1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: Nâng cao năng lực giao tiếp văn hóa đối với kỹ năng viết của sinh viên chuyên ngành tiếng Anh pdf

3 792 6
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 188 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiểu rõ được văn hóa của ngôn ngữ mà mình sử dựng, văn hóo củo đối tượng đang GT, đặc diểm văn hóo xð hội do ngữ cảnh vờ nội dung GT quy định cũng như mục dich GT, người học mới có thể

Trang 1

NANG CAO NANG LUC GIAO TIEP GIAO VAN HOA D1] VO Ki NANG: VIET CUA SINK VIEN CHUYEN NGANH TIENG ANH

intercultural communication competence} la kha

năng sử dụng ngôn ngữ, nhốt là ngoọi ngữ một cách

chính xóc và phù hợp để giao tiếp (GT] với nhiều đối tượng

đến tu những nên văn hóa khóc nhau (1) (2) Đối với

người học ngoại ngữ, dây là khỏ năng dùng ngôn ngữ

đong học để GT phù hợp với văn hóa mục tiêu Hiểu rõ

được văn hóa của ngôn ngữ mà mình sử dựng, văn hóo

củo đối tượng đang GT, đặc diểm văn hóo xð hội do ngữ

cảnh vờ nội dung GT quy định cũng như mục dich GT,

người học mới có thể sử dụng ngoại ngữ thành công trong

ngữ cảnh GT giao văn hóa (GTGVH]

1 Lỗi cơ bản của người học ngoại ngữ (tiếng Anh]

Phát triển kĩ năng (KN) GT toàn diện là mục đích

của việc dạy và học ngôn ngữ nói chung và ngoại

ngữ nói riêng, nhất là đối với các chương trình đèo

tạo chính quy Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra 2 loại

lỗi cơ bản của người học ngoại ngữ (tiếng Anh) thường

mắc phải là:

a} Lỗi hình thức là những lỗi có liên quan đến hình

thức diễn đọt ngôn ngữ, do năng lực ngôn ngữ của

người viết còn hạn chế, cụ thể là:

Lỗi ngữ pháp - cách dùng thì, dùng ti: (word use),

chính tả, dấu câu Nguyên nhôn chính là do người học

thiếu kiến thức về ngữ phép hoặc do ảnh hưởng của

tiếng mẹ đẻ lên ngôn ngữ mục tiêu Đôy là những lỗi

hiển thị trực liếp trên ngôn ngữ mà người viết dang sử

dụng và ảnh hưởng đến việc hiểu những nội dụng chỉ

tiết của văn bản

Lỗi về bố cục và cách trình bày bài viết: Người

học gặp khó khăn trong việc sắp xếp, trình bày các ý

lưởng vò lập luận một cách hợp li va logic hoặc khéng

phân biệt được cách thức trình bày của một số văn

bản có hình thức mặc định (ví dụ, sự khác nhau về

hình thức trình bày của một bức thư tay vò thư tín sử

dụng trong kinh doanh) Vị thế, đôi khi người học có

ý tưởng tốt nhưng bài viết lại khó hiểu và không hiệu

quả Phương pháp truyền thống giúp hạn chế lỗi này

là luyện tập viết đề cương chỉ tiết trước khi viết bài thực

sự; đối với những văn bản có quy định chung về hình

thức (ví dụ thư tín trong kinh doanh hoy hợp đồng) thì

viết theo mẫu

New lực giao tiếp giao van héa (NLGTGVH -

Tap chi Biáo dục số 168 (ui 2-7/2007)

© PHAM THI HONG NHUNG*

Lỗi văn phong: Người học không xác định được văn phong thích hợp với nội dung và mục đích

củo bài viết Ví dụ: không phân biệt được mức độ trịnh trọng/thông tục hoặc nhầm lẫn giữa văn nói

vò văn viết

bị Lỗi về nội dung: Là loại lỗi phức tạp vì nó không trực tiếp hiển thị lên câu chữ được sử dụng trong bài viết - còn được gọi là lỗi phi ngôn ngỡ Lỗi này do

người viết thiếu hiểu biết về các yếu tố văn hóa xã hội

gắn liền với ngôn ngữ mục liêu và ngữ cảnh GT cụ thể (thiếu NLGTGVH), nên dù năng lực ngôn ngữ tốt vẫn không thé GT hiệu qué trong môi trường GTGVH (Holl, 1981) Những lỗi này ánh hưởng đến hiệu quả GT tổng thể của toàn bộ văn bản Đây được xem là nhóm lỗi nghiêm trọng nhốt dồng thời là loại lỗi có biểu hiện

đo dạng và phong phú Nó phụ thuộc nhiều đến đặc điểm văn hóa vò mục đích cụ thể của ngữ cảnh GT

nên khó phút hiện vò khắc phục, đặc biệt là đối với

người học có trình độ trung và cao cếp Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, GV thường tập trung chữa và góp ý những lỗi hình thức vì chúng dễ nhận ra vò việc chữa những lỗi này dễ dòng, thuận tiện hơn Trong

khi đó, việc chữa lỗi nội dung thường đòi hỏi nhiều

thời gian và công sức hơn Để có thể xóc định được những lỗi nội dung, GV trước hết phải là người có NLGTGVH, có kiến thức sâu rộng về văn hóa của ngôn ngữ mục tiêu (tic lò ngôn ngữ đang được dạy]

mà không phải GV nào cũng có được Việc GV ít lưu tâm giúp SV khắc phục cóc lỗi nội dung gôy thiệt thòi rốt nhiều cho người học ngoại ngữ, nhốt là những người có trình độ trung về cao cấp Việc thiếu hụt kiến thức vò hiểu biết về xã hội vò văn hóa gắn liền với

ngôn ngữ đang học trở thành một trở ngại lớn trong

qué trình GT chứ không phải là vốn tờ hay kiến thức

về ngữ phóp

2 Những lỗi của sinh viên (SV] khoa Anh (Đợi học Huết| khi sử dụng ñếng Anh để GT dưới hình

thức viết Kháo sót sơ bộ 70 5V năm thứ 3 hệ chính quy (năm học 2003-2004] của khoa Anh, Đại học Huế

* Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Hué

©

Trang 2

cho thấy: nhiều 5V tuy có trình độ ngôn ngữ mục tiêu

(tiếng Anh] khá tốt nhưng vẫn còn nhiều khó khăn và

hạn chế khi sử dụng tiếng Anh để GT dưới hình thức

viết do thiếu NLGTGVH Trong tổng số ] 4O bời viết

thụ thập được củo SV về hơi chủ đề được cho sẵn và

khá đơn giản với độ dời dao động trong khoảng 70-

190 từ cho mỗi bài, tổng số lỗi thu được là 121 lỗi

Nhu vay, trung bình có 0,Bó lỗi/bài trong đó 41% lỗi

nội dung và 59% lãi hình thức So với lượng từ ngữ

được sử dụng, số lỗi về hình thức không phởi là quá

lớn bởi đa số là lỗi chính tả và một số lỗi ngữ pháp

không nghiêm trọng, còn lỗi văn phong hầu như không

đáng kể (3%) Kết quả này cho thấy, ở trình độ ngoại

ngữ trung và cao cếp, người học có khả năng xúc

định văn phong viết phù hợp với nội dung được yêu

cầu Tuy nhiên, với hai đề tài viết khá đơn giỏn, số lỗi

do thiếu NLGTGVH là đáng kể (41%), vì tác động của

chúng lên hiệu quẻ GT khá lớn

Kết hợp kết quả phôn tích lỗi trong bài viết của SV

với kết quả khảo sót bằng phương pháp phỏng vốn

sâu với SV giúp xóc định 3 loại lỗi nội dung liên quan

đấn NLGTGVH:

aJ Lỗi do SV hoàn toàn không có kiến thức phù

hợp về hoàn cảnh GTGVH mà chủ đà bài viết dat ra

chiếm 48% Ví dụ, khi được yêu cầu viết một bức thư

xin tham gia một hoạt động thám hiểm của một tổ

chức quốc tế, nhiều 5V có xu hướng tự đánh giá

thấp năng lực củ mình (vi du: «My English may not

be very good but ” [Tiéng Anh của lôi tuy không

được lốt lắm nhưng]) hay dưa ra những thông tin cá

nhén bat loi cho muc dich GT (vi dy: «As a student,

| cannot afford to travel frequently | have such a

busy class timetable that | cannot have time for a part-

time job so | think that this will be a good chance for

me to travel if my application is accepted” [La SV, #6i

không có đủ tiền để đi du lịch thường xuyên Tôi bận

học đến nỗi không có thời gian để làm thêm, vì vậy

đây là một cơ hội tốt để lôi có thể đi du lịch nếu đơn

xin tham gio của tôi được chấp thuận] Trao đổi vò

phỏng vốn những SV mắc lỗi tương tự cho thấy, nhiều

SV không biết chính xóc nên đưa những thông tin gi

trong ngữ cảnh GT mà đề tài đặt ra, nên đã viết

tương tự như cách họ sẽ viết nếu được yêu cầu viết

bằng hếng Việt và cho rằng, viết như thế để thể hiện

sự khiêm tốn và khơi gợi sự cảm thông của người

đọc Tuy nhiên, từ góc độ văn hóa phương Tây, những

thông tin như vậy có thể làm người đọc suy luận

rằng, người viết thiếu năng lực và thiếu năng động

hơn là tạo ra sự cảm thông Nhiều 5V đã không hiểu

được rằng trong trường hợp này chính những thông

tin trực liếp và cụ thể về năng lực của họ mới tạo

hiệu quả Như vậy, do thiếu kiến thức về GTGVH,

©

ŠV đã viết theo cảm nhộn của mình mà không hiểu

rõ những yếu tế nội dung nào sẽ quyết định hiệu

quả GT trong ngữ cảnh GT mà đề tài dat ra

bJ lỗi do SV có những dự đoán sai lầm về ngữ cảnh GTGVH mè để tài viết yêu cầu chiếm 35 % SV ý

thức được đối tượng mình đong GT đến từ nền văn hóa mục tiêu nhưng lại dựa trên những suy đoán sơi

lầm có tính áp đặt của mình về ngữ cảnh GTGVH Ví

dụ khi được yêu cầu viết một bức thư cho một GV người Mĩ để xin phép vắng mặt trong một buổi học nhiều 5V bên cạnh nêu lí do không đấn lớp còn khen ngợi năng lực của GV [ví dụ: «f am so lucky to have such a great foreign lecturer as you" [Em that may man khi duoc hoc véi mét GV nude ngodi xuat sac

như thầy/cô]), bòy tỏ sự tiếc rẻ thói quá khi phdi vắng

mặt {ví dụ: «! wish | did not have to do that and | could attend your class” [Ước gì em không phỏi làm những

chuyện như thế để có thể học với thẩy/cô trong buổi học tới]) và còn đưa ra những lời hứa không phù hợp {ví dụ: «! promise / will borrow my classmates’ notes to catch up with the class” [Em xin hứa sẽ mượn ghi chép của bạn để theo kịp lớp] Trói lại, một bức thư tiêu biểu trong ngữ cảnh tương lự của một ŠV người Mĩ chỉ đơn thuần nói li do mình không thể đến lớp trong buổi học tới và hỏi GV xem mình có thể lấy tài liệu ở đâu Những nội dung như khen ngợi năng lực của người GV hay hứa hẹn mượn bài bạn để chép lại trong hoàn cảnh

này rõ rằng là không phù hợp với văn hóa mục liêu, cụ

thể là văn hóa của GV người Mĩ - đối tượng người đọc

của bức thư Trong trường hợp này, văn bản chỉ nên thông báo rõ ròng (tức là nói rõ không thể tham dự buổi học vì lí do gì] còn những nội dụng ngoời lề không cần thiết Hơn nữa, với sự nhấn mạnh tính riêng tư (privacy) va quyền tự chủ cá nhân (autonomy) của văn hóa phương Tây, GV người Mĩ sẽ khó chấp nhộn việc ŠSV vắng mặt mượn ghi chép của người khác để sao chép lại Như vậy, trong trường hợp này, SV tuy ý thức được rằng, người dang GT cũng đến từ nên văn hóa mục tiêu [tức là văn hóa mò ở dó tiếng Anh dang được dùng như tiếng mẹ đẻ] nhưng lợi có những suy đoứn không phù hợp về nội dung cần GT nên đã tgo ra sự

phản cảm nơi người đọc vò vì thế hiệu quỏ của bòi

viết bị hạn chế

cJ Lỗi do SV không dp dung thành công kiến thúc

về giao thoa văn hóa trong quá trình GT chiếm ] 1%

Đối chiếu bài viết với kết quá lựa chọn của SV trên

báng kháo sát về những nội dung phù hợp với đề lòi viết cho thấy, việc nắm vững kiến thức văn hóa không phải lúc nòo cũng đi liền với sự ứng dụng thành

công những kiến thức này khi thực hiện bài viết Cụ

thể là trong bảng điều tra một số lượng lớn 5V có thể chọn được những thông tin phù hợp cho mỗi dé tdi

Tap chi Giao due s6 168 (ci 2-7/2007)

Trang 3

viết nhưng khi thực hiện bài viết thì vẫn dưa vào những thông

tin không phù hợp

Kết quả khảo sát cũng chỉ ra 4 nguyên nhân cơ bản dẫn

đến việc thiếu/yếu NLGTGVH khi GT dưới hình thức văn

bản: a} Suy đoán chủ quơn củo người học về ngữ cảnh

GTGVH; bị Thiếu hướng dẫn phù hợp của GV trong quó

trình rèn luyện KN viết, c} Thiếu luyện tập thường xuyên do

thời lượng chính khóa dành cho việc rèn luyện KN viết còn

hạn chế; d) Thiếu ý thức về việc rèn luyện NLGTGVH do SV

qua chu trong phat triển năng lực ngôn ngữ hơn là hoàn

thiện NLGTGVH

3 Các biện pháp nhằm nông cao NLGTGVH khi GT

bằng KN viết cho SV

ø] Trong quó trình hướng dẫn SV rèn luyện KN viết bằng

liếng Anh, GV cần nông coo ý thức của SV về mục đích củo

bài viết, về đối tượng người đọc là người đến từ văn hóa mục

liêu cũng như ý thức về những khác biệt về văn hóa trong

GTGVH

bJ Nên kết hợp hướng dẫn KN viết cùng với những KN khác

như nghe, đọc và nói để 5V thấy rằng những kiến thức về

GTGVH xuyên suốt và quơn trọng đối với tốt cả các KN

c} Việc nâng cao ý thức về khác biệt về văn hóa trong

GTGVH nên được thực hiện đối với người học ở mọi trình độ

ngôn ngỡ chứ không nhốt thiết phải là trung và cao cốp

dJ GV nên giới thiệu tòi liệu giúp SV tiếp cận với nhiều

thông tin về NLGTGVH để tờ đó họ có thể đánh giá được

tầm quan trọng củo việc phát triển năng lực này đối với hiệu

quả GT bên canh năng lực ngôn ngỡ thuần túy

e] Thường xuyên hướng dẫn 5V rèn luyện KN viết bằng

cách đưa ra những chủ đề viết mà trong quá trình thực hiện

bài viết SV phải ứng dụng được những kiến thức củơ mình về

GTGVH

fJ Nhộn xét của GV về bài viết của SV nên dé cập cả hai

loại lỗi: hình thức và nội dung

gJ Ngoài việc trực tiếp sỏa lỗi, GV có thể tổ chic dé SV ty

sửo lỗi cho nhau, lưu ý những khía cạnh phù hợp hoặc chưo

phù hợp với văn hóa mục tiêu của bài viết (peer evaluation)

h} GV có thể tổ chức để SV thảo luận những điểm khác

biệt về văn hóa giữa hai ngôn ngữ trong đề tài trước khi yêu

cầu SV thực hiện bài viết

(1) Neuliep, J W, TnrercuHuUtradl COHHHHiCdIOH @ contextual

approach, Sage Publications 2005

(2) Wiseman, R C., & Koester, J faterceltural communication

competence, Sage Publications, 1993,

Tài liệu tham khảo

1 Bomer Wolfgang The tcaching of writng in English aš a foreign

second language Svsrem, 23(2) 245-253, 1995,

2 Elbow, P Inviting the mother tongue: beyond “mistakes”

“bad English and “wrong language” Journal of Composition

Theory, 193), 359-388 1999,

3 Era K Writing in advaneed learners: A case study, Research

Language Bulletin f4 1-16, 1999,

Tap chi Gido duc sé 168 (i 2-7/2007)

Nâng ca0 chất lượng

(Tiếp theo trang 42) những thuận lợi, khó khăn trong tự học, tự

nghiên cứu nông cao trình độ mọi mặt, đồng thời, phải tao môi trường tự học, ty nghiên cứu

tốt trong trường mình để mọi người thi đua hăng say ty học, tự nghiên cứu khoa học Cần vận dụng linh hoạt tất cả các hình thức hoạt động như: xây dựng mục tiêu nghiên cứu khoa học của trường; thònh lộp hội đồng nghiên cứu khoa học, hội đồng thi dua khen thưởng bình xét thị

đua đánh gió chất lượng cóc công trình nghiên cứu; tổ chức dp dụng, đưa vào giảng dạy, phổ

biến cóc sóng kiến cải tiến dạy học; tổ chức các chuyên đề chuyên môn; tổ chức các hội thảo khoa học trong và ngoài nhò trường; đẩy mạnh công tác giao lưu, học hỏi kinh nghiệm với cóc trường bạn, nhất là các nhà trường quôn sự; lổ

chức cho GV học thêm ngoại ngữ, tin học tại

trường; tăng cường dự giờ, rút kinh nghiệm, thông qua bi giảng, kiểm tra giáng; tổ chức cho GV giảng dạy môn GDQP di tham quan diễn tập Rhu phòng thủ cóc cấp

4 Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với GV, giảng viên GDQP

Thực tế hiện noy, hệ thống chính sách đối với đội ngũ nhà giáo nói chung, với GV GDQP nói riêng còn nhiều bất cập, chậm

được đổi mới đã làm cho nhiều nhà gióo ít

chuyên tâm đến việc tự học, bồi dưỡng nông

cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Vì vậy, Nhà nước nên có chính sách, chế độ mới đối với đội ngũ GV nói chung, GV GDQP nói riêng Cóc chính sách phải bao gồm cỏ việc khuyến khích, động viên về mặt tinh thần lẫn

mặt vật chết, báo đảm điều kiện làm việc,

sinh hoạt, bổi dưỡng nâng cdo trình độ mọi mặt củo GV Khi nghiên cứu xây dựng hệ thống chính sách, vừa phải bảo đảm tính cơ bản, vừa phải đi vào giải quyết những vấn đề meng tính tình thế như: điều chỉnh về tổ chức,

biên chế cho các nhà trường, cúc trung lâm

GDQP, các Sở GD-ĐT, các Phỏng giáo dục

để khắc phục tình trạng thiếu GV GDQP, cứn

bộ quản lí, nhãn viên phục vụ nhự hiện nay;

sửa déi theo hung nang cao tran quan ham cho các chức danh thuộc các trung tâm

GDGP; quan tâm hơn nữo đến lợi ích kinh tế

vò lợi ích chính trị, tinh thần cho đội ngũ GV, giảng viên cũng các lực lượng tham gia GDQP, cùng hướng tới mục tiêu nâng cao chết lượng đội ngũ GV, giảng viên và các lực lượng tham gia GDQP hiện nay,L]

Ngày đăng: 15/03/2014, 22:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm