Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Nhà nước cũng được tổ chứctheo từng loại hình doanh nghiệp cụ thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần...Loại hình tổ c
Trang 1Lời nói đầu
Giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp của Trường Đại Học Kinh doanh
và Công Nghệ Hà Nội biên soạn và phát hành năm 2007 do TS Phạm Thanh Bình chủ biên nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập trường.
Giáo trình này kế thừa giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp đã phát hành lần đầu tiên năm 1999 do đồng chủ biên là PGS Lê Thế Tường và TS Bạch Đức Hiển cùng các tác giả sau đây thực hiện:
Xin chân thành cảm ơn và sẵn sàng tiếp thu ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý và người sử dụng giáo trình để tiếp tục sửa
đổi, bổ sung cho giáo trình đáp ứng được yêu cầu giảng dạy, học tập.
Thay mặt nhóm biên soạn
TS Phạm Thanh Bình
Trang 2Chương 1
Những khái niệm cơ bản về tài chính doanh nghiệp
1.1 Vai trò của Tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩmhàng hoá dịch vụ trên thị trường với mục đích sinh lời
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường luôn biến động, có thể
đem lại những cơ hội đạt được lợi nhuận cao song cũng có thể gặp những rủi ro làm giảm lợinhuận thậm chí thua lỗ Vì vậy, tất c ả các bộ phận trong doanh nghiệp, tuy có những nhiệm
vụ khác nhau nhưng phải luôn đi theo một chiến lược kinh doanh để đạt được hiệu quả aonhất, đó là những cân nhắc về mặt tài chính của doanh nghiệp Nói cách khác, về mặt tàichính, doanh nghiệp phải giả i đáp được những vấn đề sau:
- Doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn, lấy từ nguồn nào, bằng cách nào, vào lúc nào, chiphí bao nhiêu?
- Doanh nghiệp đầu tư vào đâu, chi phí thế nào, lợi nhuận cao hay thấp, bao nhiêu?
- Lợi nhuận của doanh nghiệp được sử dụng như thế n ào?
Chung quy, doanh nghiệp phải tính toán tới sự vận động của đồng tiền trong quá trìnhkinh doanh thông qua hàng loạt mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các đối tác khác
Điều đó nghĩa là, để thực hiện nhiệm vụ của mình, doanh nghiệp có các mối quan hệ kinh tếvới nhiều chủ thể khác nhau; về bản chất đó là quan hệ kinh tế nhưng các quan hệ kinh tế đólại thể hiện qua công cụ đồng tiền và đồng tiền trở thành quan hệ tài chính
Các quan hệ đó có các dạng sau đây:
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với bạn hàng như cung ứng hàng hoá, dịch vụ,tài trợ vốn thông qua quan hệ tài chính là thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, góp vốnliên doanh, liên kết, vay nợ – trả nợ, đầu tư tài chính ngắn hạn
- Quan hệ kinh tế giữa doanh ngiệp với người lao đ ộng trong doanh nghiệp thể hiệnqua quan hệ tài chính là thanh toán tiền công, tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, hìnhthành và sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi Quan hệ tài chính nội bộ còn cóhình thức tạo lập các quỹ không chia để tái đầu tư cho doanh n ghiệp như quỹ bổsung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các tổ chức xã hội thông qua hình thức tàitrợ xã hội, đóng góp cho quỹ từ thiện và các tổ chức nhân đạo khác
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước thông qua quan hệ tài chính nhưnộp thuế, các khoản phí, lệ phí
Trang 3Từ đây, có thể nói rằng :
Tài chính doanh nghiệp, xét về bản chất là những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước và với các chủ thể kinh tế – xã hội trong và ngoài nước, còn xét về hình thức là quan hệ tài chính – tiền tệ trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, do cơ chế q uản lý tài chính baocấp cho nên tài chính doanh nghiệp chỉ giữ một vai trò thụ động, yếu ớt
Trong điều kiện hiện nay, khi doanh nghiệp chuyển sang hoạt động theo cơ chế thịtrường có sự điều tiết của Nhà nước, tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên qua n trọngbởi những lẽ sau đây:
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng trực tiếp tới tất cả cáchoạt động của doanh nghiệp
Nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng lớn Do vậy, việclựa chọn và sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn và việc sử dụng vốn như thếnào ảnh hưởng rất lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp là cơ sở quan trọng cho ngườilãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp để kiểm soát và chỉ đạo hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có vai trò như sau :
- Huy động vốn, đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cùa vốn ngắ nhạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển cuadoanh nghiệp Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng
đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, và tiếp
đó, lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp để huy động nguồn vốn từ bên trong vàbên ngoài, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn của doanh nghiệp Ngày nay, cùng với sự pháttriển của nền kinh tế thị trường đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệphuy động vốn từ bên ngoài Tài chính doanh nghiệp phải chủ động lựa chọn các hình thức vàphương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi với chi phí huy
động vốn ở mức thấp
- Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu q uả.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào việc tổ chức sửdụng vốn Vai trò của tài chính doanh nghiệp là đánh giá và lựa chọn dự án đầu tiên trên cơ
sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án Việc huy động kịp thời cácnguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chớp được các cơ hộikinh doanh Mặt khác, việc huy động tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp vào hoạt động
Trang 4kinh doanh có thể tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng t hời giảm bớt nhucầu vay vốn, từ đó giảm được khoản tiền lãi vay Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ củadoanh nghiệp, việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất một cách hợp lý góp phầnquan trọng thúc đẩy cán bộ nhân viên gắn bó với doanh nhgiệ p, nâng cao năng suất lao
động, cải tiến sản xuất kinh doanh, qua đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
- Là công cụ quan trọng để kiểm soát, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày,tình hình tài chính và các chỉ tiêu tàichính, nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá và kiểm soát được các mặt hoạt động củadoanh nghiệp, phát hiện kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong kinh doanh, từ đó đưa racác quyết định thích hợp
1.2 Nguyên tắc quản lý tài chính d oanh nghiệp
Để thực hiện tốt việc quản lý tài chính, trong công tác tổ chức hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp, cần quán triệt một số nguyên tắc cơ bản sau:
1.2.1 Tự chủ về tài chính
Quyền tự chủ tài chính của doanh nghiệp bao hàm hai nội dung chủ yếu: quyền chiphối của doanh nghiệp đối với tài sản, vốn liếng của mình và trách nhiệm, nghĩa vụ tài chínhcủa doanh nghiệp đối với Nhà nước, khách hàng, người lao động và các đối tác khác củadoanh nghiệp Đối với từng loại hình doanh nghiệp thì nội dung của quyền tự chủ tài chính
có những khía cạnh riêng Tuy nhiên, vẫn có những điểm chung như sau:
Ngoài số vốn sở hữu, doanh nghiệp có quyền lựa chọn hình thức và cách thức huy
động vốn phù hợp với quy định của pháp luật
Doanh nghiệp có quyền chủ động sử dụng tiền vốn và tài sản của mình để kinhdoanh các ngành, nghề đã đăng ký
Tự chịu trách nhiệm về các kết quả kinh doanh (lãi ăn, lỗ chịu)
Có nghĩa vụ nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác với Nhà nước theoquy định của pháp luật
Các thành viên hay chủ sở hữu của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ của doanh nghiệp theo mức độ mà pháp luật quy định đối với từng loạihình doanh nghiệp
Doanh nghiệp có quyền quyết định sử dụng phần lợi nhuận thu được từ kết quả kinh doanh.Người quản lý cần nắm vững nội dung cụ thể của quyền tự chủ tài chính trong phạm
vi doanh nghiệp của mình để phát huy vai trò chủ động trong hoạt động kinh doanh
1.2.2 Tôn trọng pháp luật
Tất cả các doanh nghiệp ở tất cả các quốc gia đều phải hoạt động trong khuôn khổpháp luật nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh tế diễn ra trong trật tự, công bằng
Trang 5Cần phải thấy pháp luật, một mặt là sợidây ràng buộc các doanh nghiệp phải tôntrọng lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, song mặt khác nó cũng là lá chắn bảo vệ các lợ iích hợp pháp của doanh nghiệp Doanh nghiệp được tự do kinh doanh tìm kiếm lợi nhuậntrong khuôn khổ của pháp luật Quản lý tài chính phải nắm vững nội dung của pháp luật vàhành động theo pháp luật (cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế).
1.2.3 Sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả
Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận Vì vậy, phải sử dụngvốn tiết kiệm và có hiệu quả Khi huy động và sử dụng mỗi đồng vốn vào bất kỳ công việcgì đòi hỏi phải dự tính được hiệu quả do đồng vốn mang lại Phải áp dụng mọi biện pháp để
đồng vốn không ngừng vận động, không ngừng sinh lời cao nhất
Những thông tin công khai phải đảm bảo chính xác, được kiểm toán xác nhận
1.2.5 Giữ chữ tín
Giữ chữ tín được coi là một t iêu chuẩn đạo đức trong cuộc sống hàng ngày và cũng
là một tiêu chuẩn đạo đức của nhà kinh doanh, một nguyên tắc cho hoạt động kinh doanhlành mạnh
Giữ chữ tín trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp được hể hiện ở chỗ tôntrọng và chấp hành kỷ luật thanh toán, thực hiện đúng và đầy đủ các trách nhiệm và nghĩa vụtài chính đã cam kết với Nhà nước, với những người có quan hệ với doanh nghiệp, với ngườilao động trong doanh nghiệp, với người cung cấp, với khách hàng và vơi các chủ nợ
Để thực hiện tốt nguyên tắc này, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm soát được tìnhhình nợ và áp dụng các biện pháp thích hợp để đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đếnhạn, tổ chức tốt các nguồn tài chính để thực hiện các hợp đồng kinh tế đã ký kết với khách h àng
1.2.6 Hạn chế, phòng ngừa rủi ro
Hoạt động kinh doanh thường gắn liền với những rủi ro.
Nguyên tắc phòng ngừa, hạn chế rủi ro được thể hiện ở chỗ: đánh giá, lượng địnhkhả năng thu lợi nhuận và khả năng rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải để lựa c họncách thức huy động và đầu tư vốn một cách thích hợp; chủ động đề ra các biện pháp nhằmphòng ngừa, phân tán và hạn chế rủi ro như đa dạng hoá danh mục đầu tư, mua bảo hiểm tàisản, hoặc trích lập các khoản dự phòng nếu khả năng xảy ra tổn thất
Trang 61.3 Nội dung chủ yếu của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp
Công tác quản lý tài chính của một doanh nghiệp thường bao gồm những nội dungchủ yếu sau:
1.3.1.Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kinh doanh
Việc xây dựng, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư và kinh doanh do nhiều bộphận trong doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu cầnphải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án tức là cần xem xét, cân nhắc giữa chi phí bỏ ra,rủi ro có thể gặp phải và khả năn g thu lợi nhuận khi thực hiện dự án, dùng thước đo tàichính để lựa chọn được những dự án có mức sinh lời cao
1.3.2 Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời các hoạt động của doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động kinh doanh củ a doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn Tàichính doanh nghiệp phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanhnghiệp ở trong kỳ (bao hàm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn) Tiếp theo, phải tổ chức huy độngcác nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp Để đi
đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cânnhắc trên nhiều mặt như: kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình thứchuy động vốn, chi phí cho việc sử dụng mỗi nguồn vốn v.v
1.3.3 Sử dụng có hiệu quả cao số vốn trong tay doanh nghiệp, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn tro ng taydoanh nghiệp (vốn tự có và vốn vay) vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ
đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoảnthu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phát sinh tron g quá trình hoạt động củadoanh nghiệp Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền,
đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán công nợ
1.3.4 Quản lý nợ và thực hiện đúng các cam kết tài chính của doanh nghiệp với Nhà nước, với khách hàng và với người lao động
Quản lý nợ là một trong những công tác quản lý tài chính rất quan trọng không chỉliên quan đến quá trình kinh doanh mà còn liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Doanh nghiệp phải vay khi t hiếu vốn, nhưng doanh nghiệp cũng có thể là chủ nợ khicho vay, bán chịu Nợ của doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán đúng kỳ hạn Nợ củakhách hàng phải thu hồi đúng hợp đồng để đảm bảo tình hình tài chính lành mạnh
Các nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí, phải thực hiện đúng với luật pháp và các quy địnhcủa Nhà nước, không trốn thuế, lậu thuế, dây dưa nộp thuế chậm
Các cam kết trong hợp đồng lao động như trả lương, nộp bảo hiểm xã hội, các khoảnphúc lợi, khen thưởng phải thực hiện đúng pháp luật và bảo đ ảm lợi ích của người lao động
Trang 71.3.5 Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử dụng tốt cácquỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp và cải thiện
đời sống của công nhân viên trong doanh nghiệp
1.3.6 Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính
Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tàichính cho phép kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác, cần định kỳtiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Qua phân tích, cần đánh giá đượchiệu quả sử dụng vốn, những điểm mạnh và điểm y ếu trong quản lý và dự báo trước tình hìnhtài chính của doanh nghiệp, từ đó phục vụ đắc lực cho công tác điều chỉnh kinh doanh
1.3.7 Thực hiện tốt việc kế hoạch hoá tài chính
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập
kế hoạch tài chính Có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định tàichính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Quá trình thực hiện kế hoạch tàichính cũng có thể chủ động đưa ra các giải pháp hữu hiệu khi t hị trường biến động
1.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc tổ chức quản lý tài chính của doanh nghiệp
Tài chính là công cụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Vì vậyviệc tổ chức quản lý tài chính trong các doanh nghiệp đều dựa trên những cơ sở chung nhất.Tuy nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau, điều kiện kinh doanh khác nhau, môitrường kinh tế - xã hội khác nhau thì việc tổ chức quản lý tài chính cũng khác nhau
Sau đây là một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc tổ c hức quản lý tài chínhdoanh nghiệp
1.4.1 Nhân tố loại hình doanh nghiệp
Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ năm 2006, trở thànhmột nước có nền kinh tế thị trường với nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau Hiện nay, ởnước ta theo pháp lý có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây:
Trang 8Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Nhà nước cũng được tổ chứctheo từng loại hình doanh nghiệp cụ thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
Loại hình tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất nhiều tới việc tổ chức quản lý doanhnghiệp, trước hết là ảnh hưởn g tới 2 vấn đề tài chính chủ yếu là:
- Phương thức tạo lập vốn và huy động vốn, chuyển nhượng vốn
- Phương thức phân phối lợi nhuận
Sau đây sẽ xem xét việc tổ chức quản lý tài chính trong một số loại hình doanhnghiệp chủ yếu
1.4.1.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn:
Có hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên và Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Là doanh nghiệp do một tổ chức
hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (chủ sở hữu công ty), chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi
số vốn điều lệ của Công ty ( trách nhiệm hữu hạn ).
Như vậy, một tổ chức hoặc một cá nhân có thể bỏ vốn để thành lập loạ i hình công tynày và trở thành chủ sở hữu của công ty Cũng vì vậy nên chủ sở hữu có quyền quyết địnhtới việc quản trị và kinh doanh của công ty
Đặc thù về tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với Công ty TNHH một thành viên
(1) Tạo lập vốn khi thành lập
công ty và khi hoạt động:
- Chủ sở hữu cấp vốn, đầu tư vốn để hình thành vốn điều lệ
- Được quyền huy động vốn để hoạt động theo quy địnhcủa pháp luật (không được phát hành cổ phiếu)
(2) Chuyển nhượng vốn, rút
vốn:
- Chủ sở hữu có quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượngmột phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của Công ty cho tổchức, cá nhân khác (trường hợp chuyển nhượng một phần
sẽ trở thành Công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên)
- Nếu rút vốn bằng hình thức khác thì vẫn phải chịu tráchnhiệm liên đới về nghĩa vụ tài sản và công nợ của công ty.(3) Phân phối lợi nhuận: - Chủ sở hữu quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau thuế
và sau khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác
- Không được rút lợi nhuận khi Công ty không thanh toán
đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn
Trang 9Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mặc dù có thể do một cá nhân làm chủ
sở hữu nhưng chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củ acông ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty (trách nhiệm hữu hạn) chứ không phải chịutrách nhiệm vô hạn như doanh nghiệp tư nhân
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp do các thành viên là tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu, nhưng số thành viên không quá 50 Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp của mình ( trách nhiệm hữu hạn )
Đặc thù về tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:
Nội dung quản lý tài
chính Đặc thù với Công ty TNHH hai thành viên trở lên
- Thành viên được ưu tiên góp thêm vốn khi công ty tăng vốn điều lệ
- Được quyền huy động vốn để hoạt động theo quy định của phápluật (trừ việc phát hành cổ phiếu)
(2) Chuyển nhượng
vốn, rút vốn:
- Thành viên được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn gópcho công ty nếu thành viên đó không tán thành các quyết địnhcủa Hội đồng thành viên liên quan tới Điều lệ, tổ chức củaCông ty
Nếu công ty không mua lại thì được bán cho thành viên khác hoặcngười khác không phải là thành viê n
- Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp của mỗi thànhviên theo nguyên tắc:
Chào bán cho nội bộ thành viên trước
Còn thừa mới chào bán ra ngoài Công ty
Được dùng để trả nợ, chủ nợ có thể trở thành thành viên hoặcbán lại (bên trong trước, bên ngoài sau)
- Thành viên được quyền cho, tặng, chuyển quyền thừa kế phầnvốn góp
- Thành viên không được rút vốn đã góp mà chỉ được chuyểnnhượng cho, tặng, chuyển quyền thừa kế và các trường hợpgiảm vốn điều lệ theo quy định của công ty
(3) Phân phối lợi
nhuận, xử lý lỗ:
- Hội đồng thành viên được quyền chia lợi nhuận cho các thànhviên theo tỷ lệ góp khi có lãi và đã hoàn thành nghĩa vụ thuế,tài chính, đồng thời vẫn đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ vànghĩa vụ tài sản đến hạn trả sau khi chia lợi nhuận
- Được quyền trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế
- Nếu lỗ, Hội đồng thành viên phải phê duyệt phương án xử lý lỗ
Trang 101 4.1 2 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
- Cổ đông (người sở hữu cổ phần) có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng cổ đông tối thiểu là 3, tối đa không hạn chế (trừ khi các luật chuyên ngành có quy định khác).
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản k hác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp (trách nhiệm hữu hạn)
Như vậy, công ty cổ phần có thể có các cổ đông sở hữu số lượng cổ phần khác nhaunhưng cổ đông cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về nghĩa vụ tài chính
Trong công ty cổ phần, cần phân biệt các khái niệm đặc thù sau đây:
- Cổ phần là các phần bằng nhau được chia ra từ vốn điều lệ Chẳng hạn một công ty
cổ phần có vốn điều lệ do các cổ đông góp là 500 triệu đồng, mỗi cổ phần trị giá là 10.000
- Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằngtài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính
Đặc thù về tài chính của công ty cổ phần
Nội dung quản lý tài chính Đặc thù với công ty cổ phần
(1) Tạo lập vốn khi thành lập
công ty và khi hoạt động: - Khi thành lập công ty: phải xác định vốn điều lệ và sốlượngcổ phần phát hành để người mua cổ phần mua
Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất20% tổng số cổ phần chào bán
- Khi tăng vốn điều lệ: phát hành thêm cổ phiếu để bánbên trong và ngoài công ty
- Khi chuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp khác sangcông ty cổ phần thì phải xác định giá trị doanh nghiệp
cũ để tính thành vốn điều lệ của công ty cổ phần và đểtính mức sở hữu của các cổ đông cũ, cổ đông mới
- Được quyền phát hành chứng khoán các loại để huy
động vốn hoạt động theo quy định của pháp luật, đượcvay của các tổ chức tín dụng
Trang 11d Cổ phần ưu đãi hoàn lại (cổ
phần được công ty hoàn lại vốn): - Được tự do chuyển nhượng.- Được công ty mua lại cổ phần nếu chủ sở hữu yêu cầu
bất cứ lúc nào hoặc hoàn lại vốn theo điều kiện đã ghitrên cổ phiếu ưu đãi hoàn lại
(3) Phân phối lợi nhuận: - Đại hội cổ đông quyết định việc phân phối cổ tức, trích
lập các quỹ của công ty, bù đắp đủ lỗ trước đó sau khi
đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chínhkhác đồng thời vẫn đảm bảo khả năng thanh toán nợ
đến hạn
1.4.1.3 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
- Phải có ít nhất hai thành viên l à chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn.
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm
vi số vốn đã góp vào công ty.
Như vậy, bản chất của công ty hợp danh là công ty trách nhiệm vô hạn, chính vì vậyluật pháp hạn chế việc huy động vốn tron g thị trường dưới hình thức phát hành các chứngkhoán (công cụ nợ)
Trang 12 Đặc thù về tài chính của công ty hợp danh.
- Tạo lập vốn khi thành lập công ty và khi hoạt động:
Khi thành lập công ty, các thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải góp vốn đủ theocam kết Vốn góp có thể bằng tiền hoặc tài sản khác và tài sản phải chuyển quyền sở hữucho công ty Có thể tiếp nhận thêm thành viên mới sau khi đã hoạt động
Công y hợp danh được quyền huy động vốn cho kinh doanh (vay của các tổ chức tín dụng)nhưng không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
Thành viên góp vốn được quyền chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác
- Phân phối lợi nhuận:
Hội đồng thành viên (Hội đồng của t ất cả thành viên) quyết định việc phân phối lợinhuận, bao gồm tổng số lợi nhuận sau thuế được chia và số lợi nhuận được chia cho mỗithành viên theo tỷ lệ vốn góp hoặc theo quy định trong Điều lệ công ty
Đặc thù về tài chính của doanh nghiệp
- Tạo lập vốn khi thành lập công ty và khi hoạt động:
Vốn điều lệ do chủ doanh nghiệp đăng ký, bao gồm tiền, tài sản Nếu là tài sản khácngoài tiền, vàng thì chủ doanh nghiệp phải kê khai rõ loại tài sản và giá trị còn lại của tài sản
Chủ doanh nghiệp có quyền đăng ký hoặc giảm vốn đầu tư trong quá trình kinh doanh,nhưng nếu giảm vốn xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì phải đăng ký lại trước khi giảm vốn.Vì là công ty trách nhiệm vô hạn như công ty hợp danh nên doanh nghiệp tư nhânkhông được huy độngvốn bằng cách phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
- Quyền cho thuê và bán doanh nghiệp:
Trang 13Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp củâ mình nhưngvẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp tư nhân cũng có quyền bán doanh nghiệp cho người khác nhưngphải thông báo đầy đủ nghĩa vụ tài chính chưa hoàn thành cho cơ quan đăng ký kinh doanhtrước khi chuyển giao doanh nghiệp cho người mua
- Phân phối lợi nhuận:
Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau thuế
- Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty đó
Theo khái niệm trên đây, công ty mẹ - công ty con phụ thuộc chủ yếu vào mức độ sởhữu hoặc quyền của công ty này đối với công ty khác Vì vậy, việc quản lý tài chính trong môhình công ty mẹ - công ty con cũng có những vấn đề khác biệt so với từng công t y độc lập
Đặc thù về tài chính của công ty mẹ - công ty con:
- Tạo lập vốn: quan hệ về vốn của công ty con với công ty mẹ khi thành lập tuỳthuộc vào hình thức pháp lý của công ty con Chẳng hạn là công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên thì do công ty mẹ đầu tư 100% vốn; là công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thànhviên thì công ty nào là thành viên góp vốn trên 50% vốn điều lệ sẽ trở thành công ty mẹ; làcông ty cổ phần thì công ty nào sở hữu trên 50% tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành sẽ
là công ty mẹ
Công ty mẹ và các công ty con có tư cách pháp nhân nên được quyền huy động vốncho kinh doanh theo quy định của pháp luật
Trang 14- Trách nhiệm quản lý tài chính:
Quan hệ kinh tế tài chính giữa công ty mẹ với công ty con và giữa nhóm công ty vớicác chủ thể khác là quan hệ độc lập theo từng chủ thể công ty Trường hợp công ty mẹ canthiệp ngoài thẩm quyền, gây thiệt hại cho công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm
về thiệt hại đó
Báo cáo tài chính hàng năm lập theo từng công ty, riêng công ty mẹ ph ải lập báo cáotài chính hợp nhất của nhóm công ty
- Phân phối lợi nhuận:
Từng chủ thể công ty trong nhóm công ty tự chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính
và cũng được quyền phân phối lợi nhuận sau thuế theo hình thức pháp lý của công ty và theo
Điều lệ của công ty
Về doanh nghiệp nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, chính phủ các nước thường đầu tư để thành lập nữngdoanh nghiệp nhà nước ở một số ngành nghề mà nhà nước cần chi phối để định hướng pháttriển kinh tế đất nước hoặc ở những lĩnh vực chậm thu hồi vốn, khó kêu gọi đầu tư (lĩnh vựchạ tầng cơ sở)
Về mặt tài chính, doanh nghiệp nhà nước thường do nhà nước đầu tư 100% vốn hoặcnắm giữ quyền chi phối bằng tỷ lệ vốn cao Do đó, hình thức tổ chức của doanh nghiệp nhànước theo loại hình doanh ng hiệp nào tuỳ thuộc vào mức độ nắm giữ vốn của nhà nước tạidoanh nghiệp đó
Tại Việt Nam, theo quy định của pháp luật hiện hành, doanh nghiệp Nhà nước làdoanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ
Theo quy định này, doanh nghiệp Nhà nước k hông chỉ tổ chức theo một loại hìnhdoanh nghiệp cụ thể nào mà tuỳ thuộc vào mức độ sở hữu vốn của Nhà nước trong doanhnghiệp để thể hiện vai trò chi phối của Nhà nước đối với doanh nghiệp đó Như vậy doanhnghiệp Nhà nước có thể được tổ chức dưới các hìn h thức pháp lý sau đây:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (100% vốn Nhà nước do một tổ chứclàm chủ sở hữu)
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (các thành viên góp vốn thuộc
sở hữu Nhà nước chiếm trên 50% vốn góp của công ty)
- Công ty cổ phần (cổ đông Nhà nước nắm trên 50% cổ phần phổ thông đã phát hành)
- Nhóm công ty (là công ty mẹ - công ty con) nếu Nhà nước sở hữu trên 50% vốn
điều lệ hoặc cổ phần phổ thông, là tập đoàn kinh tế nếu Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều
lệ trong tập đoàn
Việc quản lý tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước được căn cứ vào từng hìnhthức pháp lý của doanh nghiệp đã nghiên cứu ở các phần trên
Trang 151.4.2 Nhân tố đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong một số ngành, nghề nhất định, chẳng hạn doanhnghiệp sản xuất, xây dựng, thương mại, dịch vụ Mỗi ngành, nghề kinh doanh có đặc điểmkinh tế - kỹ thuật riêng biệt Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh ảnhhưởng tới công tác tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp trên các mặt sau đây:
-ảnh hưởng tới cơ cấu vốn kinh doanh:
Những ngành như sản xuất, xây dựng, đóng tầu phải có vốn đầu tư dài hạn rất lớn đểxây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải Ngành dịch vụ tài chính,ngân hàng lại đòi hỏi vốn bằng tiền là chính Ngành dịch vụ khác như tư vấn, đào tạo lại đòi hỏivốn đầu tư vào nhân lực là chính, tức vốn lưu động Ngành thương mại thì vốn chủ yếu nằmtrong khâu lưu thông nên cơ cấu vốn kinh doanh phải chú trọ ng tới vốn đầu tư ngắn hạn
-Tạo ra tính thời vụ của vốn kinh doanh :
Một số ngành có tính thời vụ rõ ràng như ngành xuất khẩu nông sản, du lịch (theomùa), thương mại (hàng may mặc theo mùa) nên nhu cầu vốn của các doanh nghiệp kinhdoanh ngành này cũng có tính thời vụ Doanh nghiệp phải bố trí tăng nguồn vốn tạm thờikhi thời vụ đến, ngược lại khi hết thời vụ thì phải sử dụng vốn cho hợp lý, không để ứ đọng
-ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển của vốn kinh doanh:
Ngành có chu kỳ sản xuất dài như ngành đóng tàu, ngành xây dựng thì vốn luânchuyển rất chậm, vốn thu hồi được khi nào sản phẩm hoàn thành, bàn giao Nhưng ngànhsản xuất hàng tiêu dùng, ngành thương mại thì vốn vận động nhanh hơn Doanh nghiệp phảichú ý tới đặc điểm này để bố trí và sử dụn g vốn hợp lý, kịp thời, tăng tốc độ chu chuyển vốnbằng các biện pháp thích hợp
1.4.3 Nhân tố môi trường kinh doanh
Mội trường kinh doanh là những điều kiện bên ngoài, nơi doanh nghiệp hoạt động.Môi trường kinh doanh đa dạng, luôn biến động, có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếptới công việc kinh doanh của doanh nghiệp Về phương diện tài chính, môi trường kinhdoanh có thể tác động thuận lợi, làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhưngmôi trường kinh doanh cũng có thể làm tăng chi phí, giảm cơ hội kinh doanh, thậm chí gâynên sự phá sản doanh nghiệp
Nhận thức được tác động của môi trường kinh doanh sẽ giúp cho công tác quản lý tàichính tận dụng được cơ hội thuận lợi và hạn chế những rủi ro có thể gặp phải
Những nội dung chủ yếu về m ôi trường kinh doanh là:
1.4.3.1 Môi trường kinh tế, tài chính:
Môi trường kinh tế, tài chính tác động mạnh nhất tới việc quản lý tài chính doanhnghiệp Hình thái biểu hiện cụ thể của môi trường kinh tế, tài chính là:
- Tình trạng của nền kinh tế:
Trang 16Vùng lãnh thổ hoặc quốc gia nơi doanh nghiệp kinh doanh nếu đang trên đà tăng trưởngkinh tế thì triển vọng đầu tư là có lợi, sức mua sẽ tăng, cầu về dịch vụ sẽ đa dạng Ngược lại, nếuvùng đó đang đà suy thoái thì kinh doanh sẽ có thể bị thu hẹp do thị trường tr ầm lắng.
Lạm phát là yếu tố tác động rất mạnh tới tài chính doanh nghiệp Lạm phát cao và có
xu thế tiếp tục tăng sẽ làm tăng nhu cầu vốn kinh doanh và dễ gây ra tình trạng lãi giả, lỗthật Việt Nam những năm 80 trước thời kỳ đổi mới đã xảy ra tình trạng này Nhưng thiểuphát cũng gây ra tác động tiêu cực không kém so với lạm phát: làm cho thị trường giảm hẳnmức đầu tư, cầu về tiêu dùng chững lại
- Sự phát triển của thị trường tài chính:
Thị trường tài chính bao gồm các định chế tài chính (các trung g ian tài chính) và cáccông cụ tài chính trên thị trường (các hình thức tín dụng, các loại chứng khoán, các dịch vụthanh toán, bảo lãnh, tư vấn, các hình thức đầu tư tài chính ) ảnh hưởng trực tiếp tới tàichính doanh nghiệp Thị trường tài chính phát tr iển tác động tới tài chính doanh nghiệp trêncả 2 mặt: tạo thuận lợi cho việc huy động vốn kinh doanh và là nơi để doanh nghiệp đầu tưtài chính, mở rộng dịch vụ sinh lời
Thị trường tài chính nếu phân loại theo kỳ hạn của các công cụ tài chính giao dịchthì có thể chia làm 2 loại là thị trường tiền tệ và thị trường vốn Doanh nghiệp có thể tìmnguồn tài trợ trên thị trường tài chính (bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn), tuỳtheo nguồn vốn cần huy động là ngắn hạn hay trung han, dài hạn
Cơ cấu thị trường tài chính
- Mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn
- Bao thanh toán
1 Thị trường chứng khoán:
- Phát hành và giao dịch các chứng khoántrung và dài hạn:
- Trái phiếu
- Cổ phiếu
- Chứng khoán khác
2 Thị trường hối đoái:
- Giao dịch (mua bán) các loại ngoại tệ
2 Thị trường tín dụng thuê mua :
- Thuê mua tài chính thông qua các công tycho thuê tài chính tài trợ thuê mua thiết bị,máy móc, nhà xưởng
3 Thị trường tiền tệ liên ngân hàng :
- Vay lẫn nhau ngắn hạn giữa các ngân hàng
Trang 17Cơ sở hạ tầng có thể hiểu theo nghĩa hẹp là điều kiện vật chất của một nền kinh tế có
ảnh hưởng tới việc kinh doanh của doanh nghiệp như tình trạng đường xá, giao thông, thôngtin liên lạc, đất đai Nơi những điều kiện thuận lợi, giá cả cạnh tranh thì doanh nghiệp cóthể giảm được chi phí nhiều loại, dành được cơ hội kinh doanh tốt
Ngoài ra,thói quen tiêu dùng, văn hoá dân tộc , sự phát triển của khoa học, công nghệtrong tương lai cũng là nhân tố ảnh hưởng tới tình hình kinh d oanh và tình hình tài chínhdoanh nghiệp, vì những nhân tố này chi phối doanh thu , lợi nhuận của doanh nghiệp
1.4.3.2 Môi trường pháp lý:
Môi trường pháp lý là hệ thống luật pháp, chính sách của mỗi vùng lãnh thổ, mỗiquốc gia, mỗi khu vực hoặc của cộng đồng quốc tế có ảnh hưởng tới việc kinh doanh củadoanh nghiệp Môi trường pháp lý có phạm vi rất rộng lớn, chẳng hạn những quy định pháp
lý về thuế quan, về thương mại, về đầu tư, về dịch vụ, về đất đai, về khuyến khích đầu tư, vềquyền sở hữu trí tuệ, về ngân hàng, ngoại hối
Những yếu tố pháp lý luôn thay đổi, vừa có mặt thuận lợi là tạo môi trường thôngthoáng, xoá bỏ các rào cản bất lợi cho kinh doanh, nhưng đồng thời cũng làm thay đổinhững dự tính của doanh nghiệp Để tránh những rủi ro tài chính có thể xảy ra do môitrường pháp lý thay đổi, doanh nghiệp cần phải:
- Dự báo dài hạn xu thế thay đổi của môi trường pháp lý nơi kinh doanh để có thểxây dựng chiến lược kinh doanh thích ứng
- Đánh giá tối đa tác động của yếu tố pháp lý thay đổi để có những dự phòng tàichính cần thiết bù đắp cho tổn thất nếu xảy ra
- Cập nhật có hệ thống các chính sách, pháp luật có liên quan để tránh những khiếukiện dẫn đến thiệt hại vì thiếu hiểu biết pháp luật Biện pháp mà các doanh nghiệp thường
áp dụng là thuê chuyên gia tư vấn pháp lý hoặc thành lập bộ phận pháp chế trong công ty
1.5 Xác định nhu cầu vốn thành lập doanh nghiệp
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp mới ra đời ngày càngnhiều, với loại hình và ngành nghề kinh doanh đa dạng Tại Việt Nam, chính sách của Nhànước ta là khuyến khích mọi người kể cả tổ chức, cá nhân nước ngoài có điều kiện đứng ralập doanh nghiệp, kể cả ở trong nước và ở nước ngoài
1.5.1 Điều kiện thành lập doanh nghiệp
Thành lập doanh nghiệp là việc thiết lập một tổ chức kinh tế nhằm sản xuất, cung ứng dịch vụ, hàng hoá đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và thông qua đó chủ doanh nghiệp thu được lợi nhuận.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc lập do anh nghiệp trước hết phải xuất phát từnhu cầu của thị trường Chính cầu của thị trường là cơ hội của việc kinh doanh Nhưng chỉ
Trang 18khi nào cung nào đó về hàng hoá, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì ngườikinh doanh mới có cơ hội thu được lợi nh uận như mong muốn Tuy vậy, việc kinh doanhcũng phải tôn trọng pháp luật để đảm bảo lợi ích chung toàn xã hội.
Có 2 điều kiện cơ bản để thành lập một doanh nghiệp, đó là điều kiện kinh tế - tàichính và điều kiện pháp lý
1.5.1.1 Điều kiện kinh tế - tài chính:
Điều kiện kinh tế - tài chính đòi hỏi ở người khởi nghiệp hai vấn đề, đó là có nghề và có vốn
- Về nghề: Người khởi nghiệp là cá nhân phải có khả năng tổ chức sản xuất, kinhdoanh để cung ứng sản phẩm, dịch vụ nào đó mà pháp luật không cấm cho nhu cầu xã hội
và có thể thu được lợi nhuận Trường hợp chủ doanh nghiệp là tổ chức cũng phải có khảnăng tương tự và có đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành kinh doanh đáp ứng được tiêu chuẩn
mà pháp luật yêu cầu
Đối với ngành nghề đòi hỏi chứng chỉ hành nghề thì nhân sự chủ chốt của doanh nghiệpphải có chứng chỉ hành nghề
- Về vốn: Chủ doanh nghiệp phải có số vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh, đó
là vốn đầu tư ban đầu (với doanh nghiệp tư nhân) hoặc vốn điều lệ (với doanh nghiệp khác)
Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góptrong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ Công ty
Thông thường vốn đầu tư ban đầu hoặc vốn điều lệ là do doanh nghiệp tự đăng ký khilập hồ sơ đăng ký kinh doanh Nhưng đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện phápluật đòi hỏi cơ quan quản lý phải thẩm định trước khi cấp giấy phép thành lập, hoạt động rồi mới
được đăng ký kinh doanh thì mức vốn điều lệ không được thấp hơn mức vốn pháp định
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật đểthành lập doanh nghiệp
1.5.1.2 Điều kiện pháp lý:
Điều kiện pháp lý đòi hỏi khi lập doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân phải thực hiện
đúng những quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự, về điều kiện kinh doanh
Cán bộ, công chức, theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng tronglực lượng quân đội, công an
Trang 19 Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sởhữu Nhà nước (trừ người được uỷ quyền cử làm đại diện quản lý phần vốn góp của Nhà nướctại doanh nghiệp khác).
Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên
Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị toà án cấm hành nghề kinh doanh
Các trường hợp khác theo quy định của Luật phá sản
- Về điều kiện kinh doanh:
Ngoài điều kiện kinh tế - tài chính trên đây, khi thành lập doanh nghiệp chủ doanhnghiệp phải thực hiện các quy định khác của pháp luật như:
Lập đầy đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh theo từng loại hình doanh nghiệp
Ngành, nghề đăng ký kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh
Có trụ sở chính, tên doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp
Nộp lệ phí đăng ký kinh doanh
Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh
1.5.2 Xác định nhu cầu vốn thành lập doanh nghiệp
Để thành lập một doanh nghiệp, một trong những điều kiện phải có là hình thànhvốn đầu tư ban đầu (đối với doanh nghiệp tư nhân) hoặc vốn điều l ệ (đối với các loại hìnhdoanh nghiệp khác) Số vốn ấy là bao nhiêu phụ thuộc vào 2 trường hợp:
- Trường hợp kinh doanh ngành nghề mà pháp luật có qui dịnh mức vốn tối thiểu(vốn pháp định) thì bắt buộc người khởi nghiệp phải có đủ mức vốn tối thiểu, còn k hả năng
Nhu cầu vốn thành lập doanh nghiệp được lập theo dự kiến (kế hoạch) trong 3 đến 5năm đầu Còn nguồn vốn nào để hình thành vốn ban đầu, vốn điều lệ thì phải căn cứ vào quy
định của từng loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp tư nhân hay công ty trách nhiệm hữuhạn một thành viên, nhiều thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh để sắp xếp
Sau đây là mẫu các bản dự toán cần lập khi thành lập doanh nghiệp
Trang 20Dự toán chi phí đầu tư ban đầu
Năm thứ
Số vốn đầu tư (1.000.000đ)Khoản mục
tính
Sốlượng
Thời gian bắt
đầu và thời gianhoàn thành Tổngsố
QuýI
QuýII
QuýIII
QuýIV
Trang 21Dự tính nhu cầu vốn lưu động
Đơn vị: 1.000.000đ
Quý I Quý II Quý III Quý IV
A - Dự trữ hàng tồn kho
I Nguyên vật liệu chính
II Vật liệu phụ
III Nhiên liệu
IV Phụ tùng thay thế
V Công cụ, dụng cụ
D Nhu cầu vốn lưu động
I Nhu cầu vốn ban đầu
II Biến đổi nhu cầu vốn lưu động
Nhu cầu vốn và nguồn vốn
(Dự tính tới năm doanh nghiệp đạt công suất thiết kế)
Đơn vị: 1.000.000đ
III
Tổngsốvốn Quý
I QuýII QuýIII QuýIV Cộng QuýI QuýII QuýIII QuýIV Cộng
A Tổng mức vốn
đầu tư
I Đầu tư ban đầu
II Đầu tư vào TSCĐ
III Nhu cầu vốn
Trang 22 Đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh,
Qui mô, mạng lưới kinh doanh,
Tính thời vụ của ngành nghề kinh doanh
Vốn kinh doanh luôn luôn biến động theo nhiệm vụ kinh doanh và được phân loạibởi nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại
2.1.2 Cơ cấu vốn kinh doanh
Người ta thường phân loại vốn kinh doanh theo đặc điểm luân chuyển của vốn kinhdoanh hoặc theo nguồn hình thành nên vốn kinh doanh
Phân loại vốn kinh doanh theo đặc điểm luân chuyển.
Phân loại vốn kinh doanh theo đặc điểm luân chuyển là cách phân loại dựa trên tiêuthức thời gian hoàn thành một kỳ luân chuyển của vốn dài hay ngắn Đây là phương phápphân loại chủ yếu
Theo cách này, vốn kinh doanh có 2 loại: Vốn cố định và vốn lưu động
- Vốn cố định: Là số vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư, mua sắm, xây dựng để hình thành
nên tài sản cố định của doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định
Cũng có thể hiểu: Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định trong doanhnghiệp hiện có ở một thời điểm nh ất định
Vốn cố định là bộ phận chủ yếu trong cơ cấu tài sản dài hạn của doanh nghiệp Theo quy định hiện hành, người ta coi giá trị còn lại của tài sản cố định hiện có (vốn cố
Trang 23định) là tài sản dài hạn, ngoài ra, tài sản dài hạn còn có các khoản đầu tư tà i chính dài hạn,chi phí xây dựng cơ bản dở dang.
Đặc điểm chu chuyển của vốn cố định là thời gian để hoàn thành một kỳ luânchuyển vốn cố định tương đối dài, giá trị của nó chuyển dần vào chi phí kinh doanh phù hợpvới mức độ hao mòn của tài sản cố định d ưới hình thức khấu hao để thu hồi vốn cố định
- Vốn lưu động: Là số vốn mà doanh nghiệp đã sử dụng để mua sắm, hình thành nên tài
sản lưu động phục vụ kinh doanh ở một thời điểm nhất định
Cũng có thế hiểu: Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản l ưu động hiện cótrong doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định
Vốn lưu động là bộ phận chủ yếu trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Thực
ra, trong số vốn lưu động có một bộ phận công nợ phải thu có thời hạn phải thu dài trên một nămhoặc dài hơn một chu kỳ kinh doanh nhưng về bản chất thì chúng vẫn là vốn lưu động
Đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động là thời gian để hoàn thành một kỳ luânchuyển vốn lưu động tương đối ngắn, giá trị của nó chuyển một lần, toàn bộ vào chi phí kinhdoanh trong kỳ và thu hồi lại toàn bộ sau chu kỳ kinh doanh
Vốn cố định và vốn lưu động có quan hệ chuyển hoá với nhau Tình hình thực tế về vốnkinh doanh tại một thời điểm theo cách phân loại này được thể hiện ở bên trái của bảng cân đối
kế toán (phần Tài sản) tại thời điểm đó, được phân tổ thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
2.2 Nguồn vốn kinh doanh và mô hình bố trí nguồn kinh doanh : 2.2.1 Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh
Phần cơ cấu vốn kinh doanh trên đây (mục 2.1.2) đã cho thấy vốn kinh doanh của doanhnghiệp bao gồm 2 loại là vốn cố định và vốn lưu động,nếu xét theo đặc điểm lưu chuyển củavốn Tuy nhiên, nếu xét theo nguồn hinh thành nên vốn kinh doanh thì có một số cách phânloại khác Sau đây là 2 cách phân loại thường được sử dụng:
(1) Phân loại vốn kinh doanh theo tính chất sở hữu:
Phân loại vốn kinh doanh theo tính chất sở hữu (hay theo nguồn hình thành) là cáchphân loại dựa trên tiêu thức chủ sở hữu vốn là ai
Theo cách này, nguồn vốn kinh doanh được chia làm 2 loại: Nguồn vốn chủ sở hữu
và nợ phải trả (nguồn vốn nợ)
- Nguốn vốn chủ sở hữu:
Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn được hình thành từ một hoặc nhiều chủ sở hữuvốn của doanh nghiệp như: nhà nước, các cổ đông, tư nhân, thành viên đầu tư góp vốn, hộgia đình Nguồn vốn này được hình thành từ đầu và b ổ sung thêm trong quá trình phát triển
Trang 24Đặc điểm: Nguồn vốn chủ sở hữu được sử dụng ốn định, thường xuyên chủ độngtheo thẩm quyền của chủ sở hữu.
Cơ cấu: Nguồn vốn chủ sở hữu gồm nhiều loại khách nhau, cách hình thành, nộidung và mục đích sử dụng khác nh au bao gồm:
Nguồn vốn đầu tư do chủ doanh nghiệp góp ban đầu và góp bổ sung
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản,
Các quĩ của doanh nghiệp (quĩ đầu tư phát triển, quĩ dự phòng tài chính )
Quĩ khen thưởng, quĩ phúc lợi, quĩ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quĩ dự
Nợ phải trả là nguồn vốn được hình thành từ các chủ nợ khác nhau như: Vay của các
tổ chức tài chính, tín dụng, của công chú ng, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, cáckhoản tạm thời sử dụng chưa đến hạn thanh toán, tài sản thừa chờ xử lý
Đặc điểm: Nợ phải trả là nguồn vốn bổ sung cho vốn kinh doanh, có tính kỳ hạn,doanh nghiệp không có quyền sở hữu mà chỉ có quyển sử dụn g theo những điều kiện nhất
định do chủ nợ qui định
Cơ cấu: Nợ phải trả gồm nhiều loại khác nhau:
Nợ ngắn hạn gồm:
Vay và nợ ngắn hạn,
Nợ phải thanh toán cho người bán, người mua trả tiền trước (tín dụng thương mại)
Nợ phải trả người lao động,
Các khoản phải nộp ngân sách
Nợ dài hạn gồm:
Vay và nợ dài hạn của các tổ chức tài chính, tín dụng,
Vay dài hạn trên thị trường tài chính bằng các công cụ nợ (trái phiếu công ty, kỳ phiếu,…)
Phải trả dài hạn người bán
Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường x uyên biến động do sự biến độngcủa quá trình kinh doanh Bố trí cơ cấu nguồn vốn hợp lý, tìm nguồn vốn rẻ và kịp thời lànhiệm vụ quan trong trong việc quản lý vốn kinh doanh
(2) Phân loại vốn kinh doanh theo thời gian sử dụng
Trang 25Cách phân loại nguồn vốn kin h doanh theo thời gian sử dụng dựa trên tiêu thứcquyền sử dụng nguồn vốn để kinh doanh dài hay ngắn.
Theo cách này, nguồn vốn kinh doanh được chia làm hai loại nguồn vốn thườngxuyên và nguồn vốn tạm thời Tình hình nguồn vốn thực tế của doanh nghiệp t heo cáchphân loại này được thể hiện ở bên phải bảng cân đối kế toán (phần nguồn vốn)
Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạn vàohoạt động kinh doanh, ít nhất là trên 1 năm
Cơ cấu: nguồn vốn thường xuyên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nợ vay trunghạn ( vay kỳ hạn trên 1 năm đến đủ 5 năm), vay dài hạn ( vay kỳ hạn trên 5 năm)
Nợ phải trả cho người bán, người mua
Vốn chiếm dụng tạm thời ( nợ công nhân viên, khoản phải nộp ngân sách)
Tuỳ từng loại hình doanh nghiệp, mức độ tỷ lệ giữa nguồn vốn thường xuyên vớinguồn vốn tạm thời có khác nhau, nhưng phải tính tới sự an toàn tài chính Ngay cả cáckhoản nợ dài hạn mà một phần nợ phải trả chỉ còn hạn dưới 1 năm thì khoản nợ dài hạn đócũng coi như vốn tạm thời
2.2.2 Các mô hình bố trí nguồn vốn kinh doanh.
Không phải doanh nghiệp nào cũng luôn có đủ nguồn vốn chủ sở hữu để đáp ứngnhu cầu kinh doanh thường xuyên Việc phải sử dụng nguồn vốn bên ngoài thường diễn ra
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh thuận lợi, các doanh nghiệp cần bố trí nguồnvốn theo nguyên tắc:
- Các tài sản cần thiết thường xuyên như tài sản cố định, tài sản lưu động thường xuyênthì phải có nguồn vốn thường xuyên đảm bảo là chính, ngoài ra nếu có nhu cầu dự trữ độtbiến ( tài sản lưu động tạm thời) thì bố trí bằng nguồn vốn tạm thời
- Nguồn vốn đi vay, nguồn vốn chiếm dụng tạm thời chỉ được sử dụng cho những mục tiêu
và kỳ hạn đúng với hợp đồng vay vốn, hợp đồng thương mại hoặc các cam kết với chủ nợ
- Chú ý tới chi phí tài chính và rủi ro khi sử dụng các nguồn vốn
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong những mô hình bố trí nguồn vốn sau đây:
Trang 262.2.2.1 Mô hình: Sử dụng đúng tính chất của từng nguồn vốn.
- Đặc điểm của mô hình này là các nguồn vốn được sử dụng hoàn toàn đúng mục
đích, đảm bảo tính kỳ hạn của từng loại nguồn vốn
Theo mô hình này thì toàn bộ tài sả n cố định, đầu tư dài hạn và tài sản lưu độngthường xuyên (dự trữ vật tư hàng hoá thường xuyên, nợ phải thu, vốn bằng tiền cần thiết…)
đều do nguồn vốn thường xuyên (vốn chủ sở hữu và nợ trung dài hạn) đảm bảo Phần tài sảnlưu động tạm thời thì sử dụng h oàn toàn bằng nguồn vốn tạm thời
Mô hình 1: Sử dụng đúng tính chất của từng nguồn vốn
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở
hữu + Nợ vay trung hạn và dài hạn
Nguồn vốn tạm thời = Nợ vay ngắn
Nợ phải trả
trong thanh toán +
Nợ ngắn hạnkhác
- Ưu điểm của mô hình: Mô hình có ưu điểm nổi bật là:
Hạn chế được rủi ro về khả năng thanh toán do giảm được áp lực đòi nợ của các chủ
nợ do không sử dụng sai kỳ hạn của nguồn vốn nợ
Giảm được chi phí về lãi vay, vì k hi có nhu cầu tạm thời mới phải vay và vay ngắnhạn
- Hạn chế của mô hình:
Mô hình này thích hợp với những doanh nghiệp có qui mô vốn chủ sở hữu lớn hoặcdoanh nghiệp có điều kiện vay trung hạn, dài hạn nhiều, không thích hợp với nhữngdoanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ nhưng muốn mở rộng phạm vi kinh doanh
Mặt khác, khi vốn chủ sở hữu lớn doanh nghiệp có ưu thế là chủ động trong nguồnvốn kinh doanh nhưng áp lực về lợi nhuận tính trên vốn chủ sở hữu lại là đòi hỏikhông nhỏ của nhà đầu tư
A
B
Trang 272.2.2.2 Mô hình: Sử dụng một phần nguồn vốn thường xuyên cho nhu cầu vốn lưu động tạm thời.
Theo mô hình này, toàn bộ tài sản cố định, và đầu tư dài hạn,toàn bộ tài sản lưu
động thường xuyên và một phần tài sản lưu động tạm thời được sử dụng từ nguồn vốnthường xuyên, chỉ có một phần tài sản lưu động tạm thời được bố trí từ nguồn vốn tạm thời
Mô hình 2: Sử dụng một phần nguồn vốn thường xuyên cho nhu cầu vốn lưu động tạm thời
- ưu điểm của mô hình: Khả năng thanh toán rất cao, vì doanh n ghiệp chủ động được
toàn bộ nhu cầu vốn thường xuyên cho kinh doanh, chỉ một phần nhu cầu tạm thời mớicần vay ngắn hạn
- Hạn chế của mô hình: Cũng như mô hình 1, mô hình này đòi hỏi doanh nghiệp phải có
vốn chủ sở hữu lớn hoặc phải vay dài hạn nhiều với lã i suất cao hơn lãi suất vay ngắnhạn mới đảm bảo được nhu cầu vốn thường xuyên, do đó có thể làm tăng chi phí sửdụng vốn
2.2.2.3 Mô hình: Sử dụng nguồn vốn tạm thời là chính
Theo mô hình này, doanh nghiệp có nguồn vốn thường xuyên chỉ đủ đảm bảo chotoàn bộ tài sản cố định, đầu tư dài hạn và một phần tài sản lưu động thường xuyên và toàn
bộ tài sản lưu động tạm thời đều dựa vào nguồn vốn tạm thời
Mô hình 3: Sử dụng nguồn vốn tạm thời là chính
A
B
Tài sản
Tài sản lưu độngtạm thờiTài sản lưu độngthường xuyên
Tài sản cố định và
đầu tư dài hạn
Nguồn vốnthường xuyên
Trang 28- Ưu điểm của mô hình: Mô hình này là sử dụng nguồn vố n linh hoạt, không phải bố trí
nguồn vốn thường xuyên nên giảm được chi phí sử dụng vốn (lãi vay)
- Nhược điểm của mô hình: Nhược điểm nổi bật của mô hình này là rủi ro cao vì doanh
nghiệp hầu như phụ thuộc vào khả năng tìm nguồn vốn bên ngoài vì vậy dễ thụ độngtrong kinh doanh
Mặt khác, khi doanh nghiệp có khó khăn về tìm nguồn vốn sẽ dễ dẫn đến tình trạngchiếm dụng vốn bất hợp pháp trong thanh toán
Như vậy rất khó có mô hình bố trí nguồn vốn nào thích hợp hoàn toàn với mỗi doanhnghiệp, vì ưu điểm và nhược điểm của mỗi mô hình đan xen nhau Để cho việc sử dụng vốncho kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp phải lựa chọn các công cụ tài trợ nguồn vốn chokinh doanh thích hợp trên các mặt: qui mô, cơ cấu, thời hạn, và chi phí
2.2.3 Các công cụ tài trợ nguồ n vốn kinh doanh
Doanh nghiệp có thể sử dụng các quyền mà luật pháp cho phép để tìm nguồn tài trợvốn ngắn hạn và dài hạn cho nhu cầu kinh doanh thông qua các công cụ sau đây:
- Trái phiếu công ty,
- Tín dụng ngân hàng,
- Tín dụng thuê mua,
- Tín dụng thương mại,
- Phát hành cổ phiếu,
- Tài trợ từ lợi nhuận để lại
2.2.3.1 Tài trợ vốn bằng công cụ trái phiếu công ty:
Trái phiếu công ty là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp phát hành, thể hiện nghĩa
vụ và sự cam kết của doanh nghiệp về việc thanh toán số nợ gốc và lợi tức tiền vay vàonhững thời hạn đã xác định cho người nắm giữ trái phiếu
Trái phiếu công ty là một loại chứng khoán nợ (hoặc công cụ nợ), trong đó bên đivay là doanh nghiệp và bên sở hữu là trái chủ (bên cho vay)
Trái phiếu công ty có nhiều loại, tuỳ th eo tiêu thức phân loại Phân loại theo thờigian thì gồm có trái phiếu ngắn hạn, dài hạn, trung hạn Phân loại theo hình thức thì gồm cótrái phiếu ghi tên và trái phiếu không ghi tên Phân loại theo mức độ đảm bảo thì có tráiphiếu có tài sản bảo đảm và t rái phiếu không có tài sản bảo đảm Phân loại theo lãi suất thì
có trái phiếu lãi suất cố định và trái phiếu lãi suất thay đổi
Ngoài các loại trái phiếu trên, công ty cổ phần có thể sử dụng loại trái phiếu chuyển
đổi để chuyển từ hình thức vay vốn bằng tr ái phiếu sang hình thức huy động vốn cổ phần.Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu công ty khi đến hạn thanh toán có thể đượcchuyển đổi thành cổ phần phổ thông của công ty cổ phần theo một tỷ lệ nhất định
Trang 29Doanh nghiệp phát hành trái phiếu chuyển đổi cần chú ý một số vấn đề sau:
- Tỷ lệ chuyển đổi: là số lượng cổ phần phổ thông do một trái phiếu chuyển đổi thành.
Ví dụ: Một công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi có mệnh giá là 1.000.000 VNĐ,
kỳ hạn 5 năm, lãi suất 8% trả hàng năm và sau 5 năm có thể c huyển đổi thành 100 cổ phầnphổ thông với mệnh giá là 10.000 VND Như vậy, tỷ lệ chuyển đổi là 100
- Giá chuyển đổi (conversion price): là giá trị tính theo mệnh giá của trái phiếu mà mỗi
cổ phần nhận được khi chuyển đổi
Theo ví dụ trên thì giá chuyển đổi sẽ là: 1.000.000 : 100 CP = 10.000 VNĐ
Nếu trái phiếu được tính lãi vào cuối kỳ hạn thì phần lãi này có thể chuyển đổi haykhông chuyển đổi do công ty quy định
- Ưu điểm của việc tài trợ bằng trái phiếu công ty:
Một là, doanh nghiệp vay trực tiếp từ nhà đầu tư, không qua các trung gian tài chínhnên lãi suất thường thấp hơn
Hai là, chủ doanh nghiệp không phải phân chia quyền kiểm soát doanh nghiệp vớicác trái chủ
Ba là, doanh nghiệp có thể chủ động trong việc chi phí trả lãi và bố trí nguồn vốn trả
nợ gốc do thời hạn thanh toán và lãi suất thường được định sẵn
- Nhược điểm của việc sử dụng công cụ trái phiếu công ty:
Một là, vì là tiền vay nên doanh nghiệp phải chịu sức ép về khả năng thanh toán nợgốc và lãi khi đến kì hạn
Hai là, phát hành nhiều trái phiế u làm tăng hệ số nợ, nếu sử dụng kém hiệu quả vốnvay sẽ tiềm ẩn khả năng thanh khoản thấp
2.2.3.2 Tài trợ vốn bằng hình thức tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức kinh doanh tiền tệ (bao gồm các tổ chức tíndụng là Ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được phép kinh doanh tiền tệ) có vaitrò to lớn trong việc cung ứng vốn cho các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức tín dụng khácnhau như cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các hình thức khác
Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác là các trung gian tài chính tức là người
đi vay để cho vay Tín dụng ngân hàng trở thành công cụ tài trợ thường xuyên cho cácdoanh nghiệp
Tín dụng ngân hàng là việc chuyển giao quyền sử dụng vốn cho người vay bằnghình thức cho vay theo những nguyên tắc: Sử dụng vốn có mục đích, trả đầy đủ tiền gốc vàtiền lãi đúng kỳ hạn đã cam kết trong hợp đồng vay vốn
Doanh nghiệp có thể vay vốn ở các tổ chức tín dụng với các kỳ hạn khác nhau:
˚ Vay ngắn hạn : Kỳ hạn tới 12 tháng
Trang 30˚ Vay trung hạn: Kỳ hạn từ 12 tháng tới 60 tháng.
˚ Vay dài hạn : Kỳ hạn trên 60 tháng
- Ưu điểm của nguồn tài trợ tín dụng ngân hàng:
Một là, doanh nghiệp có thể trở thành khách hàng thường xuyên của ngân hàng vớinhững loại hình vay vốn khác nhau, kỳ hạn khác nhau thích hợp với nhu cầu kinhdoanh đa dạng thường xuyên
Hai là, doanh nghiệp kết hợp được giữa việc vay vốn với việc được phục vụ các tiệních khác từ ngân hàng như gửi tiền nhàn rỗi, thanh toán không dùng tiền mặt, tư vấn,bảo lãnh
- Nhược điểm của công cụ tài trợ tín dụng ngân hàng:
Một là, doanh nghiệp phải đáp ứng được những điều kiện nhất định mới có thể đượcvay vốn như: uy tín, tài sản đảm bảo tiền vay, khả năng trả nợ đầy đủ và đúng hạn…
Hai là, lãi suất vay vốn là lãi suất thị trường bao gồm lãi suất đi vay và chi phí dịch vụcủa bản thân ngân hàng nên có thể cao hơn lãi suất trái phiếu do công ty tự vay vốn
2.2.3.3 Tài trợ vốn bằng tín dụng thuê mua.
Trong điều kiện hạn hẹp về nguồn vốn đầu tư vào tài sản cố định hoặc có khó khăn
về tài sản cầm cố, thế chấp vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp có thể tìm đến công cụ tài trợvốn dưới hình thức tín dụng thuê mua Tuy nhiên, cũng có trường hợp doanh nghiệp khôngmuốn đi vay vốn đầu tư vào tài sản cố định mà có thể dùng tín dụng thuê mua vì có lợ i hơn
Có hai phương thức giao dịch chủ yếu của hoạt động thuê mua là phương thức thuêvận hành (còn gọi là thuê hoạt động, thuê dịch vụ, thuê truyền thống – Operating Lease,Traditional Lease, Service Lease) và phương thức thuê mua thuần (còn gọi là thuê tài chính,thuê vốn – Net Lease, Finance Lease, Capital Lease)
1 Thuê vận hành (Operating Lease): Thuê vận hành có 2 đặc trưng cơ bản sau:
Thời hạn thuê rất ngắn so với tuổi thọ của tài sản, việc chấm dứt hợp đồng thuê chỉcần báo trước trong thời gian ngắn
Người cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành của tài sản như chi phí bảo dưỡng,mua bảo hiểm, thuế tài sản và mọi rủi ro liên quan đến tài sản
Quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê và bên thuê vận hành có thể tóm tắt như sau:
Bên cho thuê vận hành ( Lessor) Bên thuê vận hành ( Lessee)
- Nắm quyền sở hữu tài sản cho thuê
- Chịu mọi chi phí cho sự tồn tại của tài sản
- Chịu mọi rủi ro và thiệt hại liên quan đến
tài sản
- Có quyền gia hạn hợp đồng cho thuê và định
đoạt tài sản khi kết thúc hạn cho thuê
- Trả tiền thuê tài sản để có quyền sử dụngtài sản trong thời hạn thuê
- Không chịu rủi ro và thiệt hại về tài sản đithuê
- Có quyền huỷ bỏ hợp đồng thuê tài sảnbằng thông báo trước cho người cho thuê
Trang 312 Thuê tài chính ( Thuê mua thuần – Net Lease)
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hạn hay dài hạn, trong đó bêncho thuê (công ty cho thuê tài chính) dùng vốn của mình để mua tài sản, thiết bị của nhàcung cấp theo yêu cầu của bên đi thuê đã thoả thuận trong hợp đồng và giao tài sản đó chobên đi thuê sử dụng
Mô hình phương thức thuê tài chính.
Quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê và bên đi thuê tài chính có thể tóm tắt như sau:
Bên cho thuê tài chính Bên đi thuê tài chính
1 Mua tài sản của nhà cung cấ p, giữ
quyền sở hữu và cho thuê trung, dài hạn
2 Không cung cấp các dịch vụ vận hành,
bảo dưỡng tài sản
3 Không chịu rủi ro và thiệt hại với tài
sản cho thuê
4 Hết hạn hợp đồng, có thể cho phép bên
thuê lựa chọn hình thức ký tiếp hợp đồng
thuê hoặc mua lại, hoặc uỷ quyền bán lại
hoặc trả lại tài sản
1 Trả tiền thuê theo đúng kỳ và được quyền sửdụng tài sản
2 Có trách nhiệm nộp thuế tài sản, mua bảohiểm và chịu rủi ro về tài sản
3 Không được huỷ ngang hợp đồng thuê ( trừkhi bên cho thuê đồng ý)
4 Được quyền lựa chọn hình thức xử lý tài sảnkhi hết hạn thuê
(5)Giaotàisản
(8)Bảodưỡng
(9)Trảtiềnbảodưỡng
tiềnmuaTS
(1) Hợp đồng thuê(6) Quyền sử dụngtài sản(7) Trả tiền thuê
Nhà cung cấp
Trang 322.2.3.4 Tài trợ vốn bằng hình thức tín dụng thương mại:
Tín dụng thương mại (hay tín dụng nhà cung cấp) là hình thức sử dụng vốn chiếmdụng hợp pháp và tạm thời phát sinh trong quan hệ m ua chịu, mua trả chậm hay trả góp,nhận ứng trước tiền bán hàng
Đây là khoản nợ phải trả, không phải trả lãi hoặc lãi suất thấp, không bị ràng buộcbởi hợp đồng tín dụng như tín dụng ngân hàng, phát sinh thường xuyên trong giao dịchthương mại Đó là nguồn vốn ngắn hạn linh hoạt, nhiều khi chiếm tỷ trọng lớn trong nguồnvốn kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có thể sử dụng các hình thức mua bán hàng và thanh toán khác nhau
và từ đó có những lợi ích về tài chính (đồng thời cũng có rủi ro) Các hình thức mua bán vàthanh toán đó là:
Người bán nhận tiền (tiền mặt hoặc séc) ngay khi giao hàng,
Người bán nhận tiền trước khi giao hàng (chiếm dụng vốn),
Người bán nhận tiền qua ngân hàng sau thời hạn nhất định kể từ ngày giao hàng (bịchiếm dụng vốn),
Người bán bán hàng có điều kiện chiết khấu cho người mua
Người bán đòi tiền qua ngân hàng sau khi đã giao hàng ( bị chiếm dụng vốn)
Bán hàng trả chậm từng lần (giao hàng kỳ sau, thu tiền kỳ trước)
Bán hàng ký gửi (người mua trả tiền sau khi đã bán hết số hàng đ ược giao)
Tuy nhiên sử dụng tín dụng thương mại cần lưu ý các điều kiện sau:
- Thời hạn sử dụng vốn ngắn, phải phù hợp với những cam kết trong hợp đồng kinh tế đểgiữ tín nhiệm
- Không lạm dụng để tránh việc chiếm dụng bất hợp pháp có thể dẫn tới rủi ro bị p hạt viphạm hợp đồng mua bán
2.2.3.5 Tài trợ vốn bằng công cụ cổ phiếu
Các công ty cổ phần có thể tăng vốn điều lệ bằng cách bán cổ phần dưới hình thứcphát hành thêm cổ phiếu Cổ phần là các phần bằng nhau được chia ra từ vốn điều lệ của công
ty cổ phần, còn cổ phiếu là chứng chỉ (giấy tờ) do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi
sổ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với một hoặc một số cổ phần của công ty đó
(1) Các loại cổ phần:
Cổ phần gồm nhiều loại: cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ p hần ưu
đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác Công ty cần biết những đặc thù củamỗi loại cổ phần để lựa chọn
Trang 33_ Cổ phần phổ thông là cổ phần thể hiện quyền sở hữu vĩnh viễn đối với công ty cổ
phần của cổ đông có cổ phần đó (cổ đông phổ th ông) Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổphần phổ thông
Cổ đông phổ thông có các quyền sau:
Quyền được hưởng lợi nhuận và là chủ sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp
Quyền bầu cử
Quyền kiểm soát doanh nghiệp
Quyền ưu tiên mua cổ phần mới
xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần) và cổ đông
được Chính Phủ uỷ quyền, là cổ phần có số phiếu biểu quyết cao hơn cổ phần phổ thông
Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có quyền:
Bỏ phiếu biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông với số phiếư nhiều hơn (bội số) sốphiếu của mỗi cổ đông phổ thông (Điều lệ công ty quy định việc này)
Các quyền khác như cổ đông phổ thông nhưng không được chuyển n hượng cổ phần
đó cho người khác và chỉ duy trì loại cổ phần này trong 3 năm đầu tiên khi công ty
đi vào hoạt động, sau đó phải chuyển thành cổ phần phổ thông
_ Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức hàng năm cố định không phụ
thuộc vào kết quả kinh doanh hoặc cổ tức cao hơn cổ tức của cổ phần phổ thông
Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức không có quyền biểu quyết, quyền dự họp Đạihội đồng cổ đông, quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và ban kiểm soát, nhưng cóquyền hưởng cổ tức ưu đãi
_ Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần sẽ được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào
theo yêu cầu của cổ đông sở hữu loại cổ phần này hoặc theo quy định trên cổ phiếu của cổphần này
Đây là loại cổ phần duy nhất trong các loại cổ phần được quyền rút vốn Cổ đôn g sởhữu cổ phần này cũng không có quyền biểu quyết, quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông,quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhưng có quyền hưởng cổ tứcnhư cổ phần phổ thông
(2) Thị giá cổ phần
Thị giá cổ phần là giá cả của cổ phần trên t hị trường tài chính Thị giá cổ phần luônbiến động trên thị trường nên doanh nghiệp không dễ dàng xác định trước giá cổ phần.Tuy vậy, doanh nghiệp có thể áp dụng công thức sau đây để xác định giá bán cổphần tại thời điểm hiện tại (công thức tính giá trị dòng tiền chiết khấu – DCF):
o
P = i n
d i
d i
)1
Trang 34i
P i
Ví dụ: Công ty A dự định bán cổ phần trên thị trường để huy độn g thêm vốn cổ phần Mỗi
cổ phần hy vọng mỗi năm sắp tới được chia cổ tức 100 VNĐ (d), tương ứng với tỷ suất 12%(i) và giá bán cổ phần ở cuối năm thứ 3 sau khi chia cổ tức là 30.000 VNĐ ( P ).3
Vậy giá bán mỗi cổ phần (thị giá) ở thời điểm định giá là:
,01
10012
Trên cơ sở giá bán mỗi cổ phần xác định như trên, công ty s ẽ tính toán xem cần huy
động thêm bao nhiêu vốn cổ phần và số tiền thu được thêm (thặng dư vốn cổ phần) do thịgiá cổ phần cao hơn mệnh giá
(3) Bán cổ phần
Công ty cổ phần khi đã xác định được số vốn cổ phần cần huy động thêm và giá trịcủa mỗi cổ phần hiện có (mệnh giá) cũng như thị giá cổ phần có thể bán cổ phần trên thịtrường Việc bán cổ phần mới có thể bán toàn bộ trên thị trường theo thị giá hoặc bán mộtphần cho cổ đông cũ với giá bằng mệnh giá hay giá ưu đãi còn một phần bán trên thị trườngtheo giá thị trường
Ví dụ: Công ty cổ phần A đã có tổng số vốn cổ phần là 70 tỷ VNĐ, tương ứng với 7 triệu cổphần phổ thông Mệnh giá của mỗi cổ phần là 10.000 VNĐ (70 tỷ/7 triệu cổ phần) Công tycần huy động thêm 20 tỷ VNĐ để tăng vốn điều lệ Thị giá cổ phần là 20.000 VNĐ Có thể
dự kiến các trưòng hợp sau đây:
Trường hợp bán toàn bộ cổ phần mới trên thị trường
Giá thị trường cao gấp đôi mệnh giá nên để có thêm 20 tỷ VNĐ công ty chỉ phải bán 1 triệu
cổ phần mới Nếu vậy:
- Trị giá số cổ phần của cổ đông mới là: 10 tỷ VNĐ
Trang 35- Thặng dư vốn cổ phần (phần tăng thêm) là : 10 tỷ VNĐ
- Giá trị một cổ phần của công ty sau khi tăng vốn là:
VNĐ
11.250 mới
phần cổ triệu 1 cũ phần cổ triệu 7
VNĐ
tỷ 20 VNĐ
phần cổ triệu 1,5 cũ phần cổ triệu 7
VNĐ
tỷ 20 VNĐ
cổ phần với giá thấp hơn thị giá nên thặng dư vốn cổ phần giảm xuống, kéo theo giá trị của
cổ phần có tăng nhưng không tăng nhiều như trường hợp thứ nhất
Trên thực tế, cũng có trường hợp thị giá cổ phần của một công ty giảm xuống mức quáthấp, thậm chí thấp hơn cả mệnh giá , nếu công ty vẫn tăng vốn bằng công cụ bán cổ phần thìgiá trị cổ phần của doanh nghiệp giảm đi Trường hợp này hay xảy ra với công ty kinhdoanh kém hiệu quả Công ty nên tìm tới các công cụ tài trợ khác để trợ giúp tốt hơn việcchấn chỉnh kinh doanh, sau này có thể tính tới công cụ tăng vốn bằng cách bán cổ phần
Ưu điểm của việc tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu:
Một là, giảm sức ép nợ nần do không phải vay thêm vốn mà tăng vốn chủ sở hữu
để tăng nguồn vốn thường xuyên bằng sự đầu tư của người góp vốn
Hai là, tăng thêm tiềm lực tài chính của công ty bằng chính sức lực của cổ đông
đồng thời cũng là tăng năng lực quản trị, điều hành của công ty cổ phần
Trang 36Ba là, việc phân chia cổ tức có thể chủ động hơn việc trả lãi đi vay do việc tựquyền quyết định của công ty dựa trên kết quả kinh doanh hàng năm.
Hạn chế của công cụ tài trợ bằng cổ phiếu:
Một là, phát hành thêm cổ phiếu sẽ tạo ra sự phân chia quyền lực trong công ty
do số lượng cổ đông có quyền biểu quyết tăng lên
Hai là, cổ tức chỉ được phân ch ia nếu có lãi và đã nộp thuế thu nhập doanhnghiệp chứ không được tính vào chi phí kinh doanh như chi trả lãi vay Vì vậy, nếudoanh nghiệp có lãi ít hoặc lỗ sẽ dẫn đến giảm hoặc hoãn chia cổ tức, gây ra phản ứngbất lợi nội bộ công ty
Ba là, phát hành thêm cổ phiếu nếu hiệu quả kinh doanh không tăng tương ứng
sẽ tạo ra sự giảm sút cổ tức của cổ đông cũ do phải phân chia cho cổ đông mới
Các công ty cổ phần sử dụng hình thức tăng vốn bằng việc phát hành thêm cổ phiếuphải cân nhắc các mặt lợi hại trên đây trước yêu cầu phát triển của công ty
2.2.3.6 Tài trợ từ lợi nhuận để lại của doanh nghiệp.
Theo qui định của pháp luật, doanh nghiệp kinh doanh có lãi hàng năm được tríchlập ra các quỹ của doanh nghiệp, trong đó có các quỹ không chia như quỹ đầu tư phát triển,quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính Các quỹ này trở thành nguồn vốn tái
đầu tư của doanh nghiệp, sử dụng nguồn lực từ chính doanh nghiệp Các công ty cổ phần cóthể giảm bớt việc chia cổ tức, giảm bớt các quỹ khác để dành nhiều hơn phần lợi nhuận được
để lại nhằm tăng nguồn vốn kinh doanh nhưng vẫn thuộc sở hữu của các cổ đông
2.3 quản lý vốn cố định
2.3.1 Tài sản cố định và vốn cố định
Tại phần trên (2.1 – Vốn kinh doanh) đã đề cập đến khái niệm và đặc điểm chuchuyển của vốn cố định Thực chất vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định màdoanh nghiệp đã đầu tư để hình thành Như vậy, khi nói tới vốn cố định là hàm ý nhấn mạnh
về mặt giá trị còn nói tới tài sản cố định là nhấn mạnh về mặt hiện vật của tài sản đó Việcquản lý vốn cố định trong doanh nghiệp thực chất là quản lý tài sản cố định
2.3.1.1 Tài sản cố định và tiêu chuẩn tài sản cố định.
- Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tư liệu lao động có giá trị lớn, tham gia vàonhiều chu kỳ kinh doanh và mang lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp
Để nhận biết đâu là tài sản cố định cần phải có những tiêu chuẩn nhất định
- Điều kiện để một tư liệu lao động được coi là tài sản cố định khi tư liệu lao động đó
đồng thời thoả mãn bốn điều kiện sau đây (theo quy định hiện hành):
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó,
Trang 37 Nguyên giá phải được xác định một cách đáng tin cậy,
Có thời hạn sử dụng từ 1 năm trở lên,
Có giá trị đạt mức quy định tối thiểu (hiện nay là từ 10 triệu đồng trở lên)
Những tư liệu lao động thiếu một trong những điều kiện trên thì gọi là công cụ lao động
- Đặc điểm luân chuyển của tài sản cố định:
Tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh,
Trong quá trình sử dụng, hình thái hiện vật và đặc tính sử dụng ban đầu không thay đổi,
Giá trị được chuyển dịch dần vào sản phẩm tạo thành yếu tố chi phí kinh doanh và
được thu hồi lại sau khi tiêu thụ sản phẩm
2.3.1.2 Phân loại tài sản cố định
Có nhiều cách phân loại tài sản cố định khác nhau Sau đây là một số cách phân loại chính:
a Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện
Tiêu thức để phân loại cách này là xem xét hình thái biểu hiện bên ngoài của tài sản
cố định là gì, có thể chia ra hai loại: tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình
- Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động được biểu hiện bằng hình thái vật chất cụthể, thoả mãn những tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳkinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu
Thuộc về tài sản hữu hình gồm có:
Nhà của, vật kiến trúc,
Máy móc, thiết bị,
Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn,
Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm (thịt, sữa, da…),
Các loại tài sản cố định khác
- Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện mộtlượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, thamgia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
Thuộc về tài sản cố định vô hình gồm có:
Quyền sử dụng đất lâu dài hoặc có thời hạn (chi phí san lấp, đền bù, lệ phí trước bạ…)
Chi phí về bằng phát minh sáng chế,
Lợi thế kinh doanh (thương hiệu)…
Mục đích của việc phân loại này là nhằm:
Thấy được mức độ trang bị kỹ thuật, kết cấu tài sản cố định của doanh nghiệp
Khai thác tốt nhất từng loại,
Có phương pháp khấu hao thích hợp
Trang 38b Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế :
Căn cứ vào công dụng kinh tế của tài sản cố định là dùng để làm gì thì có thể chiatài sản cố định thành các nhóm (loại) sau:
Nhà cửa, vật kiến trúc,
Máy móc, thiết bị,
Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn,
Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm,
Các loại tài sản cố định khác
Phân loại theo cách này chủ yếu là để xem xét kết cấu hợp lý hay không của tài sản cố định.
c Phân loại tài sản cố định theo hình thái sở hữu:
Căn cứ vào quyền sở hữu, tài sản cố định được phân loại làm các loại:
Tài sản cố định thuộc sở hữu của doanh nghiệp, đó là những tài sản cố định mà doanhnghiệp có quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền quản lý, sử dụng
Tài sản cố định thuê tài chính là tài sản cố định mà doanh nghiệp có quyề n quản lý, sửdụng lâu dài nhưng quyền sở hữu thuộc về bên cho thuê (công ty cho thuê tài chính)
Tài sản cố định thuê vận hành (thuê hoạt động) là tài sản cố định mà doanh nghiệp
đang sử dụng có tính chất ngắn hạn, thời vụ, còn quyền sở hữu thuộc bên cho thuê
2.3.2 Hao mòn và khấu hao tài sản cố định
2.3.2.1 Hao mòn tài sản cố định
Trong quá trình sử dụng, giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định bị giảm dần
Lý do của sự giảm dần này là do việc sử dụng cho kinh doanh, do tác động của tự nhiên, d o
sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật…
Hao mòn tài sản cố định là sự giảm dần về giá trị hoặc giá trị sử dụng, hoặc cả giátrị và giá trị sử dụng của tài sản cố định do các nguyên nhân khác nhau gây ra
Căn cứ vào tính chất hao mòn, có thể phân chia hao mòn t ài sản cố định thành hailoại: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
Hao mòn hữu hình là sự giảm dần về giá trị sử dụng, dẫn tới sự giảm dần về giá trịcủa tài sản cố định trong quá trình sử dụng tài sản cố định vào hoạt động kinh doanh
Yếu tố tác động tới sự hao mòn hữu hìnhcủa tài sản cố định là:
Thời gian sử dụng,
Cường độ sử dụng,
Tác động của tự nhiên (nhiệt độ, mưa, nắng,…)
Hao mòn vô hình là sự giảm dần thuần tuý về mặt giá trị của tài sản cố định
Nhân tố chủ yếu tác động tới sự hao mòn vô hình của tài sản cố định là do sự tiến bộcủa khoa học kỹ thuật Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các tài sản cố định loại mới ra
Trang 39đời có công nghệ tốt hơn, giá rẻ hơn làm cho tài sản cố định đã có trở nên lạc hậu, giảm giá,mặc dù về mặt hiện vật chúng vẫn gi ữ nguyên.
2.3.2.2 Khấu hao tài sản cố định
Trong quá trình sử dụng tài sản cố định cho hoạt động kinh doanh, giá trị của tài sản
cố định bị giảm dần Doanh nghiệp phải tìm cách thu hồi lại phần giá trị bị giảm đó để bảotoàn vốn cố định Cách đó là tính đ ủ phần hao mòn của tài sản cố định vào giá thành của sảnphẩm, dịch vụ vào trong kỳ kinh doanh sao cho khi tài sản cố định hết tuổi sử dụng thì giátrị của chúng được thu hồi đầy đủ , ít nhất cũng là giá trị danh nghĩa Phương pháp tính vàthu hồi phần hao mòn như vậy gọi là khấu hao tài sản cố định
Vậy khấu hao tài sản cố định là việc thu hồi dần giá trị tài sản cố định do bị haomòn trong quá trình kinh doanh nhằm tái sản xuất tài sản cố định sau khi hết hạn sử dụngbằng cách chuyển giá trị tài sản cố địn h vào giá thành sản phẩm bằng hình thức khấu hao
Thực chất việc khấu hao tài sản cố định là thu hồi lại vốn cố định mà doanh nghiệp
đã đầu tư
Việc khấu hao tài sản cố định có ý nghĩa tài chính lớn đối với doanh nghiệp:
Là biện pháp để bảo toàn vốn cố đị nh Bằng cách khấu hao, sau khi tài sản cố địnhhết hạn sử dụng thì tiền khấu hao thu được có thể đủ để mua sắm tài sản cố địnhkhác thay thế
Tạo thành nguồn vốn đầu tư để đổi mới thiết bị công nghệ Tiền khấu hao hàng thángdoanh nghiệp có thể sử dụng ch o mục đích kinh doanh, trước hết là đầu tư vào tàisản cố định mới, không nhất thiết phải đợi tới khi tài sản cố định hư hỏng hoàn toànmới thay thế
Khấu hao đầy đủ cũng là biện pháp để tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm, dịch
vụ, góp phần xác định đúng đắn kết quả kinh doanh
2.3.2.3 Tài sản cố định không tính và trích khấu hao
Mọi tài sản cố định có liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đềuphải trích khấu hao kể cả tài sản cố định ngừng hoạt động để sửa chữa lớn Tuynhiên theo quy định hiện h ành thì những tài sản cố định sau đay không phải tríchkhấu hao tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ:
- Tài sản cố định đã khấu hao hết nhưng vẫn sử dụng vào hoạt động kinh doanh,
- Tài sản cố định chưa khấu hao hết nhưng đã hư hỏng không sử dụng được, (phần t hiệthại phải quy trách nhiệm để bồi hoàn, đền bù hoặc tính vào chi phí khác)
- Tài sản cố định không tham gia vào hoạt động kinh doanh như:
Tài sản cố định giữ hộ Nhà nước,
Tài sản cố định hình thành từ quỹ phúc lợi của doanh nghiệp (nhà trẻ, câu lạc bộ…),
Tài sản cố định do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý để phục vụ cho nhu cầuxã hội (đê đập, cầu cống, đường xá,…),
Trang 40 Tài sản cố định khác không tham gia vào hoạt động kinh doanh.
- Quyền sử dụng đất lâu dài hoặc có thời hạn (tài sản vô hình)
2.3.2.4 Thời điểm tính hoặc thôi tính khấu hao:
Thời điểm tính khấu hao tính từ ngày tăng tài sản cố định
Thời điểm thôi tính khấu hao tính từ ngày giảm hoặc ngừng tham gia vào hoạt độngkinh doanh của tài sản cố định
Như vậy doanh nghiệp phải trích hoặc thôi trích khấu hao từ những ngày còn lại củatháng phát sinh
2.3.2.5 Các phương pháp khấu hao tài sản cố định
Doanh nghiệp được lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định thích hợp sau
đây tuỳ thuộc vào từng loại tài sản cố định và phải đăng ký trước với cơ quan thuế trực tiếp:
Phương pháp khấu hao đường thẳng,
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh,
Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm
a Phương pháp khấu hao theo đường thẳng:
- Khấu hao theo đường thẳng (còn gọi là khấu hao đều, khấu hao bì nh quân, khấu haotuyến tính) là phương pháp khấu hao mà chi phí khấu hao trong kỳ được xác định bằngcách chia nguyên giá tài sản cố định cho thời gian hữu dụng của tài sảncố định hoặcnhân nguyên giá tài sản cố định với tỷ lệ khấu hao áp dung cho loại t ài sản cố định đó