1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bao cao chuyen mon 1 gia tri lich su van hoa cua den tho

116 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tạo thành hiện tượng tín ngưỡng, tâmlinh độc đáo.Thanh Hóa là một vùng văn hóa dân gian đa dạng, lại là vùng đất có vịthế đặc biệt trong lịch sử - văn hóa Việt Nam, là nơi tụ cư từ rất s

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO & DU LỊCH

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHUYÊN MÔN

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA

CỦA HỆ THỐNG ĐỀN THỜ Ở THANH HÓA

ĐỀ TÀI KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ CẤP TỈNH NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA HỆ THỐNG ĐỀN THỜ Ở THANH HÓA

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Người thực hiện: TS Lê Thị Thảo

THANH HÓA, 2017

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 4

KHÁT QUÁT VỀ HỆ THỐNG ĐỀN THỜ Ở THANH HÓA 4

1.1 Cơ sở hình thành 4

1.2 Hệ thống đền theo phân cấp quản lý nhà nước ở Thanh Hóa 11

CHƯƠNG 2 33

ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA HỆ THỐNG ĐỀN THỜ Ở THANH HÓA 33

2.1 Thời gian xây dựng đền thờ ở Thanh Hóa 33

2.2 Hệ thống thần linh được thờ phụng 34

2.3 Hệ thống sử liệu trong các đền thờ 41

2.4 Đặc điểm kiến trúc của hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa 47

2.5 Nghệ thuật chạm khắc tại đền thờ ở Thanh Hóa 54

2.6 Lễ hội tại đền thờ 69

CHƯƠNG 3 92

MỘT SỐ ĐỀN THỜ TIÊU BIỂU Ở THANH HÓA 92

3.1 Đền thờ Bà Triệu 92

3.2 Đền thờ Trần Khát Chân 98

3.3 Đền Độc Cước 101

3.4 Đền thờ Lê Hoàn 103

3.5 Đền thờ Lý Thường Kiệt 105

3.6 Thái miếu nhà Hậu Lê 106

3.7 Đền Đồng Cổ 108

3.8 Đền thờ Trần Hưng Đạo 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 3

MỞ ĐẦU

Lịch sử đã để lại trên đất Thanh Hóa một hệ thống đền thờ dày đặc vớinhiều giá trị độc đáo Theo số liệu thống kê của Trung tâm Bảo tồn Di sản vănhóa Thanh Hóa, toàn tỉnh Thanh Hóa có hơn 4.000 di tích, nhiều di tích đã đượcxếp hạng (145 di tích cấp quốc gia, trong đó có 3 di tích cấp quốc gia đặc biệt,

647 di tích cấp tỉnh) Mặc dù chưa có con số thống kê chính xác, nhưng có thểkhẳng định loại hình đền thờ chiếm một tỷ lệ lớn trong số các di tích ở ThanhHóa Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong các loại hình di tích kiến trúc ở xứThanh thì đền thờ là loại hình đặc biệt có nhiều giá trị độc đáo Điều này đượcgiải thích bởi vị trí trọng yếu và những sự kiện lịch sử, chính trị sôi động đã từngdiễn ra trên vùng đất này

Đền thờ Thanh Hóa gắn với một hệ thống thần linh phong phú, biểu hiệnđời sống sinh hoạt tâm linh đa dạng của cộng đồng cư dân Đó là các nhân vậtkhổng lồ có sức mạnh phi thường xẻ núi lấp sông (ông Vồm, ông Bưng, ông TuNưa ), các vị Thánh Cao Sơn Đại vương, Tứ Vị Thánh Nương, Thánh Lưỡng,Thánh Bưng, những vị thần bảo trợ dân làng cùng hàng trăm vị Thành Hoàngnửa huyền thoại, nửa lịch sử, những nhân vật lịch sử như Bà Triệu, Dương ĐìnhNghệ, Lê Hoàn, Lê Phụng Hiểu, Lê Lợi, Trần Khát Chân

Ngôi đền còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu của cộngđồng như thần tích, huyền thoại, tục ngữ, ca dao, lễ tục, lễ hội, diễn xướng dângian, văn hóa ẩm thực, các nghi lễ, "hèm" gắn với các nhân vật được thờphụng Đặc biệt, những nghi lễ, "hèm" nhiều khi chưa được nghiên cứu, giảithích rõ tạo nên những lúng túng trong công tác quản lý hay những hiểu nhầmtrong cộng đồng

Nhiều lễ hội gắn với đền thờ ở Thanh Hóa đã vượt ra khỏi phạm vi củalàng trở thành lễ hội của cả vùng, thu hút không chỉ người dân trong tỉnh mà cả

du khách ngoài tỉnh và nước ngoài tham dự

Ngoài ra, mỗi kiểu kiến trúc đền hay đồ thờ, tượng thờ, các mảng chạmkhắc trong đền đều mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, biểu hiện tư duy liên tưởngcủa người đương thời kết hợp với bàn tay tài hoa của người thợ chạm khắc đá,

gỗ, đồng xứ Thanh đã được ca ngợi trong lịch sử

Trang 4

Không chỉ là những cơ sở thờ tự đơn lẻ của xóm, làng hay của vùng, đềnthờ ở Thanh Hóa được bố trí thành các tuyến dài: Cao Sơn tôn thần 414 điểm;Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương Thượng đẳng thần 94 điểm, TôĐại Liêu tôn thần 73 điểm, Đông Hải tôn thần (Nguyễn Phục) 72 điểm, Đô BácTrịnh Phủ Quân tôn thần 71 điểm, Nguyệt Nga công chúa tôn thần 67 điểm,Tham xung tá quốc tôn thần 57 điểm tạo thành hiện tượng tín ngưỡng, tâmlinh độc đáo.

Thanh Hóa là một vùng văn hóa dân gian đa dạng, lại là vùng đất có vịthế đặc biệt trong lịch sử - văn hóa Việt Nam, là nơi tụ cư từ rất sớm của ngườiViệt cổ, là nơi phát tích của nhiều vua, chúa, là vùng đất của thân vương, quýtộc, là nơi diễn ra nhiều trận quyết chiến trong lịch sử chống giặc ngoại xâm haygiữa các tập đoàn phong kiến Việt Nam nên hệ thống đền thờ ở Thanh Hóamang những đặc điểm độc đáo, vừa thể hiện bản sắc văn hóa vùng, vừa hội nhậpmạnh mẽ vào dòng chảy chung của lịch sử - văn hóa Việt Nam

Tuy nhiên, công tác bảo tồn, phát huy giá trị của hệ thống đền thờ ThanhHóa hiện nay còn nhiều hạn chế Việc nghiên cứu về đền thờ Thanh Hóa mớichỉ dừng lại ở việc kiểm kê, mô tả tổng quan Trong khi đó những giá trị đặc biệt

về lịch sử, kiến trúc, điêu khắc, cảnh quan, đối tượng thờ cúng, các nghi lễ

"hèm" trong đền thờ chưa được giải mã đầy đủ và có hệ thống Chính vì vậytrong công tác trùng tu, tôn tạo còn gặp nhiều lúng túng, dẫn tới sai phạm, làmbiến dạng di tích

Báo cáo chuyên môn: "Nghiên cứu giá trị lịch sử - văn hóa của hệ thốngđền thờ ở Thanh Hóa" sẽ góp phần tạo cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề trên

Trang 5

CHƯƠNG 1 KHÁT QUÁT VỀ HỆ THỐNG ĐỀN THỜ Ở THANH HÓA

1.1 Cơ sở hình thành

1.1.1 Vị trí của Thanh Hóa trong lịch sử, văn hóa Việt Nam

Theo GS Trần Quốc Vượng: “Xứ Thanh là vị trí địa – chiến lược, địa – chính trị, địa – văn hóa quan trọng của Việt Nam” Điều đó đã làm cho các giá

trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể Thanh Hóa vô cùng phong phú và cónhững nét độc đáo riêng, khẳng định được giá trị to lớn trong kho tàng văn hóatruyền thống Việt Nam

Thanh Hóa ở vào vị trí khá đặc biệt của đất nước Là điểm kết nối giữa

vùng Bắc Bộ rộng lớn với khu vực miền Trung dài và hẹp, có đường biên giớivới nước bạn Lào và có đường bờ biển dài 120km Thanh Hóa đồng thời nằmtrên các tuyến giao lưu quan trọng của hệ thống đường quốc tế và quốc gia như:tuyến đường sắt Thống Nhất, quốc lộ 1A, quốc lộ 10; đường 15A và đường HồChí Minh xuyên suốt vùng Trung du Miền núi của tỉnh; có đường 217 nối ThanhHóa với tỉnh Hủa Phăn của Lào Với vị thế đó, Thanh Hóa có nhiều điều kiệnthuận lợi để giao lưu văn hóa theo trục Bắc – Nam và trục Đông – Tây, tạo nên sự

đa dạng, phong phú và độc đáo trong văn hóa truyền thống

Thanh Hóa là một trong số ít tỉnh, thành của nước ta có đầy đủ các yếu tố

tự nhiên đặc trưng của cả nước: rừng núi, trung du, đồng bằng, biển Chính vì

vậy, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ví Thanh Hóa như hình ảnh của đất nướcViệt Nam thu nhỏ lại Sự đa dạng các yếu tố tự nhiên tất yếu dẫn đến sự đa dạngvăn hóa mà phong tục tập quán, tục trò, tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền là nhữngbiểu hiện sinh động Nhà địa lý học Lê Bá Thảo coi đồng bằng châu thổ sông

Mã như là sự lặp lại của đồng bằng châu thổ Sông Hồng ở Bắc Bộ cả về phươngdiện hệ thống đồi núi bao bọc thượng nguồn đến lượng phù sa bồi đắp ở hạ lưu,

độ cao đồng bằng châu thổ Tuy nhiên, ở Thanh Hóa đồi núi chiếm tỷ lệ lớn baogồm 3/4 diện tích đất đai cả tỉnh, một số mạch núi kế tiếp mạch núi vùng TâyBắc chạy sát ra biển, nên ở Thanh Hoá, cảnh quan đồng bằng, biển và rừng núinối kết và cận kề nhau hơn, làm tăng tính chất rừng và biển của đồng bằng, chứkhông "xa rừng, nhạt biển" như đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Với miền Trung,

xứ Thanh là sự mở đầu, trước nhất cho một mô hình sinh thái kết hợp chặt chẽ

Trang 6

giữa đồng bằng, miền núi và biển cả Chính điều đó đã làm văn hóa truyền thống

xứ Thanh rất đa dạng vừa mang tính chung thống nhất với văn hóa Việt Nam vàvăn hóa vùng Bắc Bộ nhưng vẫn mang tính khác, biệt lập

Chính vì vậy, trong ý thức hệ tư tưởng, tín ngưỡng Thanh Hóa ta bắt gặpnhiều hiện tượng đồng nhất với đồng bằng Bắc Bộ Một hệ thức luận từ tíchtruyện thánh Bưng, ông Vồm, ông Tu Nưa cho đến Từ Thức, thần Độc Cước(truyền thuyết ở Thanh Hóa) là một hình thức tương đồng với các tích truyện:Thánh Tản Viên, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Tiên Dung - Chử Đồng Tử (truyềnthuyết ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ) cho chúng ta thấy rõ sự kết nối đó

Thanh Hóa cũng có sự giao lưu với bên ngoài từ khá sớm Từ hàng ngànnăm trước Công nguyên, người Việt cổ vùng hạ lưu sông Mã đã theo con sôngnày giao lưu với đồng bào của mình vùng Bạch Hạc (Việt Trì) và xa hơn nữa làvùng Tây Bắc Việt Nam từ rất sớm Cũng men theo sông này người Việt cổtiến xuống đồng bằng và chắc chắn có những giao lưu với các tộc người Mã -Lai đa đảo Bằng sự tích Mai An Tiêm, huyền thoại thần Độc Cước cho phépchúng ta nhìn nhận và liên hệ đến các vấn đề trên Đối với văn hóa TrungQuốc, Thanh Hóa có chịu ảnh hưởng ở nhiều mặt, thể hiện rõ nét nhất trong hệ

tư tưởng Nho giáo chi phối nhiều hoạt động văn hóa, được minh chứng trongnhiều chi tiết nghi thức tế lễ trong lễ hội và trò diễn dân gian Huyền tích vềdấu chân Phật trên mỏm đá Trường Lệ ở biển Sầm Sơn là biểu hiện của sự giaolưu văn hóa với ấn Độ từ rất sớm Trong khúc hát “Hải trình” của ngư dânBạch Câu, Nga Sơn bắt gặp những giai điệu Chăm có trống Vả phụ họa Lànđiệu dân ca Chăm cũng được thấp thoáng trong câu hát đò dọc của trai đò sông

Mã Đáng quan tâm là những khúc ca, lời thoại, ṿ điệu trong trò diễn XuânPhả: Chiêm Thành, Ai Lao, Ngô Quốc, Hoa Lan… cho thấy sợ giao lưu và hộinhập trong dân ca, dân ṿũ xứ Thanh có từ xa xưa

Tuy vậy, yếu tố văn hóa ngoại nhập không làm cho văn hóa bản địa bị

biến dạng, trái lại văn hóa bản địa bao giờ cũng mang tính trội, khi tiếp xúc,

giao lưu với văn hóa bên ngoài lại làm cho văn hóa bản địa tiếp nhận và tái tạothêm những yếu tố phong phú, mới lạ, phù hợp với tâm hồn, tình cảm conngười nơi đây mỗi khi nghiên cứu kỹ lưỡng các phong tục tập quán, tínngưỡng, lê hội Thanh Hóa chúng ta sẽ thấy được điều đó

Là nơi sinh tụ từ rất sớm của người Việt cổ, Thanh Hóa có điều kiện hìnhthành và bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa truyền thống Có thể có một số địaphương là nơi phát hiện được một số di chỉ khảo cổ học là minh chứng sự phát

Trang 7

triển lịch sử Việt Nam, nhưng hiếm có vùng đất nào lại có đầy đủ những mốcnổi tiếng đánh dấu các giai đoạn phát triển lớn của lịch sử dân tộc, từ tối cổ đếnhiện nay như Thanh Hóa, làm cho vùng đất này từ thiên nhiên đến văn hóa đềuthấm đượm màu sắc lịch sử Người ta đã phát hiện ở Thanh Hóa những di chỉkhảo cổ nổi tiếng, liền mạch thuộc hầu hết các thời đại khảo cổ học lớn củanước ta thời tiền sử và sơ sử: từ đồ đá cũ sơ kỳ (núi Đọ), thời kỳ đá cũ (di chỉHang Con Moong), đá mới (Đa Bút), đồng đá (Hoa Lộc), văn hóa đồng thau(Đông Sơn) Mặt khác, di vật của nhiều thời kỳ phát triển xã hội đã được tìmthấy trong một số di chỉ có hiện tượng xếp chồng lên nhau theo thứ tự thời gianlớp dưới có niên đại cổ hơn lớp trên, chứng tỏ dân cư xứ Thanh nối tiếp nhautồn tại, phát triển khá liên tục Thanh Hóa là nơi phát hiện ra một trong batrung tâm của nền văn hóa Đông Sơn trên đất Việt: Trung tâm sông Hồng (BắcBộ), trung tâm sông Cả (Nghệ An) và trung tâm sông Mã (xứ Thanh) Vì lẽ đó,

có thể khẳng định Thanh Hóa cùng với đồng bằng châu thổ Bắc Bộ là cái nôihình thành dân tộc Việt Nam, quốc gia Việt Nam và nền văn hóa Việt Nam ởThanh Hóa có thể gặp những mô thức huyền thoại về vua Hùng, Thánh TảnViên, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mỵ Châu – Trọng Thủy của vùng đồngbằng Bắc Bộ được “địa phương hóa ở đây”

Thanh Hóa là mảnh đất tương đối ổn định trong lịch sử, không bị chia cắthành chính như các địa phương khác Bản đồ hành chính Thanh Hóa qua cácthời kỳ lịch sử về cơ bản vẫn được giữ nguyên với các tên gọi khác nhau như:Cửu Chân, Tượng Quận, ái Châu, Thanh Đô, Thanh Hoa Tuy một số quậnhuyện có nhập, tách và vùng đất Thanh Hóa ngoại được tách ra thành tỉnh NinhBình, song đại bộ phận lãnh địa, ranh giới xứ Thanh đã được xác lập ổn định từthời Bắc thuộc cho đến bây giờ Có lẽ tính ổn định về hành chính (tất nhiên sự

ổn định này là hệ quả của sự thống nhất về tự nhiên, lịch sử, văn hóa) đã tạođiều kiện cho các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội Thanh Hóa có sự thống nhất, mangđặc trưng riêng không nhầm lẫn với bất cứ vùng miền nào

Cũng như đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa là nơi con người tụ cư và khaiphá từ rất sớm tạo nên những làng xã cổ truyền Đây chính là cái nôi chứa đựngnhững giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc Làng xã chứa đựng trong lòng nó lễhội dân gian, những tục trò, phong tục tập quán, tín ngưỡng Sự cổ xưa của làng

ở Thanh Hóa được biểu hiện một phần qua các tên gọi là “Kẻ”, “Xá”, “Vạn”,

“phường” “Kẻ là tên gọi khá cổ của làng, xuất hiện với tần suất khá nhiều ởThanh Hóa, thậm chí còn đậm đặc hơn cả Bắc Bộ là vùng vốn có nhiều làng cổ

Trang 8

Mặt khác, do Thanh Hóa là một tỉnh có địa hình đa dạng nên xét về nghề nghiệp

và một số đặc trưng xã hội, làng ở Thanh Hóa cũng khá đa dạng như làng thuầnnông, làng thủy cơ chuyên nghề đánh cá hay kết hợp đánh cá với nông nghiệp,làng có nghề thủ công, làng khoa cử… Sự cổ xưa của làng cùng với sự phongphú về loại hình làng truyền thống đã tạo cho các lễ hội, phong tục, tập quán, tụctrò, tín ngưỡng ở làng Thanh Hóa có tính vừa phong phú, đa dạng, vừa đặc sắc.Thanh Hóa là đất “thang mộc”, “đất quân vương”, hơn một nửa thời giantồn tại của chế độ phong kiến Việt Nam (thế kỷ X – XX), đứng đầu bộ máy caitrị quốc gia là người xứ Thanh (Lê Đại Hành thế kỷ X - XI, Hồ Quý Ly cuối thế

kỷ XIV đầu thế kỷ XV, Lê Thái Tổ và các vua thời Lê sơ thế kỷ XV - XVI, vua

Lê và chúa Trịnh thế kỷ XVI-XVIII, các vua triều Nguyễn thế kỷ XIX – XX).Một số chức vụ chủ chốt trong triều đình phong kiến như Tể tướng, Tham tụng,Thượng thư lục bộ cũng đều có mặt người Thanh Hóa Xứ Thanh đồng thờicũng là kinh đô của các triều đại Hồ (Tây Đô), Lê Sơ (Lam Kinh), thời Lê TrungHưng (kinh đô Vạn Lại) Đặc điểm nổi bật này đã đem đến cho xứ Thanh sự ảnhhưởng và tiếp cận với văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng chính thống, đặc biệt là Nhogiáo khiến văn hóa xứ Thanh bên cạnh tính dân dã còn mang cả tính bác học.Mặt khác, do có vị trí và địa thế quan trọng, các tập đoàn phong kiến thất thếhay muốn khởi nghiệp đều muốn chọn Thanh Hóa làm căn cứ phòng thủ; conngười, vật lực thường bị huy động tối đa cho chiến tranh tạo nên những giá trịđặc sắc trong lễ hội, tục trò, tín ngưỡng

Là đất phát vương của các triều đại Tiền Lê, Hồ, Lê sơ, Lê Trung hưng,chúa Trịnh, chúa Nguyễn, chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa cung đình và dunhập các kiểu cách lối sống của kinh đô, thế nhưng xứ Thanh lại không nằm cận

kề Thăng Long hay kinh đô Huế mà nằm ở ngoại trấn, vùng ngoại vi của trungtâm văn hóa chính trị của đất nước Vì vậy, trình độ phát triển kinh tế – xã hội

có phần thấp hơn, những ảnh hưởng giao lưu văn hóa với khu vực và Trung Hoa

có phần bị hạn chế, xứ Thanh còn lưu giữ lại nhiều yếu tố văn hóa Việt cỏ hơnvùng Bắc Bộ, chốn kinh kỳ Đó cũng là nguyên nhân làm cho Thanh Hóa cónhững biểu hiện hóa thạch ngoại biên về văn hóa nhiều hơn hẳn nơi khác

Địa thế và lịch sử đã để lại cho Thanh Hóa hàng nghìn di tích lịch sử - vănhóa Theo thống kê của Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hoá năm

2006, Thanh Hóa có 1.535 di tích, danh thắng, di chỉ khảo cổ, trong đó 137 ditích xếp hạng quốc gia, 467 di tích xếp hạng cấp tỉnh ở đó không chỉ chứa đựngnhững giá trị văn hóa vật thể quý giá và đặc sắc, mà chính ở các di tích này còn

Trang 9

tiềm ẩn nhiều giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu như: thần tích, huyền thoại, tụcngữ, ca dao, lễ tục, lễ hội, văn hóa ẩm thực, các nghi lễ, tục kiêng khem… gắnvới các nhân vật được thờ phụng.

Một yếu tố quan trọng tạo nên những sắc thái văn hóa độc đáo trong tínngưỡng, lễ hội Thanh Hóa chính là hệ thống các nhân vật được thờ phụng Đó lànhững nhân vật huyền thoại, hoặc mang tính lịch sử, hoặc cả hai Đó là các nhânvật khổng lồ có sức mạnh phi thường xẻ núi lấp biển, những Ông Gióng đánhgiặc Ân, An Dương Vương xây thành, Mỵ Châu - Trọng Thủy, các vi ThánhCao Sơn Đại vương, Tứ Vị Thánh Nương, Thánh Lứng, Thanh Bưng cùng hàngtrăm vị Thành Hoàng nửa huyền thoại, nửa lịch sử Bên cạnh đó là những nhânvật lịch sử Bà Triệu, Dưong Đình Nghệ, Lê Hoàn, Lê Phụng Hiểu, Lê Lợi, TrầnKhát Chân Đôi khi, những nhân vật lịch sử này, do tầm vóc lớn lao của họ đãđược tâm thức dân gian đồng nhất với các vị thần khổng lồ như trường hợp LêPhụng Hiểu được lồng ghép trong nhân vật thần thoại ông Bưng và hàng loạtcác vị Thành Hoàng nửa lịch sử, nửa huyền thoại khác Những yếu tố vừa huyền

thoại, vừa lịch sử này đã được khắc ghi trong tâm thức của nhân dân và được tái hiện thông qua các lễ hội, phong tục và tín ngưỡng, nó trở thành một thứ tình

yêu quê hương đất nước đã được linh thiêng hóa, tín ngưỡng hóa Những nhânvật này đã trở thành linh hồn cho những tục lệ, tín ngưỡng, lễ hội trong làng xã

cổ truyền Đặc biệt, những lễ hội gắn với những nhân vật lịch sử nổi tiếngthường có quy mô vượt ra khỏi phạm vi của làng trở thành lễ hội của cả vùng,thu hút không chỉ người dân trong tỉnh mà cả du khách ngoài tỉnh và nước ngoàitham dự

Về cư dân, ngoài người Kinh (Việt) sinh sống ở đồng bằng còn có các dântộc thiểu số khác: Mường, Thái, Dao, H’Mông, Khơ Mú, Thổ, thuộc các nhómngôn ngữ: Việt – Mường, Môn – Khơ Me, Thái – Tày, Mông – Dao, sinh sốngchủ yếu ở miền núi, trên địa bàn các huyện Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa,

Bá Thước, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Thường Xuân,Như Xuân, Như Thanh Mỗi dân tộc đó đến ngày nay còn bảo lưu nhiều giá trịvăn hóa đặc sắc về tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, góp phần làm phong phú thêmsắc thái văn hóa xứ Thanh

Có thể nói Thanh Hóa hội tụ đầy đủ những yếu tố thuận lợi để hình thànhmột vùng văn hóa dân gian đa dạng cả về tự nhiên và lịch sử, kinh tế, xã hội.Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội Thanh Hóa vì thế mà vô cùng đa dạng,phong phú và có những nét đặc sắc riêng Đó là một tiềm năng không nhỏ có thể

Trang 10

khai thác đưa vào hoạt động du lịch, góp phần phát triển kinh tế – xã hội tỉnhnhà

1.1.2 Tác động của con sông Mã đối với sự hình thành hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa

Thanh Hóa có mạng lưới sông ngòi dày đặc với khoảng 20 con sông lớnnhỏ và trên 200 con suối chảy theo địa hình nghiêng dốc từ Tây Bắc xuốngĐông Nam, chia cắt địa hình Thanh Hóa thành những vùng theo dòng chảy tựnhiên của hệ thống sông ngòi Suốt dọc chiều dài 102 km bờ biển, trung bình cứ20km có một con sông thông ra biển

Sông Mã không chỉ là con sông lớn nhất ở Thanh Hóa mà còn là con sông

có vị trí quan trọng đối với lịch sử – văn hóa – xã hội của đất nước Theo tác giảTrần Lâm Biền: “Khi nói đến văn minh sông Hồng mà không quan tâm đến consông Mã thì nền văn minh này trở nên khập khiễng…” Sông Mã bắt nguồn từTuần Giáo - Lai Châu theo hướng tây bắc - đông nam chảy đến Chiềng Khươngqua đất Lào và trở về đất Việt Nam tại Mường Lát - Thanh Hóa qua các huyệnQuan Hóa, Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Yên Định, Hoằng Hoá, cuối cùng đổ ra biểnvới ba cửa sông lớn: cửa Lạch Trường (sông Lạch Trường), cửa Càn (nhánhsông Hoạt), cửa Lạch Sung (sông Lèn) Các chi lưu chính của sông Mã gồmNâm Lệ, suối Vạn Mai, sông Luồng, sông Lò, sông Bưởi, sông Cầu Chầy, sôngHoạt, sông Chu Cũng giống như sông Hồng ở Bắc Bộ, sông Mã là cái trụcchính, là linh hồn của Thanh Hóa Một mặt, sông Mã bồi đắp nên đồng bằngrộng lớn, màu mỡ mà mức độ rộng lớn và phì nhiêu của nó chỉ đứng sau châuthổ sông Hồng và sông Cửu Long Mặt khác, do Thanh Hóa bị chắn hai đầu bởidãy núi Tam Điệp ở phía Bắc và dãy Hoàng Mai ở phía Nam, nên sự thôngthương, trao đổi và cả sự di cư xưa kia chủ yếu theo con dòng sông chính – sông

Mã Sông Mã là đường thông thương huyết mạch giữa miền ven biển, đồngbằng với thượng lưu ở phía Tây Trên con sông này, lâm thổ sản được chuyênchở từ miền núi về miền xuôi và hàng thủ công, hải sản từ đồng bằng lên miềnnúi Các đoàn thuyền tấp nập ngược xuôi nối liền các chợ ven bờ sông Sông Mãkhông chỉ là huyết mạch kinh tế mà còn là con sông chuyên chở văn hóa, tạonên hai bên bờ những hiện tượng văn hóa phong phú, đa dạng và kỳ thú Có thểnói, sông Mã chính là nhân tố quan trọng nhất hình thành giá trị bản sắc văn hóa

xứ Thanh

Nhiều đền thờ với nhiều lễ tục, phản ánh các tín ngưỡng cổ xưa của ngườiViệt trong các làng xã ở hai bên bờ sông Mã, sông Chu, sông Lãng Giang Đó

Trang 11

là các lễ tục đền Mối, đền Mưng, đền ối, nghè Sâm thờ Đức Thánh Ngũ Vị, tứccha con Lê Ngọc, là quan Thái thú quận Cửu Chân thời nhà Tùy đã có côngchống quân xâm lược nhà Đường thế kỷ VI Lễ hội làng Vạc thờ các vị Cao sơnđại vương, Linh Quang đại vương, Tô Đại Lưu với nhiều thần tích kỳ thú vềnhững vị nhân thần có công dựng nước, đánh giặc, có đức cao giúp đời Nhóm

di tích, truyền thuyết ven sông Mã còn góp phần cấu thành những giá trị văn hóađặc trưng Đó là các tích truyện, huyền thoại về các thánh Lưỡng, có đến “chínchín” làng dọc theo dòng sông Mã từ ngã ba Bông đến xã Vĩnh Quang đều cóđền thờ Ông Lễ hội thánh Tến có đền thờ ở làng ích Hạ (Hoằng Hóa); truyềnthuyết về ông Bưng và ông Vồm thi sức mạnh siêu nhiên, có khả năng khai thiênlập địa Một tư liệu dân gian đậm yếu tố sử học, chứng minh sự thống nhất vớinhà nước của các Vua Hùng là Lễ hội ở đền Hổ Bái, huyện Yên Định, có nộidung về truyền thuyết Hùng Trinh Vương con trai thứ 11 của Lạc Long Quân,đến vùng hạ lưu sông Mã để “chọn đất lập giang Bộ, một vùng phiên dậu củanhà nước Văn Lang phía Nam”, ngày nay tục lễ vẫn còn bảo lưu tại vùng ThiệuHóa, Yên Định

1.1.3 Yếu tố biển đối với sự hình thành hệ thống đền thờ

Biển Thanh Hóa thuộc vịnh Bắc Bộ, có nhiều tài nguyên hải sản, khoáng

sản Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, biển Thanh Hóa có vẻ “mặn mòi”,

“biển” hơn so với biển ở các tỉnh phía bắc như Ninh Bình, Nam Định, TháiBình, Hải Phòng, Quảng Ninh Bờ biển Thanh Hóa dài 102km trải qua 6 huyệnthị, tiếp giáp với biển Ninh Bình ở phía Bắc và Nghệ An ở phía Nam Chất biểncủa Thanh Hoá không chỉ thể hiện ở đường bờ biển và dải "cồn cát duyên hải",

mà còn ở dấu tích của giới hạn của các vụng biển mà nay châu thổ đã lấp đầy.Các mạch núi ăn sất ra biển và giao thương biển với phương thức "măng, tre đưaxuống, cá chuồn đưa lên" đã đem đến cho đời sống vật chất và tinh thần củangười dân miền ngược vời miền biển từ bao đời nay luôn có mối quan hệ gắnbó

Biển ưu đãi nhiều cho con người nhưng biển cũng luôn tiềm tàng nhữnghiểm họa khôn lường Đứng trước biển, con người thấy mình nhỏ bé, sợ hãi Đóchính là nguồn gốc của những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội của cưdân ven biển nhằm chế ngự nỗi sợ hãi trước biển Tín ngưỡng thờ thần ĐộcCước ở vùng biển Sầm Sơn Tại hòn Cổ Giải, có đền thờ thần Độc Cước, mộtbiểu tượng phân thân biển - đất liền khá kỳ thú, thể hiện ước vọng chinh phụcbiển của dân chài nhưng còn ngập ngừng, sợ hãi trước biển Tại phía Nam cửa

Trang 12

Lạch Trường (địa phận Sầm Sơn) có di tích và lễ hội đền Bà Triều và đền thờ

Tứ vị Thánh nương, tại cửa Lạch Bạng có di tích thờ Đức Ông và đền thờ Tứ

vị Thánh nương Lễ hội làng Cự Nham (Sầm Sơn) thờ Tứ vị Thánh nương làthần biển với sự tích: hoàng hậu triều Nam Tống bị người Nguyên bức hạinhảy xuống biển tự vẫn, trôi dạt vào cửa Cờn Nghệ An (cũng như 13 làng khácven biển ở huyện Quảng Xương đều có đền thờ Nam Hải Phúc Thần là Tứ vịThánh nương trên), cũng cho thấy sự tiếp nhận một cách cởi mở, khoan dungcác giá trị văn hóa của các dân tộc khác của người Việt xưa ở vùng này Cácđền thờ đại vương Nam Hải (thần cá Voi) là một tín ngưỡng của các cộng đồngphương Nam, cũng khá phổ biến ở các vùng biển Quảng Xương, Tĩnh Gia,Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa Nhìn chung, các thần tích và lễ hội dân gian đã phầnnào phản ánh đời sống tinh thần, vật chất, đặc trưng văn hóa của Xứ Thanh

1.2 Hệ thống đền theo phân cấp quản lý nhà nước ở Thanh Hóa

Thanh Hóa là địa phương có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng, cómột kho tàng văn hóa phong phú và đa dạng Trong quá trình phát triển, tuy bịchiến tranh, thiên tai và những biến động xã hội tàn phá nặng nề nhưng nhờtruyền thống tôn trọng di sản lịch sử - văn hóa của nhân dân các địa phương, sựquan tâm của Đảng và Nhà nước, đến nay Thanh Hóa còn giữ được khoảng4.000 di tích lịch sử - văn hóa - kiến trúc nghệ thuật… Trong đó có 145 di tíchđược xếp hạng Quốc gia Đây là tài sản vô giá, là linh hồn và cũng là niềm tựhào của nhân dân xứ Thanh

Xét riêng về số lượng đền, đến nay chưa có con số chính thức, nhưng theoước tính của Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa Thanh Hóa, có đến 800 di tíchthuộc loại hình đền, miếu ở Thanh Hóa Trong số đó, 340 di tích đền được xếphạng cấp quốc gia và cấp tỉnh được Ủy ban nhân dân tỉnh phân cấp cho các địaphương bảo quản và phát huy tác dụng Trong số 340 đền thờ có 70 đền thờ đãxếp hạng cấp quốc gia và 270 đền thờ xếp hạng cấp tỉnh

Danh mục các di tích đền thờ ở Thanh Hóa đã xếp hạng

Hoằng Hóa X HoằngGiang Cấp quốc gia 1999

3 Đền Cao Bá Điển Huyện

Hoằng Hóa Xã HoằngGiang Cấp quốc gia 2011

Trang 13

10 Đền Trần Khát

Chân

Huyện Vĩnh Lộc

X Vĩnh Thịnh

Cấp quốc gia 2004

11 Đền Trần Khát

Chân

Huyện Vĩnh Lộc

X Vĩnh Thành

X Hoằng Lộc

Cấp quốc gia 2011

14 Đền Nguyễn Đình

Giản

Huyện Hoằng Hóa

X Hoằng Quang

Cấp quốc gia 2011

15 Đền Lê Lợi (đền

Vua Lê Thái Tổ)

Huyện Thọ Xuân

X Xuân Lam Cấp quốc gia 1962

16 Đền vua Lê Đại

Hành (Lê Hoàn)

Huyện Thọ Xuân

X Xuân Lập Cấp quốc gia 1991

17 Đền Cô Tiên Tp Sầm

Sơn

P Trường Sơn

Cấp quốc gia 1992

18 Phủ Trịnh Huyện

Vĩnh Lộc

X Vĩnh Hùng Cấp quốc gia

1995

19 Đền Tô Hiến

Thành

Tp Sầm Sơn

P Trường Sơn

Cấp quốc gia 1992

20 Đền Cây Vải TX Bỉm

Sơn P Bắc Sơn Cấp quốc gia 1993

21 Đền Độc Cước Tp Sầm

Sơn P TrườngSơn Cấp quốc gia 1992

22 Đền Nguyễn Hiệu Huyện

Triệu Sơn X NôngTrường Cấp quốc gia 2002

23 Đền thôn Liên

Châu HuyệnHoằng Hóa X HoằngChâu Cấp quốc gia 1992

Trang 14

Thiệu Hóa X ThiệuHưng Cấp quốc gia 1994

25 Đền Lê Văn Hưu Huyện

Thiệu Hóa X ThiệuTrung Cấp quốc gia

27 Đền Lê Đình Kiên Huyện Yên

Định X.Tường Định Cấp quốc gia 1993

Vĩnh Lộc X Vĩnh Hoà Cấp quốc gia 1993

35 Đền Bùi Sỹ Lâm Huyện

Quảng Xương

X Quảng Tân Cấp quốc gia 1999

36 Đền Tể tướng Lê

Hy

Huyện Đông Sơn

X Đông Khê Cấp quốc gia 1994

38 Đền Quang Trung Huyện

X Quảng Trạch

Trang 15

43 Đền Nguyễn

Chích

Huyện Đông Sơn

X Đông Ninh

Cấp quốc gia 1992

44 Đền Thanh Xuyên Huyện

Tĩnh Gia X Hải Thanh Cấp quốc gia 1990

45 Thái Miếu nhà Hậu

Lê Tp ThanhHóa P Đông Vệ Cấp quốc gia 1995

46 Sinh từ Mãn Quận

công Lê Trung

Nghĩa

Tp Thanh Hóa P An Hoạch Cấp quốc gia 1992

49 Đền Lê Thành Tp Thanh

Hóa

X Đông Cương

Cấp quốc gia 1999

50 Đền Lê Hiểm - Lê

Hiêu HuyệnNông Cống X Tân Phúc Cấp quốc gia 1994

51 Đền Lê Đình Châu Huyện

Tĩnh Gia X Ngọc Lĩnh Cấp quốc gia 2011

52 Đền Hoàng Giáp Lê

Bật Tứ HuyệnTriệu Sơn X Tân Ninh Cấp quốc gia 1998

Trang 16

Cấp quốc gia 1993

62 Đền Hổ Bái Huyện Yên

Định X Yên Bái Cấp quốc gia 1993

63 Đền Đào Duy Từ Huyện

Tĩnh Gia X NguyênBình Cấp quốc gia 2002

64 Đền An Lạc Huyện

Hoằng Hóa X Hoằng Hải Cấp quốc gia 2001

65 Đền Nưa (đền Bà

Triệu) HuyệnTriệu Sơn X Tân Ninh Cấp quốc gia 2009

66 Đền Bà Triệu Huyện Hậu

Lộc X Triệu Lộc Cấp quốc gia 1989

69. Đền Đức thánh

Đờn HuyệnHoằng Hóa

Xã Hoằng Thịnh

Cấp tỉnh 2011

70. Đền Đặng Quang TX Bỉm

Sơn

Xã Quang Trung

Cấp tỉnh 1995

71. Đền Lê Trung

Giang HuyệnHoằng Hóa

Xã Hoằng Ngọc

Xã Nghi Sơn Cấp tỉnh 1995

74 Đền Trịnh Văn Kỳ Huyện

Hoằng Hóa

Xã Hoằng Châu

Cấp tỉnh 1999

75. Đền Trịnh Minh Huyện Nga

Sơn

Xã Nga Thiện

Cấp tỉnh 1993

76. Đền Trịnh Khắc

Phục HuyệnĐông Sơn

Xã Đông Minh

Trang 17

Cấp tỉnh 2007

82. Đền Tô Hiến

Thành HuyệnĐông Sơn

Xã Đông Lĩnh

Xã Quảng Thái

Cấp tỉnh 2011

85. Nghè Sày Huyện

Quảng Xương

Xã Quảng Châu Cấp tỉnh 2011

89. Đền Khe Rồng Huyện Như

Thanh Xã Hải Long Cấp tỉnh 1995

90. Đền Bái Giao Huyện

Thiệu Hóa

Xã Thiệu Giao Cấp tỉnh 1999

Xã Quảng Tiến Cấp tỉnh 2011

92. Đền Trần Lựu Huyện

Thiệu Hóa

Xã Thiệu Quang

Cấp tỉnh 2011

95. Đền Tam Tổng Huyện

Vĩnh Lộc

Xã Vĩnh Tiến Cấp tỉnh 1993

Trang 18

Cấp tỉnh 2006

98. Nghè Cẩm Hoàng Huyện

Vĩnh Lộc

Xã Vĩnh Quang

Cấp tỉnh 2012

99. Đền Hới Tp Sầm

Sơn

Xã Quảng Tiến

Cấp tỉnh 2011

105 Đền Lê Văn Viện Huyện

Hoằng Hóa

Xã Hoằng Thành

110 Đền Lê Sát Huyện Yên

Định

Xã Định Hải Cấp tỉnh 1993

111 Nghè Làng Kiều Huyện

Quảng Xương

Xã Quảng Châu

Xã Xuân Hòa Cấp tỉnh 2015

Trang 19

Xã Quảng Thọ

Cử HuyệnĐông Sơn Xã ĐôngThanh Cấp tỉnh 2011

119 Phủ Sung Huyện Như

Thanh Xã Hải Vân Cấp tỉnh 1995

126 Lăng Thánh bà

(Đền bà Trần Quý

Phi)

Huyện Tĩnh Gia

(Chiêu Anh Quán) Huyện ThọXuân Thị trấn LamSơn Cấp tỉnh 1993

130 Đền Văn Lâm Huyện

Ngọc Lặc Xã MinhTiến Cấp tỉnh 2015

131 Đền An Phú Huyện

Hoằng Hóa

Xã Hoằng Hợp Cấp tỉnh 1996

132 Đền Hiền Lâm

(Đền Thiên cương

tôn thần)

Tp Thanh Hóa

Xã Thiệu Vân

Cấp tỉnh 2011

133 Nghè Thủ Phác

(Nghè An Thọ) Tp ThanhHóa

Xã Quảng Hưng

Cấp tỉnh 2013

134 Phủ Nhân Mỹ Huyện

Hoằng Hóa

Xã Hoằng Ngọc

Cấp tỉnh 2013

Trang 20

Xã Thành Vân

Cấp tỉnh 1998

136 Đền Khánh Trạch Huyện

Tĩnh Gia

Xã Bình Minh

P Trường Sơn

Cấp tỉnh 2001

145 Đền Cổ Ninh Tp Thanh

Hóa

Xã Thiệu Vân

Cấp tỉnh 2010

146 Đền Bái Ân Huyện Yên

Định

Xã Định Thành

Cấp tỉnh 2006

147 Đền Mưng (Đền

Côn Sơn) HuyệnNông Cống

Xã Trung Thành

Cấp tỉnh 2011

151 Đền Nguyễn Thiện Huyện

Quảng Xương

Xã Quảng Trường Cấp tỉnh 1996

152 Đền Quan Tào Sơn

(Tào Sơn hầu) HuyệnTriệu Sơn Xã Tân Ninh Cấp tỉnh 1993

153 Đền Nghiêm Huyện

Quảng

Xã Quảng Giao Cấp tỉnh 2011

Trang 21

Xã Quảng Tân Cấp tỉnh 2011

159 Đền Quận công

Bùi Kim Tương HuyệnQuảng

Xương

Xã Quảng Lộc

Cấp tỉnh 1994

163 Nghè Tế Độ Huyện

Hoằng Hóa

Xã Hoằng Phúc

Cấp tỉnh 1993

164 Đền thôn Trung

Hoà HuyệnHoằng Hóa

Xã Hoằng Trinh

Xã Trường Sơn

Cấp tỉnh 2011

167 Đền Nguyễn

Trừng HuyệnĐông Sơn

Xã Đông Thanh

Trang 22

Xã Hoằng Yến Cấp tỉnh 1992

Xã Trường Giang Cấp tỉnh 2011

176 Nghè Hàm Ninh Huyện

Hoằng Hóa

Xã Hoằng Trạch Cấp tỉnh 2009

179 Phủ Quy Nhân Huyện Nga

Sơn

Xã Nga Thanh Cấp tỉnh 2010

180 Đền Liễu Hạnh

(Phủ Mẫu) Huyện HàTrung Xã Hà Thái Cấp tỉnh 1996

181 Đền bà Mai Thị

Triều HuyệnTĩnh Gia Xã Ninh Hải Cấp tỉnh 2011

182 Đền Mai An Tiêm Huyện Nga

Cấp tỉnh 2011

184 Đền Tiến sĩ Lưu

Ngạn Quang HuyệnĐông Sơn

Xã Đông Thanh

Cấp tỉnh 2011

185 Đền – mộ Tiến sĩ

Lưu Đình Chất HuyệnHoằng Hóa

Xã Hoằng Quỳ

Cấp tỉnh 1994

186 Đền Tống Phước

Trị TX BỉmSơn

Xã Quang Trung

Trang 23

190 Đền Lê Trương Lôi

và Lê Trương Chiến HuyệnTĩnh Gia

195 Đền Lê Lâm Huyện

Ngọc Lặc Xã PhùngGiáo Cấp tỉnh 2004

196 Đền Lê Khắc Tháo Huyện

Thiệu Hóa

Xã Thiệu Giao

Xã Đông Thanh

Cấp tỉnh 2011

198 Đền Lê Hoằng

Công HuyệnHoằng Hóa

Xã Hoằng Hợp

Cấp tỉnh 1989

199 Đền Chẹ Huyện

Ngọc Lặc

Xã Quang Trung

Cấp tỉnh 2013

200 Đền Tiến sĩ Lê

Duy Hàn HuyệnHoằng Hóa

Xã Hoằng Tân

Cấp tỉnh 1994

201 Đền Lê Công Trực

(đền Quan Hầu) HuyệnHoằng Hóa

Xã Hoằng Thanh

Cấp tỉnh 2009

204 Nghè làng Nguyệt

Viên HuyệnHoằng Hóa Xã HoằngQuang Cấp tỉnh 1996

205 Đền Lê Văn An Huyện Thọ

Trang 24

Xã Quảng Vọng Cấp tỉnh 2011

210 Đền Hoàng Minh

Tự (đền Ao Bến) HuyệnQuảng

Xương

Xã Quảng Vinh

Cấp tỉnh 2012

214 Đền Xuân Phương Huyện

Quảng Xương

Xã Quảng Châu

Cấp tỉnh 1996

215 Đền Nguyễn Phục Tp.Thanh

Hóa

Xã Quảng Thắng Cấp tỉnh Không rõ

216 Đền Nguyễn Phục Huyện

Quảng Xương

Xã Quảng Hải Cấp tỉnh 1996

217 Đền Đông Hải Đại

Vương Nguyễn

Phục

Huyện Quảng Xương

Xã Quảng Đại Cấp tỉnh 2011

218 Đền Độc Cước Huyện Hậu

Xã Hoằng Phượng Cấp tỉnh 1994

224 Đền Đắc Châu Huyện

Thiệu Hóa

Xã Thiệu Châu

Cấp tỉnh 1996

225 Đền Cả Đế Thích Huyện Xã Đông Cấp tỉnh 2011

Trang 25

Xã Đông Thanh

Cấp tỉnh 2011

227 Đền Quần Thanh Huyện

Triệu Sơn

Xã Khuyến Nông Cấp tỉnh 2011

228 Đền Trần Nhật

Duật HuyệnQuảng

Xương

Xã Quảng Hợp Cấp tỉnh 2004

229 Đền Lê Đình

Khiêm HuyệnQuảng

Xương

Xã Quảng Khê

Cấp tỉnh 2011

230 Đền làng Trù Ninh Huyện

Hoằng Hóa

Xã Hoằng Đạt Cấp tỉnh 2002

231 Đền Cầm Bá

Thước và Phủ Mẫu

(Đền Cửa Đặt)

Huyện Thường Xuân

Cấp tỉnh 2009

234 Đền Bà Triệu Huyện

Nông Cống

Xã Trung Thành (làng Yên Dân)

Cấp tỉnh 2013

235 Đền Lê Thị Hoa Huyện Nga

Sơn

Xã Nga Thiện

Cấp tỉnh 1993

236 Đền Quốc Mẫu Huyện

Hoằng Hóa

Xã Hoằng Xuân

Xã Nga An Cấp tỉnh 1989

238 Đền Chín gian Huyện Như

Xuân

Xã Thanh Quân

Cấp tỉnh 2015

239 Đền Tiên Thiên

thần nữ Tp ThanhHóa

Phường Điện Biên

Cấp tỉnh 1999

240 Đền Thôn Còng Huyện

Vĩnh Lộc

Xã Vĩnh Hưng

Cấp tỉnh 1998

243 Phủ Vạn Huyện Xã Tiến

Nông

Cấp tỉnh 1994

Trang 26

Cấp tỉnh

2012

245 Phủ Tiên Huyện Nga

Sơn Xã Nga Giáp

251 Nghè Yên Ninh Huyện Nga

Sơn Xã Nga Yên

Cấp tỉnh

2017 252.

Nghè Yên Nam Huyện Quảng

Xương

Xã Quảng Hải

Nghè Văn Phú Huyện Quảng

Xương

Xã Quảng Thọ

Xã Thành Hưng

Cấp tỉnh

2004 260.

Nghè Thánh Cả Huyện Quảng

Xương

Xã Quảng Chính

Cấp tỉnh

2013

261 Nghè Tây Huyện Hậu Xã Thành Cấp tỉnh 2011

Trang 27

265 Nghè Mại Đức Huyện Nga

Sơn Xã Nga Hưng

Cấp tỉnh

2012 269.

Nghè Đồi Sau Huyện Thạch

Thành

Xã Thành Long

Đền Tự Cường Huyện Thạch

Thành

Xẫ Thành Minh

Cấp tỉnh

2016

281 Đền thờ Vũ Văn Huyện Xã Thái Hòa Cấp tỉnh 2010

Trang 28

Xã Quảng Tân

Trang 29

Xã Thiệu Giang

Trang 30

Đền thờ Bia Ký Huyện Quảng

Xương

Xã Quảng Yên

Đền thờ Bà Triệu Huyện Nông Cống

Xã Trung Thành (làng Đông Yên)

Đền Tam Tổng Huyện Thạch

Thành

Xã Thạch Bình

Cấp tỉnh

1995

Trang 31

Xã Thạch Bình

Đền Ông Huyện Quảng

Xương

Xã Quảng Thái

Đền làng Bùi Huyện Quảng

Xương

Xã Quảng Giao

Trang 32

Đền chúa Thượng

Huyện Thạch Thành

Thị trấn Vân Du

361 Đền Ái Sơn Tp Thanh

Hóa Xã Đông Hải

- Số lượng đền thờ đã xếp hạng

Ở Thanh Hóa, loại hình di tích là đền thờ chiếm tỷ lệ lớn so với các loạihình di tích khác (đình, chùa, nhà thờ Thiên chúa giáo, Nhà thờ dòng họ) Điềunày chứng tỏ tín ngưỡng thờ thần đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâmlinh của sư dân Thanh Hóa, đồng thời thể hiện sự đa dạng, phong phú trong đờisống văn hóa và sự sinh động của lịch sử

Trang 33

Theo số liệu thống kê của Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa Thanh Hóa,toàn tỉnh Thanh Hóa có hơn 4.000 di tích, trong đó có 792 di tích đã xếp hạng(145 di tích cấp quốc gia, trong đó có 3 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 647 di tíchcấp tỉnh) Loại hình đền thờ (theo các tiêu chí đã được xác định trong báo cáochuyên môn) đã được xếp hạng là 366, chiếm 46,2% tổng số di tích đã xếp hạngcủa tỉnh Trong đó có 1 trên tổng số 3 di tích cấp quốc gia đặc biệt (chưa kể đềnthờ Lê Thái Tổ, đền Lê Lai nằm trong Khu di tích Lam Kinh đã được xếp hạngcấp quốc gia đặc biệt) Số lượng đền thờ được xếp hạng cấp quốc gia là 68 trêntổng số 145 di tích cấp quốc gia của tỉnh, chiếm 46,9%

- Về số lượng đền thờ phân theo địa phương: Các đền thờ đã xếp hạng tập

trung chủ yếu ở vùng đồng bằng (350/366 đền thờ, chiếm 95,6%) Điều này phản ánh thực tế lịch sử sinh động của vùng đồng bằng Thanh Hóa và cũng là đặc điểmchung của các địa phương khác trong nước Trong các địa phương vùng đồng bằng, đền thờ được xếp hạng tập trung nhiều nhất ở Hoằng Hóa (11,75%), Thành phố Thanh Hóa (9,02%), Quảng Xương (8,74%), Tĩnh Gia (6,83%), Yên Định (6,28%), Hậu Lộc (6,01%), Hà Trung (5,46%) Các huyện miền núi ít có các đền thờ được xếp hạng hơn Ngoài nguyên nhân do đặc điểm lịch sử, kinh tế, văn hóa – xã hội của vùng miền còn do công tác nghiên cứu, xếp hạng di tích ở từng địa phương có đặc điểm khác nhau

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA HỆ THỐNG ĐỀN THỜ Ở THANH HÓA

2.1 Thời gian xây dựng đền thờ ở Thanh Hóa

Thông thường, thời gian xây dựng các di tích được xác định dựa vào cácyếu tố:

- Một là: các dữ kiện lịch sử còn lưu lại trong sử sách, trong thần tích, thầnphả, sắc phong và các tư liệu khác, truyện kể, huyền thoại

- Hai là: đoán định tương đối niên đại xây dựng hoặc trùng thu qua phongcách kiến trúc, chạm khắc cổ hiện còn tồn tại

Tuy nhiên, hiện nay, qua sự biến đổi của thời gian, tác động của tự nhiên,

sự biến thiên xã hội, đặc biệt trong lịch sử đã có một thời gian xâm hại nghiêmtrọng đến các di sản văn hóa nên các tư liệu và cấu kiện kiến trúc cổ của đền thờcòn giữ lại được đến ngày nay không nhiều, gây khó khăn cho công tác xác địnhthời gian xây dựng Hầu hết các di tích đều trải qua nhiều lần trùng tu, các phongcách kiến trúc, chạm khắc hòa lẫn trong nhau, các di vật bị thất thoát, biến dạngnên khó kiểm chứng Chính vì vậy, việc xác định thời gian xây dựng hay thờiđiểm trùng tu chính xác đối với di tích nói chung và loại hình đền thờ nói riêng làmột vấn đề không dễ dàng Tuy nhiên, với các tư liệu thu thập được, có thể thấycác thần được thờ trong đền thờ ở Thanh Hóa xuất hiện từ thuở đầu tiên lập nướccho đến cuối thế kỷ XIX

Thông qua huyền thoại, thần tích, một số đền thờ có thể ra đời từ rất sớm,gắn với quá trình dựng nước đầu tiên của dân tộc thời Văn Lang – Âu Lạc, như:đền Đồng Cổ (Yên Định), đền Hổ Bái (Yên Định), đền thờ Mai An Tiêm (NgaSơn), đền thờ Phan Tây Nhạc (Hà Trung), đền thờ Nguyệt Nga công chúa (HàTrung), đền thờ Tướng quân Cao Lỗ (Hoằng Hóa), đền Cổ Ninh (thờ Phù ĐổngThiên Vương, Yên Định)

Cũng thông qua thần tích, các đền thờ có thể ra đời trong thời kỳ Bắc thuộclà: đền thờ Bà Triệu (Hậu Lộc, Nông Cống, Triệu Sơn ), đền thờ Triệu QuangPhục (Nga Sơn), Nghè Yên Lạc (Vĩnh Lộc), đền thờ Lê Ngọc (Đông Sơn)

Có thể một số đền thờ xuất hiện vào đầu thời tự chủ của dân tộc, dưới thờiNgô – Đinh, Tiền Lê – Lý, Trần – Hồ (thế kỷ X – XIV) gắn liền với tên tuổi củanhiều vị anh hùng dân tộc như: đền thờ Dương Đình Nghệ (Thiệu Hóa), đền thờ

Lý Thường Kiệt (Hà Trung), đền thờ Tô Hiến Thành (ở nhiều địa phương), đền

Trang 35

thờ đền thờ Trần Hưng Đạo (ở nhiều địa phương), đền thờ Trần Khát Chân (ởnhiều địa phương), đền thờ Lê Phụng Hiểu (Hà Trung, Hoằng Hóa)

Nhiều đền thờ xuất hiện vào thời Lê sơ gắn liền với cuộc khởi nghĩa LamSơn trên đất Thanh Hóa và công cuộc xây dựng đất nước thế kỷ XV, như: đền thờ

Lê Lợi (Thọ Xuân), đền thờ Lê Lai (Ngọc Lặc), đền thờ Nguyễn Chích (ĐôngSơn), đền thờ Đinh Lễ, Lê Liễu (Thiệu Hóa), đền thờ Lê Lộng (Triệu Sơn), đềnthờ Lê Thành (TP Thanh Hóa), đền thờ Lê Trương Lôi – Lê Trương Chiến (TĩnhGia), đền thờ Lê Viện (Hoằng Hóa), đền thờ Ngọc Lan (Thọ Xuân), đền thờNguyễn Thiện (Quảng Xương), đền thờ Nguyễn Trừng (Đông Sơn), đền thờNguyễn Trung Nghĩa (Đong Sơn), đền thờ Phạm Vấn – Phạm Cuống (HoằngHóa)

Thế kỷ XVII – XVIII là thế kỷ nở rộ của loại hình đền thờ của các quậncông, quan tướng triều Lê – Trịnh mà người dân quen gọi là lăng do số lượng đồthờ, hiện vật bằng đá trong đền thờ khá đồ sộ, tinh xảo, lại thường có mộ trongđền Đó là đền thờ và lăng Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi (niên đại1617), lăng Dương Lễ công Trịnh Đỗ (niên đại 1630), lăng Lê Thời Hiến (niênđại 1677), lăng Trịnh Thị Ngọc Lung (niên đại 1689), đền thờ Vệ quốc côngHoàng Bùi Hoàn (niên đại 1724), lăng Nghị Tổ Ân Vương Trịnh Doanh (cuối thế

kỷ XVII), Khu Tán Vọng Đường và hệ thống tượng đá ở Đa Bút (cuối thế kỷXVII), Lăng Hai Út (niên đại 1775), lăng Lê Đình Châu (niên đại 1778), lăngMãn Quận công (niên đại 1782) Có hiện tượng này là do thế kỷ XVI – XVIII,trong xã hội Việt Nam xuất hiện một lực lượng các quận công, quan tướng triềuđình có uy thế khá lớn mạnh Họ đại diện cho một thế lực quan trọng trong xã hội,khi công trạng đã viên mãn, họ thường xây dựng lăng mộ, đền thờ ở quê hươngnhằm báo hiếu tổ tiên và cũng là vinh danh cho chính họ Thời kỳ này, xứ Thanh

là vùng đất thang mộc của vua, chúa, nên số lượng các quận công, quan tướngtriều đình khá lớn Thanh Hóa lại là nơi có nghề chế tác đá An Hoạch nổi tiếng,trữ lượng đá phong phú với nhiều loại đá quý cho nên ở đây đã xuất hiện đền thờ

và lăng mộ của cá nhân mà đến nay vẫn hiện hữu

Hầu hết các đền thờ ở Thanh Hóa hiện còn được xây dựng hoặc trùng tulớn thời Nguyễn

2.2 Hệ thống thần linh được thờ phụng

2.2.1 Thống kê và phân loại

Ở xứ Thanh cũng như cả nước, cơ sở thờ tự thần linh ở các địa phươngchắc chắn không phải chỉ có ở các đền thờ mà còn ở các đình, phủ, miếu, am,

Trang 36

quán, v.v Tại xứ Thanh, ở một số làng - xã đền thờ thần linh còn được gọi là

“nghè” Còn phủ (thực chất cũng là đền thờ) chính là nơi thờ Mẫu (như PhủCốc, Phủ Thanh Lâm thuộc thành phố Thanh Hóa cũ, phủ Sung - Như Thanh;Phủ Sòng - Bỉm Sơn, v.v ) và am, quán là nơi thờ các vị thần của đạo giáo (như

Am Tiên - Triệu Sơn hay Quán Triều Thiên ở núi Đồng Cổ, Yên Định, v.v ).Riêng ở đình - “trụ sở” sinh hoạt chung của cộng đồng làng xã (ra đời và pháttriển rộng từ thế kỷ XVI trở đi) là nơi cũng có thờ thần linh, nhưng chỉ là thầnlinh được dân gian suy tôn là thành hoàng làng (tức những vị thần có công sánglập ra làng - xã, nghề nghiệp, hoặc là đấng siêu nhiên có tác động trực tiếp đếnđời sống, sinh hoạt của cả làng xã, v.v Vì vậy, thành hoàng được dân gian suytôn có thể là nhân thần hoặc là thiên thần hay nhiên thần)

Nói chung, hệ thống thần linh được thờ phụng ở xứ Thanh - vùng đất địađầu Bắc miền Trung, kề nối với miền Bắc khơi nguồn của nước Việt có bề dàylịch sử văn hóa là hết sức đa dạng và phong phú, được nảy sinh, tích hợp và pháttriển trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Vì vậy, đểnghiên cứu, tìm hiểu toàn bộ hệ thống thần linh đó quả là điều khó khăn và

không mấy dễ dàng Tuy nhiên, qua sử sách cũ để lại (như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện U Linh, Truyền kỳ mạn lục, Đại Nam nhất thống chí, Thanh Hóa tỉnh chí, hay Thanh Hóa chư thần lục, ) cùng các tài liệu thần tích, bia ký, sắc

phong còn lại cho đến nay, và đặc biệt là các tài liệu điều tra, thống kê về các ditích thờ phụng thần linh của Bảo tàng Thanh Hóa và Ban Quản lý Di tích - Danhthắng (nay là Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thanh Hóa) trong thời gianvừa qua cũng có thể giúp chúng ta có những bằng chứng và cứ liệu tin cậy đểnhìn nhận, đánh giá một cách đầy đủ, chuẩn xác hơn về đặc điểm, giá trị của hệthống thần linh được thờ phụng ở xứ Thanh trong quá trình lịch sử

Trong số các tài liệu sử sách xưa còn lại cho đến nay, sách “Thanh Hóa chư thần lục” được biên soạn vào đời vua Thành Thái (1889 - 1907) theo lệnh

của triều đình nhà Nguyễn và công bố chính thức vào ngày 15 tháng 10 nămQuý Mão (1903, tức là năm Thành Thái thứ 15) là một tài liệu vô cùng có giátrị Nhờ đó mà chúng ta biết được một cách khá rõ ràng về hệ thống thần linh(mà triều đình phong kiến đã công nhận) được thờ phụng ở cơ sở thờ tự (nhưđền - nghè, đình, miếu, v.v ) của các làng, xã xứ Thanh tính đến mấy năm đầu

của thế kỷ XX (mà cụ thể là đến năm 1903) Với độ dày đáng kể “Thanh Hóa chư thần lục” đã thống kê được duệ hiệu (tên gọi) và địa danh (địa điểm) nơi

thờ phụng của các vị thần linh với sự phân loại ra thần nam (dương thần) và thần

Trang 37

nữ (âm thần) khác nhau Trong tổng số 1002 vị thần được thống kê, ghi chép thì

có 837 vị là dương thần và 165 vị là âm thần Số vị thần được tóm tắt nội dungthần tích một cách rõ ràng (tuy dài, ngắn khác nhau) chỉ chiếm khoảng gần 40%tổng số thần được thống kê, còn hơn 60% số thần chỉ được chép tên duệ hiệu vàđịa danh thờ phụng Vì vậy, cho đến nay, việc giải mã và tìm ra nội dung lai lịchcủa rất nhiều vị thần đã từng được thờ phụng ở xứ Thanh cũng là việc kỳ công

và phức tạp vô cùng Nhưng từ ngày nước ta bước vào thời kỳ đổi mới cho đếnnay, nhờ chủ trương, đường lối bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc củaĐảng, Nhà nước mà hàng loạt di tích (trong đó có rất nhiều đền, đình, nghè,miếu ) sau thời gian “ngủ dài” và bị quên lãng đã được đánh thức, phục hồi đểphát huy tác dụng một cách thật đáng mừng Đặc biệt, trong 3 thập kỷ vừa qua,với các đợt kiểm kê và cho lập hồ sơ xếp hạng gần 800 di tích cấp tỉnh và gần

150 di tích cấp Quốc gia mà nhiều vị thần được thờ ở các đình, đền, nghè, miếu

đã được điều tra, phát hiện rõ ràng cả về duệ hiệu và lai lịch thần tích nói chung

Đó là một thuận lợi giúp chúng ta nhìn nhận, đánh giá một cách đầy đủ, kháchquan hơn về hệ thống thần linh đã từng được thờ phụng ở các địa phương làng -

xã của xứ Thanh (với giới hạn chỉ tính từ năm 1945 trở về trước)

Qua việc khảo cứu hơn 1000 vị thần linh mà sách “Thanh Hóa chư thần lục” thống kê, ghi chép và thực tiễn khảo sát đền thờ ở Thanh Hóa hiện nay, có

thể thấy hệ thống thần linh được thờ trong đền ở Thanh Hóa hết sức phong phú

* Các vị thần phân chia theo sắc phong của triều đình

Các vị thần được triều đình ban sắc, phân thành 3 loại:

- Thượng đẳng thần, là những thần danh sơn đại xuyên và những bậc

thiên thần như: Đổng Thiên Vương, Sóc Thiên Vương, Chữ Đồng Tử, LiễuHạnh công chúa, các vị ấy có sự tích linh dị mà không rõ tung tích ẩn hiện thếnào cho nên gọi là Thiên thần Hai là các vụ nhân thần như Lý Thường Kiệt,Trần Hưng Đạo các bậc ấy đề có sự tích, công trạng hiển hách và họ tên rõràng, lịch triều có mỹ tự bao phong là Thượng đẳng thần

- Trung đẳng thần là những vị dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ

ràng công trạng, hoặc có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc những thần cóchút linh dị, tới khi nhà vua sai kỳ tinh đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triềuđình liệt vào tự điển mà phong làm trung đẳng thần

- Hạ đẳng thần dân xã thờ phụng mà không rõ sự tích ra sao, nhưng cũng

thuộc về bực chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạđẳng thần

Trang 38

* Các vị thần phân theo tính chất tự nhiên

Phân thành hai loại: Nhiên thần và nhân thần

- Nhiên thần gồm: Thần núi: thờ Cao sơn tôn thần, Thái sơn tôn thần;

Thần sông: Long vương tôn thần, Long uyên tôn thân , thần sấm: Thiên hóalôi công, Thiên lôi linh ứng; Thần biển: Đông hải tôn thần, Áp lãng chân nhântôn thần; Thần mây: Đông phương linh ứng tôn thần; Thiên thần: Đại càn quốcgia Nam Hải, Thượng ngàn sơn tinh công chúa tôn thần v.v

Nhân thần chiếm số lượng chủ yếu trong các vị thần được thờ ở hệ thống

đền thờ ở Thanh Hóa Đó là các bộ tướng của Hùng Vương như Phan Tây Nhạctôn thần, Hưng Đạo Vương tôn thần, Mục uyển vũ dũng tôn thần (Lý ThườngKiệt), Kim ngô long hổ thượng tướng quân (Trần Khát Chân), Khương Công Phụtôn thần, các thần là Hoàng đế như Lê Đại Hành hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng đếmiếu, Lê Thái Tổ Hoàng đế Thần là các nghệ nhân như Thanh Xà trợ thuận tônthần (Lê Phong - ca hát), Khổng Minh Không tôn thần (tổ sư nghề đúc đông), tổ

sư nghề dệt săm súc (Bà Triệu) Một số đền thờ thần ở Thanh Hóa còn thờ cảnhững thần nước ngoài như: Chiêm quốc hoàng phi tôn thần (vợ vua ChiêmThành), Mãn Đường hoa công chúa tôn thần (con gái Hán vũ đế)

Như vậy, qua các đền thờ ở Thanh Hóa, về mặt sử liệu, ta có thể hiểuđược một cách khái quát diện mạo của các vị thần ở Thanh Hóa Đó là bức tranh

về xã hội Việt Nam nói chung, Thanh Hóa nói riêng trong thời phong kiến Từnhững hiện tượng tự nhiên đến các nhân vật truyền thuyết, huyền thoại, dã sử,đến các nhân vật lịch sử có công với đất nước, mang lại sự bình yên cho conngười đều được tôn vinh, thờ phụng qua nhiều thế hệ, được nhà nước thừa nhận,nhân dân ghi nhớ

2.2.2 Đặc điểm của hệ thống thần linh ở Thanh Hóa

Thanh Hóa là mảnh đất vừa có nhiều yếu tố huyền thoại vừa mang đậmdấu ấn lịch sử qua từng triều đại phong kiến Chính vì vậy số lượng thần đượcthờ ở Thanh Hóa so với cả nước không hề nhỏ Nét độc đáo của tín ngưỡng thờthần ở Việt Nam cũng như ở Thanh Hóa là ở một làng, một ngôi đền, ngôi chùa,một nơi thờ cúng không chỉ thờ độc tôn một thần mà có nhiều thần, có khi cảthiên thần, nhiên thần, nhân thần, lại có cả những yếu tố, nhân vật thờ cúng giaolưu, ảnh hưởng với các tín ngưỡng, tôn giáo khác của dân tộc như Nho giáo,Đạo giáo, Phật giáo Sự thờ cúng đa dạng đó không hề mâu thuẫn và pha tạp mà

Trang 39

có sự thống nhất chung trong nguyên lý cao nhất là mục đích cầu mong sự bìnhyên, tốt lành, mong các thần đem lại cuộc sống hạnh phúc nhất cho con người

Đối với người Việt ở miền xuôi, hầu hết các nhiên thần đều đã bị phongkiến hóa, việc sùng bái, thờ cúng các thần tự nhiện chủ yếu còn bảo lưu đượctính nguyên sơ, hồn nhiên ở các dân tộc thiểu số miền núi, biểu hiện qua việcthờ thần núi, thần đá, thần cây, thần sấm, thần sông nước… Đồng thời, là sự tiếpnối của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa còn đọng lại tín ngưỡng thờ ngườikhổng lồ siêu việt: Độc Cước, ông Tu, ông Vồm, thánh Bưng, Cao Sơn, CaoCác, Sơn tiêu Độc Cước, Cao Sơn Lập Thạch, Sạ Sơn

Là mảnh đất nhiều chiến tranh loạn lạc, gắn bó với sự thịnh suy của nhiềutriều đại phong kiến, thần ở Thanh Hóa phần lớn đều là những vị anh hùng dântộc, những con người gắn với những bước phát triển của đất nước, quá trìnhdựng làng, giữ nước… mà võ tướng chiếm tỷ lệ lớn Trước hết đó là các vuachúa: Bà Triệu, Lê Hoàn, Vua Đinh, Nhà Hồ, Nhà Lê, Nhà Nguyễn – chúaNguyễn, chúa Trịnh Tiếp đến là các anh hùng giết giặc: Trần Khát Chân, LýThường Kiệt, Dương Đình Nghệ, Lê Phụng Hiểu, Lê Lợi, Nguyễn Phục, LêCốc, Lê Ngọc, Nguyễn Chích, Quận Mãn, Trịnh Khả Có những trường hợpđộc đáo, nhân vật lịch sử đã được đồng nhất với nhân vật huyền thoại để đượcnâng cao về tầm vóc trong tâm thức dân gian Đó là trường hợp Lê Phụng Hiểu– một nhân vật lịch sử có thật đã được lồng ghép tài tình với ông Bưng – mộtnhân vật khổng lồ thần thoại để trở thành Thánh Tến – một vị thánh riêng củangười dân Thanh Hóa

Điểm đặc biệt nhất là rất nhiều người có công với làng xã, đất nước đãđược nâng lên thành Thánh Thần là do triều đình phong tặng Thánh mới thực

sự là tín ngưỡng mà người dân xứ Thanh tôn thờ Thanh Hoá là một trong những địa phương tôn thờ nhiều vị Thánh nhất trong nước (12 vị) Trong quan

niệm của người dân Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung, Thánh là bậccao minh nhất, không bị lực lượng nào điều khiển, kiềm thúc, có nhiều quyềnnăng sẵn sáng diệt quỷ trừ tà, tạo được những cơn gió lành, mưa ngọt đem lại

mùa màng tươi tốt, cuộc sống yên vui cho dân làng” Sách Địa chí Thanh Hóa

liệt kê 11 (thực chất là 12) vị Thánh được thờ ở Thanh Hóa là: Thánh Độc,Thánh Bưng (Thánh Tến), Thánh Cưu, Thánh Lưỡng (hai vị khác nhau), ThánhMẫu, Thánh Nương, Thánh Tản, Thánh Quản, Thánh Trần, Thánh Khổng,

Trang 40

Thánh Hẹ Mười hai vị Thánh được nhân dân Thanh Hóa tôn vinh và thờ phụng,

có vị tầm cỡ quốc gia như Thánh Tản, Thánh Trần, Thánh Mẫu…, có vị làThánh riêng của người dân Thanh Hóa làm cho bức tranh thờ cúng ở Thanh Hóa

có mảng màu riêng Nhân vật Thánh Lưỡng tồn tại rất phổ biến ở Thanh Hóa,

được thờ phụng ở nhiều nơi Tục thờ thánh Lưỡng liên quan đến tín ngưỡng thờ giọt máu rơi với lời kể : Thánh Lưỡng ôm đầu nhảy lên ngựa phi, đến bờ sông

Cổ Định thì hóa, chỗ nào có giọt máu rơi thì chỗ ấy lập đền thờ Sau này cóThánh Lưỡng Trần Khát Chân và Thánh Lưỡng Đoàn Thượng là các nhân vậtlịch sử thời Trần bị nạn rơi đầu cũng tiềm nhập vào Thánh Lưỡng tham xung táquốc Vì vậy, hiện tượng Thánh Lưỡng là một hiện tượng văn hóa độc đáo củaThanh Hóa trong tổng thề văn hóa Việt

Một nét đặc sắc khác của tín ngưỡng thờ thần ở Thanh Hóa là tín ngưỡngthờ nữ thần, thờ Mẫu (cửu thiên huyền nữ (cô Chín), Tứ vị Thánh Nương, Bà

Triệu, Lê Thị Ngọc Dao ) Theo sách Thanh Hóa chư thần lục thì ở Thanh

Hóa, số nữ thần được thờ cúng ít hơn hẳn nam thần (173 nữ thần so với 770 namthần) nhưng lại rất đáng chú ý Tục thờ Nguyệt Nga công chúa tôn thần (67 làngthờ – tập trung ở hai huyện địa đầu Thanh Hóa là Hà Trung và Tĩnh Gia), cùngvới việc thờ các công chúa các triều: Trần, Lê, Chiêm Thành… ở những nơi nonxanh nước biếc, sơn kỳ thủy tú gắn với tín ngưỡng thờ nữ thần – mang ý nghĩacội nguồn tự nhiên trong tâm thức dân gian

Do có bờ biển dài, nhiều cửa sông ở Thanh Hóa còn có tín ngưỡng thờthần Biển và những vị thần gắn với nghề nghiệp biển khơi ở Thanh Hóa cónhiều vị thần biển với tên gọi khác nhau : Đông Hải Đại Vương, Tứ Vị ThánhNương, Tô Đại Liêu tôn thần, Độc cước tôn thần, Bà Triều

Nét độc đáo trong tín ngưỡng thờ thần ở Thanh Hóa là hiện tượng thờ cúng thành tuyến dài Hiện tượng này có quan hệ hữu cơ với đặc điểm địa lý,

lịch sử và văn hóa của đất nước – con người Thanh Hóa Có thể kể đến cáctuyến thờ tiêu biểu: thờ thần Núi (414 làng thờ); tục thờ Tứ vị Thánh nương (94làng thờ) và Đông Hải Đại vương (72 làng thờ), Tô Đại Liêu tôn thần (73 làngthờ), Đô Bác Trịnh phủ tướng quân tôn thần (71 làng thờ) Điều độc đáo là cáctuyến thờ các thần rất riêng biệt, mỗi thần một tuyến không chồng chéo, tuyến

nọ vắt lên tuyến kia hoặc lẫn lộn song hành

Ngày đăng: 25/10/2022, 08:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1990 - 2004), Lịch sử Thanh Hóa, 5 tập, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1990 - 2004), "Lịch sửThanh Hóa
Nhà XB: Nxb KHXH
2. Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2002), Đất và người xứ Thanh, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2002), "Đất và ngườixứ Thanh
Tác giả: Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2002
3. Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2005), Văn hóa phi vật thể Thanh Hóa, Nxb. Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2005), "Văn hóa phi vậtthể Thanh Hóa
Tác giả: Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb. Thanh Hóa
Năm: 2005
4. Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa (2000 - 2007), Di tích và Danh thắng Thanh Hóa, 12 tập, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa (2000 - 2007), "Di tích vàDanh thắng Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
5. Ban Quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa (2009), Lễ hội xứ Thanh (tập 1), Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa (2009), "Lễ hội xứ Thanh(tập 1)
Tác giả: Ban Quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2009
6. Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa, Hồ sơ các di tích tỉnh Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa
7. Trần Lâm Biền (1993), Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình Việt, Nhà xuất bản Mỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền (1993), "Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hìnhViệt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nhà xuất bản Mỹ thuật
Năm: 1993
8. Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền (2000), "Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóadân tộc
Năm: 2000
9. Trần Lâm Biền (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền (2001), "Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của ngườiViệt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Năm: 2001
10. Trần Lâm Biền (2005), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền (2005), "Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Vănhóa Thông tin
Năm: 2005
11. Trần Lâm Biền (2012), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền (2012), "Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châuthổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin
Năm: 2012
12. Trần Lâm Biền – Trịnh Sinh (2001), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền – Trịnh Sinh (2001), "Thế giới biểu tượng trong di sảnvăn hóa Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Trần Lâm Biền – Trịnh Sinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2001
14. Charles Robequain (2012), Tỉnh Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Charles Robequain (2012), "Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Charles Robequain
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2012
15. Nguyễn Du Chi (2000), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Viện Mỹ thuật và Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du Chi (2000), "Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2000
16. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Huy Chú (2007), "Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2007
17. Trần Huy Hùng Cường (2005), Đường đến các di sản thế giới Miền Trung, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Huy Hùng Cường (2005)," Đường đến các di sản thế giới MiềnTrung
Tác giả: Trần Huy Hùng Cường
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
18. Quốc Chấn (2007), Những thắng tích của xứ Thanh, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc Chấn (2007), "Những thắng tích của xứ Thanh
Tác giả: Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2007
19. Dauglas Hounsworth (2005): “Bảo tồn đa dạng văn hóa nhìn từ góc độ du lịch” (Tạp chí Du lịch Việt Nam số 11, tr. 52 - 55) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dauglas Hounsworth (2005): "“Bảo tồn đa dạng văn hóa nhìn từ góc độdu lịch
Tác giả: Dauglas Hounsworth
Năm: 2005
20. Cao Xuân Dục (2010), Viêm Giao Trưng cổ ký (ghi chép sự tập di tích cổ nước Nam), Nxb Tri Thức Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Xuân Dục (2010), "Viêm Giao Trưng cổ ký
Tác giả: Cao Xuân Dục
Nhà XB: Nxb Tri Thức Thời đại
Năm: 2010
21. Dauglas Hounsworth (2005): “Bảo tồn đa dạng văn hóa nhìn từ góc độ du lịch” (Tạp chí Du lịch Việt Nam số 11, tr. 52 - 55) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dauglas Hounsworth (2005): “Bảo tồn đa dạng văn hóa nhìn từ góc độdu lịch” (Tạp chí "Du lịch
Tác giả: Dauglas Hounsworth
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w