1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bao cao chuyen mon 4 giai phap bao ton phat huy

51 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 408,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Bảo tồn di tích 3 :+ Quan điểm thứ nhất: Bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tíchđó; + Quan đi

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO & DU LỊCH

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHUYÊN MÔN

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ

TRỊ

LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA HỆ THỐNG ĐỀN THỜ

Ở THANH HÓA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

ĐỀ TÀI KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ CẤP TỈNH NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA HỆ THỐNG ĐỀN THỜ Ở THANH HÓA

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Người thực hiện: THS HÀ ĐÌNH HÙNG

Trang 2

THANH HÓA, 2017

Trang 3

Chương 2: Giải pháp quản lý, bảo tồn hệ thống đền thờ ở

2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức

cộng đồng về giá trị của hệ thống đền thờ Xứ Thanh 162.2 Nâng cao chất lượng tổ chức, quản lý, bảo vệ di tích 192.3 Thực hiện có hiệu quả công tác bảo tồn, trùng tu, tôn tạo, phục

Trang 4

Di sản văn hóa nói chung luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sốngcộng đồng cũng như góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.

Những di sản văn hóa Việt Nam tồn tại đến hôm nay luôn đóng vai tròquan trọng trong lịch sử hình thành, phát triển của quốc gia, dân tộc và mỗi vùngmiền Đó không chỉ là tài sản của riêng một vùng đất hay con người địa phương,

mà còn là tài sản của quốc gia; phản ánh một cách tập trung nhất, tiêu biểu nhấttruyền thống văn hóa Việt Nam Cùng với thời gian, các giá trị kết tinh trong disản văn hóa như một dòng chảy âm thầm, lặng lẽ nhưng có khả năng to lớn, làcội nguồn, nền tảng tạo nên hệ giá trị của văn hóa dân tộc hôm nay và mai sau

Hệ thống di tích đền thờ là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa,chúng rất dễ bị tổn thương và tiềm ẩn nguy cơ biến mất nhanh chóng trong bốicảnh hiện nay Bởi vậy, bảo tồn, phát huy giá trị hệ thống đền thờ trong di sảnvăn hóa dân tộc trong sự phát triển toàn diện đất nước, làm cho di sản văn hóatiếp tục tỏa sáng trong giao lưu, hội nhập là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩakhoa học và thực tiễn sâu sắc Mặt khác, muốn phát triển kinh tế - xã hội, cầnphải quan tâm đến xây dựng văn hóa, trong đó đặc biệt chú trọng đến bảo tồn,phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày9/6/2014, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng về xây dựng và phát triểnvăn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đãđặt ra nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa nêu rõ định

hướng: “Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh

tế - xã hội Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch”

Hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa còn tồn tại đến ngày nay chứa đựng cácgiá trị vật chất và tinh thần to lớn Vì vậy, làm thế nào để đưa hệ thống di tíchđền thờ này vào dòng chảy đương đại, đảm bảo phát triển bền vững cũng nhưphục vụ hữu ích công tác giáo dục, nâng cao tinh thần đại đoàn kết, đóng gópcho phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, đòi hỏi phải được thực hiện trên

cơ sở khoa học, khách quan và nghiêm túc

CHƯƠNG 1 CÁC QUAN ĐIỂM KHOA HỌC VỀ BẢO TỒN VÀ

Trang 5

PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA 1.1 Hệ thống khái niệm:

- Di sản văn hóa: Di sản được hiểu là tất cả những gì chúng ta muốn giữ

lại của thế giới tự nhiên và xã hội loài người, còn hiện diện đến ngày nay Di sản

là một khái niệm rộng lớn gồm cả môi trường thiên nhiên lẫn văn hóa: bao gồmcảnh quan, các tổng thể di tích lịch sử, các di chỉ tự nhiên và di tích do conngười xây dựng, và cả tính sinh học, các sưu tập, các tập tục truyền thống vàhiện hành, tri thức và kinh nghiệm sống Di sản ghi nhận và thể hiện quá trìnhphát triển lịch sử lâu dài vốn đã tạo nên bản chất của các thực thể quốc gia, khuvực, bản địa và địa phương và là một bộ phận hữu cơ của đời sống hiện đại Nó

là một điểm quy chiếu rung động và là một công cụ tác dụng cho phát triển vàtrao đổi Di sản riêng và ký ức tập thể của mỗi địa phương, khu vực hoặc cộngđồng là không gì thay thế được và là một nền tảng quan trọng cho phát triển,hôm nay và cả mai sau

Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam nêu định nghĩa về di sản văn hóa

như sau: Di sản văn hóa chỉ chung các tài sản văn hóa như văn học dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học…mà các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau.

Theo văn kiện được Hội đồng ICOMOS (Hội đồng bảo tàng quốc tế) năm

1966 phê chuẩn: “Di sản văn hóa là để chỉ những di tích, những cụm kiến trúc

và những di chỉ có giá trị di sản, tạo thành môi trường lịch sử hoặc môi trường xây dựng”1

Di sản văn hóa quy định tại Luật Di sản văn hóa năm 2001 thì định nghĩa:

“Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể,

là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”2

- Di tích lịch sử- văn hóa:

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: “Di tích lịch sử -văn hóa là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay văn hóa được lưu lại, giữ lại” Còn theo Luật Di sản văn hóa, năm 2001 quy

định di tích là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốcgia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

1 Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu, Nxb Xây dựng 8/2004, tr 194.

2 Luật di sản văn hóa và Nghị định hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị Quốc Gia, 2002, tr 12.

Trang 6

- Bảo tồn di tích 3 :

+ Quan điểm thứ nhất: Bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm đảm bảo

sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tíchđó;

+ Quan điểm thứ hai: Bảo tồn di tích là tất cả những nỗ lực nhằm hiểubiết di sản văn hóa và lịch sử, cùng với những ý nghĩa của nó, nhằm đảm bảo sự

an toàn về vật chất của di tích và khi cần đến, đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày

và khôi phục;

+ Quan điểm thứ ba: Bảo tồn di tích là những hoạt động bảo quản kết cấumột địa điểm, công trình xây dựng ở hiện trạng và kìm hãm sự xuống cấp của ditích, có những hoạt động chuyên môn nhằm gĩn giữ, phát huy giá trị của di tích

- Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia: là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm

hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch

sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia (Điều 4, Luật

Di sản văn hóa, năm 2001)

- Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh: là hoạt động nhằm

tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (Điều 4,Luật Di sản văn hóa, năm 2001)

- Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh: là hoạt động

nhằm phục hưng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoạitrên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

đó (Điều 4, Luật Di sản văn hóa, năm 2001)

- Phát huy giá trị di tích: Phát huy di sản (heritage promotion) có nghĩa là

những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đónhư là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lạinhững lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của vănhóa đối với sự phát triển của xã hội Phát huy cũng có thể hiểu là khai thác cácgiá trị văn hoá truyền thống của di tích là làm cho nó có thể sống lại, làm chocác giá trị đó tồn tại trong đời sống thực, năng động hoá các hình thức tồn tạicủa di sản văn hoá trên cơ sở thu hút sự quan tâm của các tầng lớp xã hội, nhờ

đó mà các giá trị được vận hành, thâm nhập vào cuộc sống hiện tại Và ngượclại, phát huy các giá trị di sản là để đưa giá trị văn hóa đến với cộng đồng, giúp

3 Trích các quan điểm khác nhau về bảo tồn di tích trong sách Bảo tồn Di tích Lịch sử văn hóa (Trịnh Thị Minh Đức), NXB ĐH QGHN, tr 7-8.

Trang 7

cộng đồng phát triển kinh tế và đáp ứng cho công tác bảo tồn di sản văn hóahoàn thiện hơn.

1.2 Giá trị của hệ thống di tích.

- Giá trị về, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái.

Địa điểm di tích tọa lạc là những nơi có môi trường thiên nhiên và xã hội

tốt được lựa chọn cẩn thận trước khi xây dựng để đạt được yêu cầu “địa linh”.

Đây thường là nhưng nơi có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, khí hậu ôn hoà,chưa hoặc ít chịu sự xâm thực, tác động của con người Hệ thống di tích củachúng ta thường nhỏ bé, tinh tế, hoà vào với thiên nhiên, tô điểm cho thiênnhiên, trở thành thiên nhiên thứ hai của con người

Trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước hiện nay, quá trình đô thị hoánhanh chóng diễn ra khắp nơi đã và đang tác động mạnh mẽ đến môi trườngsống của người dân và cũng tác động mạnh mẽ đến hệ thống di tích ở bất cứ nơiđâu trên khắp mọi miền đất nước Tuy vậy, khu vực di tích vẫn là những nơi còngiữ được môi trường sinh thái tự nhiên tốt Trong hệ thống di tích thường có câyxanh, hồ nước để tạo nên sự cân bằng sinh thái Cũng trong không gian này,chứa đựng các công trình kiến trúc và các tác phẩm nghệ thuật đẹp đẽ, luôn trầmmặc với thời gian và thế cuộc Không gian hệ thống di tích cũng là không giantrong sạch, lành mạnh Đây cũng chính là những nơi có môi trường xã hội tốt, ít

tệ nạn xã hội… Đó thực sự là môi trường tốt, trong sạch theo cả nghĩa thực vànghĩa biểu tượng, nó thực sự có ý nghĩa để phát huy vai trò trong quá trình xâydựng và phát triển đất nước trước mắt và lâu dài

- Giá trị về lịch sử và huyền thoại

Di tích lịch sử văn hoá nói chung là nơi lưu giữ và phản ánh một phần lịch

sử của địa phương và đất nước thông qua hệ thống các công trình kiến trúc, cáctác phẩm điêu khắc, nghệ thuật, hệ thống di vật, cổ vật, bảo vật… với nhiềuchủng loại khác nhau, mang những ý nghĩa hiện thực và biểu tượng khác nhau

Hệ thống di tích di tích là nơi chứa đựng, kết tinh các giá trị lịch sử, huyền thoạicủa mảnh đất và con người nơi nó sinh ra và tồn tại Do những thông tin có được

từ hệ thống di tích và kho tàng di vật chứa đựng trong đó nên người ta có thể coimỗi một đền thờ như một trang sử, cả hệ thống di tích là một phần lịch sử đượcviết bằng đường nét và hình khối, đó là những trang sử sống động được viếtbằng hiện vật Giáo sư Trần Văn Giầu, chủ tịch danh dự Hội Sử học Việt Nam

đã nói rằng: “theo quy luật của thời gian quá khứ sẻ được chắt lọc và kết tinh thành những giá trị vĩnh cữu” Những giá trị lịch sử hiện hữu đương thời sẽ

Trang 8

được kiểm chứng, chắt lọc và trở thành huyền thoại trong tương lai Chúng sẽđược kết tinh trong hệ thống di tích và như vậy các di tích được coi như là khotàng đồ sộ của cổ tích và huyền thoại.

Các di tích thường được xây dựng trên địa bàn gắn với những nơi đã từngdiễn ra các sự kiện lịch sử, biến cố về chính trị, quân sự, văn hoá xã hội trongquá khứ Mọi dấu ấn vật chất tuỳ theo tính chất và mức độ của nó theo dòng thờigian đều có thể chứa đựng, phản ánh những giá trị lịch sử, huyền thoại có liênquan Theo dòng thời gian, càng lùi xa trong quá khứ, mọi sự thật hiện hữu sẽcàng được huyền thoại hoá dưới sự cảm nhận của con người Sự huyền thoại hoáluôn tập trung, ngưng đọng tại các di tích Các đền thờ trở thành tâm điểm củahuyền thoại và cổ tích, đặc biệt là ở các di tích có yếu tố tâm linh cao

Di tích cũng chính là nơi lưu giữ và tôn vinh những giá trị đặc sắc về vậtchất và tinh thần của ông cha ta đã hình thành nên trong suốt tiến trình lịch sửdựng và giữ nước của dân tộc Những giá trị đó vừa mang tính hiện hữu, vừamang tính biểu tượng, chứa đựng những nội dung tư tưởng mà con người gửigắm

- Giá trị tâm linh, tinh thần.

Các công trình di tích thuộc loại hình di tích lịch sử hoặc kiến trúc nghệthuật đều phục vụ mục đích hoạt động tôn giáo tín ngưỡng của con người, ở đó

chứa đựng giá trị tâm linh tinh thần rất lớn Sự tồn tại của nó gắn liền với “tính thiêng” – một thuộc tính vốn có, không thể thiếu được trong hoạt động tôn giáo,

tín ngưỡng, thờ cúng, tôn vinh của con người Nó thỏa mãn nhu cầu tôn giáo tínngưỡng của một bộ phận các tầng lớp nhân dân, củng cố niềm tin tưởng hy vọng

ở tương lai tốt đẹp, đồng thời góp phần khơi dậy và củng cố “tính thiện” trong

mỗi con người Đặc điểm của các nghi thức, nghi lễ thờ cúng diễn ra ở các đền

thờ bao giờ cũng mang yếu tố “thiêng”.

Hệ thống di tích chính là những nơi để các tầng lớp nhân dân bày tỏ vàthể hiện một phần thiêng liêng, sâu kín nhất trong tâm tư, tình cảm, nguyện vọng

của mình để cầu mong một cuộc sống tốt đẹp hơn Di tích chính là cái “vỏ vật chất” chứa đựng nội hàm văn hoá, tín ngưỡng phong phú, nơi diễn ra các hoạt

động thuộc đời sống tôn giáo tín ngưỡng, tâm linh tinh thần của một bộ phậnđông đảo các tầng lớp nhân dân mà không dễ gì có thể thay đổi được Nhu cầunày là nhu cầu chính đáng và sẽ còn tồn tại lâu dài cùng với sự tồn tại của xã hộiloài người

- Giá trị về nghệ thuật, văn hoá, xã hội

Trang 9

Hệ thống di tích là nơi lưu giữ và truyền trao cho các thế hệ người ViệtNam những giá trị của kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc Đây

là nơi kết tinh các giá trị lịch sử, văn hoá, xã hội được hình thành qua thời gian

và công sức, tài nghệ của biết bao thế hệ người Việt Nam đã sản sinh và nuôidưỡng nó Hệ thống di tích với những giá trị riêng có, nổi bật của mình đã trởthành cơ sở, nền tảng, tiền đề cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về thiên nhiên – đấtnước và con người Việt Nam để giới thiệu cho đồng bào cả nước và bạn bè quốc

tế Giá trị nghệ thuật, văn hoá, xã hội trong mỗi di tích thường thể hiện thôngqua sự tồn tại các công trình kiến trúc và các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc và đadạng như hệ thống tượng thờ, các tác phẩm điêu khắc bằng nhiều chất liệu khácnhau dưới nhiều phương pháp chế tác khác nhau Những tác phẩm này thể hiệnquan niệm, tiêu chí về giá trị thẩm mỹ của từng giai đoạn lịch sử của các tầnglớp nhân dân của các địa phương Mỗi một công trình, một di vật trong các đềnthờ đều chứa đựng công sức, trí tuệ và tài sản của cá nhân, cộng đồng Nó luôn

mang “hơi thở” của quá khứ, nhịp sống của thời đại, đồng thời là bức thông

điệp, lời nhắn gửi của quá khứ gửi đến hiện tại và tương lai

- Giá trị kinh tế.

Bên cạnh những giá trị kể trên, hệ thống di tích còn chứa đựng các giá trịtổng hợp khác, đặc biệt là giá trị kinh tế khi khai thác để phát triển du lịch Giátrị tổng hợp của hệ thống di tích chỉ biến mình thành các giá trị kinh tế khi biếtđầu tư, khai thác phù hợp và có hiệu quả để phục vụ du lịch Điều này hoàn toànphù hợp với đường lối của Đảng được nêu ra trong nghị quyết Trung ương V,

khóa VIII: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” và những Kết luận của Hội

nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ X khóa IX, Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ X Trong quá khứ lịch sử, những công trình di tích củacha ông ta được xây dựng lên hầu như chỉ để đáp ứng các nhu cầu tâm linh tinhthần và nhu cầu văn hóa xã hội khác của các tầng lớp nhân dân chứ không phảivới mục đích kinh tế Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thị trường pháttriển, nhu cầu con người phát triển nhanh chóng và đa dạng, trong đó có nhu cầu

về hưởng thụ du lịch Việc khai thác các giá trị nhiều mặt của hệ thống di tíchlịch sử - văn hóa phục vụ phát triển du lịch là một công việc hết sức cần thiết.Các cấp, các ngành phải nắm vững phương châm này để từ đó có những biệnpháp khai thác, sử dụng có hiệu quả giá trị của hệ thống di sản văn hóa nóichung, hệ thống di tích đền thờ nói riêng để góp phần khai thác các giá trị kinh

Trang 10

tế của văn hóa, hình thành, ổn định và liên tục phát triển kinh tế văn hóa mà vẫngiữ gìn, bảo lưu được các giá trị văn hóa truyền thống; làm cơ sở, tiền đề, nềntảng vững chắc cho quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc.

1.3 Chức năng của công tác bảo tồn di sản văn hóa, bảo tồn di tích.

Căn cứ vào vai trò, mục đích của công tác quản lý di sản văn hóa, có thểnhận thức được chức năng của công tác bảo tồn di sản văn hóa nói chung, bảotồn di tích nói riêng bao gồm:

- Chức năng gìn giữ:

Ý nghĩa lớn lao trong chức năng gìn giữ di tích lịch sử văn hóa là đấtnước giao cho những người làm công việc này là phải có trách nhiệm nghiêncứu, phát hiện, đánh giá, lựa chọn chính xác và đầy đủ những giá trị hiện tồn của

di sản, trên cơ sở đó đề ra phương án bảo tồn gìn giữ Đất nước ta trong quátrình dựng nước và giữ nước đã lập nên nhiều chiến công chống kẻ thù xâmlược, vì vậy việc gìn giữ và khai thác hệ thống di sản văn hóa có ý nghĩa rất lớncho việc giáo dục, truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng của các thế

hệ nối tiếp Trong thực tế, để thực hiện tốt chức năng gìn giữ lâu dài di tích, cầnphải có 6 giải pháp cơ bản sau đây:

+ Nhà nước ban hành các văn bản pháp lý bảo vệ di tích;

+ Nhà nước cần thiết lập các thiết chế quản lí các di tích lịch sử- văn hóa; + Tổ chức nghiên cứu khoa học, đánh giá khách quan để thực hiện tư liệuhóa hệ thống di tích lịch sử- văn hóa của dân tộc, nhằm xây dựng những bộ hồ

sơ khoa học cho từng loại hình di tích, từng cá thể di tích hoặc các bộ sưutập và có chế độ bảo quản và phổ biến giá trị hệ thống di tích lịch sử- văn hóamột cách hợp lý, rộng rãi, lâu dài và có hiệu quả cao;

+ Thường xuyên theo dõi, khảo sát nghiên cứu thực trạng và tình trạng kĩthuật ở hệ thống di tích lịch sử- văn hóa, để kịp thời đưa ra các giải pháp kĩ thuậthợp lí, chống xuống cấp tu bổ, tôn tạo và phục hồi và giữ gìn tối đa những giá trịnguyên gốc của di tích lịch sử- văn hóa Di tích lịch sử- văn hóa tồn tại bằngnhững hiện trạng vật chất cụ thể, vì vậy, muốn di tích lịch sử- văn hóa tồn tại lâudài, phải thường xuyên tác động bằng những giải pháp khoa học, kĩ thuật, ápdụng những thành tựu khoa học kĩ thuật tiên tiến trong việc bảo quản, tu bổ, tôntạo và phục hồi Tùy theo đặc điểm của loại hình di tích mà đưa ra những hoạtđộng bảo tồn di tích với những giải pháp kĩ thuật phù hợp, đảm bảo chất lượngtrong bảo tồn di tích trên cơ sở quy định của pháp luật

Trang 11

+ Thực hiện tốt công tác tuyên truyền quảng bá trong công chúng nhằm

2 mục tiêu chính:

Một là, làm cho công chúng nhận biết sâu sắc về giá trị của di sản văn

hóa, từ đó có ý thức cao trong việc bảo vệ di tích lịch sử -văn hóa

Hai là, công chúng sẽ có ý thức đóng góp nhân tài, vật lực để góp phần tu

bổ, tôn tạo dí tích Di tích lịch sử - văn hóa khác với hiện vật bảo tàng, nó luôntồn tại trong không gian văn hóa vốn có của nó, gắn với làng xã, vùng miền vàmột số không nhỏ trong đó là do cộng đồng dân cư làng xã xây dựng và cũng làgiá trị văn hoá tiêu biêu của làng xã, như: đình, chùa, nghè, miếu, Chính vì vậy

ý thức bảo tồn di sản văn hóa của cộng đồng cần được đề cao và thực tế thì vaitrò của quần chúng trong lịch sử cũng như hiện nay, vẫn được đánh giá caotrong công tác giữ gìn di sản văn hóa

+ Đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn ditích Đội ngũ cán bộ chuyên môn là lực lượng rất quan trọng trong quá trìnhtriển khai và thực hiện những chức năng bảo tồn di tích lịch sử- văn hóa Vì vậycần đào tạo cán bộ có trình độ đại học, trên đại học, các cán bộ có trình độchuyên môn sâu về quản lý văn hóa, quản lý di sản văn hóa đủ năng lực chuyênmôn và năng lục quản lý khi tham gia quản lí và thực thi các hoạt động chuyênmôn về bảo tồn phát huy giá trị hệ thống di sản văn hóa

- Chức năng khai thác, phát huy giá trị:

Trong nhiều năm qua vấn đề khai thác phát huy giá trị của hệ thống ditích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển kinh tế du lịch đãđạt được những kết quả nhất định Có nhiều địa phương đã khai thác di sản vănhóa rất thành công trong phát triển du lịch như Di sản văn hóa Hội An, Mỹ Sơn(Quảng Nam), Quần thể di tích Cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), Khu di tích danhthắng Tràng An (Ninh Bình), Chùa Hương, Yên Tử,… Nhưng để thực hiện tốtchức năng này công tác quản lý di sản văn hóa cần phải tổ chức tổ các hoạt độngsau:

+ Xác định đối tượng khai thác và giá trị tiêu biểu của đối tượng Đốitượng ở đây chính là các mặt giá trị tiêu biểu của di tích (lịch sử, văn hóa, khoahọc, thẩm mỹ…)

+ Phương thức khai thác và địa điểm khai thác Mục tiêu cơ bản của quátrình khai thác gồm: khai thác giá trị của di tích phục vụ phát triển văn hóa- xãhội; phục vụ phát triển kinh tế; phục vụ vui chơi giải trí; khai thác phổ biến vàlưu giữ thông tin về di tích phục vụ nghiên cứu khoa học và phổ biến khoa học;

Trang 12

nhằm tạo cơ sở, nền tảng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc.

1.4 Một số quan điểm phổ biến về bảo tồn di tích hiện nay

- Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn:

Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, được Gregory J.Ashworth đưa ra đầu tiên

từ những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn này được khánhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản

văn hóa Những người theo quan điểm Bảo tồn nguyên vẹn cho rằng, những sản

phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cốgắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cốgắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại Họ cho rằng, mỗi di sảnchứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệhiện tại có hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy mộtcách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian

do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa kháckhông trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau,

vì thế, có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giátrị di sản đang tồn tại Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này chorằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trịcủa các di sản văn hóa, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi

có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, pháthuy di sản một cách tốt hơn

- Quan điểm bảo tồn kế thừa:

Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoàihiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến di sản

Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham xem di sản nhưmột ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương tự vớicách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lýđặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản Hoặc các nhà nghiên cứu Anh,

Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… thì cho rằng không thể không đề cập đếnphát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản Cách tiếp cận của cácnhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để phát triển du lịch,

để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người Còn các tác giả nhưCorner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý di sản cần đặt dưới một cách tiếpcận toàn cầu hóa Ngoài ra, các tác giả như Moore và Caulton cũng cho rằng cần

Trang 13

quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cậnmới và phương tiện kỹ thuật mới Nhìn chung, quan điểm lý thuyết này dựa trên

cơ sở mỗi di sản cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thờigian và không gian cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiệntại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay vàphải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy

Với quan điểm thứ nhất là đóng gói các sản phẩm văn hóa cần được bảo

vệ trong môi trường khép kín để tránh mọi tác động bên ngoài làm phương hạiđến chúng Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đáng quan tâm Nhờcác hoạt động bảo tồn đó, trong nhiều năm qua, chúng ta đã lưu giữ được nhiềusắc thái văn hóa dân tộc Tuy nhiên, văn hóa nói chung trong đó có văn hóa phivật thể luôn gắn bó với đời sống, con người, với môi trường xã hội Do đó, nóluôn biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi của cuộc sống Bởi vậy, bảo tồn theokhuynh hướng này bộc lộ hạn chế là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa

Với quan điểm thứ hai là quan điểm thả nổi Sản phẩm văn hóa nào có sứcsống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chắt lọc, chưng cất,được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử sẽ có nhiều cơ hội và lợithế tự khẳng định mình nhiều hơn Điều đó phụ thuộc vào các tiêu chí và hệ giátrị Bởi vậy, khi chúng ta sử dụng hệ giá trị hôm nay làm thước đo sự thay đổicác sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynh hướng thả nổi sẽ đẩy nhanh quátrình làm biến dạng các tiêu chí và chuẩn mực vốn đã được định hình từ lâu.Những sản phẩm văn hóa truyền thống tuy mang đậm nét đặc thù nhưng khi đặttrong hệ quy chiếu mới nếu không được điều chỉnh sẽ khó có cơ hội tồn tại lâudài

Rõ ràng là cả hai quan điểm trên đều xuất phát từ cách hiểu máy móc,siêu hình, thiếu cái nhìn biện chứng về khái niệm bảo tồn Chỉ có thể hiểu mộtcách đầy đủ và đúng nghĩa khi đặt hoạt động bảo tồn trong mối quan hệ với pháthuy Ngoài việc lưu giữ để không mất đi các giá trị văn hóa, bảo tồn còn phảibiết lựa chọn trong các hiện tượng đang có nguy cơ bị mất đi, những yếu tố,những khả năng tiềm ẩn để làm cho chúng tồn tại cùng với sự phát triển đi lêncủa cuộc sống Mục đích sâu xa của bảo tồn là đưa di sản văn hóa vào cuộc sống

để phát huy giá trị của chúng Quan điểm trên cần phải được nhìn nhận một cáchlinh hoạt Nói tóm lại là bảo tồn di sản văn hóa cần phải đi kèm với khai thác,phát huy giá trị của nó trong đời sống Mặt khác, việc bảo tồn cần phải quan tâmđến những đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể, tức là phải lựa chọn để

Trang 14

bảo tồn những gì phù hợp với thời đại Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn mới

có ý nghĩa và có tính khả thi mà không trở thành lực cản đối với sự phát triểncủa xã hội

- Quan điểm bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch hài hòa

Tại Khoản 3 Điều 10 Pháp lệnh Du lịch quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, quá trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”.

Xét theo nội dung trên thì ngành Du lịch đã xem trọng việc bảo tồn di

sản văn hóa như thế nào, vì chừng nào di sản văn hóa hiện tồn thì mới có Tàinguyên du lịch nới trên Vậy thì việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

và thiên nhiên có thể là một việc mang hai nội dung song hành của mỗi điểm dulịch đồng thời là điểm di sản văn hóa Nói cách khác là cần nhất thể hóa về mặtquản lý, không nên chia tách làm hai đơn vị chủ quản khác nhau trên một điểm

di sản văn hóa – điểm du lịch!

1.5 Một số quan điểm về phát huy giá trị di sản văn hóa

- Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của đời trước để lại, làm cho các giá trị của di sản văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội

Xét về bản chất, mỗi di tích hay mọi sinh hoạt nghệ thuật, lễ hội, tínngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, lối sống nếp sống, hoặc các tri thức dângian về ngành nghề thủ công, y học, ẩm thực, tất cả đều là những giá trị tồn tạidưới những dạng cái vật chất cụ thể ẩn chứa phía sau những hoạt động hoặc kếtquả của các hoạt động tinh thần của con người trong mọi mối quan hệ với tựnhiên, với xã hội và với chính bản thân mình Những giá trị ấy chính là cái

“hồn”, một nơi thể hiện rõ nhất những thành tựu, trình độ và bản sắc văn hóa

của một cộng đồng tại một không gian và ở một thời gian nhất định Tích lũytrong quá khứ, qua trường kỳ lịch sử các giá trị đó có thể trở thành một bộ phậnquan trọng hợp thành vốn di sản văn hóa quý báu của dân tộc và có thể cũng làcủa cả nhân loại Vì vậy, phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có

chọn lọc phần “hồn” ấy, sáng tạo thêm, làm cho nó đó thấm sâu, lan tỏa vào đời

sống cộng đồng để cộng đồng nhận diện được giá trị, biết trân trọng những giátrị ấy và tránh có cái nhìn phiến diện Từ đó mà khơi lòng tự hào để chung tayvào bảo tồn di sản văn hóa của địa phương, của dân tộc và của cả nhân loại

Trang 15

Phát huy giá trị di sản văn hóa là để phát triển kinh tế, nhưng phát huy làphải biết kế thừa những tinh hoa của đời trước để lại Những giá trị đó chính là

sự đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn, nếu chúng phù hợp với thời đại mới thì cầnđược phát huy, đồng thời phải biết sáng tạo thêm những cái mới trên nền tảngnhững cái truyền thống để vừa làm giàu thêm bản sắc văn hóa, góp phần đápứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cư dân đương đại đồng thời cũng là cơ hội

để tạo ra thêm nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng giúp phát triển kinh tế bền vữngcho địa phương

- Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết mở rộng giao lưu văn hóa

để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa

Từ xưa đến nay không có nền văn hóa nào tự thân phát triển bằng sự

“đóng kín” mà muốn phát triển phải luôn được bồi đắp bởi nhiều nền văn hóa

khác Vì vậy, việc giao lưu, mở rộng văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa,đồng thời làm thăng hoa và lan tỏa văn hóa của mình đến khắp nơi luôn làkhuynh hướng của mọi cộng đồng, mọi dân tộc, đặc biệt là trong bối cảnh toàncầu hóa hiện nay Tuy nhiên, giao lưu, tiếp nhận những luồng văn hóa khác làcần thiết nhưng tiếp nhận những cái gì và biến đổi như thế nào để không đánhmất đi giá trị văn hóa của địa phương là việc không đơn giản

- Phát huy các giá trị di sản văn hóa nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững, phục vụ tích cực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa

Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể làtài sản vô giá của một địa phương, của một dân tộc Chúng phản ánh sâu sắcnhất về đặc trưng văn hóa, về cội nguồn văn hóa của địa phương đó, dân tộc đó.Với những giá trị vô giá ấy mà di sản văn hóa trở thành một bộ phận đặc biệt

trong cơ cấu “tài nguyên du lịch” Việc phát huy các giá trị di sản văn hóa ấy sẽ

thu hút mạnh mẽ khách du lịch trong và ngoài nước đến với di sản, giúp chongành du lịch phát triển bền vững, giúp cho nền kinh tế của địa phương ổn định

Và điều tất nhiên, để du lịch phát triển bền vững thì những giá trị văn hóa phảiđược nuôi dưỡng, bồi đắp, luôn được tỏa sáng thật sự Và muốn làm được điều

đó thì mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy luôn được gắn kết với nhau Bảotồn phải giữ gìn được giá trị của di sản và khai thác, phát huy phải đáp ứng lại

việc bảo tồn theo một quy trình bảo tồn → phát huy → bảo tồn Việc khai thác

quá mức tài nguyên du lịch này sẽ dẫn đến cạn kiệt và đánh mất giá trị di sản và

Trang 16

điều đó sẽ dẫn đến sự phát triển không bền vững Mối quan hệ giữa bảo tồn vàphát huy luôn đặt ra trong tiến trình này.

Di sản văn hóa có vai trò to lớn đối với sự phát triển lành mạnh và bềnvững của cuộc sống đương đại Vì vậy bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

là nền tảng, là nguồn động lực cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển củađịa phương, của đất nước, là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người và của cảcộng đồng

Trang 17

CHƯƠNG 2 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO TỒN

HỆ THỐNG ĐỀN THỜ Ở THANH HÓA

2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của hệ thống đền thờ Xứ Thanh

Trong số các nguyên nhân góp phần làm cho các di tích bị xuống cấp, hưhỏng có một phần lý do khách quan (như thiên tai, môi trường, chiến tranh, ),nhưng lý do chủ quan từ vô thức của con người lại rất ít được quan tâm đúngmức Điều đó cho thấy, công tác giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân là hết sứcquan trọng, nhất là giáo dục thế hệ trẻ về ý thức tôn trọng, bảo vệ các di sản vănhóa của dân tộc, của địa phương cần được đặt lên hàng đầu Để làm tốt việc này,cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Giáo dục với ngành Văn hóa và cácphương tiện thông tin đại chúng cũng như chính quyền địa phương Thực tếtrong quá trình khảo sát phục vụ nghiên cứu đề tài cho thấy, nhiều di tích có giátrị lịch sử- văn hóa, tâm linh, kiến trúc nghệ thuật đặc sắc chưa được cộng đồngđịa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu biết đầy đủ, đó là một thực tế cần phải suyngẫm Không những vậy, nhiều hành động, mặc dù vô thức trong thăm quan,hành hương, thực hành nghi lễ hay hoạt động dân sinh đơn thuần đã vô tình làmtổn hại di tích, sự kiện cháy đền thờ Lê Lai năm 2013 do bất cẩn khi đốt hươnglàm hỏng nhiều thiết bị, hạng mục và cấu kiện của đền thờ; đền thờ Quan Thánh

đế quân ở phường An Hoạch trước đây bị xâm hại do dân khai thác đá núi Nhồihay nhiều hành động vô thức vẽ viết bậy lên chuông khánh; tượng đá; làm sứt,

vỡ nhiều bia ký có giá trị lịch sử, nghệ thuật cao, thậm chí xâm hại cảnh quan,cây xanh, cổ thụ là những ví dụ tiêu biểu cho ý thức của con người làm xuốngcấp, hủy hoại di tích Nhiều đền thờ, đặc biệt là các đền thờ nhân vật lịch sửthuộc các thời kỳ khác nhau chỉ được cộng đồng cư dân địa bàn di tích hiểu biếtmột cách mơ hồ, không đầy đủ Những thực tế trên đòi hỏi cần phải nâng caohiệu quả nhận thức bằng công tác tuyên truyền giáo dục về giá trị của hệ thốngđền thờ Xứ Thanh nhằm tiến tới thực hiện việc bảo tồn bền vững

Trước hết ngành Văn hóa cần tổ chức hoặc hỗ trợ ngay công tác biênsoạn, xuất bản tranh ảnh, sách giới thiệu về các di tích nhằm tuyên truyền giớithiệu cho nhân dân và du khách đến thăm quan, nghiên cứu tại các di tích Hiệnnay một số sách giới thiệu di tích trong tỉnh đã được xuất bản chủ yếu do cácđơn vị như Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa Thanh Hóa, Ban quản lý DT LamKinh, Ban quản lý DS Thành nhà Hồ thuộc Sở VH,TT&DL Thanh Hóa, chủ yếu

Trang 18

là các đền thờ quốc gia và cấp tỉnh tiêu biểu, nổi tiếng hoặc đã được nhiều khách

du lịch biết đến Vẫn còn khá nhiều di tích đền thờ trong tỉnh chưa được giớithiệu rộng rãi Thời gian tới, ngành Văn hóa và cấp chính quyền địa phương cầnquan tâm hơn đến công tác biên soạn ấn phẩm giới thiệu di tích tại địa bàn

Phòng văn hóa các huyện, thị nên tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân địaphương hiểu được giá trị văn hóa, nghệ thuật của các di tích mà họ đang làm chủngay trên địa bàn sinh sống Hiểu được giá trị các di tích, tự hào về truyền thốnglịch sử sẽ gắn liền với ý thức, trách nhiệm của người dân quanh vùng Hình thức

tổ chức có thể linh hoạt, lồng ghép với các nội dung sinh hoạt chính trị, vănnghệ, thể thao, vui chơi giải trí hoặc có thể tổ chức những cuộc thi tìm hiểu vềtruyền thống, lịch sử địa phương hằng năm

Ngành giáo dục cần biên soạn các tài liệu về lịch sử, văn hóa địa phương,đặc biệt là các tài liệu phục vụ giảng dạy, tuyên truyền về di sản văn hóa nóichung, di tích đền thờ trên địa bàn địa phương nói riêng Làm rõ nội dung tìmhiểu về thân thế sự nghiệp nhân vật được thờ, vẻ đẹp của công trình kiến trúc,tính thiêng, giá trị tâm linh, các di vật văn hóa- lịch sử của di tích, Thông qua

đó để học sinh các cấp học hiểu, biết về các di sản văn hóa của địa phương nhằmgóp phần chung tay bảo vệ hữu hiệu di tích

- Kiến nghị các hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp:

TT Phân loại đền thờ Nội dung giáo dục

- Tổ chức thăm quan

- Đọc giới thiệu di tíchtrên đài phát thanh địaphương

- Giảng dạy lịch sử ởtrường học tại địaphương

- Tổ chức cuộc thi tìmhiểu kiến thức lịch sử-văn hóa- xã hội tại địaphương

- Lồng ghép các nộidung sinh hoạt chính trị,

2 Đền thờ nhân vật

huyền thoại

- Giới thiệu về cáihay, cái đẹp tronghuyền thoại, sự tích,nét đẹp tâm linh,thần trong đời sốngtinh thần của nhândân,

Trang 19

văn nghệ, thể thao, vuichơi giải trí do địaphương tổ chức,

- Mời chuyên gia, nhànghiên cứu nói chuyệnchuyên đề với nhân dântại địa phương,

* Theo công trình di tích:

1 Di tích kiến trúc nghệ

thuật

- Giới thiệu vẻ đẹpkiến trúc, nghệ thuậtchạm khắc, giá trịthẩm mỹ,

- Tổ chức thăm quan

- Đọc giới thiệu di tíchtrên đài phát thanh địaphương

- Giảng dạy lịch sử ởtrường học tại địaphương

- Tổ chức cuộc thi tìmhiểu kiến thức lịch sử-văn hóa- xã hội tại địaphương

- Lồng ghép các nộidung sinh hoạt chính trị,văn nghệ, thể thao, vuichơi giải trí do địaphương tổ chức,

- Mời chuyên gia, nhànghiên cứu nói chuyệnchuyên đề với nhân dântại địa phương,

2 Di tích tâm linh tín

ngưỡng

- Giới thiệu về cáihay, cái đẹp tronghuyền thoại, sự tích,thần tích, nét đẹp tínngưỡng cộng đồng,

3 Di tích lịch sử- văn hóa - Giới thiệu vị trí, vai

trò sự kiện, nhân vậtđối với địa phương,quê hương, đấtnước,

- Một số di tích đền thờ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cần được ưu tiên đẩymạnh tuyên truyền giáo dục:

+ Đền thờ gắn với các vị vua, chúa có xuất thân Xứ Thanh: Bà Triệu, LêHoàn, Lê Lợi, các chúa Trịnh,

Trang 20

+ Đền thờ các tướng lĩnh tiêu biểu: Lý Thường Kiệt, Lê Phụng Hiểu, TrầnHưng Đạo, Tô Hiến Thành, Trần Khát Chân, Lê Lai, Đinh Lễ, Đinh Liệt,Nguyễn Chích, Trần Lựu, Lê Lai,

+ Đền thờ các nhân vật lịch sử, tri thức, danh nhân văn hóa: Lê Văn Hưu,Đào Duy Từ, Bùi Khắc Nhất, Nguyễn Quán Nho, Tống Duy Tân;

+ Đền thờ các nhân vật huyền thoại: Mai An Tiêm, Mẫu Liễu, Thượngngàn công chúa; Tứ Vị Thánh Nương, Thánh Gióng, An Dương Vương, NàngBình Khương

2.2 Nâng cao chất lượng tổ chức, quản lý, bảo vệ di tích

Muốn nâng cao chất lượng tổ chức, quản lý, bảo vệ di tích, trước tiênchúng ta cần hiểu rõ bản chất của loại hình di tích đền thờ Với đặc trưng di tíchtín ngưỡng, loại hình này có sự tương đồng về mục đích tâm linh như đình, chùanhưng có khác biệt đôi chút về nội dung, như chùa thuộc về thiết chế tôn giáođạo Phật, đình là thiết chế văn hóa làng xã có tính chất thế tục cao, còn đền thờthì chỉ có yếu tố tâm linh, tính thế tục hoàn toàn bị loại bỏ Những lý do này dẫnđến tính chất sở hữu công trình tín ngưỡng, thường thì đền thờ trong lịch sử

thuộc sở hữu của nhà nước, đối với những di tích mang tính chất “quốc tế” (nhà

nước chủ trì việc tế lễ), có tính cả các đền thờ do hương xã quản lý, đương nhiênthuộc sở hữu của cộng đồng và các đền thờ tư gia thuộc sở hữu dòng họ, giatộc, Một thời gian dài, chúng ta đã thực hiện quản lý nhà nước toàn diện về các

di tích không chia tách loại hình và đến nay vẫn tiếp diễn như vậy Thực tế đãchứng minh, quản lý nhà nước toàn diện về di tích hiện nay còn nhiều bất cập.Với số lượng lớn di tích thuộc đủ mọi loại hình, tính chất phân bố rộng và nộidung quản lý giám sát nhiều (di tích, lễ hội, tín ngưỡng), mặc dù có đầy đủ thiếtchế từ trung ương xuống địa phương, với đội ngũ nhân lực đông đảo nhưng hiệuquả thì chưa hẳn đã đáp ứng sự kỳ vọng

Thực trạng thiếu hiệu quả trong tổ chức, quản lý, bảo vệ di tích nói chung,trong đó có hệ thống di tích đền thờ nói riêng ở trong nước cũng như trên địabàn địa phương Thanh Hóa trong những năm qua có lúc, có nơi đã làm giảm đihiệu lực quản lý nhà nước đối với loại hình di sản văn hóa đặc biệt này Cần mộtgiải pháp đồng bộ nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, quản lý,bảo vệ di tích liên quan đến các vấn đề về cơ chế chính sách; cơ chế quản lý; cơchế đầu tư bảo tồn, tôn tạo; chính sách về đội ngũ, nguồn nhân lực; hệ thống vănbản pháp luật và văn bản chỉ đạo điều hành về di sản, di tích,

Trang 21

Muốn nâng cao chất lượng tổ chức, quản lý, bảo vệ di tích, chúng ta cầnđổi mới tư duy, đổi mới nhận thức, nên có cái nhìn thông thoáng hơn trong quản

lý, ứng xử với di tích

- Đối với các di tích cấp quốc gia đặc biệt

+ Kiện toàn cơ cấu bộ máy tổ chức Ban quản lý di tích cấp quốc gia đặcbiệt đối với di tích Lam Kinh và di tích đền thờ Bà Triệu Trong đó, Ban quản lý

di tích đền thờ Bà Triệu vừa mới được thành lập, cần phải nhanh chóng ổn định

tổ chức, nhân sự, xây dựng quy chế hoạt động cũng như Sở VH,TT&DL tỉnhcần phải giám sát, hướng dẫn, xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động giữa Trungtâm Bảo tồn DSVH tỉnh với Ban quản lý di tích đền thờ

+ Nâng cao vai trò quản lý bằng các hình thức: bổ sung nguồn nhân lựcđược đào tạo chuyên sâu, có chính sách hỗ trợ thỏa đáng để thu hút nguồn nhânlực chất lượng cao làm việc tại BQL Tạo cơ chế hài hòa, hợp lý trong phối hợp,điều hành, thực hiện công việc

+ Bóc tách nội dung tổ chức, quản lý chuyên môn với chức năng thựchiện tu bổ, tôn tạo Điều đó có nghĩa là, các ban quản lý di tích quốc gia đặc biệtchỉ thực hiện chức năng bảo vệ, khai thác di tích Nhiệm vụ thực hiện tu bổ, tôntạo công trình trùng tu do Ban quản lý dự án các công trình văn hóa trực thuộc

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm

+ Liên kết với các viện nghiên cứu chuyên ngành, trường đại học đào tạonghiệp vụ bảo tồn, quản lý văn hóa thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng, nângcao nghiệp vụ cho đội ngũ nhân sự Thực tế là, đội ngũ cán bộ chuyên môn trựcthuộc các Ban quản lý, nhất là BQL di tích mới thành lập còn mỏng, năng lựccòn hạn chế Rất cần được đào tạo chuyên sâu hoặc bồi dưỡng nâng cao nghiệp

vụ định kỳ

+ Thực hiện mở rộng nghiên cứu, sưu tầm về di tích; phục dựng, bảo tồn,kiểm kê, quản lý hiện vật, di vật gắn với di tích để tăng hiệu quả bảo vệ, khaithác Đối với BQL di tích Lam Kinh, cần phải mở rộng nghiên cứu các di tích vệtinh, chuỗi các đền thờ công thần khởi nghĩa Lam Sơn trong tỉnh để mở rộngthăm quan, tìm hiểu về di tích Đối với BQL di tích đền Bà Triệu, cần khôi phụccác đền thờ đã bị hủy hoại thuộc quần thể di tích, góp phần tăng hiệu quả tìmhiểu, nghiên cứu

+ Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, quảng bá, giới thiệu di tíchbằng cách biên soạn, in ấn các tài liệu về nghiệp vụ Hiện nay, các sách giớithiệu về khu di tích Lam Kinh, nhân vật lịch sử khởi nghĩa Lam Kinh đã khá đầy

Trang 22

đủ Thời gian tới, cần xuất bản thêm các ấn phẩm có giá trị phục vụ quảng bá,tuyên truyền rộng rãi về quần thể di tích đền thờ Bà Triệu Bổ sung thêm các ấnphẩm giới thiệu về các nữ nhân vật huyền thoại trong khởi nghĩa Lam Sơn đểtăng sức hấp dẫn, phong phú cho du khách đến tham quan

+ Nghiên cứu xây dựng hoặc quy chế hóa để quản lý tốt nguồn tiền côngđức hằng năm trong di tích thuộc Ban quản lý

+ Tổ chức tốt công tác thăm quan, trưng bày phục vụ du khách, nhân dân

và nghiên cứu khoa học Cần nghiên cứu phục dựng bằng cách tái hiện hoặc sânkhấu hóa hoạt cảnh trong khu di tích đền thờ Bà Triệu

- Đối với di tích đền thờ cấp quốc gia

+ Cần khắc phục hạn chế trong công tác phân cấp quản lý Trong khi các

di tích cấp quốc gia đặc biệt đều đã thành lập ban quản lý riêng, số còn lại tùythuộc vào từng giá trị của di tích các địa phương thành lập ban quản lý riênghoặc kiêm nhiệm hoặc phân công, hợp đồng nhân dân trông coi, dẫn đến việcquản lý, điều hành khó khăn, chất lượng trong quản lý đối với di tích thấp Việccan thiệp của cấp quản lý đối với di tích mờ nhạt, chưa thống nhất toàn diện, dẫnđến khi vi phạm rất khó quy trách nhiệm Nhiều nơi, các đền thờ cấp quốc giahoàn toàn do dòng họ quản lý như đền An Lạc, đền thờ Bùi Khắc Khất (HoằngHóa), đền thờ Đinh Lễ (Vạn Hà, Thiệu Hóa), đền thờ Vũ Uy (Nông Cống), hoặc phối hợp giữa làng và dòng họ như đền thờ Lê Hiểm, Lê Hiêu (NôngCống), đền thờ Nguyễn Nhữ Soạn (Đông Sơn) Trong khi, với vị trí, vai trò vàgiá trị tiêu biểu của di tích đối với cộng đồng, hoàn toàn có thể có bộ phận quản

lý chuyên trách có chức trách, có chuyên môn và nghiệp vụ chuyên sâu

+ Khắc phục bất cập trong công tác tổ chức nhân sự Tổ chức nhân sựđược phân cấp theo chức năng quản lý Nhà nước và quản lý chuyên môn; SởVăn hóa,Thể thao và Du lịch, phòng VHTT huyện, thị, thành phố thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa; hoạt động chuyên môn do các Banquản lý Di tích và Danh thắng, địa phương phối hợp thực hiện Bên cạnh còn córất nhiều các tổ chức, đơn vị hoạt động trên lĩnh vực văn hóa thường xuyên phốihợp trong hoạt động quản lý Tuy nhiên sự “đa dạng” này cũng gặp phải nhữngbất cập Thực tế cho thấy, việc để các ngành hoạt động chuyên môn riêng lẻ đãgây ra những xu hớng quản lý độc lập, phân ly trong ứng xử đối di tích Nếuhàng năm, ngành Văn hóa đầu tư cho việc lập hồ sơ xếp hạng di tích, kế hoạchxin kinh phí trùng tu, tôn tạo, chống xuống cấp di tích thì ngành Du lịch và cácđơn vị kinh tế khác chỉ chú trọng khai thác sản phẩm hoàn chỉnh kiếm lời Chưa

Trang 23

có văn bản nào quy định số % kinh phí doanh nghiệp du lịch thu được phải táiđầu tư trở lại để bảo tồn di tích.

+ Ngành Văn hóa hằng năm cần thực hiện các biện pháp hướng dẫn, quản

lý cho cấp huyện, xã tại địa bàn có di tích một cách cụ thể, chi tiết bằng văn bản.Đặc biệt là cụ thể hóa Luật Di sản văn hóa và các văn bản dưới luật cho các cấpthực hiện trong phạm vi được giao quản lý đối với cấp quản lý địa phương địabàn có di tích đền thờ

+ Thực tốt việc huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực nhằm bảo vệ vàphát huy giá trị di tích

- Đối với di tích đền thờ cấp tỉnh

+ Rà soát đánh giá tổng thể về hồ sơ kiểm kê, xếp hạng Theo điều trakhảo sát phục vụ nghiên cứu đề tài, không ít di tích đền thờ cấp tỉnh ở ThanhHóa hiện nay bị thất lạc hồ sơ di tích Điều này làm hạn chế khả năng tìm hiểu,nghiên cứu mở rộng phục vụ bảo vệ di tích hữu hiệu

+ Xác định chủ thể quản lý trực tiếp di tích, nhanh chóng chuyển đổi từ

vai trò chủ yếu dựa vào nhà nước sang vai trò quản lý điều tiết, tư vấn là chính.Tăng cường tính tự quản của cộng đồng xã hội, kể cả trong công tác tổ chức,quản lý, bảo vệ Tạo điều kiện tốt nhất cho tư nhân, cộng đồng, dòng họ trực tiếp

sở hữu, quản lý toàn diện Nhà nước chỉ nên tập trung đầu tư quản lý một sốcông trình trọng điểm điển hình

+ Xã hội hóa trong công tác quản lý di tích, trong đó tích cực phân cấpchủ thể quản lý di tích, tiến tới áp dụng thử nghiệm việc tư nhân hóa công trìnhtrùng tu, tôn tạo theo hướng lấy dòng họ, làng xã, địa phương có di tích làmnòng cốt Nếu được thực hiện tốt, sẽ làm cho di tích luôn luôn được chăm sóc,bảo vệ, gắn liền với đời sống cộng, từ đó kiểm soát chống xuống cấp một cáchtích cực, chủ động

+ Đẩy mạnh công tác quản lý, giám sát và định hướng hoạt động bảo tồn,khai thác di tích

+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cộng đồng đi đôi với việcnâng cao trách nhiệm của các cấp quản lý để các hoạt động phát triển kinh tế,dân sinh không vì lợi ích cục bộ mà hy sinh tài sản văn hóa to lớn của cộngđồng, của dân tộc

- Đối với di tích đền thờ chưa được xếp hạng

Trang 24

+ Tổ chức nghiên cứu, thu thập tư liệu, hoàn chỉnh hồ sơ lý lịch, hồ sơkhoa học di tích để trình cấp thẩm quyền công nhận, xếp hạng, đưa vào chươngtrình quản lý, bảo vệ.

+ Nếu di tích bị hủy hoại, phế tích cần tăng cường huy động mọi nguồnlực cộng đồng địa phương và xã hội để tiến hành phục dựng, khôi phục di tích

+ Hằng năm, ban văn hóa địa phương và các đơn vị nghiệp vụ chuyênmôn cấp huyện phải thường xuyên rà soát, thực địa, phát hiện di tích xuống cấp

Có kế hoạch, chương trình hành động cụ thể trong kế hoạch công tác năm củađịa phương về phục hồi, kiểm kê, xếp hạng di tích

Ngoài các giải pháp cụ thể cho mỗi loại theo phân cấp, xếp hạng, còn chú

ý đến một số vấn đề áp dụng cho các di tích đền thờ như: cần hoàn thiện quyđịnh về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng nguồn công đức ở các di tích đền thờnhằm đảm bảo việc nguồn thu công đức tại các di tích, nhất là những di tích đềnthờ có hoạt động khai thác du lịch tốt được sử dụng, phát huy tối đa trong việc tổchức các hoạt động tại di tích, trùng tu, tôn tạo di tích; quy định về chế độ phụcấp cho ban quản lý các di tích hoặc cá nhân tham gia để nâng vai trò và đảmbảo việc ghi nhận những đóng góp của những người trực tiếp trông coi di tích…

Ban hành các văn bản để cụ thể hóa việc thực hiện công tác phòng chốngcháy nổ, mưa bão, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho di tích; văn bản hướngdẫn các địa phương sử dụng nguồn xã hội hoá trong việc tu bổ, tôn tạo di tích…

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về di tích, đặcbiệt đối với các đền thờ có hoạt động tâm linh, lễ hội đặc sắc như đền Bà Triệu,đền thờ Lê Thái Tổ, đền Lê La), đền Lê Hoàn, đền Nưa- Am Tiên, đền Cầm BáThước và Bà chúa Thượng Ngàn, đền Độc Cước, Đền Sòng, Nghè Vích

2.3 Thực hiện có hiệu quả công tác bảo tồn, trùng tu, tôn tạo, phục hồi di tích

- Nâng cao chất lượng quy hoạch, lập hồ sơ công trình trùng tu, tôn tạo

Đối với các di tích đền thờ, đặc biệt các di tích đền thờ đã xếp hạng, cáccấp quản lý cần có phải có quy hoạch khoanh vùng bảo vệ di tích tránh sự xâmphạm từ bên ngoài do sự vô ý thức hay những hoạt động dân sinh thuần túy làmảnh hưởng đến sự toàn vẹn của di tích

Đối với các di tích đền thờ có bề mặt bao phủ diện rộng như Lam Kinh,đền Lê Hoàn (Thọ Xuân) đền thờ Bà Triệu (Hậu Lộc), đền Độc Cước, đền CôTiên (Sầm Sơn), đền Đồng Cổ (Yên Định), đền Lạch Bạng (Tĩnh Gia), PhủTrịnh (Vĩnh Lộc), đền Cửa Đặt (Thường Xuân), ngoài quy hoạch khoanh vùng

Trang 25

di tích thì các vùng phụ cận xung quanh (ruộng, đường giao thông, nhà dân )cũng phải được khoanh vùng, xác định mốc giới hoạt động, sinh hoạt của ngườidân tại địa phận.

Mọi quy hoạch, dự án trùng tu tôn tạo di tích phải được công bố côngkhai, rộng rãi nhất là đối với chính quyền và nhân dân địa phương

Các cấp chính quyền địa phương phải có hồ sơ phân hạng, hồ sơ kỹ thuậtchống xuống cấp các di tích hàng năm trình Sở Văn hóa - Thể Thao và Du lịch,Trung tâm Bảo tồn DSVH tỉnh có kế hoạch đưa vào dự án tổng thể, xác địnhmức độ xuống cấp của các di tích để có kế hoạch đầu tư, tu bổ

Nên có chương trình đào tạo nguồn nhân lực có tính chuyên nghiệp hơn ởđịa phương cho công tác "bảo tồn, tôn tạo, phục chế di tích văn hóa nghệ thuật".Đặc biệt đối với các di tích đền thờ có giá trị nghệ thuật kiến trúc, chạm khắcđặc sắc

Tuổi thọ của các công trình kiến trúc gỗ nói chung và di tích đền thờ nóiriêng được bảo quản tốt trong môi trường không tiếp xúc nắng mưa thì tuổi thọcao nhất cũng không quá 300-500 năm Trong khi ở Thanh Hóa có rất nhiều đềnthờ có hiện vật chạm khắc gỗ khá độc đáo cần sớm có quy hoạch đưa vào danhmục quản lý chống xuống cấp Một số công trình tiêu biểu có kiến trúc- nghệthuật độc đáo cần đưa vào danh mục ưu tiên bảo vệ như:

TT Tên đền thờ Địa phương Xếp hạng Giá trị

gia

Độc đáo về nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc tượng thờ

Độc đáo về nghệ thuật

kiến trúc

Độc đáo về nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc gỗ, nghệ thuật bia ký

gia kiến trúc, chạm khắc gỗĐộc đáo về nghệ thuật

Ngày đăng: 25/10/2022, 08:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Lâm Biền (chủ biên), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống củangười Việt
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
2. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 1996
3. Trịnh Minh Đức (chủ biên)- Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tíchlịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Minh Đức (chủ biên)- Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
4. “Bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay”, Quản Hoàng Linh, Tạp chí VHNT, số 337, tháng 7-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay
5. Nguyễn Văn Hảo, Lê Thị Vinh (2003), Di sản văn hóa xứ Thanh, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa xứ Thanh
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo, Lê Thị Vinh
Nhà XB: NxbThanh Niên
Năm: 2003
7. Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu, NXB Xây dựng 8/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu
Nhà XB: NXB Xây dựng 8/2004
10. Nguyễn Khởi (2002), Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc, Nxb xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc
Tác giả: Nguyễn Khởi
Nhà XB: Nxbxây dựng
Năm: 2002
12. Chu Quang Trứ (1996), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 1996
13. Nguyễn Thịnh (2012), Di sản văn hóa Việt Nam- Bản sắc và những vấn đề quản lý, bảo tồn, Nxb Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa Việt Nam- Bản sắc và nhữngvấn đề quản lý, bảo tồn
Tác giả: Nguyễn Thịnh
Nhà XB: Nxb Xây Dựng
Năm: 2012
14. Tài liệu Hội thảo khoa học: “Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử văn hóa của hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” do Trường ĐH VH,TT&DL Thanh Hóa tổ chức tháng 9, 2017, tr 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị lịchsử văn hóa của hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay”
15. Quyết định 2218/QĐ-UBND năm 2009 của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt dự án “Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh ThanhHoá đến năm 2020
16. Quyết định 492/QĐ-UBND năm 2015 của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, tầm nhìnđến năm 2030
6. Hệ thống hồ sơ di tích của Cục Di sản – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khác
8. Luật di sản văn hóa và nghị định hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị Quốc Gia, 2002 Khác
9. Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ban hành ngày 14/7/2011 của bộ văn hóa, thể thao&Du lịch, qui định về hồ sơ xếp hạng di tích Khác
11. Dương Văn Sáu (2008), Di tích lịch sử -văn hóa và danh thắng, Nxb ĐH QGHN, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w