1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bao cao chuyen mon 3 bai hoc kinh nghiem

64 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo chuyên môn 3 bài học kinh nghiệm
Tác giả
Người hướng dẫn
Trường học Trường Đại học Văn hóa, Thể thao & Du lịch Tỉnh Thanh Hóa
Chuyên ngành Khoa học & Công nghệ
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh Hóa ở mộttrong những địa phương đầu tiên trong cả nước chuyển đổi Ban quản lý Di tích và Danh thắng thành Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa, từ đó có thể nghiêncứu, sưu tập và quản

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO & DU LỊCH

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHUYÊN MÔN

BÀI HỌC KINH NGHIỆM BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA MỘT SỐ ĐỀN THỜ Ở VIỆT NAM

ĐỀ TÀI KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ CẤP TỈNH

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA HỆ THỐNG ĐỀN THỜ Ở THANH HÓA

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Người thực hiện: TS Lê Thị Thảo

KTS Đỗ Vũ Lợi

THANH HÓA, 2017

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 3

SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU ĐỐI CHỨNG 3

VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA 3

CỦA ĐỀN THỜ 3

1.1 Những hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa ở Thanh Hóa 3

1.2 Những yêu cầu đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa của đền thờ 7

CHƯƠNG 2 12

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI CHỨNG 12

MỘT SỐ ĐỀN THỜ Ở VIỆT NAM 12

2.1 Nhận thức chung về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích ở Việt Nam trong lịch sử 12

2.2 Nghiên cứu bài học kinh nghiệm của một số đền thờ tiêu biểu ở Việt Nam15 2.2.1 Đền Ngọc Sơn (Hà Nội) 15

2.2.2 Đền vua Đinh – vua Lê (Ninh Bình) 20

2.2.3 Đền Trần (Nam Định) 29

2.2.4 Đền Kiếp Bạc (Hải Dương) 35

2.2.5 Đền ông Hoàng Mười (Nghệ An) 42

CHƯƠNG 3 49

MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM BẢO TỒN 49

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐỀN THỜ ĐỐI VỚI THANH HÓA 49

3.1 Về nhận thức 49

3.2 Các bài học kinh nghiệm 51

KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC 59

Trang 3

MỞ ĐẦU

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là công việc mang tính toàncầu, thể hiện những sáng tạo riêng của từng cộng đồng nhất định trong quá trìnhứng xử với di sản của chính cộng đồng mình, do mình làm chủ và thụ hưởng cácgiá trị văn hóa nói chung Những kinh nghiệm hữu ích từ công cuộc bảo tồn vàphát huy giá trị di sản từ một cộng đồng cụ thể dù khó có thể áp dụng hoàn toàncho những cộng đồng khác, nhưng ít nhất đó là những bài học mang tính ứngdụng khả thi đối với các cộng đồng có môi trường văn hóa tương đồng hoặc cóthể ứng dụng trong từng loại hình di sản hay công việc cụ thể Việc bảo tồn vàphát huy giá trị của di sản văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa ngàycàng sâu rộng, lại đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nếu tự mày mò

và thử nghiệm sẽ tiêu tốn một thời gian khá dài, trong khi có thể gặp nhiều sailầm dẫn đến kém hiệu quả, thậm chí thiệt hại Trong khi đó, những thiệt hạitrong quá trình bảo tồn, phát huy giá trị si sản văn hóa nhiều khi không thể nàokhắc phục được do di sản đã bị mất mát, hoặc hư hỏng, biến dạng Việc thamkhảo bài học kinh nghiệm phát triển kinh tế - du lịch gắn với bảo tồn di sản vănhóa trong và ngoài nước là rất cần thiết, giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu, thựchiện, tránh các sai lầm, thiếu sót không đáng có Đó chính là mục tiêu củachuyên đề "Bài học kinh nghiệm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa củamột số đền thờ ở Việt Nam"

Trang 4

CHƯƠNG 1

SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU ĐỐI CHỨNG

VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN

HÓA CỦA ĐỀN THỜ

1.1 Những hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa ở Thanh Hóa.

-Trước hết, phải khẳng định rằng công tác bảo tồn và phát huy giá trị của

di sản văn hóa ở Thanh Hóa đã đạt được nhiều thành tựu Thanh Hóa ở mộttrong những địa phương đầu tiên trong cả nước chuyển đổi Ban quản lý Di tích

và Danh thắng thành Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa, từ đó có thể nghiêncứu, sưu tập và quản lý hệ thống di sản văn hóa của tỉnh một cách toàn diện.Đồng thời, tỉnh cũng ban hành nhiều quy định về việc bảo tồn và phát huy di sảnvăn hóa như: Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 17/5/2007 về việc tăng cường côngtác quản lý, bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàntỉnh; Quyết định số 2060/2013/QĐ-UBND ngày 17/6/2013 về việc Quy địnhquản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnhtrên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Hằng năm đều dành một phần ngân sách cho côngtác chống xuống cấp di tích Công tác kiểm kê, phân loại và xếp hạng di sản vănhóa được chú trọng Công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi, tôn tạo di tích về cơ bản

đã tuân thủ Luật Di sản văn hóa và các quy định liên quan Định kỳ tổ chức tậphuấn về quản lý, bảo tồn, tôn tạo di tích cho các địa phương… Tuy nhiên, côngtác bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa ở Thanh Hóa còn tồn tại nhiềuhạn chế

- Sự phân tán trong quản lý, đầu tư bảo tồn, trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa

Trang 5

Thanh Hóa có một hệ thống di tích phong phú và đa dạng Theo số liệuthống kê của Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa Thanh Hóa năm 2015, toàn tỉnhThanh Hóa có hơn 4.000 di tích, nhiều di tích đã được xếp hạng (145 di tích cấpquốc gia, trong đó có 3 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 647 di tích cấp tỉnh) Đó làchưa kể một hệ thống di sản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú tiềm ẩmtrong cộng đồng làng xã Có thể nói, Thanh Hóa là một trong những tỉnh, thànhhiện còn một số lượng di sản đồ sộ Hầu hết các công trình kiến trúc có quy mônhỏ, lại phân tán rải rác trong các làng xã, dàn trải khắp các vùng miền của tỉnh.Các cấu kiện kiến trúc chủ yếu bằng gỗ nên dễ bị hủy hoại bởi thời gian Chính

vì vậy công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, hầu hết phụ thuộc vào ý thức và sự

tổ chức quản lý của địa phương, dòng họ, cộng đồng cư dân lưu giữ di sản Nếukhông có cơ chế quản lý chặt chẽ và sự tuyên truyền, tập huấn cho địa phương,cộng đồng về di sản thì rất dễ xảy ra tình trạng hư hỏng, thất thoát hay làm biếndạng di sản

Mô hình phân cấp quản lý di sản cũng còn nhiều bất cập Một số di tích

do bộ, ngành quản lý; một số do UBND tỉnh quản lý; một số di tích lại trựcthuộc sở VH,TT&DL quản lý; một số di tích trực thuộc các Ban, Trung tâmQuản lý di tích ở các huyện quản lý; chức năng, nhiệm vụ giữa Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch với các ban quản lý di tích ở các huyện, ban khánh tiết, tổ bảo vệ

di tích ở các xã còn chồng chéo Một số địa phương không thành lập BQL cấp

cơ sở, để cộng đồng hoặc những người trông coi di tích tùy tiện tu bổ, tôn tạo saiquy định, để mất cắp cổ vật Nhiều nơi còn xảy ra hiện tượng tranh chấp nguồnthu giữa BQL di tích với chính quyền địa phương và người trông nom di tíchnhư nhà sư, ông từ… nảy sinh nhiều phức tạp trong công tác quản lý

- Tình trạng hư hại, xuống cấp nghiêm trọng của di tích

Trên thực tế, nhiều di tích ở Thanh Hóa dù đã được xếp hạng, thậm chí làxếp hạng cấp quốc gia hiện nay đang đối mặt với tình trạng xuống cấp nghiêmtrọng nhưng chưa đủ kinh phí để trùng tu, tôn tạo Một trong những điển hìnhcủa sự xuống cấp đối với di tích cấp quốc gia ở Thanh Hóa là đền thờ và nhà biaTrịnh Khả (xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Lộc) Đền thờ này được xây dựng dưới

Trang 6

thời Lê Sơ (thế kỷ XV), xếp hạng cấp quốc gia năm 1993 Tuy nhiên, dấu vếtkiến trúc ngôi đền có niên đại giai đoạn này đã bị phá hủy từ lâu, hiện vật có giátrị còn lại một bia đá dựng năm 1448 do Nguyễn Mộng Tuân soạn, mang phongcách chạm khắc đá thời Lê Sơ Các hạng mục kiến trúc hiện nay hầu được xâydựng tự phát, không có hồ sơ thiết kế kỹ thuật, vật liệu kém bền vững, hình thứckiến trúc không phù hợp Dưới tác động của thời gian, thời tiết khắc nghiệt, đềnthờ đã xuống cấp nghiêm trọng, xập xệ, đổ nát Nghinh môn (cổng) loang lổ rêuphong, vôi vữa bong tróc Bậc thang dẫn lên đền chính bong lóc gạch, đá Nhàthủ từ 2 bên trơ trọi tường vôi Thê thảm nhất là đền chính, tường nứt, mái sạt,hàng cột nghiêng ngả và được đỡ tạm bằng vài cây tre mỏng manh, có nguy cơsụp đổ bất cứ lúc nào Tấm bia đá cổ trước đền chính lìa khỏi mai rùa, chỏngchơ trước sân; phần chữ cổ đã bị khắc chồng lên bằng chữ quốc ngữ Duy cókhu nhà bia là còn tương đối nguyên vẹn Toàn bộ đồ thờ tự, xã đã phải đưavào Hậu cung bảo quản cẩn mật

Nhiều di tích hiện nay không còn mái che (do lịch sử, thời gian, chiếntranh…) nên từ rất lâu chỉ còn lại các hiện vật đá (tượng đá, nhang án đá, sậpđá…), còn lại do tính bền vững của loại vật liệu này Tuy nhiên, trước sự bàomòn của mưa nắng, sự tác động vô ý thức của con người, những hiện vật đá như

ở Đa Bút (Vĩnh Lộc), lăng Mãn Quận công (Thành phố Thanh Hóa), đền thờ LêThì Hiến, Lê Thì Hải (Triệu Sơn), đền đình Thượng (Thành phố Thanh Hóa),Bái Lăng (Yên Định)… đã bị nứt, gãy, mòn Nếu không có biện pháp bảo tồnkịp thời, những tác phẩm nghệ thuật vô giá này sẽ nhanh chóng bị hư hại khôngthể cứu vãn trong một thời gian ngắn sắp tới Hơn nữa, do nhu cầu dân sinh,phát triển kinh tế, các di tích bị lấn chiếm và biến dạng, làm tổn hại đến khônggian thiêng của di tích

- Quan niệm chưa đúng về bảo tồn, nhìn nhận sai lệch về nhu cầu của du lịch đối với di sản văn hóa

Từ khi nhà nước chủ trương tăng cường công tác bảo tồn các di sản vănhóa và đặc biệt là khi người dân nhận thấy lợi ích mà phát triển du lịch mang lại,

ở rất nhiều địa phương đã diễn ra tình trạng bùng nổ về phục hồi di sản Người

Trang 7

ta nhận ra ở đâu có di sản văn hóa, ở đó có khách du lịch đến Khi có hoạt động

du lịch thì sẽ kéo theo các hoạt động dịch vụ khác, sẽ mang lại nhiều lợi ích,trước hết là lợi ích kinh tế Chính vì vậy, nhiều nơi đã rất chú trọng bảo tồn, tôntạo và khôi phục các di sản văn hóa, tạo nên một làn sóng đầu tư tôn tạo di tích.Cũng từ đây, không ít những quan niệm sai về việc bảo tồn di sản và đặc biệt lànhững nhìn nhận sai lệch về nhu cầu của du lịch đối với di sản văn hóa Nhiềuđịa phương chưa được phép của các cấp quản lý đã tự đầu tư, bằng nguồn kinhphí từ tiền quyên góp của các tầng lớp nhân dân để tôn tạo, khôi phục các đìnhchùa, miếu, lễ hội, thậm chí xây mới các công trình văn hóa, tôn giáo - tínngưỡng Cũng vì thiếu hiểu biết, lại tiến hành bảo tồn theo dạng phong tràonên hầu như những di tích, di sản văn hóa được bảo tồn, tôn tạo với chất lượngkém Nhiều di tích được trùng tu, tôn tạo một cách cẩu thả, sử dụng vật liệu mớinhư việc dùng cả gạch men trắng để lát bàn thờ, hoặc dùng xi măng trám vàocác cột kèo bị mối, mọt, các tượng được đắp bằng xi măng, tô màu lòe loẹt, cácchi tiết nề, mộc, tạc, tô tượng, các họa tiết chạm khắc hoa văn thiếu sự trauchuốt…

- Một số hạn chế khác trong công tác quản lý di sản

Mặc dù Luật Di sản ra đời năm 2002, kèm theo nó là hàng loạt các vănbản hướng dẫn thực hiện, tuy nhiên, công tác trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị

di sản đến nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau Đồng thời, mỗi di sản vănhóa lại có nhiều chủ thể sở hữu, quản lý Do vậy, trong trong công tác quản lý disản vẫn có sự chồng chéo Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi đời sống nhândân được nâng cao, việc xã hội hóa bảo tồn và phát huy giá trị di sản được đẩymạnh, bên cạnh yếu tố tích cực huy động được nguồn lực xã hội mạnh mẽ, thìcũng xuất hiện nhiều bất cập Việc thiết kế xây dựng các hạng mục kiến trúc của

di tích, bài trí đồ thờ khi trùng tu thường chưa được nghiên cứu một cách kỹlưỡng, các cơ quan quản lý thường mềm dẻo trong việc xem xét về chất lượng

và sự tuân thủ luật di sản Hoặc chính cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo có thể sử dụngnguồn thu trong các hoạt động để tự tu sửa, xây dựng thêm một số hạng mụccông trình Hoặc người dân cung tiến thêm nhiều đồ thờ, hiện vật trong di tích

Trang 8

trong khi chưa nghiên cứu kỹ lưỡng sự phù hợp trong bài trí và chưa được sựđồng ý của cơ quan quản lý di tích đã xếp hạng Hiện tượng này ngày nay kháphổ biến ở hầu hết các di tích Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền giáo dục tu bổ

di tích còn nhiều hạn chế; thái độ ứng xử với di tích chưa văn minh, đặc biệt là

lễ hội; đội ngũ cán bộ làm văn hóa còn mỏng, yếu

- Mức độ tham gia của di sản trong hoạt động phát triển kinh tế - du lịch chưa tương xứng với tiềm năng

Với hơn 4.000 di tích trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó 145 di tích đã đượcxếp hạng cấp quốc gia, 647 di tích xếp hạng cấp tỉnh, trong đó có 3 di tích cấpquốc gia đặc biệt, 1 di sản văn hóa thế giới Kèm theo đó là hàng ngàn lễ hội dângian, các làn điệu dân ca, diễn xướng đặc sắc Có thể thấy nguồn liệu văn hóa đểxây dựng sản phẩm du lịch ở Thanh Hóa rất phong phú, có khả năng hình thànhnhiều sản phẩm du lịch đặc trưng, hấp dẫn du khách Tuy nhiên, mức độ thamgia của di sản trong hoạt động phát triển kinh tế - du lịch còn chưa tương xứngvới tiềm năng Chỉ rất ít trong số hàng trăm ngàn di sản nêu trên được đưa vàokhai thác để phát triển kinh tế - du lịch Và hầu như số ít di sản được đưa vàokhai thác đó chưa thật sự hấp dẫn du khách, chưa đưa lại nguồn lợi hiệu quả chophát triển kinh tế - du lịch Thành Nhà Hồ tuy độc đáo, kỳ vĩ nhưng du kháchkhi đến đây chỉ dừng chân vài tiếng đồng hồ để thăm các cổng thành; Khu ditích lịch sử quốc gia đặc biệt Lam Kinh ngày thường cũng vắng khách, đặc biệtchưa hấp dẫn du khách nước ngoài; Đền bà Triệu – di tích cấp quốc gia đượctrùng tu tôn tạo khá khang trang, tọa lạc ngay trên trục đường quốc lộ 1 A,nhưng hầu như chỉ thấy bóng dáng người dân đến để lễ bái, chứ chưa thu hútđược du khách trừ ngày lễ hội… Có thể nói đây là một sự lãng phí rất lớn, vừachưa phục vụ hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, vừa trở thành gánh nặng chonhà nước và xã hội trong công tác trùng tu, tôn tạo

1.2 Những yêu cầu đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của đền thờ

Bảo tồn di sản văn hóa kết hợp với phát triển kinh tế du lịch ở Thanh Hóa trước hết phải tuân thủ Luật Di sản văn hóa

Trang 9

Trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của di dản văn hóa phải tuân thủ Luật

Di sản văn hóa, tức là đảm bảo đúng nguyên tắc bảo lưu tối đa những giá trịnguyên gốc của di sản Trong khai thác để phát triển kinh tế - du lịch phải tránhtác động nhiều vào di tích và cố gắng duy trì, bảo quản nguyên trạng di tích nhưkhi phát hiện là tốt nhất Những di tích còn giữ được nhiều nét nguyên bản,thường có giá trị hấp dẫn nhiều hơn đối với du khách Thực tế, trên thế giới cũng

có nhiều trường hợp các di sản là những di tích đổ nát, nhưng vẫn hấp dẫn dukhách như đền thờ Acropol ở Hy Lạp, hoặc đấu trường Colixey ở La Mã

Để có thể thực hiện theo phương cách nêu trên, chúng ta cần bắt đầu từviệc bảo tồn các di sản văn hóa ngay chính trong đời sống cộng đồng Một loạihình di sản văn hóa được xem là thành công trong việc lưu giữ, khi nó vẫn tồntại sống động trong môi trường nơi nó sinh ra, tức là đưa di sản văn hóa trở lạivới chủ thể văn hóa, và tạo điều kiện tốt nhất để nó tồn tại Cộng đồng chính làmôi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể, và là nơi nuôi dưỡng,làm phong phú nó trong đời sống

- Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cần gắn liền với bảo vệ người

kế thừa di sản văn hoá - những nghệ nhân dân gian và bảo vệ không gian tồn tại của di sản

Thực tế đã chứng minh rằng, chỉ cần những người kế thừa di sản văn hoáphi vật thể vẫn còn sống thì những di sản văn hoá truyền thống sẽ không bị biếnmất; chỉ cần những người kế thừa di sản văn hoá phi vật thể vẫn còn tràn đầysức sống thì di sản văn hoá phi vật thể sẽ không ngừng được sáng tạo trong quátrình trao truyền và kế thừa; chỉ cần người kế thừa di sản văn hoá phi vật thể vẫnthu nhận đồ đệ để truyền nghề, thì di sản văn hoá phi vật thể có người kế thừa,kéo dài mãi mãi Hoạt động bảo tồn di sản văn hoá, nhất thiết phải có sự thamgia trực tiếp của người dân và phải gắn với lợi ích của họ Cộng đồng - chủ thểvăn hoá, là người đóng vai trò quyết định trong việc bảo tồn một cách bền vững

di sản văn hoá Người dân, với vai trò là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa,

họ có đủ năng lực và thẩm quyền để đánh giá các giá trị của di sản văn hóa,quyết định lựa chọn các hiện tượng văn hóa nào là cần thiết để bảo tồn Thực tế

Trang 10

là, mọi hoạt động bảo tồn di sản văn hoá chỉ có thể mang lại hiệu quả và thànhcông khi có sự tham gia tự nguyện của người dân, thu hút và huy động tối đamọi nguồn lực của chủ thể văn hoá Ví dụ như Không gian văn hóa CồngChiêng Tây Nguyên, không phải chỉ công nhận Cồng Chiêng mà còn là cả cộngđồng, không gian, chủ thể văn hóa,… đã tạo nên kiệt tác di sản văn hóa phi vậtthể và truyền khẩu của nhân loại.

Bảo vệ, tôn tạo di sản phải nhằm mục đích giới thiệu di sản đến với công chúng

Cần chuẩn bị tốt nội dung giới thiệu về di sản Đây cũng là yêu cầu củaphục vụ phát triển du lịch Trong quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị

di sản - văn hoá đến năm 2020 của Bộ Văn hoá, Thể Thao – Du Lịch cũng đãnêu rõ: “Ưu tiên cho công tác tư liệu hoá qua việc xây dựng hồ sơ khoa học,phim, ảnh tư liệu hoặc hình thức ghi nhận sự kiện bằng bia, đài kỷ niệm” Nộidung giới thiệu cho du khách không cần thiết phải thật sự chi tiết, nhưng phảiđầy đủ và chọn lọc Ngoài ra, cũng có thể sử dụng những hình thức giới thiệu đadạng khác Tuy nhiên, việc chuẩn bị nội dung giới thiệu về giá trị của các di sảncho khách du lịch hiện vẫn còn nhiều khó khăn Có nhiều bản giới thiệu, thay vìdiễn giải, phân tích, lại nặng về phần ca ngợi Những bản giới thiệu như thếthường không đem lại sự hài lòng cho du khách Có những điểm du lịch là hangđộng đẹp, trong nội dung giới thiệu, bên cạnh yếu tố huyền thoại, với nhữngchuyện kể mang sắc thái cổ tích, cũng cần thiết có thêm thông tin mang tínhkhoa học, như cấu tạo địa chất, niên đại, đặc điểm, Những thông tin này phảithực sự được chọn lọc và cần thiết để du khách có thể nhận thức được việc hìnhthành một kỳ quan thiên nhiên, đòi hỏi bao nhiêu thời gian Điều đó giúp nângcao được ý thức bảo vệ di sản đối với du khách và cộng đồng

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác của người dân trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Chúng ta nhận thức rằng, sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóachỉ có thể được đẩy mạnh và đạt hiệu quả khi người dân tự giác tham gia Do đó,việc giáo dục để nâng cao ý thức tự giác của người dân, khơi dậy ở họ lòng tự

Trang 11

hào đối với di sản văn hóa của cộng đồng mình là công việc có ý nghĩa quantrọng, để hướng người dân chủ động tìm tòi, sưu tầm và bảo tồn các loại hình disản văn hóa Ngoài ra, cần phải làm rõ và gắn lợi ích của người dân khi tham giacác hoạt động bảo tồn Đây cũng là cách thức thu hút đông đảo người dân thamgia lưu giữ di sản văn hóa truyền thống của mình Trong điều kiện kinh tế thịtrường hiện nay, việc vận động, tuyên truyền để nâng cao ý thức tự giác củangười dân cần gắn với cuộc vận động xã hội hóa trong công tác bảo tồn Chỉ khingười dân có ý thức trong việc bảo tồn di sản văn hóa thì mọi khó khăn đều cóthể được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả Tuyên truyền, vận động cần phảiđược thực hiện đồng bộ, với nhiều phương thức khác nhau, tránh làm ồ ạt Bêncạnh việc đa dạng hóa các chương trình tuyên truyền, cần đưa vào nội dungchương trình những thông tin cụ thể, sát thực và gần gũi với đời sống, sinh hoạtcủa người dân, nhằm mang lại hiệu quả cao.

Ngoài ra, bảo tồn các di sản văn hóa còn đồng nghĩa với việc bảo vệ vàtôn tạo môi trường tại các khu di sản Bảo vệ môi trường khu vực di sản là yêucầu đặc biệt quan trọng trong phát triển du lịch Môi trường ở đây phải đượchiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hộinhân văn Môi trường du lịch tự nhiên bao gồm: môi trường nước, môi trườngkhông khí, môi trường đất, tình hình nước thải, chất thải rắn Môi trường xã hộinhân văn trong khu di sản thể hiện qua tình hình quản lý khu di tích, tình hìnhtrật tự an ninh khu vực Một môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, cũng như môitrường văn hoá xã hội thiếu lành mạnh, sẽ làm giảm đi tính hấp dẫn của các giátrị di sản đối với khách du lịch, và đương nhiên làm giảm tính hiệu quả trongcông tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa Do vậy, trong công tác bảotồn các di sản, cũng cần thiết đánh giá tác động môi trường và có những giảipháp triệt để, nhằm bảo vệ và phát triển môi trường du lịch

* Tiểu kết chương 1

Thanh Hóa là một trong những địa phương có hệ thống di sản phong phú,

đa dạng, nhiều di sản có giá trị độc đáo, có khả năng phục vụ phát triển kinh tế

du lịch Trong thời gian qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản

Trang 12

văn hóa ở Thanh Hóa đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, bêncạnh đó còn tồn tại rất nhiều khó khăn, hạn chế: sự chồng chéo trong quản lý,phân tán trong đầu tư, bản tồn, nhiều di tích đang ở trong tình trạng xuống cấpnghiêm trọng, chưa nhận thức đúng về mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và khaithác phát triển kinh tế - du lịch Chính vì vậy, việc bảo tồn các giá trị di sản vănhóa để phát triển kinh tế - du lịch là một việc làm cần thiết và cấp bách, nhưngphải tuân thủ những yêu cầu, nguyên tắc: phải tuân thủ Luật Di sản văn hóa,tránh làm tổn hại đến di sản; phải chú trọng đến môi trường, không gian tồn tạicủa di sản và những người kế thừa di sản văn hóa; việc bảo vệ, tôn tạo di sảnphải nhằm mục đích giới thiệu di sản đến với công chúng; đồng thời đẩy mạnhcông tác tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác của người dân trong việc bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa Để thực hiện tốt các nguyên tắc, yêu cầu này, thìviệc học tập bài học kinh nghiệm của thế giới và các địa phương khác trongnước là rất cần thiết, giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu và tránh những sai lầmkhông đáng có

Trang 13

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI CHỨNG MỘT SỐ ĐỀN THỜ Ở VIỆT NAM

2.1 Nhận thức chung về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích ở Việt Nam trong lịch sử

Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa nói chung, đền thờnói riêng không chỉ là một trong những vấn đề cấp bách được đặt ra hiện nay mà

từ lâu đã được cha ông chú trọng và thực hiện có hiệu quả trong quá khứ Điềunày chúng ta có thể thấy rải rác qua những thư tịch cũ Song có lẽ tập trung nhấtvẫn là những bi ký, nhất là văn bia trùng tu di tích

Thời kỳ phong kiến, qua các tư liệu hiện còn cho thấy, từ lâu chúng ta đã có

những công việc tu bổ hay tôn tạo với nhiều cấp độ khác nhau như sơ tu, tiểu tu,

trung tu, trọng tu và đại tu Quan lại được cắt cử trông nom các công trình quan

trọng của nhà nước, các làng xã phân công cắt cử người trông nom các côngtrình địa phương Công việc sửa sang, tu bổ các công trình đặc biệt, công trìnhmang yếu tố tâm linh đã được chú ý, những việc làm này đều theo tinh thần vàđạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Tôn sư trọng đạo” và xuất phát dựa trên nguồnkinh phí quyên góp, nhiều thì trùng tu mở mang, ít thì sửa chữa nhỏ Người xưakhi trùng tu cũng đã chú ý để giữ những phần hay chi tiết còn tốt, nhưng cũngkhông quá câu nệ vào cái đã có trong việc mở rộng thêm không gian cho côngtrình theo cách làm đương đại Những công việc tu sửa thường do các cánh thợtrước đây đã xây dựng công trình thực hiện, nên thường để lại phong cách mộtcách khá thống nhất Mặt khác, do các quy định trong xây dựng và trang trí côngtrình của từng phẩm hàm cũng cho thấy tính thống nhất và liên tục trong cáccông trình khi được sửa chữa hay mở rộng Có thể nói, thời kỳ này, những côngviệc bảo vệ gìn giữ các công trình kiến trúc, đặc biệt là các công trình mang tínhtâm linh như đền miếu được chú ý nhưng cơ sở lý thuyết cho việc xây dựng,phương pháp trùng tu chưa hình thành một cách rõ ràng

Trang 14

Thời kỳ Pháp thuộc, ngoài chính sách bóc lột sức người, khai thác tàinguyên, thực dân Pháp còn có chính sách đồng hóa nền văn hóa bản địa Vì vậy,thời kỳ đầu, người Pháp đã phá đi nhiều công trình có giá trị của Việt Nam Saukhi bình định xong, thực dân Pháp bắt đầu xây dựng một chính sách đô hộ cómàu sắc văn hóa hơn để thực hiện âm mưu chiếm đóng lâu dài ở Việt Nam, bằngcách lập một số trường đại học để đào tạo kiến trúc sư, nghiên cứu về khảo cổ,dân tộc học, ngôn ngữ và văn hóa phương Đông Việc này đã đem lại cách thứcđiều tra ghi chép và lưu giữ tài liệu một cách bài bản hơn Tuy vậy, do chế độbảo hộ nên chính quyền triều Nguyễn không thể phát triển, là giai đoạn đen tốicủa công việc bảo tồn các di sản lịch sử văn hóa, vì vậy không có những côngviệc hay lý luận cho công việc bảo tồn các di tích.

Thời kỳ 1945 – 1954, nhà nước Việt Nam còn non trẻ do vừa giành đượcđộc lập Ngay sau Lễ tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh

số 65 về bảo tồn cổ tích trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nhằm gìn giữ những cổ vật,báu vật quốc gia cũng như bảo vệ các công trình có giá trị lịch sử Khi bước vàocuộc kháng chiến chống Pháp, công tác bảo tồn chưa thể triển khai được Tronggiai đoạn này, ở những đô thị bị Pháp chiếm đóng, các công trình tín ngưỡng bịxâm phạm hoặc phá hủy Những vùng nông thôn do chưa hiểu rõ ý nghĩa vănhóa lịch sử của các công trình mà người ta đã làm hư hại nhiều di tích lịch sửhoặc công trình tôn giáo tín ngưỡng dưới phong trào phản đế trừ phong Nêngiai đoạn này có thể nói công tác bảo tồn không có điều kiện để triển khai được.Thời kỳ 1955 – 1975, thời kỳ đất nước chia thành hai miền Bắc – Nam,miền Bắc vừa xây dựng XHCN vừa chi viện cho miền Nam để đấu tranh cho sựnghiệp thống nhất đất nước Miền Bắc đã xây dựng một kế hoạch lâu dài chocông việc bảo tồn bằng cách cử nhiều cán bộ ra nước ngoài học tập và ban hànhnhững nghị định, nghị quyết hay các văn bản hướng dẫn về công tác bảo tồn,tiêu biểu là Nghị định 519/TTg về việc tu bổ và tôn tạo di tích lịch sử văn hóa.Thực hiện phân cấp quản lý từ nhà nước đến địa phương, cũng như phân cấp xếphạng di tích nhằm nâng cao việc bảo vệ và gìn giữ các di sản kiến trúc lịch sử

Đã có nhiều nghiên cứu, các xuất bản phẩm về bảo tồn

Trang 15

Trong giai đoạn này, do bối cảnh lịch sử nên điều kiện kinh tế chưa chophép triển khai nhiều công tác bảo tồn, nhưng đã có sự chuẩn bị cho công tácbảo tồn sau này phát triển Miền Nam cũng trong điều kiện chiến tranh nên côngtác này cũng không được chú ý,

Thời kỳ sau năm 1975 và đặc biệt từ sau năm 1986, khi Việt Nam thực hiệnchính sách Đổi mới Đây là giai đoạn đất nước phát triển mạnh mẽ trên nhiềulĩnh vực trong đó công tác bảo tồn được triển khai theo các bước khá bài bảnnhư xây dựng các cơ sở pháp lý, bộ máy quản lý, các đơn vị nghiên cứu và thựcthi công tác tu bổ, đồng thời việc đào tạo và hợp tác quốc tế được phát triển.Những cơ sở pháp lý là nền tảng cho việc đẩy mạnh công tác bảo tồn đã đượcchú trọng, với pháp lệnh số 14/LCT-HĐNN năm 1984 về Bảo vệ và sử dụng các

di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; sau đó là Luật Di sản Văn hóađược Quốc hội thông qua năm 2001, cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy côngtác bảo tồn di sản và phát huy giá trị di tích phát triển Sau khi gia nhậpUNESCO, các hiến chương về bảo tồn di sản cũng giúp nâng cao phương phápnghiên cứu và thực thi công việc bảo tồn trong thực tế Trong quá trình thực thicông tác bảo tồn, tuy chưa hình thành các trường phái một cách rõ nét nhưngcách làm khá bài bản từ khâu khảo sát tới đề xuất các giải pháp thực hiện, dựatrên các cứ liệu khoa học và biết kế hợp giữa các phương pháp truyền thống vớiphương pháp hiện đại Tuy còn một số điểm hạn chế, nhưng phải khẳng địnhgiai đoạn này là giai đoạn chuyển hóa tích cực, tạo nền tảng cho việc phát triểnkhoa học bảo tồn di sản sau này

Cùng với sự phát triển của lý thuyết bảo tồn di tích, cách thức tiếp cận đến

di tích càng ngày trở nên rộng hơn và linh hoạt hơn Di tích không nên bảo tồnbằng cách tách biệt nó ra khỏi tự nhiên và sự phát triển, sự thay đổi và vận động

tự nhiên Nói cách khác, bảo tàng hóa di tích là một cách tiếp cận không còn phùhợp nữa Thêm vào đó, công tác bảo tồn không nên còn là công việc riêng củacác nhà chuyên môn nữa mà sự tham gia của cộng đồng càng ngày càng đóngvai trò quan trọng tác động lớn đến hiệu quả của công tác bảo tồn, tôn tạo vàphát huy giá trị di tích

Trang 16

Nắm được bối cảnh bảo tồn của di tích là cơ sở cho các hoạt động bảo tồn,tôn tạo và phát huy giá trị di tích; do đó các yếu tố nội tại và những yếu tố ngoạicảnh tác động lên công trình cần được nghiên cứu và đề cập trước khi đưa ra bất

cứ đề xuất nào cho việc cải thiện công tác quản lý và bảo tồn di tích hiện nay

2.2 Nghiên cứu bài học kinh nghiệm của một số đền thờ tiêu biểu ở Việt Nam

Những trường hợp điển hình đã được lựa chọn và nghiên cứu là: đền NgọcSơn (Hà Nội), đền thờ vua Đinh – vua Lê (Ninh Bình), đền Trần (Nam Định),đền Kiếp Bạc (Hải Dương), đền Quan Hoàng Mười (Nghệ An) nhằm minh họa

rõ hơn tình trạng bảo tồn và quản lý di tích đền thờ ở Việt Nam Những ngôi đềnđược lựa chọn có hình thái kiến trúc đặc trưng khác nhau và tình trạng bảo tồnkhác nhau một cách tương đối

2.2.1 Đền Ngọc Sơn (Hà Nội)

2.2.1.1 Giới thiệu

Đền Ngọc Sơn là một ngôi đền thờ nằm trên đảo Ngọc, nằm phía Bắc hồHoàn Kiếm ở Hà Nội, cách bờ Bắc khoảng 200m, bờ Đông khoảng 50m Hònđảo nhỏ này vốn là một cồn cát của khúc sông Nhĩ Hà (sông Hồng) xưa, có diệntích 2067m2, nhô cao hơn mặt nước 0,7m Đây cũng là một di tích quốc gia đặcbiệt của Việt Nam được xếp hạng đợt 4 (2013)

Các công trình kiến trúc của đền được bố cục liên hoàn theo chiều sâu trênmột địa thế rất đặc biệt Từ ngoài vào gồm: Cổng đền, tháp Bút, đài Nghiên, cầuThê Húc, lầu Đắc Nguyệt, đình Trấn Ba, tiền đường, trung đường, hậu cung.Đền Ngọc Sơn và toàn bộ khu vực hồ Hoàn Kiếm đã được Bộ Văn hoá xếp hạng

là di tích lịch sử và thắng cảnh tại Quyết định số 92/VH/QĐ ngày 10-7-1980.Khắp khu vực thắng tích Ngọc Sơn, một số kiến trúc biểu tượng cho họcvấn và văn chương như Tháp Bút, Đài Nghiên, dần dần được coi là biểu tượngcủa ước vọng thi cử

Trên hồ Tả Vọng (Hoàn Kiếm), ở phía Đông Bắc có một gò đất cao Thờinhà Lý (Lý Thái Tổ) gọi là Ngọc Tượng sơn, thời Trần gọi là Ngọc Sơn Cuốithời Lê trên đảo Ngọc có chùa Ngọc Sơn thờ Phật, bên cạnh có đền Quan Đế.Thời Nguyễn chuyển thành đền Văn Xương đế quân và phối thờ Lã Động Tân

Trang 17

và đặc biệt là thờ Trần Hưng Đạo - một vị thống soái tài ba đã có công lớn trong

sự nghiệp đánh đuổi giặc Nguyên Mông giữ gìn đất nước, ông được vua TrầnNhân Tông phong là Đại vương Trần Hưng Đạo là người trung nghĩa có nghĩakhí cao cả như Quan Thánh nên Ngài được tôn làm “Thượng đẳng thần”, gọi làCửu Thiên Vũ Đế Tượng thần của Ngài được thờ ở gian giữa hậu cung của đền.Văn bia niên hiệu Thành Thái có ghi việc đề cao đạo Nho là: “về phía Đông trênnúi độc tôn xây dựng tháp Bút tượng trưng cho nền văn vật” Để thể hiện tinhthần Nho giáo Việt Nam, Nguyễn Văn Siêu lại viết ba chữ “Tả thanh thiên”nghĩa là viết lên trời xanh ở tháp Bút hàm ý chỉ nền văn hóa Việt Nam võ công,văn tự cũng không sách vở nào ghi lại được mà chỉ viết lên trời xanh thôi Trong

số các pho tượng thờ ở Đền ta không thấy có tượng Khổng Tử nhưng các biểutượng tháp Bút, đài Nghiên, bảng rồng, bảng hổ là hình tượng đề cao đạo Nho.Trong số các công trình kiến trúc của Đền nổi bật và có vị trí đặc biệt là câycầu Thê Húc, một trong những biểu tượng của Hà Nội trong tâm thức người ViệtNam nói riêng cũng như bạn bè trên thế giới nói chung Cây cầu có ý nghĩa lànhịp cầu nối giữa không gian đời thường náo nhiệt bên ngoài với thế giới tâmlinh tĩnh lặng bên trong đảo Ngọc Có lẽ cầu Thê Húc được dựng lên cùng vớiviệc xây dựng các công trình kiến trúc của đền để thuận tiện cho việc qua lại vàtạo cảnh quan cho khu di tích Hình dáng ban đầu là một cây cầu gỗ thẳng từngoài vào, không có lan can, sau những lần tu sửa cây cầu được chỉnh sửa thiết

kế hình cung, chia nhiều nhịp tạo dáng mềm mại, xinh xắn có lan can và trangtrí hoa văn, sơn màu đỏ với ý nghĩa cầu chứa đầy ánh nắng ban mai

Đền Ngọc Sơn và khu hồ Hoàn Kiếm là một di sản quý, một danh lamthắng tích nổi tiếng, hàng năm đón hàng chục nghìn lượt khách tham quan,nghiên cứu, chiêm ngưỡng và lễ bái

2.2.1.2 Bảo tồn và phát huy

Đền hiện nay được xây dựng từ thế kỷ 19 Lúc đầu được gọi là chùa NgọcSơn (玉玉), sau đổi gọi là đền Ngọc Sơn vì trong đền chỉ thờ thần Văn Xương ĐếQuân là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo, vị anhhùng có công phá quân Nguyên thế kỷ 13

Trang 18

Khởi nguyên, khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên ngôi đền đã

có tại đây là Ngọc Tượng, đến đời nhà Trần đổi tên là Ngọc Sơn Thời Trần,ngôi đền để thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiếnchống Nguyên-Mông Về sau lâu ngày đền ấy sụp đổ

Đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang đã dựng cungThụy Khánh và đắp hai quả núi đất ở trên bờ phía Đông đối diện với Ngọc Sơngọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội Cuối đời nhà Lê, cung Thụy Khánh bị Lê ChiêuThống phá hủy Một nhà từ thiện tên là Tín Trai, nhân nền cung cũ đã lập ra một

ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn Bài ký "Đền Ngọc Sơn đế quân" được soạn

năm 1843 vào lúc nhân dịp sửa đền Quan Đế thành chùa Ngọc Sơn có viết:

" Hồ Tả Vọng tên cũ gọi hồ Hoàn Kiếm là một danh thắng đất Kinh kỳ xưa Phía bắc mặt hồ, một gò đất nổi lên rộng khoảng ba bốn sào, tương truyền là chỗ đài câu cá thời cuối Lê Trước đây, ông Tín Trai làng Nhị Khê nhân có đền Quan Đế tại đấy bèn mở rộng sửa sang thêm gọi là chùa Ngọc Sơn ".

Ít năm sau chùa lại nhường cho một hội từ thiện đổi làm đền thờ TamThánh Hội này đã bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính, các dãy phònghai bên, đặt tượng Văn Xương đế quân vào thờ và đổi tên là đền Ngọc Sơn

Theo bài ký "Sửa lại miếu Văn Xương", thì " Hiện nay đền thờ mới đã hoàn

thành, phía trước kề bờ nước, làm đình Trấn Ba, ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn sóng văn hóa Bên tả, phía đông cầu Thê Húc, dựng Đài Nghiên Lại

về phía đông trên núi Độc Tôn, xây Tháp Bút, tượng trưng cho nền văn vật "

Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tusửa lại đền Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh, xây đình Trấn

Ba, bắc một cầu từ bờ Đông đi vào gọi là cầu Thê Húc

Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1947, đạncủa thực dân Pháp đã phá hủy hoàn toàn đình Trấn Ba Đến 1951 – 1952, một sốnhà hảo tâm đã đóng góp công của dựng lại giống như nguyên mẫu (qua các ảnhcũ), các câu đối trên cột đá cũng được phục chế nguyên văn

Dự án bảo tồn, tôn tạo di tích đền Ngọc Sơn được triển khai từ cuối năm

2014, đến nay đã hoàn thành nhiều hạng mục: Tu bổ và phòng chống mối nghi

Trang 19

môn ngoại, cầu Thê Húc, Đắc Nguyệt lâu, am hóa vàng, sân vườn, thảm cỏ câyxanh, cấp thoát nước; Tu bổ, phòng chống mối trấn Ba Đình, tiền tế, trungđường, ống muống, hậu cung, đồ thờ, giải vu (tả - hữu), hành lang (tả - hữu)…mang lại diện mạo kiến trúc, cảnh quan hài hòa cho di tích

Trong những năm qua, công tác quản lý quy hoạch xây dựng khu vực hồHoàn Kiếm đã được các cấp chính quyền quan tâm Đối với các công trình ditích lịch sử, văn hóa trên địa bàn khu vực Hồ như: Tháp rùa, đền Ngọc Sơn, cầuThê Húc… UBND quận cũng đã phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

để bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa như: tăng cường chiếu sáng, duy tu,duy trì, chống xuống cấp công trình nên các công trình ở đây vẫn giữ gìn đượcgiá trị vốn có của nó

Sau khi danh lam thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn trở thành ditích quốc gia đặc biệt, bên cạnh việc quan tâm bảo tồn di tích, các cơ quan chứcnăng còn “bổ sung” cho di tích nhiều giá trị mới Dễ nhận thấy nhất là từ ngày1-9-2016, các tuyến đường Hàng Khay, Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ, Đinh Lễ,Nguyễn Xí… xung quanh hồ Hoàn Kiếm trở thành không gian đi bộ và sinhhoạt văn hóa cộng đồng vào những ngày cuối tuần

2.2.1.3 Bài học kinh nghiệm

a Mặt tích cực:

- Với những giá trị có một không hai, năm 2013, danh lam thắng cảnh hồHoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn (quận Hoàn Kiếm) đã được Thủ tướng Chính phủcông nhận là Di tích quốc gia đặc biệt Bởi vậy, mọi sự tác động nhằm bảo tồn,phát huy giá trị của di tích được các cơ quan, đơn vị chức năng tiến hành cẩntrọng, khoa học và khách quan Tất cả các dự án đều được Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Hà Nội phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng nghiên cứu cẩntrọng, khoa học, khách quan trước khi đề xuất, xin ý kiến Trong quá trình tu bổ,tôn tạo, các đơn vị liên quan luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về trùng tu

di tích Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, các công trình di tích trọng điểmxung quanh hồ Hoàn Kiếm trải qua quá trình tu bổ, tôn tạo không làm sai lệch,

Trang 20

mất đi những giá trị vốn có Ngược lại, các giá trị đó ngày càng được thể hiện rõnét.

- Để nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích,Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội đã thường xuyên thực hiện việc duy tu,bảo dưỡng các công trình kiến trúc, các di vật cổ vật, chỉnh trang tôn tạo cảnhquan và bổ sung hệ thống cây xanh, tạo cho di tích ngày một khang trang, tổchức nghiên cứu chuyên sâu về nội dung giá trị của di tích, phổ biến tuyêntruyền giá trị của di tích bằng nhiều hình thức phong phú nghiên cứu biên soạnphát hành cuốn sách giới thiệu về di tích, in tờ gấp… Ngày nay ai cũng biết đềnNgọc Sơn và khu hồ Hoàn Kiếm là một di tích danh lam nổi tiếng của Thủ đô

Hà Nội Du khách trong và ngoài nước coi đây là một điểm dừng chân khôngthể thiếu trong hành trình đến với Hà Nội đã qua 1000 năm tuổi

- Từ sau khi hình thành tuyến phố đi bộ quanh hồ Hoàn Kiếm vào mỗi dịpcuối tuần, đền Ngọc Sơn trở thành một điểm nhấn, một không gian công cộnghoàn hảo cho tuyến phố Các hoạt động hấp dẫn nhất của phố đi bộ đều được tổchức tại khu vực trước cửa đền Đến đây, người dân và du khách vừa có cơ hộitham quan, tìm hiểu, khám phá các điểm di tích mang dấu ấn Thăng Long - HàNội, vừa được hòa mình vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trò chơi dângian độc đáo do cộng đồng tổ chức

- Tại các điểm di tích xung quanh hồ Hoàn Kiếm, Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch Hà Nội đang thí điểm triển khai các quy tắc ứng xử nơi công cộng.Ngoài hệ thống bảng, biển hướng dẫn du khách thực hiện nghiêm các quy định,

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tạo điều kiện cho du khách mặc trangphục chưa phù hợp đến đền Ngọc Sơn, Bà Kiệu, di tích tưởng niệm vua Lê Thái

Tổ mượn áo choàng trước khi vào tham quan Việc làm này được đông đảo dukhách và người dân ủng hộ, hưởng ứng Lượng khách tham quan khu vực hồHoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn trong năm 2016 và 4 tháng đầu năm 2017 tăngnhiều so với những năm trước đó Năm 2016, riêng đền Ngọc Sơn đón gần 1triệu lượt khách, thu về gần 30 tỷ đồng

b Hạn chế:

Trang 21

- Do vị thế của đền Ngọc Sơn đối với lịch sử văn hóa là rất lớn, hồ sơ tu bổ

di tích quốc gia đặc biệt đền Ngọc Sơn qua nhiều cấp, phải mất 1 năm mới hoànthành Các đơn vị quản lý còn chồng chéo, chưa có sự liên kết Các thủ tục thỏathuận, thẩm định, phê duyệt kéo dài, quy trình phức tạp, nhiều điểm còn chồngchéo; không đáp ứng được nhu cầu quản lý nhà nước tại địa phương

- Các dự án bảo tồn thường chưa được công khai, chưa có sự tuyên truyềnphổ biến cho người dân và cộng đồng, nên chưa nhận được sự đồng thuận củanhân dân

- Việc phát triển du lịch chủ yếu khai thác các tiềm năng sẵn có, chưa cónhiều đầu tư trở lại Sản phẩm du lịch rất hấp dẫn, song việc quảng bá và truyềnthông chưa thống nhất và đồng bộ, nên chúng ta chưa nhìn thấy sản phẩm đặctrưng rõ ràng Hệ thống đồ lưu niệm còn nghèo nàn

2.2.2 Đền vua Đinh – vua Lê (Ninh Bình)

2.2.2.1 Giới thiệu

Đền vua Đinh Tiên Hoàng và đền vua Lê Đại Hành là hai di tích lịch sửvăn hóa cấp Quốc gia thuộc quần thể di tích cố đô Hoa Lư, toạ lạc ở xã TrườngYên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, nằm cách nhau 300m

Đền vua Đinh nằm trên khuôn viên rộng 5ha, thuộc vùng bảo vệ đặc biệtcủa khu di tích Đền được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, quay vềhướng Đông Trước mặt đền là núi Mã Yên có hình dáng giống cái yên ngựa.Trên núi có lăng mộ vua Đinh Đền được xây dựng theo kiểu đăng đối trên trụcthần đạo Bắt đầu từ hồ bán nguyệt và kết thúc ở Chính điện Sau minh đường -

hồ bán nguyệt là bức bình phong Cổng ngoài dẫn vào đền - Ngọ môn quan là bagian lợp ngói Trên vòm cửa cong có hai con lân vờn mây Phía trên cổng là haitầng mái che tám mái Toà thứ hai là Nghi môn (cổng trong) với 3 gian dựngbằng gỗ lim Qua Nghi môn ngoại, dọc theo đường thần đạo đến Nghi môn nội.Các họa tiết trang trí của Nghi môn nội giống như Nghi môn ngoại Đền thờ cóhai lớp cửa vào đền cũng tương tự như hai vòng thành Hoa Lư xưa Đi hết chínhđạo, qua hai trụ cột lớn là đến sân rồng Giữa sân rồng có một long sàng bằng đáchung quanh chạm nổi Hai bên sập rồng có hai con nghê đá chầu, được tạc trên

Trang 22

hai tảng đá xanh nguyên khối Phía sau long sàng là điện thờ Vua Đinh TiênHoàng, gồm Bái đường, Thiêu hương và Chính điện

Chính điện có 5 gian Ngai thờ Vua Đinh Tiên Hoàng được đặt ở chínhgiữa, sơn son thếp vàng Ngai được đặt trên bệ với tượng rồng tạc giống nhưrồng nơi long sàng Tượng Vua Đinh Tiên Hoàng được đúc bằng đồng đặt trên

bệ thờ bằng đá xanh nguyên khối Hai bên bệ đá có hai con rồng chầu, tạc theokiểu yên ngựa Gian bên phải thờ tượng thái tử Hạng Lang và Đinh Toàn, là haicon thứ của Vua Gian bên trái thờ tượng Nam Việt Vương Đinh Liễn, là contrưởng của vua Đền Đinh Tiên Hoàng là một công trình kiến trúc độc đáo trongnghệ thuật chạm khắc gỗ dân gian thế kỷ XVII; là công trình nghệ thuật đặc sắcvới nhiều cổ vật quý hiếm được bảo tồn, như gạch xây cung điện có khắc chữ

Đại Việt quốc, cột kinh Phật khắc chữ Phạn, các bài bia ký…

Đền vua Lê được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, nhưng có quy mô nhỏhơn đền Vua Đinh Qua Nghi môn ngoại (cửa ngoài) 3 gian là đường chính đạolát gạch Bên trái là một hòn non bộ lớn, cao 3m tượng hình chim phượng múa,

mỏ quay vào đền Bên phải là nhà Tiền bái, ở mặt tiền có hòn non bộ "Hổ phục"với gốc cây duối tuổi thọ trên 300 năm Bên trái nhà Tiền bái là hòn non bộ códáng "voi quỳ" được khắc hai chữ Hán "Bất di" Nghi môn nội (cửa trong) cũng

3 gian, hai bên có hai vườn hoa, tiếp đó là hai dãy Nhà vọng Ở giữa vườn hoabên phải có hai non bộ "Phượng ấp", bên trái là hòn non bộ "Long Mã" Ở sânrồng gần gian giữa của Bái đường có long sàng bằng đá Ðền có ba toà: Báiđường, Thiêu hương thờ Phạm Cự Lượng Gian giữa Chính điện thờ Lê Hoàn,bên phải là tượng Lê Long Đĩnh quay về hướng Bắc, bên trái là tượng hoànghậu Dương Vân Nga quay hướng Nam, về phía đền vua Đinh Gian bên tráiChính điện thờ công chúa Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê và Dương Vân Ngađồng thời là vợ của Lý Thái Tổ sau này Cũng như Đền vua Đinh Tiên Hoàng.Đền vua Lê Đại Hành là một công trình kiến trúc độc đáo trong nghệ thuật chạmkhắc gỗ dân gian độc đáo thế kỷ XVII

2.2.2.2 Bảo tồn và phát huy

Trang 23

Khu di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư với trọng tâm là đền vua Đinh– vua Lê có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân tỉnhNinh Bình nói riêng, cả nước nói chung, Do vậy các công trình văn hoá, du lịchnằm trong khu vực Cố đô Hoa Lư này luôn được các triều đại, các cấp chínhquyền coi đó là một trong những vùng bảo vệ đặc biệt và được quan tâm, tíchcực chỉ đạo tu bổ, tôn tạo các hạng mục hạ tầng liên quan.

Bảng 3.1 Quá trình trùng tu, tôn tạo đền vua Đinh – vua Lê ở Ninh Bình Niên đại Sự kiện Chỉ đạo và thi

công

Giá trị kiến trúc và nghệ thuật

968 (Mậu

Thìn)

Đinh Bộ Lĩnhxưng hoàng đế,định đô Hoa Lư,cho xây cungđiện

Ông Ninh HữuHưng vừa là kiếntrúc sư vừa là thợ

cả trong côngcuộc xây dựngkinh đô

Tất cả các cung điệnkhông còn đến ngàynay

Ông Ninh HữuHưng lại đượctriệu ra làm kiếntrúc sư kiêm thợcả

Tất cả các cung điệnkhông còn đến ngàynay

Khai quật được nhiềuhiện vật khảo cổ

Các cung điện đều bị

dỡ hết để dời ra kinh

đô mới

Sau 1010 Xây 2 đền Đinh –

Lê trên nền cungđiện cũ, quayhướng Bắc

Không rõ vì sửsách không ghilại

Cả 2 đền thờ ban đầunày đều không còn

Cả 2 ngôi đền đềuquay hướng đông như

Trang 24

Có lẽ quy hoạch đạithể của 2 đền Đinh –

Lê được xác định từthời gian này

Quận công BùiThời Trung chỉđạo và tổ chức thicông

Soạn bia: tiến sĩ

Thượng thư BộHình, Tế tửuQuốc tử giám

Bia đá, có rùa đội bia

và nhiều hoa vănchạm nổi trên trán –diềm bia

1608 (cùng

năm)

Dựng bia cổ nhấtđền vua Lê

Cũng do tiến sĩNguyễn Lễ soạnbia

Bia đá lớn nhất trongquần thể di tích, córùa đội bia, rồngchạm nổi

Quận công BùiThời Trung chỉđạo và tổ chức thicông

Văn bia do tiến sĩNguyễn Lễ soạn,Làm 3 pho tượngvua và thái hậu

Bia đá chạm nổi hoavăn ghi việc tạc tượng

Trang 25

Sử sách khôngghi lại

Phỏng đoán cácchạm gỗ cổ nhất trên

vì kèo của đền Lêđược làm dịp này

phong Thượngđẳng thần

Chủ trì ông LụcCao, soạn bia tiến

sĩ họ Nguyễn, thợđục đá người xã

An Hoạch (ThanhHóa)

Bia đẹp nhất đềnĐinh

Phỏng đoán sập đá,rồng đá, nghê đá vàchạm gỗ trên vì kèolàm năm 1696

Quan tỉnh TrầnVăn Trung điềuhành

Không rõ kiến trúcnào trong đền đượctrùng tu dịp này

Lăng vua Đinh xâyđơn giản trên núi MãYên

Chương chủ trì,nho sỹ Phạm ThìHuệ soạn bia

Bia không có rùa đội

mà có bệ và nắpChạm gỗ vì kèoThiêu hương đềnĐinh phong cáchNguyễn

Nửa cuối thế

kỷ 19

Đúc tượng ĐinhTiên Hoàng bằngđồng

Ông Hậu Tề tổchức đúc tượng

Tượng mang phongcách Nguyễn, sau sơnthếp

cổ bồng

Ông Bá Kếnh góptiền của, chỉ đạothi công

Kê cao đền vua ĐinhChạm nổi nhiều đồ

án trang trí

2001 – 2003

(Tân Tỵ - Quý

Sơn thếp toàn bộkhung kiến trúc

Công ty Mỹ thuậtTrung Ương và

Nội thất lộng lẫy hơnCác chạm khắc nổi

Trang 26

Mùi) gỗ của hai đền ông Nguyễn

2013 Lập dự án tu bổ 2

đền

Công ty TNHHKiến trúc HoàngĐạo

Tu bổ Đền vua Đinh(đền chính, Nghi mônngoại - nội, Hậu cungnhà Khải Thánh, nhàtrưng bày, nhà bia,cổng); tu bổ Đền vua

Lê (đền chính, Nghimôn ngoài, Nghi mônnội, Tả vu, Hữu vu,nhà Từ Vũ, Nhà BQL,nhà bia); tôn tạo sânvườn và hạ tầng kỹthuật di tích

Thực hiện quyết định số 82/2003/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ViệtNam, tỉnh Ninh Bình đã tập trung các dự án tu tạo cố đô Hoa Lư Đó là việchoàn thành cổng Đông từ ngã 3 cầu Huyện vào cố đô Khu vực trung tâm cố đô

đã xây dựng 3 cửa Bắc, Đông, Nam Các dự án 1000 năm Thăng Long như: Xâydựng quảng trường và tượng đài Đinh Tiên Hoàng Đế; dự án xây dựng quảngtrường - sân lễ hội phía trước đền thờ vua Đinh, vua Lê; đầu tư tu bổ, nhiều dự

án tôn tạo di tích Cố đô Hoa Lư như đền thờ Công chúa Phất Kim, phủ VườnThiên, chùa Nhất Trụ đã hoàn thành Các hạng mục đang thực hiện như chùaKim Ngân, động Am Tiên, đền Bim, xây dựng hệ thống giao thông, tường bao,hào nước quanh vùng bảo vệ đặc biệt và đền thờ Vua Lý Thái Tổ Các di tíchdanh thắng Tràng An, chùa Bái Đính, tượng đài vua Lê Đại Hành, thái hậuDương Vân Nga đều được triển khai xây dựng Tỉnh Ninh Bình cũng phối hợpvới Viện khảo cổ học Việt Nam khai quật di tích khảo cổ học đã phát lộ khu vực

Trang 27

tường thành của cố đô xưa với nhiều hiện vật có giá trị lịch sử hàng nghìn nămtuổi như gạch ngói, đồ gốm, vật dụng của thời đại Đinh – Lê tạo điều kiện tiền

để để phục dựng cung điện Hoa Lư Khu vực cổng thành đã xây dựng cây cầumới ốp đá, nạo vét sông Sào Khê dài hơn 3 km là nơi mô phòng hành trình dời

đô về Thăng Long

Cố đô Hoa Lư là một trong những đại diện đầu tiên của Việt Nam đượcchọn để ứng cử di sản văn hóa thế giới Với những giá trị lịch sử, văn hóa vàkhoa học đặc biệt của khu di tích, năm 2012 Thủ tướng Chính phủ đã Quyếtđịnh xếp hạng Khu Di tích Lịch sử - Văn hóa Cố đô Hoa Lư là Di tích Quốc giađặc biệt Đây còn là một trong 3 khu vực hợp thành quần thể danh thắng Tràng

An, đã được UNESCO chính thức ghi danh vào danh mục Di sản Thế giới năm2014

Để bảo tồn và phát huy tốt các giá trị di tích, thời gian qua Trung tâm bảotồn Di tích Lịch sử - Văn hóa Cố đô Hoa Lư đã triển khai nhiều giải pháp nhằmnâng cao nhận thức, vai trò, vị trí của di tích trong các tầng lớp nhân dân Trên

cơ sở kế hoạch chỉ đạo của Ban quản lý quần thể danh thắng Tràng An, Trungtâm bảo tồn Di tích Lịch sử - Văn hóa Cố đô Hoa Lư đã đẩy mạnh công tác tác

xã hội hóa các hoạt động bảo tồn di tích, phối hợp với chính quyền địa phươngchú trọng tuyên truyền giáo dục truyền thống cho nhân dân, du khách nâng cao ýthức giữ gìn vệ sinh môi trường xanh, sạch đẹp, không phá đá, chặt cây Trungtâm đã chú trọng nâng cao ý thức cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, nhất lànâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ cho đội ngũ thuyếtminh, phong thái ngày càng chuyên nghiệp hơn Đồng thời, làm tốt công táctuyên truyền đối với những người phục vụ du lịch, nhân dân địa phương thựchiện nếp sống văn minh du lịch, tạo ấn tượng cho du khách về thăm quan chiêmbái

2.2.2.3 Bài học kinh nghiệm

a Mặt tích cực:

- Lễ hội Trường Yên đã tái hiện lại toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của vuaĐinh Tiên Hoàng, từ thuở thơ ấu đến khi khai quang đế nghiệp Lễ hội thể hiện

Trang 28

truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và lòng kính trọng đối với bậc tiền nhân

đã có công dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất giang sơn về một mối, xây dựng nênnhà nước quân chủ trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam Lễ hội còn có vaitrò đặc biệt trong đời sống tinh thần của cộng đồng, đem lại những giá trị tíchcực cho bản thân mỗi người dân và là niềm tự hào của người dân Mọi ngườiđến với lễ hội đều mong muốn những điều tốt đẹp nhất đến với mình, gia đình

và làng xóm…Bên cạnh đó, lễ hội chứa đựng nhiều thông tin sử liệu quan trọng,góp phần làm rõ một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam, khẳng định bản lĩnh dântộc qua từng thời kỳ lịch sử

- Để bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Hoa Lư, bên cạnh việc pháthuy vai trò, trách nhiệm của các cấp chính quyền thì vai trò của cộng đồng dân

cư địa phương là cấp thiết và có ý nghĩa thiết thực Giải pháp được huyện Hoa

Lư đưa ra là: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộngđồng dân cư về giá trị các di sản văn hóa; về trách nhiệm để xây dựng môitrường văn hóa lành mạnh Tranh thủ các kênh thông tin, đa dạng hóa các hìnhthức tuyên truyền, phát huy hiệu quả hệ thống phát thanh ở cơ sở, cổng thông tinđiện tử Phối hợp với cơ quan xuất bản, quảng bá tuyên truyền qua các cuốnsách, tập gấp để trưng bày hoặc bán ở các điểm du lịch trong và ngoài tỉnh Khu

di tích Đền thờ Vua Lê Đại Hành – đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng từ xưa tới nayluôn được nhân dân trong thôn, chính quyền và nhân dân trong xã quan tâm bảo

vệ Các trường học thường kết hợp với ban quản lý di tích, đưa học sinh đếnthăm quan, làm vệ sinh, tìm hiểu về di tích

- Cùng với các cấp, các ngành của tỉnh, huyện Hoa Lư tổ chức kiện toàn,nâng cao trách nhiệm của bộ máy quản lý lại các khu, điểm di tích và du lịch,nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước Xây dựng đội ngũ cán

bộ có tâm huyết, trình độ và năng lực chuyên môn, kiến thức pháp luật về di sản.Thực hiện tốt công tác phối hợp giữa chủ sở hữu với tổ chức hoặc cá nhân đượcgiao quản lý di tích và du lịch Tăng cường công tác quản lý lễ hội gắn với côngtác thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo Phối hợp với các cơ quan

có liên quan để thực hiện việc sưu tầm, kiểm kê, lập hồ sơ di sản Đồng thời

Trang 29

nghiên cứu, biên soạn, phát hành các tài liệu, ấn phẩm về các di sản văn hóa.Thực hiện công tác sưu tầm di sản phi vật thể bằng các hình thức quay phim, ghi

âm, chụp ảnh, in đĩa, quản lý bằng công nghệ thông tin, tổ chức các cuộc thi tìmhiểu về truyền thống lịch sử văn hóa, về giá trị các di tích lịch sử, danh lamthắng cảnh và lễ hội Tranh thủ đẩy mạnh việc liên kết với các sở, ngành, các tổchức xã hội, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để đẩy mạnh liên kết vùngtrong việc quảng bá và xúc tiến du lịch

- Bổ sung, hoàn chỉnh các chế tài đủ mạnh trong việc xử lý nghiêm cáchành vi vi phạm trong lĩnh vực văn hóa và du lịch Kịp thời khen thưởng, độngviên các tổ chức, cá nhân trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản vănhóa, phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáo tại các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo.Làm tốt công tác xã hội hóa để huy động các nguồn lực xã hội trong việc trùng

tu, tôn tạo các di tích Khai thác kinh nghiệm, các tập tục cổ truyền tốt đẹp, kiếnthức về tổ chức lễ hội, nghệ thuật trình diễn dân gian từ cộng đồng, góp phầnlàm phong phú thêm giá trị di sản văn hóa

b Hạn chế:

- Nhiều hoạt động, do năng lực cán bộ còn yếu, chưa có sự hỗ trợ từ giớichuyên môn, nên việc tu bổ di tích còn nhiều thiếu sót Chẳng hạn, phần sơnthếp lên các cấu kiện gỗ được thực hiện làm cho bề mặt cấu kiện trở lên bóng,đôi chỗ màu sắc bị tươi, không phù hợp với không gian của đền

- Hiện nay, địa phương vẫn chưa làm tốt công tác phát huy các giá trị củacác di tích lịch sử văn hóa sẵn có để thu hút du khách ở lại tham quan, tìm hiểu,khám phá Đồng thời, lượng khách đông cũng có những tác động ngược lại nhấtđịnh nếu cơ quan quản lý không có chiến lược phát triển đúng đắn sẽ làm ảnhhưởng đến tính nguyên vẹn của các điểm di tích lịch sử văn hóa Như vậy, nếukhông phát huy được giá trị của các di tích lịch sử văn hóa của tỉnh trong quátrình phát triển du lịch, không gian du lịch của tỉnh sẽ bị phá vỡ Đồng thời, nếukhông có những giải pháp phát huy kết hợp với công tác bảo tồn, gìn giữ thì giátrị của các di tích lịch sử văn hóa cũng sẽ bị ảnh hưởng trong guồng quay củangành du lịch

Trang 30

2.2.3 Đền Trần (Nam Định)

2.2.3.1 Giới thiệu

Đền Trần là một quần thể đền thờ tại đường Trần Thừa, phường LộcVượng, TP Nam Định (sát quốc lộ 10), là nơi thờ các vua nhà Trần cùng cácquan lại có công phù tá nhà Trần Đền Trần được xây dựng từ năm 1695, trênnền Thái miếu cũ của nhà Trần đã bị quân Minh phá hủy vào thế kỷ XV

Đền Trần bao gồm 3 công trình kiến trúc chính là đền Thiên Trường (đềnThượng), đền Cố Trạch (đền Hạ) và đền Trùng Hoa Trước khi vào đền, phải qua

hệ thống cổng ngũ môn Trên cổng ghi các chữ Hán Chính nam môn (正正正

-cổng chính phía nam) và Trần Miếu (正正 - Miếu thờ nhà Trần) Qua -cổng là một

hồ nước hình chữ nhật Chính giữa phía sau hồ nước là khu đền Thiên Trường.Phía Tây đền Thiên Trường là đền Trùng Hoa, phía Đông là đền Cố Trạch

Cả ba đền đều có kiến trúc chung, và quy mô ngang nhau Mỗi đền gồm tòatiền đường 5 gian, tòa trung đường 5 gian và tòa chính tẩm 3 gian Nối tiềnđường và trung đường là kinh đàn (thiêu hương) và 2 gian tả hữu

2.2.3.2 Bảo tồn và phát huy:

Theo sử liệu, miếu thờ nhà Trần đã có trước năm Tân Mão (1231) và chínhTrần Thái Tông đã về làm lễ vào tháng 8 năm ấy, ban yến tiệc cho các bô lão

trong hương Theo Nam Mặc miếu trạch bi ký niên hiệu Duy Tân thứ 9 (1915)

thì khoảng năm Thiên Ứng Chính Bình (1232 – 1250) Phùng Vương (Phùng TáChu) về tạo dựng Trần Miếu trên nền cũ của nhà thờ họ Trần

Năm 2000, nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội, nhờ sự trợgiúp một phần kinh phí của UBND thành phố Hà Nội, đền Trùng Hoa đã đượcUBND tỉnh Nam Định đầu tư xây dựng Đây là ngôi đền liên tưởng đến cungTrùng Hoa, nơi ngự của các vua tại vị mỗi khi về chầu Thượng hoàng ở ThiênTrường Với ý nghĩa đó, đền Trùng Hoa cũng là nơi tưởng niệm các vua Trần

Đại Việt sử ký toàn thư quyển V kỷ nhà Trần chép rằng: “Nhâm Tuất

(Thiệu Long) năm thứ 5 (1262) Mùa xuân, Tháng hai, Thượng Hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc Đổi hương Tức Mặc thành phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi

về chầu, gọi là cung Trùng Hoa ” Như vậy, kể từ năm 1262, cùng với việc

thăng làng Tức Mặc thành phủ Thiên Trường, các vua Trần đã cho xây dựng ở

Trang 31

cố hương nhiều đền đài, cung điện để phục vụ cho chế độ Thượng Hoàng Hànhcung Thiên Trường với trung tâm là cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa Baobọc xung quanh là cả một hệ thống dinh thự của các quan lại, quý tộc của triềuđình Phủ Thiên Trường với hạt nhân là Tức Mặc đã trở thành một trung tâmquyền lực lớn thứ hai sau Kinh đô Thăng Long, một khu vực hành chính đặc biệttrực thuộc triều đình Trung ương cùng quản lý và điều hành đất nước Không chỉ

có vậy, Hành cung Thiên Trường / Phủ Thiên Trường còn là hậu cứ quan trọngtrong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên của Đại Việt ở thế kỷXIII-XIV

Trải qua nhiều biến cố, tôn thất nhà Trần ly tán, phiêu bạt; đến đầu thế kỷ

XV, Lê Lợi tổ chức kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi, tình hình nước nhà

ổn định, con cháu họ Trần ở Tức Mặc hồi hương tạo dựng cuộc sống Ban đầu

có 4 phái tộc họ Trần gồm: Trần Huy, Trần Xuân, Trần Thế và Trần Đăng về ởcác khu Khang Kiện, khu Bái, khu Động Kính, về sau con cháu họ Trần ngàymột đông thêm Khi đã ổn định cuộc sống và có điều kiện thuận lợi họ Trần đãxây dựng “Trần Miếu” trên khu vực cung điện cũ để tưởng nhớ công lao củaTiên tổ và các bậc Đế vương, đó là năm Chính Hòa thứ 15 (1694), như trong

“Trần thị đại tông từ đường” có ghi Nhưng kiến trúc của thời kỳ này cũng chỉcòn tồn tại rất ít cấu kiện, trong đó có ngạch ngưỡng và bộ cánh cửa chạm lưỡnglong chầu nguyệt Công trình mở rộng vào niên hiệu Long Đức thứ hai (1733)cũng không còn nhiều dấu tích

Sang thời Nguyễn, đền Trần được trùng tu dưới thời Tự Đức ngũ niên(1852), rồi Tự Đức Mậu Thìn (1868) được cải tạo mở mang thêm cũng khôngcòn nguyên vẹn Nhưng kiểu dáng kiến trúc, phong cách vẫn giữ dấu ấn văn hóathời Nguyễn Con cháu họ Trần dưới triều vua Thành Thái và đầu niên hiệu DuyTân (cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX) đã tôn tạo Thượng miếu, phục dựng Hạmiếu, làm thêm cổng ngõ, hồ nước mặt tiền, ngũ môn… Khiến tổng thể khu vựchài hòa đẹp mắt, tạo một bình diện tòa ngang dãy dọc ẩn hiện dưới bóng cây,quy mô hiện còn như ngày nay

Trang 32

Năm 1962 trong quyết định của Bộ Văn hóa xếp hạng chính thức đợt I ditích danh thắng toàn miền Bắc, đền Thiên Trường và đền Cố Trạch đã được Nhànước xếp hạng cấp Quốc gia.

Năm 2000, đền Trùng Hoa được xây trên nền cung Trùng Hoa xưa - nơi cácđương kim hoàng đế nhà Trần về tham vấn các vị Thái Thượng hoàng

Theo Quyết định 252 năm 2005 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Quy

hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích lịch sử-văn hóa thời Trần tại tỉnh Nam Định đến năm 2015, khu vực quy hoạch có tổng diện tích

1.984 ha, thuộc địa bàn TP Nam Định và huyện Mỹ Lộc Được chia thành 2phân khu, gồm vùng bảo tồn đặc biệt (669ha), vùng bảo tồn riêng biệt (1.315ha) Tổng mức đầu tư được phê duyệt thực hiện dự án đến nay là 991 tỷ đồng.Sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ngày 22-5-2006, UBNDtỉnh Nam Định đã phê duyệt dự án thành phần khai quật thăm dò khảo cổ tạiđây Theo đó, trong các năm 2006, 2007, 2008, Viện Khảo cổ phối hợp với một

số cơ quan hữu quan đã thực hiện 3 đợt khai quật khảo cổ học Trong giai đoạn I(2008-2012), Nam Định tiến hành trùng tu, tôn tạo 13/26 điểm di tích, đồng thờixây dựng và nâng cấp một loạt tuyến đường giao thông phục vụ khu di tích nhưđường N1, N2, N3, E4, N2-1, C8, N5

Trước đó, vào năm 2007, khu trung tâm lễ hội này đã được UBND tỉnhNam Định phê duyệt Quy hoạch chi tiết, rộng 105 ha, trong đó có việc phụcdựng hành cung Thiên Trường Tuy nhiên, quy hoạch này không nhận đượcnhiều ý kiến thống nhất, nhất là việc nên hay không thực hiện việc phục dựnghành cung Thiên Trường Hiện tại việc triển khai quy hoạch đã phải tạm dừng đểchờ điều chỉnh Và, để điều chỉnh được quy hoạch, tỉnh vẫn đang phải chờ thêmkết quả từ công tác khảo cổ…

Được biết, kể từ khi có quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ đếnnay, tỉnh Nam Định đã tiến hành triển khai 3 nhóm dự án trùng tu, tôn tạo Baogồm, nhóm dự án bảo tồn, tôn tạo quần thể di tích lịch sử văn hóa thời Trần;nhóm dự án xây dựng cảnh quan bảo vệ khu di tích và các công trình phục vụ lễhội (đang tạm dừng); nhóm dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật kết nối khu trungtâm Đền Trần - Chùa Tháp Phổ Minh với các di tích liên quan Dù đã tiêu tốn tới

460 tỷ đồng, chủ yếu từ nguồn cấp của Trung ương trong tổng số 991 tỷ đồng

Ngày đăng: 25/10/2022, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Di sản văn hóa, bảo tồn và trùng tu, Hoàng Đạo Kính, NXB VHTT, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa, bảo tồn và trùng tu
Tác giả: Hoàng Đạo Kính
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 2002
2. Trần miếu – di sản và tín ngưỡng dân gian, Hồ Đức Thọ, NXB Văn hóa thông tin, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần miếu – di sản và tín ngưỡng dân gian
Tác giả: Hồ Đức Thọ
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2006
3. Bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, Nguyễn Khắc Minh, TC Di sản văn hóa, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc
Tác giả: Nguyễn Khắc Minh
Nhà XB: Tạp chí Di sản văn hóa
Năm: 2006
4. Bảo tồn di sản kiến trúc và đô thị, Phạm Đình Việt, NXB KHKT, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản kiến trúc và đô thị
Tác giả: Phạm Đình Việt
Nhà XB: NXB KHKT
Năm: 2008
5. Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn, Nguyễn Vinh Phúc, NXB Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn
Tác giả: Nguyễn Vinh Phúc
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
6. Đồ án trang trí mỹ thuật ở hai đền vua Đinh – vua Lê (Hoa Lư – Ninh Bình), Lê Văn Thao, NXB Thế giới, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ án trang trí mỹ thuật ở hai đền vua Đinh – vua Lê (Hoa Lư – Ninh Bình)
Tác giả: Lê Văn Thao
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2012
7. Đề án “Xây dựng mô hình tổ chức lễ hội đền Trần (Nam Định)”, Viện VHNT Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Xây dựng mô hình tổ chức lễ hội đền Trần (Nam Định)
Nhà XB: Viện VHNT Việt Nam
Năm: 2012
8. Lịch sử kiến trúc Việt Nam, Vũ Tam Lang, NXB Xây dựng, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Vũ Tam Lang
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2012
9. Bảo tồn di tích trong bối cảnh hiện nay, Nguyễn Viết Cường, TC Di sản văn hóa, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích trong bối cảnh hiện nay
Tác giả: Nguyễn Viết Cường
Nhà XB: TC Di sản văn hóa
Năm: 2014
10. Lịch sử kiến trúc Việt Nam, Tôn Đại, Nguyễn Quốc Thông, Nguyễn Quang Minh, Đỗ Thu Vân, NXB Khoa học & kỹ thuật, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Tôn Đại, Nguyễn Quốc Thông, Nguyễn Quang Minh, Đỗ Thu Vân
Nhà XB: NXB Khoa học & kỹ thuật
Năm: 2015
12. Website BQL khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Website BQL khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc
13. Website bộ môn Kiến trúc công nghệ - ĐH Xây dựng Khác
14. Website bộ môn Lý thuyết và lịch sử kiến trúc – ĐH Xây dựng Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w