Mặc dù vậy, chúng vẫn quyết định cử quân sang đánh chiếm Việt Nam, trắng trợn cho rằng việc đem quân đánh chiếm Nam Kì từ lâu đã nằm trong dự kiến của nước Pháp, đến nay thi hành chẳng q
Trang 1DINH XUAN LAM Chij bién
Trang 5
DINH XUAN LAM (Chủ bién)
NGUYEN VAN KHÁNH - NGUYÊN ĐÌNH LỆ
Trang 6
Chủ biên :
GS ĐINH XUÂN LÂM
Phân công biên soạn :
- Lời nói đầu
- Chương Ï, II, IH, IV, V : GS Dinh Xuân Lâm
- Chương VII, VII,IX: PGS Nguyễn Văn Khánh
- Chuong X, XI, XII: PGS Nguyễn Đình Lễ
Có sự cộng tác của Cử nhân sử học Lê Đình Hà
tet các
kh đề
Trang 7
LỜI NÓI ĐẦU
ĐẠI CƯỜNG LỊCH SỬ VIỆT NAM (Tập 1!) trình bày một cách hệ thống
lịch sử cuộc đấu tranh yêu nước cách mạng của nhân dân ta vì độc lập dân tộc
và thống nhất Tổ quốc từ năm 1858 - thực dân Pháp thực hiện chiến tranh xâm lược, đến năm !945 — Cách mạng tháng Tám thành công đã phá tan hai xiéng xích nô lệ Pháp — Nhật, đồng thời lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế ton tai ngó! ngàn năm Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản
quyển hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh than va luc lượng, tính mạng
tà của cái để giữ "ững quyển tự do, độc lập dy” Mot kt nguyen moi cua lich sit
dân tộc đã mở ra, kỉ nguyen doc lap dan toc sẵn liền với chủ nghĩa xã hội
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VIỆT NAM (Tập II) cũng cố gắng phản ánh mot
cách tương đối toàn điện cuộc đấu tranh của nhân dân 1a, không chỉ về mặt
Chính Irị quân sự, mà cả về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, đặc biệt là về mặt kinh
tế trước đây chưa được chú trọng đúng mức Để thực hiện được yêu cầu nay,
các tác giả mội mặt kế thừa có chọn lọc kết quả của những người đi trước, mặt
khác đã chú ý khai thác một số nguồn tr liệu mới công bố trong và ngoài nước
để vận dụng vào việc biên Soạ! Công trình
Nội dung của lịch sử 87 năm nay (1858 — 1945) thật sự phong phú Đó là
lịch sử cuộc đấu tranh vừa bền bỉ, kiên cường, bất khuất, vừa thông mình, sáng
tạo để chống lại các thế lực phản động nói trên, đồng thời cũng là lịch sử quá
trình tim toi chân lí cứu nước, từ xu hướng phong kiến, qua xu hướng dân chủ tư
sản, để cuối cùng dẫn tới SU gdp gO cé tinh tất yếu của chủ nghĩa yêu nước
truyền thống với chủ Hghĩa xã hội, được đánh dấu bằng sự kiện lrọng đại —
Trang 8
chính đảng vô sản ra đời kết thúc thời kì khủng hoảng vai trò lãnh dạo va me
ra thời kì phát triển của cách mạng Việt Nam, ddn tới Cách mạng tháng Tám
thành công năm 1945, nhân đân 1a đã đập tan âm mutu xâm lược của đế quốc
Pháp, phát xít Nhi nhằm biến Việt Nam thành mội nước thuộc địa nửa phon§
trong khu vực Đông Nam Á
Các tác gid dd có nhiều cố gắng, nhưng chắc không tránh khỏi những thiếu
sót và han ché vé ndi dung và hình thức, vì vậy công trình này cần được tiếp tục
bổ sung, sửa chữa, hoàn chỉnh hơn
Các tác giả
Trang 11
IL ÂM MƯU XÂM LƯỢC VIỆT NAM
CUA THUC DAN PHAp
Am muu xam luge cua tu ban Pháp đối với Việt Nam lâu dài và liên tục, bắt nguồn từ những năm đầu thế ki XVII, va ngay càng được xúc tiến một cách
mạnh của lưỡi lê để len ngôi Hoàng đế Nền Đế chế thứ hai là một hình thái
ngày 26 — 9 ~ 1856, tự bản Pháp đã trắng trợn nổ súng bắn phá các đồn luỹ rồi
kéo lên khoá tất cả các đại bác bố trí ở trên bờ, sau đó tàu nhổ neo bỏ đi Một
tháng sau, ngày 24 — 10, tàu chiến Caprixio (Capricieuse) lai cập bến Đà Nắng
(Montigny) cập bến Đà Nắng, yêu cầu được tự do truyền đạo và buôn bán, Thực
Trang 12
xong Trung Quốc Cho nên, ngay trước khi Môngtinhi đến Da Nắng một tháng,
Bộ trưởng Hải quân Pháp là Hamơlanh (Hamelin) đã tiếp viện thêm cho hạm
¡ Pháp ở Thái Bình Dương và Bộ trưởng Ngoại giao Pháp là Oalépxki
(Walewski) cũng đã ra lệnh cho Phó Đô đốc Giơnuiy (Rigault de Genouilly),
lúc đó đang chi huy ham đội Pháp tham gia cuộc tấn công Trung Quốc, sau khi
bắn phá và chiếm cứ xong Quảng Châu phải kéo ngay quân xuống đánh chiếm
Việt Nam Rõ ràng việc cử Môngtinhi sang gặp Triều đình Huế chỉ có giá trị
ngoại giao hình thức, còn mọi mưu mô kế hoạch đều đã được bọn tư bản sắp đặt
từ trước, chỉ đợi thời cơ và kiếm cớ để nổ súng Vì thế, bản thân Môngtinhi đã
có những hành động vô cùng trắng trợn Vấp phải thái độ của Triều đình Huế
cương quyết cự tuyệt không tiếp, trước khi rút lui về nước, y đã đe doa sẽ dùng
vũ lực để trừng phạt nếu không đình chỉ việc cấm đạo; đồng thời y cũng cấp báo
còn lén lút đưa tên gián điệp đội lốt giáo sĩ Penloranh (Pellerin) về Pháp yêu cầu
Napôlêông IH cử binh sang Việt Nam bênh vực những người theo đạo
Ngày 22 - 4 — 1857, Napôlêông HI quyết định cử ra Hội đồng Nam Kì để
xét lại Hiệp ước Vécxai (Versailles) đã được kí kết năm 1787 giữa Bá Đa Lộc,
đại điện cho Nguyễn Ánh và Môngmôranh (Montmorin), đại điện cho Lui XVI
Âm mưu của tư bản Pháp lúc đó là muốn dựa vào văn kiện bán nước đầu tiên
của Nguyễn Ánh để “hợp pháp hoá” việc mang quân sang đánh chiếm Việt
Nam Nhưng Hiệp ước đó trong thực tế đã bị thủ tiêu ngay sau khi kí kết Chính
phủ Pháp lúc đó không có điều kiện thi hành vì còn lo đối phó với ngọn sóng
cách mạng đang dâng cao trong nước Do đó họ không thể dựa vào cớ thi hành
Hiệp ước để đưa quân chiếm đóng Đà Nẵng, Côn Lôn, đòi độc quyền thương
mại và tự do truyền đạo ở Việt Nam như các điều khoản của Hiệp ước đã gh1
Mặc dù vậy, chúng vẫn quyết định cử quân sang đánh chiếm Việt Nam, trắng
trợn cho rằng việc đem quân đánh chiếm Nam Kì từ lâu đã nằm trong dự kiến
của nước Pháp, đến nay thi hành chẳng qua chỉ là tiếp tục truyền thống cũ,
trung thành với một “quốc sách” đã được các chính phủ tiếp tục theo đuổi qua
các thời kì mà thôi Tháng 7 — 1857, Napôlêông HH quyết định vũ trang can
thiệp vào Việt Nam Tư bản Pháp đã lấy cớ trả thù việc Triều đình Huế không
tiếp nhận quốc thư của Pháp do tàu chiến Catina đem đến thang 9 ~ 1856, cho
là “làm nhục quốc kì” Pháp Mặt khác, chung còn lấy cớ “bênh vực đạo”,
"truyền bá văn minh Công giáo” để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư luận
Công giáo ở Pháp và Việt Nam Nhưng tất cả những lí do đó đều không che đậy
10
nổi ñ
kiếm chun
Trang 13nổi nguyên nhân sâu xa bên trong của âm mưu xâm lược Đó |
"~ng Quốc của
khu vực Viễn Đông, đặc biệt với địch thủ cổ truyền là tự bản Anh,
(27 — 6 — 1858), Gionuiy (Rigault de Genouilly) kéo "£Ay quân xuống hợp với
thẳng tới Đà Nẵng, dàn trận từ chiều 31-8 ~ 1858 Pháp và Tây Ban Nha liên
giam giữ, giết hại hồi đó có một số người Tây Ban Nha, Tu ban Tay Ban Nha cũng nhiều lần nhòm ngó các vùng Đồ Sơn, Quảng Yên ngoài Bắc nên Nữ
hoàng Tây Ban Nha Idaben I] (Isabelle II) sẵn Sàng câu kết với Ph ấp trong cuộc
viễn chỉnh này để kiếm lợi
II KHỦNG KHOẢNG SUY VONG CỦA VƯƠNG TRIEU NGUYEN
Nam đang đi sâu vào lai đoạn khủng
mống đầu tiên của chủ nghĩa tư bản trong nước đã xuất hiện và ngày Càng mâu
thuần đối kháng với quan hệ kinh tế phong kiến bảo thủ lạc hậu bao đời thống
trị xã hội Việt Nam Nền kinh tế tiểu nông đang cần được phát triển, nhưng bị
thống nhất Cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn thắng lợi đã mở ra nhiều triển vọng cho sự phát triển của lực lượng sản
xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa Nhưng dựa vào thế lực tư bản Pháp, Nguyễn
Ánh đã đánh thắng triều Tây Sơn
Trang 14
Ngay sau khi lên ngôi (1802), Nguyễn Ánh lấy niên hiệu là Gia Long và các
vua tiếp theo (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đúc) ngày càng đi sâu vào con đường
phản động, vừa ra sức phục hồi và củng cố quan hệ sản xuất cũ, vừa cố tình bóp
nghẹt lực lượng sản xuất mới đã manh nha phát triển hồi thế kỉ XVII Mọi
chính sách chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội triểu Nguyễn ban hành đều
nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong
kiến nhà Nguyễn
Bộ máy chính trị triều Nguyễn ngay từ đầu đã mang nặng tính chất quan
liêu, độc đoán Đó là một nhà nước quân chủ chuyên chế tuyệt đối, tập trung
cao độ với một chế độ chính trị lạc hậu, phản động Mọi quyền hành đều tập
trung trong tay nhà vua Vua được coi là “con trời”, “thay trời” trị dân; quyền
hành nhà vua được coi là “thần khí” thiêng liêng, vô hạn Nhà vua trong thực té
là đại địa chủ lớn nhất trong nước, có toàn quyển phung phí tài sản quốc gia
trên xương máu của nhân dân Còn quan lại trong triều và ở các địa phương hầu
hết là bọn hủ bại; chính trị thì bảo thủ, cầu an; kinh tế thì tham lam và cuồng
bạo Từ vua đến quan đều rất tự cao tự đại với mớ học thuyết Khổng, Mạnh lỗi
thời, xem trật tự phong kiến là bất di bất dịch, mãi đến lúc súng giặc nổ ầm bên
của nhà nước phong kiến và cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá
Nền kinh tế tư hữu của nông dân bị xâm phạm nghiêm trọng Ruộng đất
phần nhiều tập trung vào tay bọn quan lại, địa chủ Công điền, công thổ chỗ nào
bao chiếm, dân nghèo chỉ được những chỗ xương xẩu Nói chung nông dân
ruộng đất cày cấy làm ăn phải bỏ làng đi tha phương cầu thực là nét phổ biến
dưới triểu Nguyễn Chỉ từ năm 1802 đến năm 1806, nông dân trên 370 thôn
thuộc mấy trấn lớn ngoài Bắc đã xiêu tán đi nơi khác Đến năm 1826, lại đến
108 xã thôn thuộc 13 huyện của trấn Hải Dương xiêu tán, cộng thêm vào đó là
tô thuế rất nặng nề Đó là chưa kể tới tình trạng vỡ đê, lụt lội, mất mùa đói kém
thường xảy ra, hầu như khong nam nào không có Đê Văng Giang ở Hưng Yên
vỡ 18 năm liền, biến cả một vùng đồng bằng phì nhiêu ở Khoái Châu thành bãi
đất hoang, nhân dân vùng này từng đoàn lang thang kéo nhau đi các nơi xin ăn
Trang 15Tại các vùng ở Bắc Ninh, Sơn Tây lại có nạn châu chấu phá hoại mùa mang Vì
vào Đà Nắng (1858), một trận đói ghê gớm đã xảy ra làm cho hàng chục vạn nhân dân các tỉnh Trung - Bắc Kì bị chết Đồng thời, cũng do sự bất lực của
chục vạn người
Trước tình hình bi thảm đó, để xoa dịu và ngăn ngừa dân chúng nổi dậy chống lại, phong kiến triều Nguyễn đã có một số biện pháp Minh Mạng ra lệnh
cho Nguyễn Công Trứ chiêu dân tiến hành khai hoang miền ven biển lập ra hai
Tự Đức giao cho Nguyễn Trị Phương lo liệu việc mộ dân lập ấp ở Nam Kì từ năm 1853, Nhung tat cả các biện pháp trên đều không mang lại kết quả đáng
kể vì đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị Người nông dân sau một
phong kiến cướp đoạt Vì vậy, nạn nông dân lưu tán, nhất là đến đời Tự Đức, khi
tư bản Pháp sắp nổ súng khởi hấn, lại càng trở nên phố biến khắp cả nước và ngày càng trầm trọng hơn lên Đó là một trong những nét tiêu biểu của thời kì khủng hoảng suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn
Trong khi nền nông nghiệp đang lâm vào tình trạng tiêu điều xơ xác như
vậy thì tình hình công thương nghiệp cũng ngày một bế tác
Chính sách của triều Nguyễn về mặt công nghiệp vô cùng phản động Phong lớn đúc súng, đóng tàu, đúc tiền, các xưởng nhỏ chuyên chế tạo đồ dùng riêng cho nhà vua, vàng vạc, gấm vóc, các Công trường xây dựng cung điện, thành quách, lăng tẩm đều do bộ Công của Triều đình quản lý, Chế độ làm VIỆC trong Các công xưởng này là chế độ “công tượng” mang nặng tính chất cưỡng bức lao động Những người thợ giỏi ở các địa phương bị bắt về đây được phiên chế
Soát nghiêm ngặt của quan lại nên rất bất mãn, không phấn khởi với Công việc Triều đình phong kiến còn giữ độc quyền ngành khai mỏ Số mỏ được khai thác từ năm 1802 đến năm 1858 là 139 mỏ, bao gồm đủ các loại Nhưng phần lớn các mỏ đều do quan lại Triều đình đứng ra khai thác, chỉ một số ít là do chủ
mỏ Hoa kiều hay Việt Nam chủ trì Phương thức sản xuất trong cả ba loại mỏ
cơ bản vẫn là lối sản xuất thủ công cá thể, với những hình thức bóc lột phong kiến mang nặng tính chất nô dịch Năng suất trong cdc công trường mỏ vì vay
Trang 16thường thấp Đã thế, triều Nguyễn còn đánh thuế sản vật rất nặng vào các mỏ do
Hoa kiều hay người Việt đứng ra khai thác Nhiều phép tắc vô lí làm hạn chế sự ^^
phát triển của ngành khai mỏ, như quy định những khu vực cảm khai mỏ, giữ
độc quyền thu mua các kim loại khai thác được theo giá quy định
Các nghề thủ công trong nhân dân không có điều kiện phất triển Tại các
công xưởng thủ công, mặc dù không có một chế độ phường hội chặt chế theo
và thợ, giữa thợ cả và thợ bạn, giữa các làng chuyên nghiệp với nhau và rất
nhiều luật lệ cấm đoán của Triều đình đã làm cho sáng kiến, tài năng của người
thợ ngày càng bị bóp nghẹt Các nghề thủ công nhỏ và nghề phụ gia đình Ở
nông thôn còn bị đình đốn vì nông dân đói khổ, li tán Thủ công nghiệp hầu như
bị tê liệt
Thương nghiệp dưới triều Nguyễn sút kém một cách rõ rệt Chính sách
"trọng nông ức thương” của Triểu đình đã kìm hãm thương nghiệp Về nội
(như đồng, thiếc, chì, kẽm, nhất là lưu hoàng, diêm tiêu), vì SỢ nhân dân chế vũ
khí chống lại Mặt khác, Triều đình đặt ra nhiều luật lệ chặt chẽ để kiểm chế,
như nắm độc quyền buôn bán cả đối với một số lâm sản quý giá cướp đoạt của
đồng bào miền núi (quế, gạc hươu, sáp ong, ngà voi, gỗ quý); đánh thuế nặng
vào các mặt hàng quan trọng đến đời sống nhân dân như lúa gạo để hạn chế
không tập trung và thống nhất
Ngoại thương cũng bị Triều đình nắm độc quyền Thực hiện chính sách bế
quan toả cảng, Triều đình chỉ mở nhỏ giọt một số cửa biển cho tàu nước ngoài
lui tới buôn bán Chỉ được nhập vào những hàng hoá Triều đình cần (như sat,
chì, gang, lưu hoàng để làm súng đạn); còn xuất cảng thì cấm tàu thuyền nước
buôn bán còn bị khám xét rất kĩ để đánh thuế và định giá hàng, lại còn có thể bị
trưng dụng đi phục vụ cho các đợt công tác đột xuất của Triều đình (như chở
gạo cho quân lính, hay chuyên chở nguyên vật liệu xây dựng lãng tầm, cung
điện) Chính sách bế quan toả cảng của Triều đình đã làm cho việc buôn bán với
nước ngoài sa sút rõ rỆt Thuế cửa quan, trước cớ 60 sở, đến năm 1851 chỉ còn
21 sở; một số cảng trước kia buôn bán rất phồn thịnh, nay cũng trở nên tiêu điều
vãng vẻ |
Noi tor
đốn trầm Í thậm chí ƒ
trong các
với yêu cả
Nén ki quốc gia
Để di Nguyễn
Về dc
động nh đân tron lực lượn kha rian cho tut
Ví nước
quốc
thi h dao nhat
Trang 17Nói tóm lại, nên Kinh tế — tai chính nước ta trong nửa đầu thế ki XIX đã suy
đốn trầm trọng về mọi mật nông, công, thương nghiệp Do sự bảo thủ, lạc hậu,
thậm chí phản động của triều Nguyễn, các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các khu vực kinh tế, đang trên đà phát triển tự nhiên và tiến bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội hồi đó, đều bị bóp nghẹt
Nền kinh tế hàng hoá vì vậy đã bị co hẹp lại Trên cơ sở đó, nền tài chính quốc gia ngày một kiệt quệ Đời sống nhân dân ngày càng cực khổ Mâu
thuẫn giữa giai cấp phong kiến thống trị với nhân dân — chủ yếu là nông dân ~
đã trở nên vô cùng gay gắt và đã bộc lộ ra ngoài một cách sâu sắc với hàng
loạt cuộc khởi nghĩa nông dân suốt cả mây đời vua triều Nguyễn Trước khi tư
bản Pháp nổ súng xâm lược, một số cuộc khởi nghĩa lớn đã bùng nổ: Phan Bá
Gia Dinh (1833): Nông Văn Vận ở Tuyên Quang (1833): Cao Bá Quát ở Bắc
cho tư bản Pháp thôn tính nước ta Để biện minh cho thủ đoạn tàn bạo trên, triều
phỏng theo bộ luật phản động của phong kiến Mãn Thanh (Trung Quốc), dưới
ý niệm trấn áp nhân dân và 81Ữ vững trật tự phong kiến tuyệt đối Cả văn học cũng được dùng để tuyên truyền cho chế độ thống trị của phong kiến Nguyễn, như Minh Mang ra 10 diéu Hud) du, Tu Ditc dién am Tháp điểu điển ca để truyền bá rộng rãi học thuyết Nho giáo, trên cơ sở đó củng cố ý thức hệ phong kiến đã bị rạn nứt
Về đối ngoại, triều Nguyễn ra sức đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miiên, Lào, làm cho quân lực bị tốn thất, tài chính quốc gia và tài lực nhân dân bị khánh kiệt Còn đối với các nước phương Tây thì thi hành ngày một thêm gắt gao chính sách bế quan toa cảng và cấm đạo, giết đạo Trước âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của bọn tư bản nước ngoài — nhất là của tử bản Pháp — phong kiến nhà Nguyễn tưởng làm như vậy là tránh
15
Trang 18
được nạn lớn Họ không ihấy được muốn bảo vệ độc lập dân toc, muon gift gin
đất nước trong những điều kiện quốc gia và quốc tế bấy giờ, biện pháp thích
hợp nhất là mở rộng cửa biển giao thương để duy tân xứ sở, đẩy mạnh phát triển
nông công thương trong nước, trên cơ sở đó quan tâm bồi dưỡng sức dân, sức
nước để có thể đối phó kịp thời và hiệu quả với những âm mưu xâm lược ngày
càng được đẩy mạnh của tư bản nước ngoài Trái lại, càng đóng chặt cửa Và
càng cấm đạo, giết đạo, lại càng tạo thêm lí do cho chúng nổ súng xâm lược
sớm hơn mà thôi
Rõ ràng là với những chính sách của triểu Nguyễn, nước Việt Nam đã suy
yếu về mọi mặt và trở thành miếng mổi ngon đối với các nước tư bản phương
Tây, đặc biệt đối với tư bản Pháp từ lâu đã có cơ sở bên trong nước ta nhờ sự
hoạt động ngấm ngầm và liên tục của bọn gián điệp đội lốt thương nhân và giáo
sĩ Lịch sử lúc này đã đi tới một bước ngoặt Một là triều Nguyễn bị đánh dé va
thay thế vào là một triểu đại khác tiến theo hướng mới tư bản chủ nghĩa, có kha
năng duy tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc Hai là nước Việt Nam bị
mất vào tay tư bản Pháp để trở thành một xứ thuộc địa của chúng Thực tế lịch
sử đã cho thấy rõ khi tiếng súng xâm lược của tư bản Pháp bùng nổ, giai cấp
phong kiến Việt Nam đã phân hoá thành hai phái chủ chiến và chủ hoà, phái
chủ hoà gồm phần đông là đại phong kiến và quan lại lớn do Tự Đức đứng đầu
nhanh chóng câu kết với bọn cướp nước, làm tay sai cho chúng đàn áp và bóc
lột nhân đân cả nước Tất nhiên, khi khẳng định trách nhiệm của nhà Nguyễn
trong việc để đất nước ta rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau
thế kỉ XIX, chúng ta không hề quên những đóng góp của họ về các mặt phát
triển giáo dục, văn hoá, nghệ thuật mà một số thành tựu đến ngày nay vẫn là tài
sản quý của dân tộc
II THUC DAN PHAP PHAT DONG
CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM
1 Từ Đà Nẵng đến Gia Định
Từ chiều 3! — 8 — 1858, liên quân Pháp — Tây đã kéo tới dàn trận tại cửa
biển Đà Nắng (Quảng Nam) Kế hoạch của địch là đánh nhanh thắng nhanh để
chiếm lấy Đà Nắng làm căn cứ bàn đạp, từ đó đánh vào nội địa, tiêu diệt sinh
16
lực của chết sức -
hàng Mô thư bud |
hết hạn
Hải của | bán đác -
Chọ mục đí
thể ra '
chung | ủng hộ đất Hết Duc
tang CL mat trí công L
phia t-
dia Cc trong”
cap tir
Phap -
bật trẻ
như g1 thêm: trong
một Ì dụng
A
cé nl Sài € tiếp bọn
ng
2-OCLE
Trang 19lực của Triều đình Huế tại đây, rồi vượt đèo Hải Vận đánh thọc sâu lên Huế bóp
chết sức kháng chiến của triều Nguyễn tại chỗ và buộc Triểu đình phải đầu
hàng Mờ sáng hôm sau (ngày l — 9 ~ 1858), chúng đã cho người đưa tối hậu
thư buộc Trấn thủ Trần Hoàng phải trả lời ngay trong vòng hai giờ Không đợi
Hải của Triều đình suốt trong ngày hôm đó Tiếp sau, chúng cho quan dé bộ lên
ban dao Sơn Tra
Chon Da Nang lam muc tiéu tan cong dau tién, tu ban Pháp nhằm đạt may mục đích sau: cửa biển nơi đây tương đối sâu rộng nên tàu chiến của chúng có
thể ra vào dễ dàng; hậu phương Quảng Nam 8lầu có và đông dân có thể giúp chúng thực hiện khẩu hiệu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”: trông chờ vào sự
ủng hộ của giáo dân vùng này mà bọn gián điệp đội lốt giáo sĩ hoạt động trong
đất liền đã báo cáo là khá mạnh
Được tin mất bán đảo Sơn Trà, Triều đình Huế vội phái nhiều quân tướng tới tăng cường lực lượng phòng thủ Nguyễn Tri Phương được cử làm Tổng chỉ huy mat tran Quang Nam dé lo việc chống giặc, Nhưng ông không chủ động tấn công tiêu diệt địch mà chỉ huy động quân dân đắp luỹ chạy dài từ bờ biển vào
cấp tin tức Chiến thuật này không phải không có hiệu quả Mãy lần liên quân Pháp - Tây Ban Nha tìm cách đánh sâu vào đều bị quan quân Triều đình đánh
như giãm chân tại chỗ Trong lúc đó thì khó khăn của chúng mỗi ngày một tăng thêm: do không hợp khí hậu nên binh lính địch bị ốm đau và chết khá nhiều, trong khi thuốc men lại thiếu: tiếp tế thực phẩm cho quân lính rất khó khăn Tiến lui đều khó, cuối Cùng tướng giặc Giơnuiy quyết định chị để lại ở Đà Nẵng một lực lượng quân sự nhỏ bé để cầm chân quân đội Triều đình, còn lại thì lợi dụng mùa gió bấc kéo vào đánh Gia Dinh (2 — 1859),
Âm mưu của địch lần này kéo vào đánh Gia Định so với lúc đánh Đà Nẵng
có nhiều điểm khác Chúng muốn cắt đứt đường tiếp tế bằng cách đánh chiếm
tiếp viện của Triều đình Huế mà chúng đã được biết là không phải yếu kém như
ngược lên đánh chiếm luôn Cao Miên Hơn nữa, lúc này tư bản Pháp cần phải
2-DCLSVIET NAM.T2
| 7
Trang 20
hành động gấp vì ¡ư bản Anh sau khi chiếm Xingapo và Hương ong Cảng cũng đang
ngấp nghé chiếm Sài Gòn để nối liền hai cửa biến quan trọng trên
Ngày mồng 9 — 2 — 1859, hạm đội Pháp đã tập trung đây đủ ở Vũng Tàu
nhiệm vụ bảo vệ đường thuy vào Gia Định Sau đó, tàu chiến giặc ngược sông
Cân Giờ vừa tiến vừa bấn phá các đồn hai bên bờ Tàu Pháp tiến rất chậm, từ
cửa Cần Giờ vào đến gần thành Gia Định (tức Sài Gòn) phải mất 6 ngày, vì vấp
phải sức chống cự khá quyết liệt của quan quân Triều đình đóng tại các đồn trên
bờ và nhiều đập cản giữa lòng sông Sáng ngày 16, dich đổ bộ chiếm được hai
pháo đài bảo vệ trực tiếp thành Gia Định và cho tàu ngược sông Bến Nghé vào
đậu sát ngay trước mặt thành Sáng ngày 17, tàu chiến địch tập trung hoa luc
trong thành nhiều súng các loại và lương thực Chiếm được thành Gia Định,
phá thành, rồi rút quân xuống đóng dưới tàu đậu giữa sông để khỏi bị quân ta
tập kích Sau đó, chúng chỉ để lại một số ít quân ở Gia Định, còn lại thì cấp tốc
kéo ra tiếp viện cho số quân Pháp đóng lại ở mặt trận Đà Nẵng, lúc đó đang có
nguy cơ bị quân ta tiêu diệt
Ba tới Đà Nắng để củng cố tỉnh thần quân lính, Giơnuiy quyết định mở cuộc
tấn công lớn ngày mồng 8 — 5 ~ 1859 Cùng lúc, quân Pháp đánh vào các đồn
Điện Hải, Phúc Ninh, Thạch Giản, rồi tiến sâu vào nội địa, buộc quân Triều
đình phải lui về cố thủ phía sau Nhưng chúng đã bị tổn thất nặng, nên sau đó
rất khốn đốn Từ tháng 4 ~ 1859, tư bản Pháp bị vướng vào cuộc chiến tranh với
khong thé tiép vién nhiéu cho doi quan xam lược Việt Nam Mâu thuẫn Ảnh ~
Pháp lúc này cũng trở nên gay gắt, chiến tranh có thể bùng nổ giữa hai nước
Trong tình thế khó khăn đó, Chính phủ Pháp buộc phải ra lệnh cho Gionuly
nghị hoà với Triều đình Huế
Để có áp lực với Triều đình Huế, Giơnuiy đã cho tàu chiến bắn phá các
pháo đài, thuyền buôn, tàu chiến của ta đọc theo bờ biển các tỉnh Bình Định,
Quảng Bình, Quảng Trị Nhưng do thái độ không dứt khoát của Triều đình,
nghi kho
sang thas
Gionuly làm chủ '
chúng lạ
bại trong đến cuối
Năng đã
Tại C
Triéu di
lan nay Triéu di dong xv chùa KÌ lớn quâ
(Trung
Sau phong Ì
nhiều ¢ trực tiế
về Ga Hoa
Nghé 1 thuyér
Trang 21nghị không thành Giơnuiy bị gọi về Pháp và Đô đốc Pagiơ (Page) được cử
sang thay Sang tới nơi, lúc đầu Pagiơ táo bạo thí nghiệm lại kế hoạch cũ của
Giơnuiy trước kia là đốc lực lượng đánh mạnh vào phía bác vịnh Đà Nắng để
làm chủ con đường đèo Hải Vân, rồi đánh thẳng vào Huế Nhưng một lần nữa,
chúng lại bị đánh bại, số quân lính bị chết và bị thương lên tới 300 người Thất
bai trong âm mưu đánh vào Huế, Pagiơ quyết định rút dần quân vào Gia Định,
đến cuối tháng 3 — 1860, toàn bộ quân Pháp sau 19 tháng chiếm đóng Đà Nắng đã rút hết về Gia Định
Tại Gia Định, Pagiơ một mặt chủ động đưa ra các điều khoản nghị hoà với Triều đình Huế, mặt khác vẫn ráo riết chuẩn bị để thời cơ tới là nổ súng Nhưng
lần này cũng như lần trước, cuộc nghị hoà đã thất bại vì thái độ cố chấp của
Triều đình Trong khi đó, giặc Pháp ở Gia Định ra sức mở rộng phạm vi chiếm
đóng xung quanh thành, đánh chiếm Chợ Lớn, lập một phòng tuyến kéo dài từ
chùa Khải Tường (gần Trường Thi) tới chùa Cay Mai (7— 1860) Sau đó, phần lớn quân Pháp trên mặt trận Gia Định lại bị điều động sang mặt trận Hoa Bắc (Trung Quốc)
Sau khi đã liên minh cùng với các nước tư bản Âu - Mĩ dùng vũ lực buộc
phong kiến Trung Quốc phải kí Điều ước Bắc Kinh (25 - 10 — 1860), mở thêm nhiều cửa biển, dành thêm nhiều thị trường cho các thế lực tư bản nước ngoài trực tiếp xâm nhập Trung Quốc, tư bản Pháp đem toàn bộ hải quân ở Viễn Đông
về Gia Định để xúc tiến việc xâm chiếm Nam Kì, để từ đó thôn tính Miên, Lào,
Hoa Nam (Trung Quốc) Đạo quân xâm lược của địch tập trung trên sông Bến
Nghé ngày mồng 7 - 2 — 1861 đã lên tới trên 4.000 người với gần 50 chiến thuyền các loại Đô đốc Sácne (Charner) được Chính phủ Pháp giao cho toàn
quyền tuyên chiến và kí hoà ước với Việt Nam Lực lượng của Triều đình Huế ở Gia Định do Nguyễn Trị Phương chỉ huy hầu hết tập trung trong Đại đồn Phú Thọ (Chí Hoà), được xây dựng gấp rút để chặn đường tiến của địch
4 giờ sáng ngày 24 - 2 — 1861, giặc Pháp bát đầu nổ súng công kích Đại đồn Chúng tiến quân rất chậm, phần vì hoả lực khá mạnh của quan quân Triều đình từ trong thành bắn ra, phần vì vấp phải hệ thống hào luỹ bảo vệ mặt ngoài thành Cuộc chiến đấu diễn ra khá ác liệt suốt trong hai ngày liền Cuối cùng, Nguyén Tri Phuong ra lệnh bỏ thành chạy về đồn Thuận Kiều ở sau lưng Dai đồn để cố thủ Nhưng ngày 28, địch tấn công chiếm luôn đồn Thuận Kiểu, quan quân Triều đình phải lui về Biên Hoà Sau đó, giặc Pháp thừa thắng mở rộng
19
Trang 22
Hoà (16 — 12 — 1861), Vinh Long (23 ~ 3~ 1862)
Trước sức tấn công ô ạt của tư bản Pháp, ngay từ đầu, giai cấp phong kiến
cầm quyền có trách nhiệm bảo vệ độc lập đân tộc đã tỏ ra hèn nhát và bất lực,
trong nội bộ đã sớm có sự phân hóa: phái chủ chiến và phái chủ hoà
Cùng đứng trên lập trường giai cấp phong kiến thống trị, hai phái trên có
cách giải quyết mâu thuẫn dân tộc khác nhau Phái chủ chiến muốn dựa vào
phong kiến Trung Quốc để đánh đuổi bọn cướp nước xa lạ mà họ gọi là bạch
quỷ (quỷ trắng), hay dương quỷ (quỷ ngoài biển) Tiêu biểu cho phái này có
phái “công thủ” gồm Tô Linh, Phan Hữu Nghi, Trần Văn VI, Lê Hiến Hữu,
Nguyễn Đăng Điều, Hồ Sĩ Tuấn chủ trương “phải giữ và đánh, thủ để công và
công để thủ, rồi quét sạch địch” Phái chủ hoà với các lập luận khác thường như
“chiến không bằng hoà”, “thủ để hoà”, “chống giặc duy thủ là hơn” bị phái thứ
nhất kịch liệt lên án: '“Trăm sự giáo quyệt đều do một chữ hoà mà ra cả”
Tiếng súng của giặc đã nổ ầm bên tai mà Triều đình còn bận bàn cãi, nghị
luận lung tung, kẻ hoà, người đánh, trên dưới không nhất trí, đánh hoà không
ngã ngũ Nhưng tựu trung, ý kiến được nhiều người tán thành là chủ hoà Điều
đó khẳng định một thực tế là ngay từ đầu, đại bộ phận hàng ngũ phong kiến
cầm quyền đã mang nặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa, đã có tư tưởng SỢ giặc
Trong thời kì đầu, vì quyền lợi giai cấp Dị trực tiếp đụng chạm, nên họ có phản
ứng lại Nhưng vì bất đắc di phải chống cự lại quân thù nên sức chống cự rất
hạn chế, để rồi đầu hàng từng bước trước kẻ thù, cuối cùng dâng toàn vẹn lãnh
thổ cho chúng
Chính tư tưởng bạc nhược này đã làm cho quan quân Triều đình bỏ lỡ nhiều
cơ hội đánh thắng quân thù Trước sau, Pháp không hể bị tấn công mạnh nên
thành cuộc xâm lược Tháng 9 — 1858, khi liên quân Pháp — Tay Ban Nha đổ bộ
đánh chiếm Đà Năng, định mở đường đèo Hải Vân lên kinh thành, hết Trần
Hoàng đến Lê Đình Lý, Phạm Khác Thận, Chu Phúc Minh và cuối cùng cả
danh tướng Nguyễn Trị Phương đều “án binh bất động”, chỉ chủ trương bao vây
địch ngoài mé biển, nếu địch đánh vào mới chống lại, còn không hề chủ động
tấn công địch lần nào Pháp đánh rát ở Đà Nẵng mà trên mặt trận duy nhất sát
thiếu quyết tâm tiêu diệt địch của Triều đình
20
Cần Nang k ctla tut |
Lầ
bắn p
chịu † chết 1 1.00
nam
VÌ SỢ dau t
Trang 23Cần nói rằng những điều kiện phòng thủ và tấn công địch trên mặt trận Đà
Nang không phải ít Ngay từ nam 1857, trước sự nhòm ngó ngày càng lộ liễu của tư bản Pháp, Đà Nẵng đã được tăng cường phòng thủ, số đại bác tăng gấp 3 lần, đồn lũy được củng cố lại, giữa lòng sông đắp cản để ngăn chặn tàu địch,
luôn luôn có trên dưới 3.000 quân thường trực Đó là chưa kể tới số dân quân rất
đông, sẵn sàng phối hợp với quân đội Triều đình tiêu diệt địch Đã thế, lúc này địch cũng gặp rất nhiều khó khăn về quân số và tàu chiến thiếu hụt vì vướng vào cuộc chiến tranh ở ltalia từ năm 1859 Chính tướng giặc Giơnuiy phải nhận rằng: “Nếu họ (Triều đình Huế) đánh mạnh thì họ đã đánh bại chúng tôi lâu rồi” Triều đình đã bỏ mất thời cơ thuận lợi để chiến thắng quân thù! Kết quả là sau 5 tháng bị sa lầy trên mặt trận Da Năng, vừa bị tiêu hao trong chiến đấu, vừa bị chết vì bệnh tật khá nhiều, lại thiếu thốn về lương thực và thuốc men, quân giặc vẫn có thể yên ổn đóng tại Đà Nẵng cho đến tháng 2 — 1860 mới rút toàn bộ vào Gia Định mở mặt trận mới
Lân này, giặc Pháp đã táo bạo cho tàu chiến ngược sông đi sâu vào nội địa bắn phá bừa bãi và tấn công chiếm thành Gia Định Các quan lại Triều đình chịu trách nhiệm ở đây đã không có những hành động cứng rắn kịp thời để bóp chết ngay từ đầu ý chí xâm lãng của địch Mặc dù thành Gia Định lúc đó có
1.000 quân, với đủ khí giới và lương thực cho l vạn quân đóng giữ trong một năm, nhưng quân Triều đình chỉ chống đỡ vài trận, rồi bỏ thành chạy dài Sau đó,
vì sợ bị Triều đình trừng phạt, Vũ Duy Ninh thắt cổ chết đề trốn trách nhiệm, mở đầu một chuỗi tự sát của bọn bầy tôi bất lực của một Triều đình Suy tàn
Quân giặc lo sợ vì vấp phải sức chiến đấu quyết liệt của nghĩa quân Họ tự
động ngày đêm bám sát địch để tiêu diệt, nên chúng không dám đóng quân trên
bộ mà phải rút xuống tàu đậu giữa sông rộng, chỉ đóng một đồn nhỏ trên bờ sông Trong khi đó, tướng lĩnh Triều đình vẫn ngồi yên không dám hành động Lúc này, phần lớn quân Pháp đã tiếp viện cho số quân đang bị khốn đốn ở Đà Nẵng, số khác bị vướng vào chiến tranh trên đất Italia (4 = 1859), hạm đội liên minh Anh - Pháp bị Trung Quốc đánh bại trên sông Bạch Hà Số quân địch ở Gia Định chỉ có dưới 1.000 người dàn mỏng trên một phòng tuyến dài hơn 10 cây số, nhưng Triều đình vẫn không bay biết gì về tình hình địch, cứ một mực
bao vây, vừa bao vây vừa thương thuyết, tuyệt nhiên không hề có một lần nào
chủ động tấn công địch Nguyễn Tri Phương từ lúc vào làm Tổng thống quân vụ
đại thần phụ trách mặt trận Gia Định (3 — 1860) cũng chỉ biết đôn đốc quân dân
hết đào hầm lại đắp lũy để bao vây dịch mé ngoài, thực hiện triệt để chiến
Trang 24thuật “án binh bất động”, không đánh và cũng không hoà Hậu quả là hàng
tiêu cho đại bác giặc
Tai hại hơn nữa, chính tình trạng trên dưới ý kiến không thống nhất, nội bộ
giai cấp phong kiến thống trị phân hóa phức tạp nên Triều đình bỏ lỡ nhiều địp
xong, hết Giơnuiy (7 ~ 1859), đến Pagio (3 — 1860) déu muon nghi hoa Cac
điều khoản chúng đưa ra như hai nước Pháp ~ Nam giao hảo lâu dài, khoan xá
do thông thương, tự do giảng đạo, lập lãnh sự và cửa hàng Ở các bến cảng, và
đặc biệt là điểu khoản cuối cùng “kƒ hoà ước xong là Pháp lập tức rút chiến
thuyền khỏi Gia Định” xét ra không phải là quá đáng, tình hình thực tế của
chúng lúc đó không cho phép đòi hỏi nhiều
Trong tình hình đó, Triều đình đúng ra là phải tranh thủ thời cơ hoà hoãn để
chỉnh đốn đội ngũ, bồi dưỡng lực lượng tiếp tục kháng chiến về sau Nhưng
Triều đình không thấy đâu là điều nhượng bộ tạm thời trước mắt, đâu là quyền
kí kết Kết quả là cuộc điều đình thất bại, trong lúc tình trạng không đánh
không hoà cứ kéo dài có lợi cho địch Đến khi Pháp kí xong Điều ước Bắc Kinh
(1860), những khó khăn lúng túng đã qua, chúng liền mở rộng cuộc xâm lược
chuỗi thất bại Cuối cùng, để cứu văn quyền lợi của giai cấp, đứng trước nguy
phản bội quyền lợi của nhân dân, của đân tộc bằng việc vội vã kí hàng ước ngày
mồng 5 — 6 — 1862, nhượng đứt ba tỉnh miền Đông Nam Kì cho giặc Pháp
đúng vào lúc phong trào kháng chiến trong nhân dân miền Nam đang lên
mạnh, buộc Pháp thấy rằng “cần phải chính phục lại những tỉnh đã chỉnh
phục rồi”
Trong khi Triểu đình hoang mang dao động, chống cự một cách yếu ot, đầu
hàng từng bước và cuối cùng cắt đất dâng cho giặc thì nhân dân cả nước đã
ngay từ đầu sôi nổi chống giặc Ý nghĩ của quần chúng rất đơn giản và đúng
chưa đến thì phải chủ động tìm chúng mà đánh Ngay từ những ngày đầu, chúng
ta đã thấy bên cạnh quân đội chính quy còn có đông đảo dân quân “gồm tất cả
những ai không đau ốm và không tàn tật” Với lực lượng đó, nếu Triều đình
quyết ta
học Pha gdm 10%
Quang
quan Pt chién di Trên Vĩnh di
và Đào
về bán Tiêt
quân d
động t động t đất lids
Ngi
phía € cách - 5.000
đấm
186 các dick
(
kha
Trang 25gồm toàn nho sĩ khỏe mạnh xin đi từ ngoài Bắc vào bổ sung cho quân thứ
Quảng Nam, xin mãi mới được chuẩn y;¡ nhưng khi vào đến kinh đỏ Huế thì
quân Pháp đã rút khỏi Đà Nẵng, họ liền xin được hành quân tiếp vào Gia Định chiến đấu, Triều đình ra lệnh bắt phải trở vẻ Bắc
Trên mật trận Đà Nẵng, vào tháng 5 ~ 1859, đội nghĩa quân của Phạm Gia
Vĩnh đã phối hợp chặt chẽ với đội quân của Triều đình do Nguyễn Song Thanh
và Đào Trí chỉ huy để đánh bại cuộc tấn công của giặc, buộc chúng phải chạy
về bán đảo Sơn Trà
Trên mật trận Gia Định, quân địch không đánh lan rong ra duoc mac di
quân đội chính quy của Triều đình ở đây không quá vài ngàn và không chủ
tìm giặc để đánh Nhân dân địa phương với lòng sôi sục căm thù đã tự
tổ chức thành đội ngũ để đánh địch ngay từ khi chúng mới đặt chân lên
giặc, yếm hộ cho các cánh quân Triều đình rút lui, khỏi bị tiêu diệt Đồng thời,
“
at
Đ
nhân dân Gia Định còn tự tay thiêu huỷ nhà cửa, rời đi nơi khác Chính giặc
Pháp phải thừa nhận “chiều nào ở thành phố cũng có những đám cháy” Cùng với sức chiến đấu của đồng bào Gia Định, khắp lục tỉnh, nhân dân nhiệt liệt ứng
nghia mộ binh
Đêm mồng 3 rạng mồng 4 — 7 — 1860, một đội nghĩa dũng 6.000 người do
Dương Bình Tâm cầm đầu đã xung phong đánh Chợ Rẫy, vị trí quan trọng nhất của địch trên phòng tuyến của chúng từ chùa Cây Mai đến Trường Thi Nghĩa
quân đã phục kích đâm chết tên Đại úy Bácbê (Barbe) gần Trường Thị, đánh dam tàu chiến địch Primôghê (Primauguet) đậu trên sông Đồng Nai đầu năm
1861 Quan Phap còn chép lai rằng, dân dũng đêm đêm tìm cách VƯỢT qua giữa
các đồn địch đóng quanh thành Gia Định để lọt vào nội thành, tía dần từng tên địch đốt cháy cơ sở định trại của giặc, làm cho chúng hoang mang lo sợ
Giặc Pháp từ Gia Định đánh chiếm rộng ra các tỉnh lân cận, phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Kì còn phát triển mạnh hơn nhiều, chúng càng
t2 Gà
Trang 26
vào sâu trong nội địa càng phải trả giá đất hơn Dưới sự lãnh đạo của các văn
: Điển hình có cuộc nổi dậy của Trương Dinh, Đỗ Trinh Thoại, Nguyên
| Thông, Phan Văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, Trà Quý Bình, Trịnh Quang Nghị, Lưu
| Tuấn Thiện, Lê Cao Dõng, Nguyễn Thành Ý ở Gò Công, Gia Định, Chợ Lớn,
Mười từ năm: 1865 đến năm 1866; Nguyễn Trung Trực ở Tan An và Rạch Giá từ
ong Phap 1 nhu Dé Quang, Au Duong Lan, Tran Xuan Hoà, Nguyên Hữu
ăn Trị, phối hợp tác chiến với nghĩa quân Trương Định
4 ay cia Truong Dinh là phong trào lớn nhất lúc đó Trương Định
ä đấu rất sớm trên mật trận Gia Định Ngay sau khi Pháp chiếm thành
¡a Định (17— 2— 1859), ông đã đưa đội nghĩa quân của ông gồm toàn nông
đân đồn điển dưới quyền lên đóng tại đồn Thuận Kiều, phối hợp cùng quân đội
chính quy của Triểu đình xung phong đánh giặc Trong các lần giao tranh với
quân thù, Trương Định đã chiến đấu rất anh dũng nên được bình lính dưới
quyền và nhân dân tin cậy đi theo rất đông Nhận định về ông giặc Pháp đã phải
thừa nhận rằng nếu quan lại Triều đình không tìm cách hạn chế ông mà để ông
hoạt động được tự do hơn thì chúng còn bị thiệt hại nhiều hơn nữa và có thể bị
thua rồi
Khi Nguyễn Tri Phương được điều động từ mặt trận Đà Nắng vào phụ trách
mặt trận Gia Định (3 — 1860), Trương Định đã chủ động đem quân của mình tới
phối hợp tác chiến với đội quân chính quy của Nguyễn Tri Phuong Phong
tuyến Chí Hoà bị vỡ và Đại đồn thất thủ (2-1861), quân đội chính quy của Triều
đình bỏ chạy tấn loạn, ông liền điều động đội nghĩa quân của ông về hoạt động
ở Gò Công thuộc huyện Tân Hoà (Gia Định), quyết tâm chiến đấu lâu dài
Trong thời gian đầu, lợi dụng địch còn phải lo đối phó ở nhiều nơi, Trương Định
đã nhanh chóng phát triển thế lực, chiêu mộ thêm binh sĩ, dồn lương, đúc súng
và đánh thắng nhiều trận Địa bàn hoạt động của nghĩa quân không những ở Gò
Cong, Tan An, Mi Tho ma bao gồm cả vùng Chợ Lớn, Gia Định, lan rộng ra hai
bên nhánh sông Vàm Cỏ, từ Biển Đông lên tới biên giới nước Cao Miên, kiêm
lĩnh hay liên lạc với hầu hết những người cầm đầu các toán nghĩa quân khác hồi
đó, như Đô Trinh Thoại, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dõng, Trần Xuân Hoà, Nguyễn
Trung Trực, Võ Duy Dương Nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cũng
24
làm qu nước €
Định È Phd
thêm n
khởi nị Sai Goi Nam K
các qui như: G
phóng
Tra (ttre Gi
Dé Tr Trươn‡
nhận: tinh th tới Cu
đã đối Nhật ˆ
2
miền
Ch như v Nguy: 5-6 ude V
chỗ y
vũ kh
tiêu €
Trang 27nước chống Pháp cũng tìm đến nương tựa nghĩa quân, như Tuần phủ Gia Định Đồ Quang
Phối hợp với phong trào chung, cuộc khởi nghĩa của Trương Định ngày càng
thêm mạnh Trong năm 1862, phong trào dâng cao khắp nơi, gần như “tổng
khởi nghĩa” Giặc Pháp buộc phải thừa nhận chỉ trừ vùng ngoại ô trực tiếp của sai Gòn tương đối yên ổn, còn thì một cuộc tổng khởi nghĩa đang lan tràn khắp
Nam Kì, lôi cuốn tuyệt đại bộ phận nhân dân tham gia Đến tháng 3 — 1862,
chúng đã phải rút khỏi nhiều đồn vì sợ bị nghĩa quân tập kích tiêu diệt Phần lớn
các quận, huyện và thị trấn quan trọng thuộc hai tỉnh Gia Định và Định Tường
như: Gd Cong, Tan An, Rach Gam, Cai Lậy, Chợ Gạo, Bến Lức đều được giải phóng Địch chỉ còn giữ mấy tỉnh thành và một số ít đồn bị cô lập nên rất hoang
mang lo sợ Ngược lại đân tâm sĩ khí lên rất cao
Trận đánh lớn nhất trong thời gian này là trận tấn công vào căn cứ Quy Sơn (tức Gò Rùa, cách Gò Công vài cây số) vào đêm 2l, rạng sáng 22 — 6 — 1861 do
Đỗ Trinh Thoại chỉ huy, có sự phối hợp tác chiến chặt chế của nghĩa quân Trương Định Tuy không chiếm được cứ điểm, Đỗ Trinh Thoại và nhiều người
khác bị hi sinh, nhưng nghĩa quân đã anh đũng chiến đấu buộc địch phải xác: nhận: “Bây giờ phải mo mắt ra trước một sự thật hiển nhiên là người Việt có
tinh thần tự chủ và quyết tâm giữ gìn độc lập dân tộc” Đồng thời cũng phải kể tới cuộc phối hợp tài tình của toán nghĩa quân do Nguyễn Trung Trực chỉ huy
đã đốt cháy và đánh chìm tàu chiến Étpêrăng (Espérance) của Pháp trên sông
vũ khí Hơn nữa, triều Nguyễn muốn bắt tay với Pháp để có thể đồn lực lượng
tiêu điệt các phong trào đấu tranh rầm rộ của nông dân ngoài Bắc
25
Trang 28Về phía địch, mặc dù đang đánh thắng và chiếm đất, chúng nhận thấy nghị
hoà sớm ngày nào là có lợi ngày ấy Thực tế trên chiến trường Nam Kì chúng
không đủ binh lực để chiếm rộng ra và bình định các nơi đã chiếm được Dư
luận nước Pháp lúc đó đối với việc xâm chiếm Việt Nam cũng chưa nhất trí,
một số người chủ trương nên chú ý đến các vùng Cận Đông và châu Mĩ mà họ
cho là gần gũi và để ăn hơn Đã thế, chính lúc này, một lực lượng quân sự lớn
của Pháp lại đang bị sa lẩy trên chiến trường Mêhicô và có nguy cơ bị tiêu diệt
Trong những điều kiện cụ thể như vậy, thực dân Pháp chỉ mong sớm kí kết được
hoà ước với Triều đình Huế để vừa giữ nguyên được các vùng đất đã chiếm, vừa
có thời gian chuẩn bị mở rộng phạm vị chiếm đóng khi có điều kiện
Cuộc nghị hoà tiến hành rất nhanh chóng Ngày mồng 5 — 5 — 1862, phai
viên của tướng giặc Bôna (Bonard) mới đem thư nghị hoà ra Huế thì đến ngày
Sài Gòn Hai phái viên của Triều đình là Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp
đều là những phần tử chủ hoà nên hoàn toàn bưng tai bit mắt trước những khó
khăn do phong trào kháng chiến của nhân dân ta cũng như của nhân dân
Mêhicô đang gây cho Pháp và đã hạ bút kí bản hoà ước ngày mồng 5 — 6 —
1862 gồm 12 điều khoản, trong đó có những điều khoản sau: nhượng ba tỉnh
miền Đông Nam Kì (Gia Định, Biên Hoà, Định Tường) cho thực dân Pháp; mở
rộng các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho tàu bè Pháp tự do thông
thương; nộp tiền bồi thường chiến phí là 20 triệu quan (ước tính đến 280 vạn
lạng bạc)
Hoà ước kí kết xong, thực dân Pháp vội cho các thuyền máy hối hả truyền tin
đó đi các nơi, nhất là ở các nơi đang bị nghĩa quân uy hiếp nghiêm trọng, tưởng
rằng nghĩa quân các nơi sẽ ngoan ngoãn thi hành lệnh của Triều đình hạ khí
giới, giải tán về làng làm ăn Nhưng trái với mong muốn của chúng, nghĩa quân
đã bắn vào các thuyền máy để biểu thị mối căm phân lớn lao của họ đối với bản
hàng ước Các toán nghĩa quân đã không chịu công nhận chính quyền mới của
thực dân Pháp Họ không chịu rời sang ba tỉnh miền Tây còn thuộc Triều đình
mà cương quyết ở lại bám đất, bám dân tiến hành cuộc kháng chiến ngay trong
lòng địch Đặc biệt, phong trào “t1 địa” của văn thân, sĩ phu miền Đông bỏ “đất
bạch quỷ” mới bị Pháp chiếm rời sang ba tỉnh miền Tây còn là đất tự do Nhà
thơ Nguyễn Đình Chiểu tuy hai mắt bị mù vẫn tham gia phong trào này Còn
Triều đình phong kiến, sau khi kí hoà ước đã vội phái Phan Thanh Giản vào
phụ trách công việc các tỉnh còn lại Theo lời yêu cầu của thực dân Pháp,
26
oO han cho F
bai b
o An chuộ lần n
Trang 29
i an ca i ha khí giới, nệ ing dan
dc ‘ afl] jan :
‘
r a a : O
chie tank een
chưa nhất trí pes pe aa khác hai lần hạ
`
chưa nhất i, bãi binh, mat
ân viết thư vừa mua
lê al cang iam
trong & bay khắp nơi, càng tăng thêm tin tưởng cho đồng bào bao ae ing ,
Trang 30
Tân Thành Để rèn thêm vũ khí giết giặc, các lò rèn đã hoại động suot ngây
đêm Mật khác, Trương Định còn liên lạc cả với một số nhà buôn Hoa kiêu đề
mua súng đạn nước ngoài Đó là chưa kể tới căn cứ Giao Loan được xây dựng
sát tỉnh Bình Thuận miền Trung để dựa vào miền Trung mà tổ chức việc đúc
súng ống Quy mô của nghĩa quân lúc đó vì vậy khá lớn
Giặc Pháp thừa biết rằng đầu não của phong trào kháng chiến là ở căn cứ
Tân Hoà (Gò Công), muốn bình định được Nam Kì không thể không chiếm lấy
can cứ đó Cho nên, sau khi nhận được thêm viện binh vào đầu năm 1863,
chúng đã mở cuộc tấn công lớn vào căn cứ Tân Hoà Cuộc tấn công từ bốn phía
bat dau tir Sáng ngày 25 — 2 Nghĩa quân đã anh dũng chiến đấu suốt ba ngày
liền Nhưng sau khi hai viên tướng Đặng Kim Chung và Lưu Bảo Đường bị
trúng đạn chết, họ đã phải rút khỏi căn cứ để bảo toàn lực lượng Địch chiếm
được Tân Hoà ngày 28 — 2 Trương Định rút quân vẻ lập căn cứ mới ở Phước
Lộc, kiểm soát các tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Đồng Tháp Mười và
các vùng bưng giữa Sài Gòn ~ Trang Bang, Vam Cé Đông, tức vùng bưng Tầm
Lạc, tổng Cầu An Hạ
Sau khi mất căn cứ Gò Công, Trương Định vẫn không ngừng hoạt động ở
khắp mọi nơi, có khi ngay ca 0 ngoai ô Sài Gòn Nghĩa quân thường lọt vào các
thành phố bị tạm chiếm để dán bố cáo có đóng đấu đồng của Bình Tây Đại
nguyên soái Đồng bào các xã chuyền tay nhau đọc các bản hịch kêu gọi chống
Pháp của Trương Định, Giặc Pháp và tay sai biết rõ Trương Định còn hoạt động
thì chúng chưa thể ngồi yên được, nên đến ngày 25 ~ 9 1863, chúng lại mở
đợt tấn công mới Lúc này, Trương Định đang đóng quân ở Lý Nhân Khi địch
kéo tới, nghĩa quân vừa chống trả lại vừa đời về căn cứ Tân Phước có địa thế
hiểm yếu, căn cứ này nằm gần ven sông Soài Rạp, nơi hai con sông Vàm Cỏ
gap sông Đồng Nai và sông Bến Nghé Lúc này, dưới quyền Trương Định còn
hơn | van quân, ông đang ráo riết chuẩn bị đánh úp, thu phục lại Tân Hoà
Nhưng giặc Pháp có tay sai là Huỳnh Công Tấn (đội Tấn) — tên này trước theo
Trương Định cùng các tùy tướng tại Tân Phước Trong cuộc đấu súng quyết liệt
vào hứng sáng ngày 20 — § ~ 1864, Trương Định đã cùng các chiến sĩ của Ông
chiến đấu vô cùng anh dũng, Nhưng không may, ông bị trúng đạn gẫy xương
sống Không muốn để giặc bắt, ông đã rút gươm tự sát
Chủ tướng Trương Định hi sinh, phong trào kháng chiến của đồng bào Nam
Kì gặp khó khăn hơn nhiều Một số nghĩa quân đã rút lên Đồng Tháp Mười lập
Căn cứ trong vùng rừng thưa cỏ rậm đầy nước, mộ thêm binh, trữ thêm lương,
28
Trang 31rèn thêm gươm giáo, tích thêm súng dan và thường lừa lúc giặc sơ hở, kéo ra
đánh các vùng nhu Mi Tho, Tan An, Chợ Lớn, Một số kéo về bổ sung cho căn
cứ Giao Loan giữa Bà Rịa và Bình Thuận Một số khác hợp lại dưới lá cờ của
Nguyễn Huân hoạt động trong các vùng Gò Công, Tân An, Chợ Gao, Bình
Dương, hay của Võ Duy Dương hoạt động ở Đồng Tháp Mười, Con trai của Trương Định là Trương Quyền, mặc dù còn trẻ tuổi, cũng tiếp nối chí hướng của
cha, kéo một toán nghĩa quân lên Tây Ninh, phối hợp chặt chẽ với đồng bào Khơme và đồng bào Thượng để xây dựng cơ sở kháng chiến lâu dài trên mot dia bàn rộng lớn từ Sài Gòn đến Uđông — cé đô nước Miên
Sau khi hoà ước nhục nhã ngày 5 — 6 ~ 1862 được kí kết, làn sóng phản đối
dâng lên rất cao trong nhân dân, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa bùng nổ, trong
khi Triều đình nhà Nguyễn đã ngoan ngoãn thi hành các điều khoản đã kí kết,
mặc đù hoà ước đó chưa được Chính phủ Pháp phê chuẩn
Tháng 12 — 1862, Triều đình đã y hẹn trả năm đầu chiến phí, đồng thời cũng
vào khoảng cuối năm đó, lại gửi thư vào Sài Gòn đề nghị với Pháp cho chuộc lại
ba tỉnh mới mất Nhưng thái độ của Pháp là dứt khoát phải chiếm đứt ba tỉnh làm bàn đạp mở rộng chiếm đóng về sau Cho nên, sau khi hoà ước được Chính phủ Pháp phê chuẩn, tháng 4 — 1863, Bôna đã ra ngay Huế buộc Tự Đức phải kí chuẩn y hoà ước Để xoa dịu phong trào chống Pháp lên mạnh trong nhân dân
và cũng để mua chuộc vua quan Triều đình Huế, Pháp giao trả thành Vĩnh Long cho Triéu dinh (25 — 5 ~ 1863)
Tháng 6 - 1863, Triều đình Huế cử phái bộ do Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp với nhiệm vu xin sửa lại hoà ước 1862 và chuộc lại ba tỉnh miền
Đông Nam Kì Phái đoàn sang đến Pháp vào lúc tình hình rất thuận lợi để
thương thuyết: nước Pháp đang bị thua to ở Mêhicô, dư luận nước Pháp phản đối các cuộc viễn chinh vừa tốn kém vừa nguy hiểm và sắn sàng điều đình với Triều đình Huế với những điều khoản mới Nhưng phần do thái độ của phái đoàn thiếu tự tin và cứng rắn, phần do sự phá hoại của cánh thực dân hiếu
chiến, cuộc điều đình cuối cùng thất bại Hoà ước (5 — 6 1862) vẫn được thi hành và việc xin chuộc lại ba tỉnh không thành Không những vậy, thực dân
Pháp còn chuẩn bị ráo riết để khi có thời cơ, đánh chiếm luôn cả ba tỉnh miền
Tây Nam Kì
Thất bại thảm hại trong đường lối ngoại giao, nhưng Triều đình nhà Nguyễn vẫn chưa tỉnh; đã thế, còn ngày một đi sâu hơn vào con đường phản động Triều đình tuyệt nhiên không thấy biện pháp tích cực nhất và duy nhất đúng lúc bấy giờ là để thu hồi đất đai đã mất phải lo chỉnh đốn nội trị, bồi dưỡng sức dân,
phát động chiến tranh yêu nước Trái lại, chỉ lo dồn mọi lực lượng sẵn có
Trang 32
Mười hai vị sứ thần V iét Nam di sit tai kinh dé Pháp (Paris) năm 1863
để cải thiện cuộc sống bị đát của mìn] l
Từ tháng 4 — 1862, Nguyễn Thịn
Bắc Ninh, được nông dân nghèo th
dưới sự chỉ huy của Nông
h (tục gọi là Cai Vàng) kéo cờ khởi nghia
eo rất đông Tháng 9 năm đó, đồng bào Thổ Hùng Thạc lại nổi dậy ở Tuyên Quang
tới hoạt động của những toán phi từ Trung Quốc
Hoàng Nhị Văn, Lưu Si Anh hoành |
Thắng ở Cao Bằng Cuối cùng phải nói
Cũng phải kể
tràn sang, như Lý Đại Xương,
nành ở phía bắc Thái Nguyên; Lý Hợp tới cuộc nổi loạn của Tạ Văn PỊ
thực dân Pháp giat dây thông qua bàn tay của bọn gián điệp đội lốt thả
để Triều đình bối rối vì phải lo đối phó với
nhượng bộ chúng trong
nung do
y tu, cốt
phong trào ngoài Bắc mà sơ hở và
Nam Phong trào chống Triều đình phong kiến mục nát
ngày một lan rộng trong cả nước, Đặc biệt, năm 1866, bùng nổ ngay tại kinh
Tri P phon lay ti nhun cuac
Trang 33Cúc bất bình với chính sách cắt đât đầu hàng giặc của Tự Đức
Để đối phó lại, Triều đình đã phải điều động nhiều danh tướng như Nguyễn
Trị Phương, Trương Quốc Dụng, Vũ Trọng Bình đem quân đàn áp dữ dội các
phong trào ngoài Bắc Riêng đối với cuộc khởi nghĩa ở Huế, Triểu đình càng rả
tay tàn sát dữ dội Kết quá là các cuộc khởi nghĩa trước sau đều bị thất bại,
nhưng đã đánh dấu sự suy đốn cùng cực của triều Nguyên, sự phẫn nộ cao độ của các tầng lớp nhân dân đối với giai cấp phong kiến thống trị
3 Thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì Trong lúc Triều đình Huế chỉ lo đốc lực lượng vào việc đàn áp phong trào
nông dân Trung Kì, Bắc Kì và tìm cách phá hoại, ngăn trở phong trào yêu nước
chống Pháp của đồng bào Nam Kì thì thực dân Pháp ngày đêm ráo riết chuẩn bị
âm mưu chiếm nốt ba tính miền Tây Nam Kì Để dọn đường cho việc thực hiện
âm mưu này, năm 1863 thực dân Pháp đã thừa lúc phong kiến Miên sơ hở để
chiếm đóng kinh thành Nam Vang (Phnôm Pênh), sau đó dùng áp lực quân sự
buộc vua Nôrôđôm (Norodom) phải công nhận quyền bảo hộ của chúng Sau khi ba tính miền Đông Nam Kì và nước Cao Miên lọt vào tay Pháp, số phận ba
tính miền Tây Nam Kì có thể xem là đã được định đoại
Nhiều lần, chúng vu cáo quan lại Triều đình ở ba tỉnh miền Tây ngấm ngầm ủng hộ hay tổ chức phong trào chống Pháp ở ba tính miền Đông Chúng còn
tuyên bố duy trì các quan lại Triều đình Huế ở miền Tây là nguy cơ thường trực
cho xứ Nam Kì thuộc Pháp và láo xược báo trước cho đại điện Triều đình Huế ở
Vĩnh Long là Phan Thanh Giản rằng: một hành động cừu địch như vậy buộc
chúng phải thôn tính các tỉnh còn lại Trong khi đó, Triều đình Huế trước sau
vẫn theo đuổi đến cùng chính sách cầu hoà chuộc đất, không những đã không tích cực đề phòng trước âm mưu địch, mà còn có nhiều hành động vô cùng có hại cho phong trào chống Pháp, như giải tán nghĩa quân miền Đông, nghiêm
cấm nhân dân miền Tây ủng hộ miền Đông kháng chiến
Nắm chắc tình hình đó, Pháp càng muốn hành động gấp Tháng 10 — 1866, chúng cử phái viên ra Huế đưa thư thăm dò thái độ Triều đình Huế, hứa hẹn nếu bằng lòng giao luôn ba tỉnh miền Tây thì chúng sẽ giúp Triều đình tiễu trừ hết
31
Trang 34
giặc biển va sẽ đình hết mọi khoản tiễn bồi thường Đến tháng 2 — 1867, thực
dân Pháp một lần nữa lại phái người ra Huế đòi trả tiền bồi thường chiến phí và
nhượng ba tính miền Tây cho chúng
Tình hình nước Pháp lúc này cũng thuận lợi cho việc thực hiện âm mưu mở rộng xâm lược Việt Nam Tên Giơnuiy trước kia từng cầm quân đánh Đà Nẵng
và Gia Định đến nay đã giữ chức Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa rất tán đồng
việc chiếm luôn ba tỉnh miền Tây để nắm được toàn bộ lưu vực sông Cửu Long
từ Hạ Lào xuống Cuộc chiến tranh ở Mêhicô (Bắc Mi) lúc này đã chấm dứt với
sự thất bại hoàn toàn của Pháp nên bọn tư bản hiếu chiến Pháp muốn nhân cơ
hội này tìm một thắng lợi dù nhỏ để đền bù vào tổn thất lớn lao vừa qua
Sau khi chuẩn bị xong mọi mặt, sáng ngày 20 - 6 — 1867, địch kéo tới dan
trận trước thành Vĩnh Long Kinh lược sứ miền Tây Phan Thanh Giản và Trấn
thu Vinh Long Truong Van Uyén vội xuống tàu địch để thương thuyết Nhưng
kẻ thù quyết tâm lấn tới, đưa thư buộc phải nộp thành không điều kiện Trong
tình thế thân cô thế cô cuối cùng Phan Thanh Giản phải nộp thành cho chúng
không một chút kháng cự Theo ý Pháp, ông còn viết thư cho quan quan hai tinh
An Giang, Hà Tiên yêu cầu nộp thành để “tránh khỏi mọi sự đổ máu vo ich”!
Cho nên sau khi lấy xong thành Vĩnh Long, địch chia quân chiếm tỉnh lị An
Giang là Châu Đốc (21 - 6), rồi chiếm luôn Hà Tiên (24 - 6) không tốn một
viên đạn Các quan lại Triều đình ở hai tỉnh vốn sợ Pháp nên sắn sàng nộp thành
cho giặc mặc dù quân dân ở đây đều chống giặc đến cùng
Lấy xong ba tỉnh miền Tây, thực dân Pháp cho người ra Huế báo sự việc
đã rồi Triều đình không hề phản ứng, mà chỉ xin đổi ba tỉnh miền Tây mới
mất để lấy lại tỉnh Biên Hoà, nhưng không được Pháp chấp nhận Còn Phan
Thanh Giản thì sau khi để mất ba tỉnh đã nhịn ăn trong 17 ngày rồi uống
thuốc độc chết
Sau khi ba tính miền Tây đã lọt vào tay giặc Pháp, phong trào kháng chiến
trong nhân dân lên rất mạnh Một số văn thân, sĩ phu yêu nước chống Pháp một
lần nữa lại tìm cách vượt biển ra vùng Bình Thuận ở cực Nam Trung Kì, lập ra
Đồng Châu xã do Nguyễn Thông cầm đầu để nương tựa vào nhau, lập căn cứ
Tánh Linh để mưu cuộc kháng chiến lâu đài về sau, Một số khác đã Cương
quyết ở lại bám đất, bám dân, tham gia phong trào chống Pháp Con trai của
Trương Định là Trương Quyền đã kéo quân lên xây dựng cơ sở kháng chiến ở
vùng Tháp Mười - Tây Ninh, liên minh với nhà sư yêu nước người Miên là
Pucôr Tôn v
noi dé
Trà V Giá)
Ở Tân
em Ð
Tong Cong Cần 1 Đốc,
mé la trao b
ngoại Động những
(1) True (2) Neu 3ÐCLSVIỆT N
Trang 35Pucômbô chống Pháp quyết liệt từ năm 1866 đến năm 1868 Nam 1867, Phan
Tôn và Phan Liêm (hai con trai của Phan Thanh Giản) đã cầm đầu nghĩa quân
nổi dậy suốt một vùng rộng lớn bao gồm các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vĩnh Cùng năm đó, Nguyễn Trung Trực lập căn cứ ở Hòn Chông (Rạch
Giá) Nguyễn Hữu Huân được giặc Pháp thả từ hải dao vé lai tiếp tục khởi nghĩa
ở Tân An va Mi Tho năm 1875 Ngoài ra còn có Thân Văn Nhíp ở Mĩ Tho, anh
em Đồ Thừa Long, Đỗ Thừa Tự ở Tân An và Rạch Giá trong nam 1868: Phan Tòng ở miền Ba Tri (Bến Tre) và Giồng Gạch từ năm 1869 đến năm 1870; Lé
Công Thành, Pham Van Đồng và Âu Dương Lân ở Vĩnh Long, Long Xuyên, Cần Thơ năm 1872; Trần Văn Thành ở Bãi Thưa giữa các tính Hà Tiên, Châu Đốc, Rạch Giá, Long Xuyên năm 1873; Nguyễn Xuân Phụng, Đoàn Công Bửu
ở Trà Vinh năm 1875; Lê Tấn Kế, Trần Bình ở Ba Động (cũng thuộc Trà Vinh)
năm 1875; cho đến cuối cùng là Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Bường (Đề Bường) lập căn cứ Bà Điểm, Hóc Môn năm 1885
Như vậy, Nam Kì bị thực dân Pháp kéo tới xâm chiếm trước tiên nên đồng
bào miền Nam cũng đã trước tiên đứng lên anh dũng đánh giặc giữ nước
Phong trào chống Pháp ở Nam Kì từ năm 1859 về sau kếo đài hơn 20 năm đã
chứng minh hùng hồn tỉnh thần chiến đấu oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam
Kì Bất đầu đấy lên ở miền Đông, phong trào sau lan rộng khắp Nam Kì và
nhanh chóng biến thành cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, sôi nổi và mạnh
mẽ lạ thường, buộc chính kẻ thù phải khâm phục Rõ ràng đây là một phong trào bắt nguồn từ lòng căm thù vô hạn của quần chúng nhân dân đối với giặc ngoại xâm, nguyện hi sinh tất cả và chiến đấu đến cùng để cứu nước cứu dân
Động lực kháng chiến chủ yếu lúc bấy giờ là đông đảo nông dân Nam Kì,
những người “dân ấp, dân lân”:
“Cul cut lam ăn,
Lo toan nghéo kho, Chufa quen cung ngựa, đâu tới trường nhụng'”,
Chỉ biết ruộng trâu, ở theo làng họ
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, "iệc cấy, tay vốn quen làm, Tập khiên, tập súng, tập mác, tap co, mat chua ting ned")
(1) Trường nhung: dịch chữ nhưng trường là nơi chiến trận
(2) Nguyễn Đình Chiếu — Van rõ ughia si Can Giuoe
3.ÐCLSVIỆT NAM-T2
33
Trang 36igual | |
Khi Tổ quốc lâm nguy, những người dân bình thường giàu lòng yêU HƯỚC,
căm thù giạc đã sẵn sàng hành động không một chút do dự, với khí thế dũng
cảm phi thường:
| “Ngoài cậi có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngò/"
Trong tay cẩm một ngọn tam vong, chi nai sắm dao ttt
nón go", Hoả mai đánh bằng rơm con củi, CÑN§ đốt xong nhà
day dao kia;
Guom đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cñng chém rớt đầu
quan hai no
Chỉ nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào
lưới tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô Cửa Xông
vào liều mình như chẳng có!
Kẻ dâm ngàng, người chém ngược, làm cho mã tà, ma nữ”
hồn kinh!
Bọn hè trước lũ ó sau, trối kệ tau thiéc, tau đồng súng
no, Các sĩ phu, văn thân hồi đó đã sống cùng nhân dân nên có tinh thần yêu nước
chống xâm lược mạnh mẽ
Cuối cùng, vì bị Triều đình cố tình bỏ rơi hay tìm cách ngăn trở phá hoại,
các cuộc khởi nghĩa đều lần lượt thất bại Nhưng phong trào đấu tranh vũ trang
yêu nước chống Pháp trong nhân dan miền Nam không bao gid bi dap tat, bat
chấp muôn vàn thủ đoạn đàn áp man rợ của quân thù, đúng như câu nói của
Nguyễn Trung Trực hiên ngang trả lời giặc Pháp khi chúng tìm cách dụ đỗ mua
chuộc ông: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”
(1) Bao tấu, bầu ngòi: túi đựng dan, túi đựng thuốc nỗ
(2) Dao tu, nón gỗ: dao lưỡi đài và nón tre chóp gỗ của lính
(3) Mã tà, má ní: mã tà tiếng Malaixia là cảnh sát Ma ní, lính đánh thuê, người ở Manila, thủ đô
Philippin Sau thành tiếng chi chung lính cảnh sắt và lính lê dương đánh thuê
(4) Nguyễn Đình Chiểu - Vấn rế nghĩa sĩ Cân Giuộc
34
Chis
chuan | gap rut
trực tiể hiếu ch hiện Chúng sức VƠ
nơi để
Chợ L trị và Ì nho sĩ ngữ và
Đồ
ngăn mặt t
khác '
Trang 37CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM CHỐNG PHÁP
MỞ RỘNG XÂM LƯỢC RA BẮC KÌ VÀ TRUNG KÌ
(1873 — 1884)
I THUC DAN PHAP RAO RIET CHUAN BI
MỞ RỘNG ĐÁNH CHIẾM RA BẮC KÌ
Chiếm xong Nam Kì, thực dân Pháp càng có thêm điều kiện để ráo riết
chuẩn bị cuộc tấn công chỉnh phục toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Chúng ra sức gấp rút củng cố bộ máy cai trị, đàn áp từ trên xuống dưới, một bộ máy cai trị trực tiếp mang nặng tính chất độc tài quân sự nằm gọn trong tay bọn sĩ quan hiếu chiến và tham bạo Với bộ máy cai trị này, thực dân Pháp đã thẳng tay thực hiện mọi thủ đoạn giết người, bát sưu, đánh thuế, bắt lính trong nhân dân Chúng cũng bát đầu thi hành một số biện pháp kinh tế thực dân gấp rút (như ra sức vơ vét lúa gạo trong nhân dân để xuất khẩu kiếm lời; cướp đoạt ruộng đất các nơi để bán đấu giá hay cho thuê dài hạn; bắt đầu xây dựng thành phố Sài Gòn —
Chợ Lớn với bến tàu, xưởng Ba Son ) Để phục vụ đắc lực các chính sách chính
trị và kinh tế trên, thực dân Pháp còn mở trường dòng, trường thông ngôn, trường nho sĩ và trường Pháp — Việt đào tạo cấp tốc, tay sai các loại; ra báo chữ Quốc ngữ và chữ Pháp tuyên truyền ráo riết cho việc đánh chiếm Bắc Kì sắp tới
Đồng thời, vừa để hợp pháp hoá việc chiếm đóng ba tỉnh miền Tây, vừa để ngắn chặn mọi ý định thương thuyết của Triều đình Huế, thực dân Pháp một
mặt ra sức vận động chính giới ở Pháp thừa nhận việc lấn chiếm vừa qua, mặt
khác chủ động yêu cầu Triều đình Huế sửa đổi Điều ước năm 1862
35
Trang 38Âm mưu của kẻ thù thâm độc như vậy, nhưng phong kiến triểu Nguyên đã to
ra hoàn toàn bị động va bất lực Trước sau, chúng van tiép tuc thi hanh chinh
sách khuất phục đầu hàng trước uy vũ của thực dân Pháp Kẻ thù đã trắng trợn
chiếm đóng phần lớn đất nước và dang ráo riết âm mưu thôn tính ca nude,
phó lại Nhân dân đòi hỏi Triểu đình phải có hành động thích hợp khi vận nước
lâm nguy, nhưng triều Nguyễn chỉ tiến hành nhỏ giọt và chậm chạp một số công
tác phòng thủ như tổ chức thêm một số cơ hương binh ở các tỉnh, bổ nhiệm một
số võ quan đi trấn thủ các nơi xung yếu, xây thêm đồn lũy ở bến Thị Nại (Quy
Nhơn) và đặt thêm đại bác, súng đồng bảo vệ Thuận An, đúc thêm súng ống
Để sau đó, triều Nguyén lai tim cach ngan trở, phá hoại các cơ sở kháng chiến
động lập ra, giáng chức hay tống giam các quan lại và sĩ phu ở các địa phương
tham gia phong trào chống Pháp, Đường lối chủ yếu của Triều đình trước sau
phong kiến van tiếp tục ra sức vợ vét bóc lột nhân dân cả nước, vừa để thoả mãn
nhu cầu xa xỈ của giai cấp phong kiến suy tan, vừa để có tiền bồi thường chiến
phí cho Pháp Trong khi đó thì nông nghiệp bỏ bê trẻ, các công tác đinh điền và
ngành đó Kết quả là nền tài chính của nhà nước phong kiến ngày thêm thiếu
khởi nghĩa nông dân ở nhiều nơi thuộc vùng đồng bằng, như Tuần Vĩnh (Hà
Chuyên, Nguyễn Nhiễm, Nguyễn Văn Dai (Bac Ninh); Quan Thoa, Quan Uy,
theo biên giới hai nước Việt — Lào, đồng bào Mông ngoài Bắc và đồng bào
Thượng trong Nam Trung Kì cũng nồi dậy Đặc biệt, tình hình ngoài Bác lúc
này còn rối ren thêm nhiều bởi sự xâm nhập của nhiều toán thổ phi từ Trung
dồn đậ
phong
phat t nhằm
vẫn có bên tr: thuẫn Pháp
quyền
ngoar
triển |
thoi |
Trang 39quân sang đánh dẹp các toán thổ phi Tình cảnh nước nhà nguy khốn như vậy đã
thúc đẩy một số quan lại và sĩ phu tiến bộ thức thời mạnh dạn đưa ra nhiều đề
nghị đổi mới các mặt công tác nội trị, ngoại giao, kinh tế, cũng như văn hóa —
xã hội của nhà nước phong kiến Năm 1868, Trần Đình Túc và Nguyễn Huy Tế xin mở cửa biển Trà Lí (Nam Định), Đinh Văn Điền xin đẩy mạnh việc khai
khẩn ruộng hoang và khai mỏ, phát triển việc buôn bán với nước ngoài, chãn chính việc quốc phòng Năm 1872, Vién Thuong bạc xin mở ba cửa biển Đà Nắng ở miền Trung, Ba Lạt, Đồ Sơn ở ngoài Bắc để thông thương rộng rãi với
bên ngoài Nhưng được nhiều người chú ý hơn cả là các để nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871) đề cập đến hàng loạt vấn đề quan trọng hồi
đó như: chân chính bộ máy quan lại, phát triển nông, công, thương nghiệp và tài
chính chính đốn võ bị, mở rộng ngoại giao, cải tổ giáo dục
Nhìn chung, tất cả các để nghị cải cách đều xuất phát từ tỉnh thần yêu nước
muốn cho nước nhà giàu mạnh để có thể đương đầu với sự tấn công ngày càng
đồn dập của chủ nghĩa tư bản phương Tây Trong hoàn cảnh bế tắc của xã hội phong kiến Việt Nam hồi đó, lối thoát duy nhất là mạnh dạn đi vào con đường phát triển chủ nghĩa tư bản Các đề nghị cải cách ở nước ta cuối thế ki XIX nhằm giải quyết một phần nào yêu cầu đó của lịch sử Nhưng các đề nghị đó vẫn có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, nặng về chịu ảnh hưởng bên ngoài mà thiếu cơ sở bên trong; chưa động chạm đến vấn đề cơ bản của thời đại là giải quyết hai mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân Pháp xâm lược và giữa nông dân với địa chủ phong kiến Triều Nguyễn cầm
quyền lúc đó trên miệng hố suy vong lại đối lập với nhân dân nên trước sau đã
ngoan cố cự tuyệt mọi đề nghị cải cách lớn nhỏ, thủ tiêu những tiền dé phat triển mới của xã hội, luẩn quần trong vòng bế tắc của chế độ phong kiến đương thời Đó chính là trách nhiệm lớn lao của triều Nguyễn trước lịch sử dân tộc Nhưng cho đến trước năm 1873, tư bản Pháp vẫn chưa dám chủ trương mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, đem quân ra đánh chiếm Bắc Kì vì tình hình nước
Pháp còn có nhiều điều đáng lo ngại Bị đánh bại trong cuộc chiến tranh Pháp -
Đức năm 1870, một phần lãnh thổ nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng Năm
1873 tuy quân Đức rút khỏi đất Pháp - chỉ giữ lại hai miền Andát (Alsace) và Loren (Lorraine), nhưng sự uy hiếp của Đức với Pháp vẫn rất mạnh, buộc giới
chinh“ri Pháp phải để phòng đường biên giới phía đông Tình hình kinh tế
Trang 40
chinh tri nước Pháp chưa ổn định cũng không cho phép giai cấp tự sản Pháp
nghĩ tới chuyện đánh chiếm thuộc địa nơi xa, vừa tốn kém vừa nguy hiểm
Trong khi đó thì bọn thực dân Pháp ở Nam Kì lại nôn nóng muốn hành động gấp Chúng luôn luôn nhòm ngó Bắc Kì, nhất là từ sau khi Nam Kì đã được
củng cố có lợi cho chúng Chúng biết chắc Triều đình Huế suy yếu sẽ không có
phản ứng gì đáng kể Để dọn đường cho đội quân xâm lược sau này, chúng đã
tung ra Bắc bọn gián điệp đội lốt thầy tu để do thám tình hình và tổ chức mội số
giáo dân lầm đường làm nội ứng Đồng thời, chúng còn bí mật xúi giục những
phong kiến triều Nguyễn phải nhờ chúng đem quân ra giúp Thương nhân Pháp
lúc đó cũng ráo riết tìm cách hoạt động Sau khi thấy đường vào miền Tây Nam
Trung Quốc bằng sông Cửu Long không thể đi được vì lắm thác ghénh nguy
hiểm, chúng đặc biệt chú ý tới đường sông Hồng Tên lái buôn Pháp ĐÐuypuy
Qean Dupuis) vẫn chờ súng ống vào vùng Vân Nam, Quý Châu (Trung Quốc)
ban cho bọn tướng tá triều Thanh đàn áp phong trào khởi nghĩa của nhân đân,
Nếu đi theo sông Trường Giang (Dương Tử) thì sẽ xa xôi tốn kém, nên chúng
thương thuyết với bọn tướng tá nhà Thanh cho được đi trên sông Hồng Tổng
doc LuGng Quảng thay mặt “Thiên triều” yêu cầu Triều đình Huế cho Duypuy
được ngược sông Hồng Y còn được sự ủng hộ của quan quân nhà Thanh đóng
trên vùng thượng du Bắc Kì Mặt khác, y lại xin Chính phủ Pháp ủng hộ công
việc kinh doanh Thực dân Pháp ở Nam Kì lúc đó cũng thấy đây là một thời cơ
tốt để hành động, vừa để kịp thời ngăn chặn thế lực nước Anh phát triển ở miền
Tây Nam Trung Quốc, vừa để củng cố tình hình Nam Kì, nghĩa là để buộc Triều
đình Huế phải chính thức thừa nhận việc Pháp chiếm đóng ba tỉnh miền Tây
Nam Kì, vừa để gạt thế lực địch thủ cổ truyền của Pháp là Anh ra khỏi địa bàn
Bac Ki
Tình hình nước Pháp trong hai năm 1870 — 1871] không cho phép giai cấp tư
sản Pháp tăng cường hoạt động Đối với các đề nghị của Duypuy, các nhà cầm
quyền ở nước Pháp (cũng như ở Nam Ki) déu tỏ ra rất dé dat Tình hình đó buộc
Duypuy phải tự mình hành động Y đi Hương Cảng và Thượng Hải (10 — 1872)
sắm pháo thuyền và súng ống đạn dược, mộ quân lính, rồi kéo tới Bắc Kì tháng
11 năm đó Bọn thực dân hiếu chiến ở Nam Kì cũng đã lợi dụng việc Triều đình
Huế yêu cầu gửi quân ra Bắc tiễu trừ giặc biển để phái ngay tàu chiến ra Bắc
tiếp tay cho Đuypuy Được thể làm can, Đuypuy đã buộc Kinh lược sứ Lê Tuấn
trong vòng hai tuần phải xin Triều đình Huế cho phép hắn được mượn đường
ở Vâr
bình Ì
ra hur sông;
Ha N¢
cua N Phap
thuyé
do yr tin tức Gii chién
ra Bac chinh
Kh
Hà N¿ cho biến f