Những tác động của ngôn ngữ mẹ đẻ tới người học trong quá trình học ngoại ngữ diễn ra theo cả hai hướng: tác động tích cực — tức là giúp cho việc học ngoại ngữ được thực hiện một cách dễ
Trang 1fÌ BAO TAO TRONG QUA TRINH HO
BAN VE NHUNG TAC DONG CUA NGON NGU ME DE
TOI HIEU QUA HOC TIENG ANH CUA NGUOI VIET NAM
ếng Anh đã trỏ thành ngôn ngữ giao
Fis phổ biến ở Việt Nam hiện nay, do đó
yêu cầu đạt chuẩn Tiếng Anh đối với sinh viên
càng trở nên quan trọng hơn Tuy nhiên cũng cần
nhận rõ rằng, ngôn ngữ mẹ đề đã tác động không
nhỏ đến khả năng học và sử dụng Tiếng Anh của
sinh viên Phân tích những tác động đó dưới góc
độ tiếp cận của một giáo viên dạy học phần này,
tác giả đã đưa ra những giải pháp thiết thực giúp
sính viên hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực để tự
tin hơn và thiết lập phương pháp học Tiếng Anh
một cách có hiệu quả nhất
Ngôn ngữ có lẽ là một trong những phần gắn
bó chặt chẽ nhất với cuộc sống một con người
Ngôn ngữ theo ta đi từ những năm đầu đời, khi
mới bập bẹ tiếng gọi mẹ đầu tiên, cho đến khí ta
nói những câu cuối cùng để xa rời thế gian Bởi lẽ
đó cũng dễ hiểu là ngôn ngữ gốc có tác động lớn
thế nào đến một người trong quá trình học thêm
những ngôn ngữ khác Những tác động của ngôn
ngữ mẹ đẻ tới người học trong quá trình học ngoại
ngữ diễn ra theo cả hai hướng: tác động tích cực
— tức là giúp cho việc học ngoại ngữ được thực
hiện một cách dễ dàng hơn, hiệu quả hơn và tác
động tiêu cực - được hiểu là khi ngôn ngữ mẹ đề
gây ra một số cần trở nào đó khiến người học
không thể tiếp thu và làm chủ ngoại ngữ một cách
hoàn hảo được
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi muốn để cập
tới tác động của tiếng Việt đối với việc học tiếng
Anh của người Việt Nam ở cả hai khía cạnh tích
cực và tiêu cực Có hai tác động được phân tích:
tác động của tiếng Việt tới cách phát âm (pronun-
ciation) và tới cách dùng từ (word use) trong tiếng
Anh của người Việt Nam Phân tích này được thực
hiện từ góc độ của một giáo viên dạy tiếng Anh
quan sát những lỗi mà sinh viên của mình hay
mắc phải để từ đó gợi ý những giải pháp nhằm
giúp cải thiện tình trạng này ˆ
Tác động của tiếng Việt đối với cách phát
KHOA HỌC
Thương Mại
Nguyễn Thị Lan Phương *
âm tiếng Anh cúa người Việt
Khả năng phát âm tiếng Anh của người Việt
Nam nói chung được các chuyên gia ngôn ngữ học và những người nói tiếng Anh đánh giá ở mức
khá So với một số nước Châu Âu lân cận như
Pháp, Ý, Thụy Sỹ, Hà Lan hoặc một số nước
Châu Á coi tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức như
Ấn Độ, Singapore thì khả năng phát âm của người
Việt không tốt bằng, nhưng nếu so với những
nước trong khU vực như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc thì người Việt nói tiếng Anh “dễ nghe”
hơn hẳn Khả năng phát âm khá tốt của người Việt
Nam một phần là do tác động tích cực của ngôn ngữ tiếng Việt: cả tiếng Việt và tiếng Anh đều sử dụng bảng chữ cái Latin, bởi vậy có những sự
tương đồng nhất định trong hệ thống phát âm của
hai ngôn ngữ Điều này cũng giúp lý giải tại sao
người Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc lại gặp nhiều khó khăn trong việc phát âm tiếng Anh đến vậy Đơn cử như người Hàn Quốc khó phát âm được âm /r/ trong tiếng Anh bởi trong ngôn ngữ
của họ không có âm tiết này, và bởi vậy khi phát
âm những từ như restaurant, nhiéu ngudi Han Quốc không phat âm được âm /r/ và thường có xu
hướng thay thế nó bằng âm /1/ Như vậy so với những người học với ngôn ngữ mẹ đẻ không dùng
hệ chữ Latin, người Việt Nam có lợi thế hơn hẳn
trong cách phát âm tiếng Anh
Tuy nhiên, tiếng Việt cũng gây ra một số tác
động tiêu cực đến khả năng phát âm tiếng Anh của người Việt Nam do có vài điểm khác biệt trong
hệ thống âm vị của nó Mặc dù không gây ra những lỗi phát âm dễ nhận biết nhưng việc không
có một số âm tương đương cũng khiến khả năng
phát âm tiếng Anh của người Việt không chuẩn
xác, ví dụ bởi không có âm /8/ trong tiếng Việt, khi phát âm những từ có âm tiết này, người Việt có xu
hướng biến đổi âm này sang một âm hơi giống
* 7hS., Trường Đại học Thương mại
=>
$6 21/2007
Trang 2
trong tiếng Việt - âm/th/ Vắ dụ khi nói từ thank you
thay vì phát âm [đànkụ |, người Việt Nam lại nói
[thaenk 1 Tuy nhiên, như đã nói ở trên, đây là một
lỗi phát âm khá nhỏ, không ảnh hưởng đến giao
tiếp và có thể bỏ qua
Nhưng cùng lúc đó còn có một khác biệt lớn
ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng phát âm và từ đó
ảnh hưởng đến khả năng nghe hiểu - giao tiếp
của người Việt Nam Đó chắnh là việc nối âm (link-
ing sounds) Tiéng Viét là ngôn ngữ đơn âm tiết,
tức là từng từ được đọc riêng lẻ, không có sự nối
liền, trong khi đó tiếng Anh lại có một số quy tắc
liên quan đến việc nối âm Các từ tiếng Anh khi
đứng riêng lẻ có thể có hình thức phát âm khác so
với chắnh những từ đó khi được đặt trong một câu,
bởi khi đã đứng cạnh những từ khác thì những từ
đó lại phải tuân thủ theụ quy tắc nối âm (vắ dụ,
phụ âm cuối của từ đứng trước phải đọc nối liền
vào nguyên âm đầu của từ đứng sau, như thể đó
là cùng một từ) Do không có thói quen nối âm
trong tiếng Việt nên rất nhiều người Việt Nam khi
phát âm tiếng Anh cũng không nối âm mà phát
âm rời từng từ Việc phát âm không chắnh xác này
sẽ ảnh hưởng đến khả năng nghe hiểu và giao
tiếp của họ Nhiều sinh viên phan nàn Ộky nang
nghe là kỹ năng khó nhất", Ộnghe người nước
ngoài nói sao khó thế, chẳng hiểu gì cảỢ Đó
chắnh là do khi người học không phát âm (gần)
đúng như người bản xứ, nên khi nghe người bản
xứ nói, đôi khi người học lại tưởng như họ đang nói
những từ mới nào khác chứ không phải những từ
đơn giản mà người học đã học Khả năng nghe
hiểu vì thế bị giảm đi rất nhiều Và khi không nghe
được những gì người đối diện nói, người học sẽ
khó có thể thực hiện giao tiếp có hiệu quả
Tác động của tiếng Việt tới cách dùng từ
tiếng Anh của người Việt
Có ba tác động về cách dùng từ được đề cập
tới trong bài viết này, đó là sắp xếp trật tự từ trong
câu (word order), cách sử dụng từ loại (word use)
và cách tạo câu (sentence building)
Về cách sắp xếp từ:
Mặc dù cũng có vài nét tương đồng giúp người
Việt Nam có thể tận hưởng được những ảnh
hưởng tắch cực khi chuyển từ tiếng Việt sang tiếng
Anh nhưng do có nhiều sự khác biệt nên nhìn
chung tiếng Việt gây ra nhiều tác động tiêu cực tới
Số 21/2007
khả năng vận dụng của người học hơn là tác động
tắch cực Đơn cử như trong tiếng Việt tắnh từ luôn
đứng sau danh từ mà nó bổ sung nghĩa, vắ dụ ta nói một dự án khả thi, nhưng trong tiếng Anh,
người học phải sắp xếp theo một thứ tự ngược lại
là a feasible project Ở tắnh từ phải đứng trước danh
từ mà nó chỉ tắnh chất Rất nhiều trong số người Việt Nam học tiếng Anh bị ảnh hưởng bởi ngôn
ngữ mẹ để và diễn đạt tiếng Anh với từ ở đúng vị
trắ mà nó xuất hiện trong tiếng Việt, đặc biệt là trong giao tiếp trực tiếp, khi người nói không có
nhiều thời gian chuẩn bị để sắp xếp mọi từ vựng
và ngữ pháp sao cho chỉn chu trước khi truyền tải thông tin mình định nói
Về cách sử dụng từ loại:
Tiếng Việt cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực đối với việc học tiếng Anh của sinh viên Hãy so
sánh sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ để tìm ra
nguyên nhân của tình trạng này: trong tiếng Việt,
từ hầu như không thay đổi hình thức khi chuyển từ
loại từ này sang loại từ khác, chẳng hạn như khi
chuyển từ động từ (giải trắ) sang danh từ, từ vẫn
giữ nguyên hình thức (giải trắ), hoặc được thêm
những tiền tố như sự, việc, cái (sản xuất Ở việc
sản xuất), tương tự như vậy, khi tắnh từ chuyển thành trạng từ, tắnh từ không phải thay đổi hình
thức (nhanh Ở nhanh) hoặc thêm tiền tố một cách (cẩn thận ~ một cách cẩn thận) Bị ảnh hưởng bởi
thói quen này trong tiếng Việt, rất nhiều sinh viên
đã tạo ra những câu sai ngữ pháp trong tiếng Anh
bởi các em chỉ quan tâm đến việc tìm từ để diễn đạt ý mình muốn nói mà không thay đổi dạng từ cho phù hợp với chức năng của từ đó trong câu để
tạo thành một câu đúng ngữ pháp VÍ dụ thay vì
nói "watching television is a popular kind of enter-
tainment" (xem tỉ vi là một hình thức giải trắ rất phổ bién), trong dé ỘentertainmentỢ phai la danh ter thi
cac em noi Ộwatching television is a popular kind
of entertainỖ, vdi ỘentertainỢ la déng tu, hoac khi
muốn diễn đạt anh ấy chạy rất nhanh, sinh viên ndi Ộhe runs very quickỢ thay vi Ộhe runs very quicklyỢ với "quickly" là trạng từ để bổ sung nghĩa cho động từ ỘrunỢ Về mục đắch giao tiếp, người
nói vẫn đảm bảo truyền thụ đủ thông tin mình
muốn nói, nhưng chất lượng giao tiếp đã bị giảm
sút đi rất nhiều bởi những lỗi dùng từ này
Cuối cùng là về cách dựng câu:
KHOA HỌC
fiildng Mại Ủr
Trang 3
Với đặc điểm tương đồng của cả hai ngôn ngữ
là câu thường được thành lập với chủ ngữ, vị ngữ
và tân ngữ (nếu có) theo thứ tự sắp xếp như nhau,
có thể nói tiếng Việt không “gây khó” cho người
Việt khi chuyến sang học tiếng Anh Tuy nhiên
cũng có một số lỗi mà người học hay mắc phải khi
cố gắng tìm cách chuyển tương đương những câu
nói mình định nói từ tiếng Việt sang tiếng Anh
Chẳng hạn như tiếng Việt có hình thức câu tạm
được coi là không có chủ ngữ, ví dụ cần cải thiện
môi trường đầu tư hơn nữa Bị ảnh hưởng bởi cách
diễn đạt này trong tiếng Việt, nhiều sinh viên dựng
nên những câu tương đương trong tiếng Anh
“need to improve investment environmenf' - là
một câu không có chủ ngữ; trong trường hợp này,
muốn dựng câu đúng, người học phải thêm chủ
ngữ giả "it" và nói “it is necessary to imporove our
investment environment” hoac st dụng chủ ngữ
that “we”: “we need to improve our investment
environment’ Tuong tự như vậy, trong tiếng Việt
có những câu sử dụng nhiều động từ, ví dụ có
nhiều công ty sản xuất mặt hàng này, người học
nếu không ý thức được rằng có sự khác biệt trong
cách diễn đạt của hai ngôn ngữ sẽ tạo thành
những câu sai ngữ pháp khi chuyển tương đương
từng từ tiếng Việt sang tiếng Anh: “there are many
companies produce this product’ — câu có hai
động từ cho một chủ ngữ (thay vì phải lược bớt từ
và nói "many companies produce this product”
hoặc “there are many companies which produce
this product’) Hoặc do không ý thức được rằng
người Anh có xu hướng dùng nhiều câu bị động,
đặc biệt trong những tình huống hoặc những văn
bản trang trọng, nên người Việt Nam cho dù vẫn
diễn tả được ý mình muốn nói nhưng không tạo
được những câu hợp lý, phù hợp với ngữ cảnh
Làm thế nào để hạn chế những ảnh hưởng
tiêu cực này?
Sự khác biệt giữa ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng
Anh đã gây ra một số cần trở đối với người học
trong quá trình vươn tới làm chủ ngoại ngữ của
mình Việc nhìn nhận rõ những tác động này có
thể giúp hạn chế bớt phần nào những mặt tiêu cực
của nó Giải pháp sau đây được đưa ra dựa trên
cơ sở đó ;
Có thể nói việc người học mắc những lỗi được
để cập ở trên phần nhiều do thiếu một sự nhận
KHOA HỌC
thức tống quan về ngôn ngữ mà chỉ học từng phần mục ngữ pháp đơn lẻ, học theo “bản năng”, sử
dụng ngôn ngữ theo “cảm nhận" Bởi vậy giải
pháp đưa ra là về phía giáo viên nên giới thiệu
chung về ngôn ngữ tiếng Anh, sự khác biệt giữa
tiếng Anh và tiếng Việt cùng những tác động tiềm tàng của nó ngay trong phần mở đầu của môn
học Mục đích của việc này là giúp sinh viên có được một sự so sánh đối chiếu giữa 2 ngôn ngữ,
biết được những quy luật chung, những nét tương đồng cũng như những điều khác biệt, những điểm cần lưu ý, những lỗi hay mắc phải để từ đó có một
sự chuẩn bị tốt hơn trong quá trình học Về phần mình, người học cần nhận thức rõ không có 2 ngôn ngữ nào hoàn toàn giống nhau và khi học ngoại ngữ phải áp dụng nguyên tắc ngôn ngữ,
cách thức tư duy của ngoại ngữ mà mình đang
học chứ không đơn thuần là chuyển tương đương những từ và câu mình định nói trong ngôn ngữ của mình thành từ và câu trong ngoại ngữ kia Bên cạnh đó, việc luyện tập thường xuyên, luyện tập trong ngữ cảnh thực cũng là điều không thể thiếu
Người học không thể mong phát âm chuẩn nếu
chỉ nghe người nước ngoài nói mà không tập phản
xa lại, người học cũng không thể mong sẽ nhớ cách dùng từ và câu cho hợp lý nếu chỉ đọc những tài liệu ngữ pháp mà thầy cô phát cho cũng như không thể hy vọng mình sẽ có khả năng diễn đạt những gì mình muốn nói sao cho thật chuẩn, thật
“Anh” nếu như không thực hành mỗi ngày Như
người Anh đã nói *pracfice makes perfect” - luyện
tập làm nên sự hoàn hảo, hãy bỏ công sức mỗi ngày và một ngày kia, công sức bỏ ra sẽ được đền
bù xứng đáng.®
Summary
English has become the most popular lan-
guage in Vietnam nowadays Students must
therefore try to meet the language require- ments It is noteworthy that mother tonge can affect learners’ English competence Analyzing the effects from a_ teacher approach, the author suggests some practical solutions to help students minimize the nega-
tive effects so as to be more confident and
have a better method of studying
68 Thuong Mai Số 21/2007