A LỜI MỞ ĐẦU Con người là đối tượng trung tâm của văn học, là đối tượng chủ yếu được hướng đến Nói như vậy để thấy được sứ mệnh cao cả của văn chương là phản ánh một cách sinh động và trung thực nhất.
Trang 1A. LỜI MỞ ĐẦU
Con người là đối tượng trung tâm của văn học, là đối tượng chủ yếu được hướng đến Nói như vậy để thấy được sứ mệnh cao cả của văn chương là phản ánh một cách sinh động và trung thực nhất về con người Dù là miêu tả thần linh, ma quỷ thì mục đích vẫn là thể hiện con người
Quan điểm nghệ thuật về con người ở từng tác phẩm trong từng thời kì lịch
sử với từng thể loại rất khác nhau Vì vậy, khi tìm hiểu hay đánh giá về một tác phẩm thì động tác không thể bỏ qua là tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm đó Bài tiểu luận “ Con người trong truyện thơ Nôm” sẽ làm
cơ sở tiền đề cho việc tiếp cận tác phẩm truyện thơ Nôm có hệ thống
B.NỘI DUNG
1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của người nghệ sĩ Nhưng quan niệm nghệ thuật của con người chưa bao giờ thật sự đồng nhất mà có rất nhiều quan niệm khác nhau về quan niệm nghệ thuật về con người
Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan điểm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” Theo quạn niệm này ta đi sâu nghiên cứu, phân tích mổ xẻ đối tượng con người được thể hiện thành nguyên tắc, biện pháp trong các tác phẩm văn học
Cũng với vấn đề về quan niệm nghệ thuật về con người, Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm Nó ngắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật.”
Trang 2Nhìn chung, tuy khác nhau về về cách cắt nghĩa, cách diễn đạt nhưng quan niệm nghệ thuật của con người được khái quát như sau: quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách hiểu, cách cảm, cách nghĩ, cách lý giải về con người của nhà văn Đó là quan niệm nhà văn muốn thể hiện qua từng tác phẩm quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể Từ nhận định của các nhà lý luận, ta có thể lấy nó làm tiền đề để soi chiếu xem con người trong văn học nói chung và con người trong văn học trung đại nói riêng được biểu hiện như thế nào
2 Con người trong văn học trung đại
Con người trong văn học trung đại Việt Nam khác với con người trong văn học dân gian Con người trong mỗi thời đại, mỗi thể lạo văn học có những dấu hiệu khác nhau Song đều xuất phát từ quan điểm chung về quan niệm nghệ thuật của con người
- Con người vũ trụ ( sử thi)
Sử thi là một thể loại trong văn học dân gian, là một thể loại một đi không trở lại nhưng chất sử thi thì đời nào cũng có Chất sử thi được toát
ra từ những hình ảnh tầm vóc vũ trụ Nên trong văn học trung đại con người sử thi và con người vũ trụ là một Trong văn học trung đại ta bắt
gặp con người vũ trụ trong “ Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão Con người
mang sứ mệnh cứu nước giúp đời, mang tầm vóc lớn sánh ngang vũ trụ
“ Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu Tam quân tỳ hổ khí thô ngưu”
Cùng cảm hứng sử thi trôi trong dòng thời gian đến với thơ hiện đại ta bắt gặp hình ảnh người chiến sĩ hiên ngang hi sinh trong lúc chiến đấu
trong “ Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân.
“ Anh đã chết trong khi đang đứng bắn Máu anh phun thành lửa đạn cầu vồng”
Hay Nguyễn đình Chiểu đã dựng nên tượng đài về người chiến sĩ nông
dân trong “ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”.
Trang 3- Con người khí tiết, giữ mình trong sạch
Chí khí của của hạng cao sĩ Những người này tuy có chí quy ẩn nhưng vẫn nặng lòng lo cho nước Chu Văn An tuy đã tự gọi là Tiều Ẩn nhưng
lòng chưa nguội: “ Tấc son nào đã như tro nguội Nghe nói tiên hoàng giọt lệ sa” Đây là hình bóng con người kẻ sĩ, có khí tiết, một tầng lớp
trí thức theo quan niệm Nho giáo Trần Nguyên Đán quy ẩn giữ mình nhưng vẫn khuyên Chu Văn An ra làm quan, và chúc tựng các quan
được thăng chức mặc dù vẫn thấy “ Trúc thong vườn cũ giễu mũ nhà nho”
- Con người đạo lí
- Con người riêng tư, trần tục
Giờ đây con người trần tục nhục cảm xuất hiện để khẳng nhu cầu sống
tự nhiên của con người như cả khúc ngâm của Đặng Trần Côn tràn đầy khát vọng về cuộc sống hiện tại vật chất đầy nhục cảm
“Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay Liễu sen là thức cỏ cây Đôi hoa cùng sánh, đôi dây cùng liền”
(Chinh phụ ngâm- Đoàn Thị Điểm).
Đó còn là con người trong thơ Hồ Xuân Hương với lối táo bạo, biểu trưng về cuộc sống trần tục
- Con người nhà Nho tài tử
Khi con người đã ý thức đầy đủ về cá nhân, cá tính, tài năng, họ khoe tài
và đều đòi hỏi được đãi ngộ xứng đáng cho cái tài đó Nguyễn Công Trứ
có lẽ là người khoe tài sảng khoái nhất:
“ Đất trời cho ta một cái tài Giắt lưng dàng để tháng ngày chơi
(Cầm ký thi tửu- Nguyễn Công Trứ)
- Con người ý thức về số phận
- Con người tỏ lòng (đạo đức)
Con người trong xã hội trung đại đều được nhìn nhận trên góc độ đạo đức vì thế văn chương xưa chia xã hội thành hai tuyến: thiện- ác, tốt-xấu với mục đích là giáo huấn con người
Trang 4“Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.”
(Nguyễn Đình Chiểu- Lục Vân Tiên)
Con người trong văn học trung đại là con người của chí khí và tỏ lòng, chính vì vậy mà con người luôn sông theo luân lí và thể hiện tấm lòng của họ như thế nào Thúy Kiều “tỏ lòng” hiếu thảo bằng cách bán mình chuộc cha Kiều Nguyệt Nga tỏ lòng trinh liệt của mình bằng cách ôm tấm chân dung của Lục Vân Tiên nhảy sông từ vẫn Như vậy “tỏ lòng” là một quan niệm nghệ thuật quan trọng trong văn học trung đại
- Con người đấng bậc
- Con người cá nhân
- Con người duy lí
Do đạo Nho được lập làm chính thống nên con người trong thơ càng ngày càng ngày càng duy lí hơn Đó là mô hình nhân cách nhà Nho như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễ Bỉnh Khiêm Nguyễn Trãi đã chán
“ Thói nhà nho lạnh nhạt, tình đời bạc bẽo” nhưng vẫn không bỏ được các nguyên lý nho giáo là hai chữ “quân, thần”
3 Con người trong truyện thơ Nôm
Nhắc đến văn học trung đại Việt Nam không thể không nhắc đến truyện thơ Nôm Truyện thơ Nôm ngoài truyền tản nội dung nhân văn sâu sắc nó còn đi vào lòng người với những con người hình mẫu lý tưởng với những phẩm chất đáng trân trọng
Truyện thơ Nôm Việt Nam qua các chặng hình thành và phát triển
3.1 Con người trong truyện thơ Nôm kể bằng thất ngôn đường luật
Theo các nhà nghiên cứu thì các truyện Nôm này xuất hiện vào thế kỉ XVI-XVII gồm Tô công phụng sứ (26 bài thất ngôn Đường luật), Vương Tường (49
Trang 5bài), Lâm tuyền kỳ ngộ (146 bài), Tam quốc thi (340 bài cả thất ngôn lẫn tứ tuyệt), những truyện lấy đề tài lịch sử Việt Nam và tiểu thuyết Trung Quốc
Do truyện được xâu chuỗi bằng các bài thơ trữ tình thất ngôn Đường luật viết về một sự kiện nào đó cho nên về căn bản loại truyện này không có truyện các biến cố chỉ được nhắc đến trong nhan đề của từng bài thơ Mỗi bài là một bài
đề vịnh, do đó cũng không có khả năng miêu tả sự kiện cũng như miêu tả tính cách nhân vật, sự kiện và nhân vật mơ hồ tác phẩm chỉ thể hiện được ít khúc trữ tình, nhất là khi bài thơ làm theo quan điểm của nhân vật Từ đó, thể hiện nội tâm nhân vật, một điều mà truyện cổ tích không có Chính điều này chứng tỏ tác giả muốn sử dụng văn học viết để làm đa dạng giới hạn biểu hiện của truyện dân gian Nhân người kể truyện không có do đó, do đó không tạo được cách nhìn nhất quán Đáng chú ý nhất là kiểu thơ trữ tình nhập vai khi tác giả thay lời nhân vật làm thơ trữ tình Điều này cũng giống như Nguyễn Dữ làm thơ hộ hai nàng Liễu, Đào Nếu nói như vậy tức là đã bỏ qua ý nghĩ to lớn muốn thể hiện đầy dặn về con người, khắc phục tính sơ lược của cổ tích và mở rộng phạm vi nhỏ hẹp, một chiều của thể thất ngôn Đường luật Đó là nghệ thuật thuần túy của của Việt Nam
Con người trong truyện thơ Nôm Đường luật không xuất hiện rõ ràng như trong truyện thơ Nôm lục bát Bản chất của thơ Đường luật là trữ tình tuân thủ kết câu chặt chẽ ( khai- thừa – chuyển –hợp hoặc đề - thực –luận –kết) để cùng biểu hiện về một vẫn đề, một ý cụ thể Trong khi bản chất của của truyện thơ Nôm là tự
sự, chính vì lẽ đó mà không thể dùng hình thức của trữ tình để làm hình thức của
tự sự được điều đó sẽ phá vỡ kết cấu khép kín, chặt chẽ của thể thất ngôn Đường luật bản chất của truyện thơ là tác phẩm trường thiên vừa tự sự vừa trữ tình nên chỉ có thể thơ dân tộc lục bát là phù hợp nhất dù là trên phương diện nào tự sự hay trữ tình cũng đều tiềm năng hơn cả Nếu đem thể lục bát so sánh với thơ thất ngôn của Trung Quốc và song thất lục bát thì điều dễ thấy rằng tứ tuyệt, song thất lục bát thì cần bốn câu, lục bát mỗi chu kỳ chỉ cần hai câu nên chu kỳ chuyển tải cũng
Trang 6nhanh hơn, quy luật niêm luật cũng linh động hơn nên lục bát diễn đạt được nhiều
ý hơn tất thảy
3.2 Con người trong truyện thơ Nôm lục bát
3.2.1 Con người trong truyện thơ Nôm bình dân
Truyện thơ Nôm bình dân sáng tác vào thế kỉ XVIII có Phạm Tải Ngọc Hoa, Hoàng Trừu, Tống Trân Cúc Hoa Tuyền Phu Ngộ Phối tân truyện Hầu hết truyện Nôm phổ biến được biết, theo tác giả Tổng tập văn học Việt Nam tập 14A
và 14B, đều sáng tác vào thế kỉ XIX: Lý Công Chàng Chuối, Hoàng Tú tân truyện…
Việc phân biệt truyện Nôm khuyết danh và hữu danh vẫn còn tính chất ước
lệ, tạm thời Bởi vì khuyết danh không đồng nghĩa với vô danh Có ý kiến cho rằng tác giả của Lâm tuyền kì ngộ là Nguyễn Đăng, tác giả của Quan Âm Thị Kính là Nguyễn Cấp nhưng chỉ là phỏng đoán…Những hiện tượng này chứng tỏ ranh giới phạm trù nói trên là tạm thời, có thể xác định Nhiều người nói đây là truyện thơ Nôm bình dân GS Trần Đình Sử thì cho rằng nên gọi là khuyết danh
Thơ Nôm bình dân khai thác đề tài trong truyện cổ tích, văn học dân gian, hoặc văn học nước ngoài Cao Huy Đỉnh trong cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam đã cho rằng truyện Nôm có xu hướng “tiểu thuyết hoá” dân gian Truyện dân gian( truyện cổ tích, truyền thuyết) nói chung không có tính cách, tâm lý, đối thoại, độc thoại, những biểu hiện cơ bản của con người truyện thơ Nôm ra đời để đảm bảo nhu cầu nhìn gần chi tiết đối với người và việc buộc người ta sáng tạo lại những điều cổ tích không có, để làm nên những truyện có
dung lượng lớn hơn như “ Thiên Nam ngữ lục” 8136 câu do “ý thức lịch sử của nhân dân lớn lên” và nhu cầu “chú trọng người kể, chú trọng miêu tả những tính cách và những tình tiết một cách sinh động” ( Cao Huy Đỉnh).
Thơ Nôm bình dân xây dựng nhân vật rất sơ sài, là con người chủ thể được
cụ thể hóa được thể hiện bằng cách sáng tạo trên các phương diện tâm lý, nội tâm,
Trang 7ngôn ngữ như truyện Tống Trân Cúc Hoa làm ví dụ toàn truyện có 1690 câu thì
có 822 câu đối thoại, 6 câu độc thoại lớp ngôn ngữ này làm cho nhân vật hiện lên như một chủ thể, ta nghe họ nói, tâm sự giãi bày Chẳng hạn khi nghe tin Tống Trân phải đi sứ mười năm Cúc Hoa đã than:
“Chàng ơi lên ngựa ra đi,
Để thiếp dắt mẹ ở thì nơi nao.
Xưa nay xum họp có nhau, Bây giờ mưa nắng biết nhờ cậy ai?
Một mình vò võ trang đài Chàng đi khuya sớm biết ai hầu chàng?
Vợ chồng đồng tịch đồng sang Anh giả ơn nàng nuôi mẹ anh đi”
Trong truyện tác giả thiếu quan niệm nhất quán về nhân vật Về cách tính
tuổi nhân vật, nếu Tống Trân nói : “ Mồ côi từ thủa lên ba đến rày, Phong trần đã tám năm nay” thì người ta hiểu chàng đã 11 tuổi Nhưng sau cúc hoa lại nói: “ Thiếp vừa ba tuổi còn thơ, chàng vừa lên tám, mẹ vừa bảy mươi” Cúc Hoa nuôi
thày cho chồng học “ được nửa năm ròng” thì được dịp đi thi đỗ Trạng nguyên
Lúc ấy hắn mới 12 tuổi Nhưng khi gạ làm phò mã thì vua lại nói: “Trẫm có công chúa tốt thay, tuổi vừa đoi tám cũng tày trạng nguyên” Thế là Tống Trân đã 16
tuổi Nhưng sau 7 năm chồng đi sứ, bị bố ép gả chồng Cúc Hoa lại nói với Sơn
thần: “ Chồng vừa lên tám, mẹ vừa sáu mươi”
Truyện thơ Nôm đã chú ý quan sát, miêu tả và xây dựng nên đời sống nội
tâm trong khi truyện cổ tích “Thạch Sanh” vốn không có Như đoạn Lý Thông
dùng lời đường mật để dụ Thạch Sanh đi canh miếu
“Lý Thông cười nói tưng bừng Truyện trò bả lả ra chừng vui tươi”.
Trang 8Lời Lý Thông êm ái nghe như hát, dùng lời ngon gọt để dụ dỗ Thạch Sanh
đi thế mạng cho mình:
“ Rằng anh có việc em thời giúp anh Nhân nay có lệnh triều đình Đến phiên anh phải đi canh miếu thờ.”
Nhìn vào các nhân vật nữ, những con người chủ động trong tình yêu, tích cực trong đấu tranh bảo vệ tình yêu, mang lý tưởng nuôi chồng ăn học thi đỗ làm quan Mặt khác, nhân vật nữ trong truyện Nôm lại cũng luôn là những người mang số phận cực kỳ éo le Thông qua cách miêu tả nhân vật nữ trong truyện thơ Nôm với những đặc điểm về ngoại hình, tài năng và số phận, tác giả không chỉ thể hiện quan niệm “hồng nhan bạc mệnh”, “tài mệnh tương đối” mà còn thể hiện ước vọng thiết thực, chính đáng và rất nhân bản về quyền bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc
Truyện thơ Nôm bình dân chưa đi sâu vào thế giới tâm lý vào logic bên trong của từng con người, tức là mức độ cá thể hóa còn thấp, cá tính hóa còn sơ lược Đây là điểm có thể dựa vào để có thể phân biệt truyện thơ Nôm bình dân với truyện thơ Nôm văn nhân
3.3.2 Con người trong truyện thơ Nôm của văn nhân (truyện Nôm bác học)
Truyện thơ Nôm bác học lấy đề tài trong văn học nước ngoài nhiều hơn trong văn học dân gian Hầu hết truyện thơ Nôm văn nhân là truyện tình yêu giữa tài tử và giai nhân Con người trong truyện thơ Nôm văn nhân một mặt mang những đặc điểm của truyện thơ Nôm bình dân, đồng thời lại thể hiện đầy đủ, sâu sắc nhất cho quan niệm con người của văn học đương thời
Con người trong truyện thơ Nôm văn nhân là con người cá thể hóa, được khai thác cụ thể hơn, phong phú hơn được thể hiện trên nhiều phương diện thể hiện như ngoại hình, ngôn ngữ nhân vật( đối thoại, độc thoại)
Trang 9Về miêu tả ngoại hình: với quan niệm con người vũ trụ đc hiể là con người được chung đúc trong khí chất của đất trời nếu là người con đẹp thì được miêu tả như mây, núi, trăng, ngọc, tuyết, hoa, tùng, cúc tạo nên tính công thức mà ai cũng thuộc như câu những câu thơ miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân:
“Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.”
Hoặc nói đến vẻ đẹp của Thúy Kiều “ hoa ghen, liễu hờn”, nàng Nhụy Châu
thì: “ Dầy dầy da ngọc tuyết ken, Mày ngài khói dạm, tóc choang mây lồng…” (Song Tinh) Nàng Dao Tiên thì: “ Gió đông dợn dợn song tình, trăm hoa lộng lẫy một cành mẫu đơn Mặn mà chim cá rơi nhàn Nguyệt ghen gương khép, hoa hờn thắm bay” Hay cái tầm vóc vũ trụ còn thể hiện ở tính khí, vận mệnh Chẳng hạn như Từ Hải: “Râu hùm, hàm én, mày ngài” Hành động con người cũng mang tầm
vũ trụ to lớn, hiện ngang khí phách: tung hoành ngang dọc, chọc trời khuấy nước
đó là những nhân vật chính diện được điển hình hóa, lý tưởng hóa bằng công thức nên mang tính lãng mạn Nhưng đối với nhân vật phản diện được miêu tả rất hiện thực và không có bất cứ một công thức nào cụ thể Chính vì thế, tác giả miêu tả thông qua kinh nghiệm quan sát của bản thân nên mang tính hiện thực Chính vì
vậy khi miêu tả Tú Bà, Nguyễn Du viết như sau: “Thoắt trông nhờn nhợt màu da”, Sở Khanh thì: “ Hình dong chỉa chuốt áo khăn dịu dàng” Nhưng mặt khác
ta thấy Nguyễn Du đã bắt đầu thì lưỡng phân trong cách nói về các nhân vật của mình từ đó nói đúng bản chât đời sống và các nhân vật của ông Mã Giám Sinh,
Từ Hải, Thúc Sinh,… đã gần gũi hơn với đời sống
Ví dụ: “Qúa niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”
Câu lục tác giả sử dụng từ Hán Việt để miêu tả con người ở tuổi trung niên cao sang quyền quý thuộc tầng lớp tri thức, tầng lớp trên của xã hội và cái cốt cách đó
Trang 10phải được thể hiện ra hình thức bề ngoài bề ngoài để mọi người kính trọng nhưng câu bát đã nói lên tất cả cái đối lập hoàn toàn, cái không tương xứng với địa vị, tuổi tác của mình Như vậy ta thấy được bản chất của nhân vật được hiểu một cách cụ thể Cũng với cách cá thể hóa nhân vật Nguyễn Du đã dựng nên nhân vật
Tú Bà: “ Thoắt trông nhờn nhợt màu da” da của con người ở trong bóng tối trong thời gian dài, đó là làn da của người mang bệnh, Sở Khanh: “Hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng” Tất cả đều được tái hiện lại rất chân thực, hiện thưc.
Bên cạnh tính cá thể hóa thì truyện Nôm văn nhân còn có tính tâm lý hóa.
Và cũng chính tính cá thể hóa và tâm lý hóa làm phá vỡ tính quy phạm của văn học trung đại điều này thể hiện rất rõ trong văn học trung đại Điều này thể hiện rất rõ trong những đoạn miêu tả thiên nhiên và những đoạn miêu tả độc thoại nội
tâm, diễn biến tâm lý nhân vật Ví dụ như trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” Ta thấy đoạn trích là một bức tranh thiên nhiên đồng thời cũng là bức tranh
tâm trạng với bố cục chặt chẽ, thiên nhiên lien tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng của con người một không gian mênh mông trải rộng trước mắt:
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.”
Và rồi cái tâm trạng ấy được thâu tóm trong chữ “bẽ bàng” Kiều càng cô đơn, buồn tủi thì nàng lại càng nhớ người yêu, nhớ cha mẹ Nàng lại tự độc thoại với chính mình Và tất cả nỗi niềm nhớ người yêu được đong đầy trong đêm thề nguyền:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những dày công mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai.”