển, nhiều khi bố mẹ và con cái

không hiểu nhau; vợ chồng rất lúng túng vì không biết lam thé nao dé dap

ứng và thoả mãn cho nhau (thiếu sự hiểu biết cần thiết để duy trì và phát

triển sự hoà hợp bền vững về tâm lí, tình cảm cho nhau) về tình cảm

+ Đất nước ta từ một nước nghèo đi lên, đang thời kì phát triển kinh tế _ xã hội nhanh chóng, trong khi đó nhiều cách giao tiếp, ứng xử, chăm sóc,

đáp ứng các nhu cầu tinh thần, tâm lí tình cảm cho nhau còn nhiều lúng

túng Ví dụ: Nếu con đói thì cha mẹ cuống quýt mua bánh, cơm, mì sợi

đáp ứng ngay; nhưng con cần cha mẹ quan tâm chia sẻ sự thành công hay

thất bại trong học hành thì cha mẹ lại nói là không có thời gian Trò chuyện

cùng con cái trong gia đình, theo nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích

Diểm thì có đến 58,1% các cặp vợ chồng trẻ cho rằng thiếu thời gian,

không có thời gian để chăm sóc, giáo dục con cái (nghĩa là chưa đáp ứng

được các nhu cầu tình cảm và tâm lí cho con)

- Trong nhiều nhu cầu của.vợ, chồng thì nhu cầu sinh lí được quan tâm đặc biệt Nhu cầu sinh lí, tình dục được một số nhà khoa học Nga

(A.Bédaliov, ) Anh (Aries Tony Bilton, Kenvin Bonnett, Philip

Jones; Michelle Stanworth, ) coi oi như là một chức năng của _gia đình -

chức năng tính dục, hay là giao hợp đều đặn để đảm bảo thụ thai’,

hoặc các nhà tâm lí học xã hội Mi thi cor lã chúc nang điều iêu chỉnh

Ngoài các nhu cầu vật chất thì nhu cầu tỉnh thần (nhu cầu về tâm lí)

ở gia đình trong xã hội hiện đại ngày càng phong phú, đa đạng - xuất phát từ xu hướng quy mô gia đình nhỏ (hạt nhân) ngày càng phát triển mạnh, trình độ dân trí ngày càng nâng cao, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình dân chủ trong gia đình và khăng định tự do cá nhân Theo đó sự đáp ứng nhu cầu tâm lí, tình cảm cho các thành viên trong gia đình ngày càng trở nên bức xúc

+ Khi các nhu cầu vật chất như ăn, uống, mặc, nhà ở đã được thoả mãn, thậm chí có nhiều gia đình ở mức sống khá giả thì nhu cầu tỉnh thần, tâm lí, tình cảm lại càng phát triển, nhiều khi bố mẹ và con cái không hiểu nhau; vợ chồng rất lúng túng vì không biết làm thế nào để đáp

ứng và thoả mãn cho nhau (thiếu sự hiểu biết cần thiết để duy trì và phát

triển sự hoà hợp bền vững về tâm lí, tình cảm cho nhau) về tình cảm

+ Đất nước ta từ một nước nghèo đi lên, đang thời kì phát triển kinh tế

- xã hội nhanh chóng, trong khi đó nhiều cách giao tiếp, ứng xử, chăm sóc, đáp ứng các nhu cầu tinh thần, tâm lí tình cảm cho nhau còn nhiều lúng túng Ví dụ: Nếu con đói thì cha mẹ cuống quýt mua bánh, cơm, mì sợi đáp ứng ngay; nhưng con cần cha mẹ quan tâm chia sẻ sự thành công hay thất bại trong học hành thì cha mẹ lại nói là không có thời gian Trò chuyện cùng con cái trong gia đình, theo nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Điểm thì có đến 58,1% các cặp vợ chồng trẻ cho rằng thiếu thời gian, không có thời gian để chăm sóc, giáo dục con cái (nghĩa là chưa đáp Ứng được các nhu cầu tình cảm và tâm lí cho con)

- Trong nhiều nhu cầu của vợ, chồng thì nhu cầu sinh lí được quan tâm đặc biệt Nhu cầu sinh lí, tình dục được một số nhà khoa học Nga

(A.Bédaliov, ) Anh (Aries Tony Bilton, Kenvin Bonnett, Philip

Jones; Michelle Stanworth, ) coi như là mộ là một chức nãng của gia đình -

chức năng tính dục, hay là giao hợp đều đặn để đảm bảo thụ thai’,

hoặc cá các nhà tâm lí học xã hội Mi thĩ cøi lä chức năng điều lêu chỉnh

“ Tony Bilton, Kenvin Bonnett Nhap mon xa héi hoc NXB Khoa hoc xa hoi 1963 tr 236

Trang 36

hành vi giới Nhiều nghiên cứu cho thấy quan hệ vợ chồng thì nhu

cầu quan hệ tình dục không thể thiếu được, thiếu nó sẽ không thành vợ

chồng Trong.sinh hoạt vợ chồng cần có hiểu biết về "Văn hoá tình dục: ,

"Đạo đức tình dục" nhằm duy trì sự hoà hợp tình dục vợ chồng,

- Nguyên tắc cơ bản của “Đạo đức tình dục là sự thống nhất trong

tình yêu, quan hệ vợ chồng bình đăng, đẳng, chung sống hoà vn không làm”

tổn hại hạnh phúc của người khác, ic, khong làm tổn hại sú khoẻ của thế

hệ sau, không tổn hại cho si sự ổn định xã hội Sự thông đâm, mai dam

sinh hoạt tình dục ngoài hôn nhân, sinh hoạt tình dục trước khi kết hôn

dưới mọi hình thức đều là không phù hợp với nguyên tác đạo đức xã hội

- Sự hoà hợp tình dục - Là sự sinh hoạt tình dục đạt đến cực khoái,

cả hai đều cảm thấy thoả mãn Sự hoà hợp tình duc là mot trong nhiều

yếu fố cơ bản nhằm tăng cường, củng cố và phát triển tình cảm vợ

chồng Sự hoà hợp tình dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Hai vợ chồng

trong trạng thái vui vẻ, thần kinh của vợ chồng ở trạng thái hưng phấn tốt

nhất; môi trường thích hợp (tạo cảm giác an íoàn); tôn trọng, quan tâm

lân nhau; cần chú ý điều hoà khi giao hợp nam bị kích thích sớm hơn nữ;

tranh thủ để đồng thời cả hai đạt cực khoái; không nên coi thường giai

đoạn suy thoái (duy trì khoảng thời gian để âu yếm, vuốt ve, ôm ấp và nói

chuyện thân mật với nhau); số lần giao hợp thích hợp để hai bên đều có

hứng thú đạt được sự thoả mãn, sinh hoạt tình dục xuất phát từ tình cảm,

tự nhiên, không thể là thủ đoạn đề đạt các mục đích khác

Nhiều thành tựu y học, tâm lí học đã chứng minh tình dục là bản

năng sinh vật của con người có từ khi bắt đầu có sự sống, là nội dung tất

yếu trong cuộc sống sinh hoạt của con người, đặc biệt ở giai đoạn tình

yêtr-ồn nhân và cuộc sốt sống gia đình trong quan Rẹ vợ chỏng Cuộc sống

hea hop tinh duc 1a nén tang vững chắc của -6a-dinh, phat trién

vã Bến vững, hạnh phúc hae

"Nghiên cứu y học, tâm lí học, sinh lí học hiện đại đã chứng mình

nhân cách của tình dục được kiến lập trên cơ sở hệ thống liên quan mật

thiết của ba điểm: thần kinh tự động, nội tiết và à đại não, đó cũng là "chủ

hoặc bị áp chế tình dục sẽ dân tới không chỉ đau ốm; bệnh tật về sinh lí

mà về tâm lí cũng sẽ tạo nên sự dẫn vặt, trăn trở, lo Jang "cdi toi", con

"Đạo đức tình dục” nhằm duy trì sự hoà hợp tình dục vợ chồng

- Nguyên tắc cơ bản của "Đạo đức tình dục” là sự thống nhất trong TƯ TT TT AT

tình yêu, quan hệ vợ chồng bình | dang, chung sống hoà hợp, khong làm”

dưới mọi hình thức đều là không phù hợp với nguyên tắc đạo đức xã hội

- Sự hoà hợp tình dục - Là sự sinh hoạt tình dục đạt đến cực khoái,

cả hai đều cảm thấy thoả mãn Sự hoà hợp tình dục là một trong nhiều yếu tố cơ bản nhằm tăng cường, củng cố và phát triển tình cảm vợ

chồng Sự hoà hợp tình dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Hai vợ chồng trong trạng thái vui vẻ, thần kinh của vợ chồng ở trạng thái hưng phấn tốt nhất; môi trường thích hợp (tạo cảm giác an toàn); tôn trọng, quan tâm

lẫn nhau; cần chú ý điều hoà khi giao hợp nam bị kích thích sớm hơn nữ;

tranh thủ để đồng: thời cả hai đạt cực khoái; không nên coi thường giai

đoạn suy thoái (duy trì khoảng thời gian để âu yếm, vuốt ve, ôm ấp và nói chuyện thân mật với nhau); số lần giao hợp thích hợp để hai bên đều có hứng thú đạt được sự thoả mãn, sinh hoạt tình dục xuất phát từ tình cảm,

tự nhiên, không thể là thủ đoạn để đạt các muc dich khac ,

Nhiều thành tựu y học, tâm lí học đã chứng minh tình dục là bản nang sinh vật của con người có từ khi bất đầu có sự sống, là nội dung tất yếu trong cuộc sống sinh hoạt của con người, đặc biệt Ở giai đoạn tình

vêu; hồn nhân và cuộc sống gia đình trong quan hệ vợ ch Tỏng Cuộc số ống

-phát-triển hea op tinh duc là nên tang viing chac cua

ế u aI ộc sống tình dục hoặc bị áp chế tình dục sẽ dẫn tới không chỉ đau ốm, ' bệnh tật về sinh lí

mà về tâm lí cũng sẽ tạo nên sự dẫn vặt, trăn trở, lo lắng "cái tôi”, còn

Trang 37

hu

nguor yeu cuộc sống hãy coi trọng cuộc sống tình dục của chính mình”

xuất hiện chứng thần kinh mẫn cảm mất thăng bằng trong nội tiết, Con

2 | mau thuẫn bất 33,3 21,5 23,0 22,2 2,66 2

hoa

Cac thanh vién

3 | thờơ không quan | 29,0° | 25,4 | 28,1 17,5 2,66 3

—- Với những số liệu trên, sự không hoà hợp tình dục, hay nói một

cách khác là không hợp nhau trong quan hệ vợ chồng dan dén li hon, hi

thân là điều khó tránh khỏi Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm

_1999, tỉ lệ l¡ hôn trong dân số từ 13 tuổi trở lên là 0,7%, trong đó nam là

23,92%, nữ là 76,08%, so với thế giới thì tỉ lệ li hôn ở nước ta thấp hơn

nhiều Trong số các nguyên nhân li hôn, thì nguyên nhân do "mâu thuần

gia đình, bị đánh đập ngược đãi" chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp đến là nguyên

người yêu cuộc sống hãy coi trọng cuộc sống tình dục của chính mình”

- Trong đời sống thường nhật, sự không hoà hợp tình dục được hiểu đạt bằng cụm từ "không hợp nhau" Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị

Bích Điểm về những vấn đề bức xúc của các gia đình trẻ hiện nay trọng

Gia dinh hay

2 | mau thuần bat 33,3 21,5 23,0 22,2 2,66 2

hoa

Cac thanh vién

3 | thờ ơ không quan | 29,0’ 25,4 28,1 17,5 2,66 3 tam dén nhau

4 wpe tôn trọng 291 | 2443 23,6 23,0 2,59 4

5 Thiểu bình dang 26.4 23,3 27,1 23,3 2,93 5 trong gia dinh

Với những số liệu trên, sự không hoà hợp tình dục, hay nói một

cách khác là không hợp nhau trong quan hệ vợ chồng dẫn đến li hôn |i thân là điều khó tránh khỏi Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm

1999, tỉ lệ l¡ hôn trong dân số từ 12 tuổi trở lên là 0,7%, trong đó nam là

23,92%, nữ là 76,08%, so với thế giới thì tï lệ li hôn ở nước ta thấp hơn

nhiều Trong số các nguyên nhân li hôn, thì nguyên nhân do “mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập ngược đãi" chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp đến là nguyên

Trang 38

SÓC lẫn nhau, thoả mãn nhu cầu tình cảm cho-nhau Đối với trẻ tuổi

càng nhỏ thì thời gian chăm sóc, cung cấp sự yêu thương, trìu mến, vỗ

về, gắn B6 cảng nhiều bấy nhiêu Đối với vợ chồng, nhu cầu

những buồn vui trong sự nghiệp trong quan hệ gia đình ri cơm an,

nước uống vậy Chuyện Lỗ Ban, ông tổ nghề Mộc (Trung Quốc), có lần

ông đứng ra chủ trì xây dựng nhà khách, do một chút sơ suất, ông nhớ

nhầm kích thước, thành ra cắt hụt mất một loạt cột trụ bằng gỗ quý

Long não thơm Ông hết sức bối rối, một là không có tiền đền, hai là cứ

cho 1a dén được thì cũng chẳng biết mua ở đâu, nếu chủ nhân biết

chuyện sẽ quở trách ông, thậm chí kiện ông ra toà, khiến ông phải ngồi

tù Lỗ Ban lo lắng đến mất ăn, mất ngủ, bà vợ biết chuyện liền an ủi

chồng: "Việc đó có gì mà ông phải lo sốt vó như thế, ông xem, tôi người

hơi lùn, tôi đã nghĩ cách đệm thêm miếng gỗ dưới đế giày, cài thêm

chùm hoa hoặc trâm bằng ngọc trên búi tóc, thì có vẻ cao bằng người _

khác đấy thôi!" Từ gợi ý đó, Lỗ Ban cho kê dưới chân cột những viên

đá tảng hình tròn màu trắng, trên đầu cột kê bằng tổ hợp điêu khắc hoa,

lá, chim muông, không những sơ suất của ông được xử lí êm thấm mà

tiếng tăm của ông cũng được nâng cao”, và cũng từ đó vợ chồng gắn bó

yêu thương nhau hơn

"Tổ ấm gia đình" một khái niệm đời thường, xa xưa, nhưng nó chứa

dung một nội dung tình cảm rõ nét, nơi đây mọi thành viên được thoả

mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần ở mức tối đa; nơi đây cảm giác

ăn toàn được đảm bảo chính nơi đây là không gian thuộc quyển sở hữu riêng của các thành viên trong gia đình Nơi đây ý thức con người được

hình thành và phát triển; cái ấm áp trong

trong miùa ñẽ oi nồng được gia đình thoả mãn

—- Sau một ngày làm việc mệt nhọc ở nhà máy, xí nghiệp, cơ quan,

ngoài cánh đồng người ta được nghỉ ngơi, thư giãn tại gia đình

- Tất cả sự căng thẳng trong quan hệ người ở nơi làm việc, ngoài

đường , gia đình sẽ làm cho họ được bình tâm, yên tinh, diu đi

- Những nhu cầu cơ bản nhất như ăn, ở, nghỉ ngơi được thoả mãn

một cách triệt để nhất ở gia đình một cách rất riêng tư

sóc lẫn nhau, thoả mãn nhu cầu tình cảm cho nhau Đối vớt trẻ em tuổi

càng nhỏ thì thời sian cham sóc, cung cấp su ƒ yêu thương, trìu mến, vỗ

những Buốn vui trong sự nghiệp trong “athe aia dint nhạc com an

nướt uống vậy Chuyện Lỗ Ban, ông tổ nghề Mộc (Trung Quốc), có lần

ông đứng ra chủ trì xây dựng nhà khách, do một chút sơ suất, ông nhớ

nhầm kích thước, thành ra cắt hụt mất một loạt cột trụ bằng gỗ quý Long não thơm Ông hết sức bối rối, một là không có tiền đền, hai là cứ

cho là đến được thì cũng chẳng biết mua ở đâu, nếu chủ nhân biết chuyện sẽ quở trách ông, thậm chí kiện ông ra toà, khiến ông phải ngồi

tù Lỗ Ban lo lắng đến mất ăn, mất ngủ, bà vợ biết chuyện liền an ủi chồng: "Việc đó có gì mà ông phải Ìo sốt vó như thế, ông xem, tôi người

hơi lùn, tôi đã nghĩ cách đệm thêm miếng gỗ dưới đế giày, cài thêm chùm hoa hoặc trâm bằng ngọc trên búi tóc, thì có vẻ cao bằng người khác đấy thôi!" Từ gợi ý đó, Lỗ Ban cho kê dưới chân cột những viên

đá tảng hình tròn màu trắng, trên đầu cột kê bằng tổ hợp điêu khắc hoa,

lá, chìm muông, không những sơ suất của ông được xử lí êm thấm mà tiếng tăm của ông cũng được nâng cao”, và cũng từ đó vợ chồng gắn bó yêu thương nhau hơn

"Tổ ấm gia đình" một khái niệm đời thường, xa xưa, nhưng nó chứa

đựng một nội dung tình cảm rõ nét, nơi đây mọi thành viên được thoả, mãn r n những nhu | Cầu vật chất và tinh than Ở mức tối đa; nơi đây cảm giác

- Sau một ngày làm việc mệt nhọc ở nhà máy, xí nghiệp, cơ quan,

ngoài cánh đồng người ta được nghỉ ngơi, thư giãn tại gia đình

- Tất cả sự căng thẳng trong quan hệ người ở nơi làm việc, ngoài đường , gia đình sẽ làm cho họ được bình tâm, yên tính, dịu đi

- Những nhu cầu cơ bản nhất như ăn, ở, nghỉ ngơi được thoả mãn một cách triệt để nhất ở gia đình một cách rất riêng tư |

Trang 39

- Những nhu cầu tỉnh thần như nhận thức, giao tiếp, học tập mot

phần cơ bản được hình thành và phát triển từ gia đình

"Tổ ấm gia đình" như một bến lớn để tàu thuyền cập bến tránh gió, bão, giông tố về với gia đình, những kỉ niệm thơ ấu được gợi lên Thậm

chí có những người còn có nhu cầu "ấ

toàn được xuất hiện mãi sau này

“ Trong nghiên cứu của chúng tôi, cháu Trinh T.T sinh được 4 tháng

đem cho một gia đình ở Hà Tây làm con nuôi, gia đình bố mẹ nuôi làm

pháo nhân dịp tết, không may bị hoả hoạn, cháu bị thương đem về bệnh

viện nhi Thuy Điển cứu chữa, cùng với vết thương là bệnh viêm phế quản

Một đêm ở bệnh viện, hai bệnh kết hợp đưa cháu đến trạng thái "ngất

lịm", bác sĩ cho là cháu đã chết, yêu cầu gia đình đưa cháu xuống nhà

xác, mẹ đun đẩy con vì "khác máu tanh lòng” hơn nữa đêm hôm khuya

- khoát, người đàn bà không ôm cháu xuống nhà xác Sáng hôm sau bác sĩ

mới đến thăm phòng "nhìn xác chết" mới được bàn giao, khi mở chăn ra

cháu vẫn ấm hơi người, bằng các động tác chuyên môn, hô hấp nhân tạo

bác sĩ cứu cháu sống trở lại Sau đó người ta đưa chấu về với gia đình mẹ

đẻ của cháu, cháu được bình phục rất nhanh, khoẻ, đời sống tinh thần linh

lợi han lén

Tinh yéu u người trong gia đình nó trung thực, hồn nhiên và đậm đà

- biết bao! Chính phong cách gia đình tạo dựng nên tình yêu đó Tình yêu

là một yếu tố cơ bản, chất keo dính kết các thành viên trong gia đình Sự _

hình thành gia đình được bắt đầu trừ tình yêu lứa đôi (nam + nñ), rồi từ

tình yêu nảy nở tình yêu chồng vợ, cha con, mẹ con, anh em mỗi quan

hệ người trong gia đình mang một sắc-thái tình cảm đặc biệt mà chúng-ta

gọi là tình mẫu tử, tình anh em ruột thịt, tình cha con

Toàn bộ các loại Tình yêu và sắc Thái củ ïĩ chủng nạ được hình thành, phát triển và hoàn thiện trong gia đình, đồng thời những tình yêu đó lại là

‘yéu tố quyết định sự tôn tại của gia đình Do vậy, nuôi dưỡng tình yêu,

làm cho “cây finh yêu” nở hoa kết trái đem lại hoa thơm, quả ngọt cho

mọi người trong gia đình là trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi thành viên

trong gia đình Trong điều tra xã hội học (Viện KHXH Thành phố Hồ Chí

Minh) vẻ phụ nữ với việc thực hiện các chức năng của gia đình (của nữ

- Những nhu cầu tính thần như nhận thức, giao tiếp, học tập mội

phần cơ bản được hình thành và phát triển từ gia đình

"Tổ ấm gia đình" như một bến lớn để tàu thuyền cập bến tránh gió,

bão, giông tố về với gia đình, những kỉ niệm thơ ấu được gợi lên Thậm chí có những người còn có nhu cầu "ấp ủ nơi lòng mẹ” để cảm giác an toàn được xuất hiện mãi sau nay

+ Đối với trẻ em từ lọt lòng đến 6 tuổi không có gì chấn động mạnh - trong đổi sống tâm lí sau này bằng sự chia li của cha mẹ, bằng sự tách rẽ sông xa gia đình T—

Trong nghiên cứu của chúng tôi, cháu Trịnh TT sinh được 4 tháng dem cho một gia đình ở Hà Tây làm con nuôi, gia đình bố mẹ nuôi làm pháo nhân dịp tết, không may bị hoả hoạn, cháu bị thương đem về bệnh viện nhi Thuy Điển cứu chữa, cùng với vết thương là bệnh viêm phế quản Một đêm ở bệnh viện, hai bệnh kết hợp đưa cháu đến trạng thái "ngất lịm", bác sĩ cho là cháu đã chết, yêu cầu gia đình đưa chau xuống nha xác, mẹ đun đẩy con vì "khác máu tanh lòng" hơn nữa đêm hôm khuya

- khoát, người đàn bà không ôm cháu xuống nhà xác Sáng hôm sau bác sĩ mới đến thăm phòng "nhìn xác chết" mới được bàn giao, khi mo chan ra cháu vẫn ấm hơi người, bằng các động tác chuyên môn, hô hấp nhân tạo bác sĩ cứu cháu sống trở lại Sau đó người ta đưa cháu về với gia đình mẹ

đẻ của cháu, cháu được bình h phục rất nhanh, khoẻ, đời sống tinh thần linh lợi hẳn lên

Tình yêu n#ười trong gia đình nó trung thực, hồn nhiên và đậm đà

- biết bao! Chính phong cách gia đình tạo dựng nên tình yêu đó Tình yêu

là một yếu tố cơ bản, chất keo dính kết các thành viên trong gia đình Sự _ hình thành gia đình được bắt đầu rừ tình yêu lứa đôi (nam + nữ), rồi từ tình yêu nảy nở tình yêu chồng vợ, cha con, mẹ con, anh em mỗi quan

hệ người trong gia đình mang một sắc-thái.tình cảm đặc biệt mà chúng-ta gọi là tình mẫu tử, tình anh em ruột thịt, tình cha con

Toàn bộ các loại tình vê Đi nữ sức Thái ta ching được hình thành,

39

Trang 40

giáo viên và công nhân) thì 62,4% ý kiến chơ rằng sự hoà thuận của đôi

vợ chồng (tình cảm thuận hoà) đảm bảo cho gia đình hạnh phúc Chỉ có

14,7% ý kiến cho rằng điều kiện vật chất không quá thiếu thốn

Không nên nghĩ rằng để được thưởng thức "hoa thơm, trái ngọt”,

những thành viên trong gia đình không phải trải qua những thử thách,

"giông tố” ghê gớm trong các quan hệ người "Yêu cho roi cho vọt, ghét

cho ngọt cho bùi” Vì thương con nhiều bà mẹ, ông bố đánh đập con, rồi

chính họ phải khóc để rèn con vào một thói quen, nếp sống tốt, hoặc trách

phạt con cái vì một lỗi lầm Vì quá yêu chồng mà đôi khi "máu ghen

tuông” xuất hiện Một quy luật rất tự nhiên người nào đem lại cho ta niềm

vui nhất, thì cũng chính họ mang lại cho ta những nỗi buồn sâu sắc nhất

Trong gia đình hay xảy ra những điều xích mích Raymond Offner đã nói

“Thường sự bất hoà hay xảy ra giữa những kẻ thân yêu trong gia đình, là

vì nơi đây người ta hay nói trắng sự thật”

Quy luật rất tự nhiên là mọi sự thoả mãn nhu cầu đều phải trả giá nhất

định bằng tài năng, trí tuệ, sức lực của chính mình Đậu phải lúc nào con

người cũng được thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của mình

Chính sự không thoả mãn những nhu cầu này mà các thành viên trong gia

đình có những lúc "như là vật cản vậy" Niềm vui, nỗi buồn đều được mọi

người trong gia đình chia sẻ "một con ngựa đau cả tàu không ăn có” v.v

Chức năng thoả mãn, hoà hợp các nhu cầu tâm lí, tình cảm của các

thành viên trong gia đình là một chức năng quy định sự bền vững và phát

triển của gia đình Hạnh phúc và bất hạnh cũng do chức năng này đem lại

một phần lớn Một bữa cơm thịnh soạn với nhiều món ăn quý giá nếu

không có sự hoà hợp về tình cảm, sống trong bầu không khí căng thẳng

xung đột thì người ta sẽ không ăn, hoặc có ăn đi nữa thì cảm giác ngon

miệng cũng không có

- Chúc năng được thực hiện thông qua các sinh hoạt trong gia đình

bao gồm nội trợ, giải trí, học tập, vui chơi, thư giãn của các thành viên,

trong bối cảnh gia đình

Thông qua những sinh hoạt này, các thành viên trong gia đình được

thoả mãn các nhu cầu tâm lí như: được chăm sóc, yêu thương, được nghỉ"

ngơi, thư giãn Các hoạt động này nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lí của các

thành viên: người được chăm sóc thấy duoc vai trod, vi trí của mình trong

gia đình, người chăm sóc thoả mãn nhu cầu tâm lí thấy mình có trách

nhiệm với gia đình

giáo viên và công nhân) thì 62,4% ý kiến chơ rằng sự hoà thuận của đôi

vợ chồng (tình cảm thuận hoà) đảm bảo cho gia đình hạnh phúc Chỉ có

14,7% ý kiến cho rằng điều kiện vật chất không quá thiếu thốn

Không nên nghĩ rằng để được thưởng thúc "hoa thơm, trái ngọt”, những thành viên trong gia đình không phải trải qua những thử thách,

"giông tố” ghê gớm trong các quan hệ người “Yêu cho roi cho vọt, ghét

cho ngọt cho bùi" Vì thương con nhiều bà mẹ, ông bố đánh đập con, rồi

chính họ phải khóc để rèn con vào một thói quen, nếp sống tốt, hoặ trách

phạt con cái vì một lỗi lầm Vì quá yêu chồng mà đôi khi "máu ghen:

tuông” xuất hiện Một quy luật rất tự nhiên người nào đem lại cho ta niềm vui nhất, thì cũng chính họ mang lại cho ta những nỗi buồn sâu sắc nhất

Trong gia đình hay xảy ra những điều xích mích Raymond Offner đã nói

"Thường sự bất hoà hay xảy ra giữa những kẻ thân yêu trong gia đình, là

vì nơi đây người ta hay nói trắng sự thật" s

Quy luật rất tự nhiên là mọi sự thoả mãn nhu cầu đều phải trả giá nhất định bằng tài năng, trí tuệ, sức lực của chính mình Đậu phải lúc nào con người cũng được thoả mãn những nhu cầu vật chất, tĩnh thần của mình

Chính sự không thoả mãn những nhu cầu này mà các thành viên trong gia đình có những lúc "như là vật cản vậy” Niềm vul, nỗi buồn đều được mọi người trong gia đình chia sẻ "một con ngựa đau cả tàu không ăn có” v.v

Chức năng thoả mãn, hoà hợp các nhu cầu tâm lí, tình cảm của các thành viên trong gia đình là một chức năng quy định sự bền vững và phát triển của gia đình Hạnh phúc và bất hạnh cũng do chức ñăng này đem lại một phần lớn Một bữa cơm thịnh soạn với nhiều món ăn quý giá nếu không có sự hoà hợp về tình cảm, sống trong bầu không khí căng thẳng xung đột thì người ta sẽ không ăn, hoặc có ăn đi nữa thì cảm giác ngon

miệng cũng không có

- Chức năng được thực hiện thông qua các sinh hoạt trong gia đình bao gồm nội trợ, giải trí, học tập, vui chơi, thư giãn của các thành viên, trong bối cảnh gia đình

Thông qua những sinh hoạt này, các thành viên trong gia đình được thoả mãn các nhu cầu tâm lí như: được chăm sóc, yêu thương, được nghỉ?

ngơi, thư giãn Các hoạt động này nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lí của các

thành viên: người được chăm sóc thấy được vai trò, vị trí của mình trong

gia đình, người chăm sóc thoả mãn nhu cầu tâm lí thấy mình có trách nhiệm với gia đình |

Ngày đăng: 25/10/2022, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w