HƯ CẤU, SÁNG TẠO TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM I THẾ NÀO LÀ HƯ CẤU, SÁNG TẠO? 1 Hư cấu là gì? “Hư cấu Tạo ra theo sự tưởng tượng nhằm phục vụ mục đích nghệ thuật của tác phẩm” (Từ điển Tiếng Việt,.
Trang 1HƯ CẤU, SÁNG TẠO TRONG VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
I THẾ NÀO LÀ HƯ CẤU, SÁNG TẠO?
1 Hư cấu là gì?
“Hư cấu: Tạo ra theo sự tưởng tượng nhằm phục vụ mục đích nghệ thuật
của tác phẩm” (Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 1996)
“Hư cấu: là phương thức xây dựng hình tượng điển hình qua việc sáng tạo
ra những giá trị mới, những yếu tố mới, như sự kiện, cảnh vật, nhân vật trong một tác phẩm theo sự tưởng tượng của tác giả Đây là một yếu tố không thể thiếu của sáng tác văn học nghệ thuật Văn học nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống nhưng không sao chép nguyên nó Từ những chất liệu thực tế, nghệ sĩ tổ chức, nhào nặn, sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật sinh động, rõ nét và điển hình hơn, tuy thuộc chủ đề của tác phẩm
Trong hư cấu, tác giả có thể sử dụng các biện pháp cường điệu, khoa trương, thậm chí tượng tượng, nhân cách hóa Thể loại khoa học viễn tưởng chính là kết quả của hư cấu.Giá trị của hư cấu nằm ở tính tư tưởng, chủ đề tác phẩm và tài năng khái quát hiện thực của nhà văn.”(Từ điển Bách khoa Việt Nam)
Hư cấu chính là dấu hiệu của sáng tạo
2 Sáng tạo là gì?
Sáng tạo: “Tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần; Tìm ra cái
mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” (Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 1996)
Như vậy, hư cấu nghệ thuật chính là dấu hiệu ban đầu của sáng tạo nghệ thuật Văn học nghệ thuật xưa nay, không đơn thuần chỉ là việc phản ánh lại cuộc sống, hơn hết nó phải tìm cho mình cách biểu hiện tốt nhất, đáng nói ở đây chính là
ý thức về mặt sáng tạo, vì ý thức về sáng tạo tức là người viết ý thức được bản thân, thể hiện được sự mài mò trong lao động sáng tạo nghệ thuật nhất là trong văn chương Vì vậy hư cấu, sáng tạo là điều kiện tất yếu trong sáng tác văn học Đối với văn học Trung đại, hư cấu sáng tạo là yếu tố rất đáng được quan tâm
Trang 23 Hư cấu và sáng tạo trong văn học Việt Nam từ văn học dân gian đến văn học hiện đại
Văn học Việt Nam gồm hai bộ phận chính: văn học dân gian và văn học viết Văn học viết phát triển trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian từ
đề tài, thi liệu, ngôn ngữ, quan niệm thẩm mỹ…Trong quá trình kế thừa và phát triển, hai bộ phận luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung lẫn nhau để cùng phát triển
Trong văn học dân gian, hư cấu được sử dụng như một phương thức nghệ thuật để xây dựng hình tượng nghệ thuật, đồng thời thể hiện tư tưởng, quan niệm nhân sinh của nhân dân lao động Hư cấu, sáng tạo đã tạo nên những câu chuyện
cổ tích, truyền thuyết, thần thoại với những vị thần tối cao đầy quyền năng kì lạ, những chàng dung sĩ với sức mạnh siêu nhiên, tài trí hơn người, những giấc mơ cái thiện thắng cái ác, những vị tiên, vị thần… sống mãi trong tâm thức người Việt mãi
về sau Sự hư cấu, sáng tạo thể hiện qua yếu tố kì ảo của văn học dân gian có thể nhận thấy rõ nhất qua mảng truyện cổ tích thần kì, và phần nào qua mảng thơ, truyện về ma Với người dân lao động Việt Nam, ma không đơn thuần là sự hiện hình của người chết mà là một nhãn quan để nhìn nhận, đánh giá cuộc sống, một cách hành xử hợp lí, hợp tình Chính vì thế, bên cạnh sự thức nhận có phần đơn
giản theo kiểu “vạn vật hữu linh”: “thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề” , ma
còn là sự thể hiện chân xác những phương diện tích cực trong đời sống tinh thần của họ… Nó cũng chính là khát vọng muốn cải thiện đời sống bằng sự cảnh tỉnh từ một thế lực vô hình
Như vậy, hư cấu, sáng tạo đã khởi nguồn từ những giai đoạn đầu của nền văn học Việt Nam
Kế thừa những thành tựu của nền văn học dân gian, văn học viết Trung đại
đã phát triển lên đến thành tựu rực rỡ nhờ vào hư cấu, sáng tạo có thể kể đến những tên tuổi như Ngô Sĩ Liên, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Thái, Nguyễn Huy Tự, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Hữu Hào, Ngô Gia Văn Phái…đã để lại cho nền văn học Trung đại Việt Nam một số lượng tác phẩm đồ sộ ghi rõ nét dấu ấn phát triển của hư cấu, sáng tạo
Hư cấu, sáng tạo rất cần thiết cho sáng tạo văn học nghệ thuật Hiện nay hư cấu, sáng tạo trong văn học cũng được các nhà văn hiện đại kế thừa và phát triển,
đó cũng chính là điều kiện cho họ thể hiện tài năng, sự phong phú về tưởng tưởng sáng tạo nghệ thuật và tạo nên nét đặc trưng riêng cho mình
Trang 3II HƯ CẤU, SÁNG TẠO TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆTNAM
Văn học Việt Nam luôn có sự hư cấu, sáng tạo, tuy nhiên mỗi thời kì, mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng Đối với văn học Trung đại cũng vậy Hư cấu sáng tạo thời
kì này phát triển từ hư cấu, sáng tạo không tự giác đến hư cấu, sáng tạo tự giác,
trên từng thể loại khác nhau (thơ, văn xuôi, truyện thơ Nôm, truyện văn xuôi, tiểu thuyết…) gắn liền với ba giai đoạn văn học (X-XIV, XV-XVII, XVIII-XIX)
1 Giai đoạn 1: hư cấu sáng tạo không tự giác (hư cấu ở một trình độ chưa được tự giác đầy đủ) thế kỉ X-XIV
1.1 Đối với thơ:
1.1.1 Do quan niệm thơ tỏ lòng (ngôn chí) cho nên các nhà thơ chỉ lấy việc
tỏ lòng làm chính Các nhà thơ trung đại hết sức đề cao cái thực, cái trung hậu, xem cái đẹp, cái điểm tô là cái phụ, cái thêm vào Chẳng hạn, Nguyễn Cư Trinh viết: Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc, lời thơ phải giản dị Còn việc điểm tô cho đẹp đẽ, trau dồi cho khéo léo lạ lùng…chỉ nên coi là việc thừa của năm mối
Tách bạch trung hậu, giản dị của năm mối ngũ thường khỏi việc tô điểm cho đẹp và khéo léo, lạ lùng, cũng tức là hạn chế bớt phần tưởng tượng bay bổng của thơ Ngô Thì Nhậm nói: Người làm văn quý ở mực thước, thanh nhã, hồn nhiên, biết lấy cái thực làm cốt từ, rồi dùng đẹp để trang sức thêm, làm thơ cũng phải như thế
Nói như thế không phải là Văn học trung đại ít hư cấu.Những cảnh du tiên, thả hồn trong cảnh mộng, tư duy trong biểu tượng cũng là hư cấu.Thực ra họ thể
hiện tình thật trong cảnh hư cấu ở một trình độ chưa được tự giác đầy đủ.
Trong tác phẩm “Thiền uyển tập anh” (lựa chọn những bậc anh tú trong
vườn Thiền) cho biết nhà sư Vạn Hạnh đêm ngồi nhập định nghe thấy ở mộ Đại Vương Hiển Khánh (thân phụ Lý Công Uẩn) có tiếng ngâm thơ.Nhà sư cho chép lại bốn bài, ca ngợi đất quê Lý Thái Tổ Hiện tượng thần nhân làm thơ được ghi chép khá nhiều ở thời Lý- Trần, như nhà sư Đa Bảo triệu thần nhân lên đọc bài Đại
đức trong “Việt điện u linh”.
Trong “Việt điện u linh” chép việc từ đền Trương Hống, Trương Hát vọng ra bài thơ “Nam quốc sơn hà” mà nay người ta suy là của Lí Thường Kiệt.Trong
“Lĩnh Nam chích quái lục” thì bài thơ ấy lại đặt vào đời vua Lê Đại Hành, trước
thời Lý Hiện tượng này chứng tỏ con người đã sáng tác thơ và quy cho thần, phú cho thơ thần tính Phải hiểu nhân vật trữ tình của bài thơ là thần thì mới cảm nhận
Trang 4giả mạo là thần thì đó là hành động dối trá, báng bổ, khó chó thể chấp nhận với đương thời Song thần nhập vào mình để mình nói lên lời thần lại là điều thường thấy cả cho đến ngày nay theo niềm tin truyền thống
1.1.2 Ở thơ thiền, nhà thơ thường viết với tư cách người ngộ đạo, làm thơ
để biểu hiện thiền lí, thiền thú và thiền cảnh Họ là kẻ tiên giác về cõi tịch mịch.Các nhà thơ thiền thường làm thơ kệ khi giảng đạo, khi sắp tịch, khi bắt gặp thiền thú.Họ là kẻ đưa tin về cõi thiền Sáng tạo thơ thiền gắn với quá trình đạo trong thực tế của tác giả, và điều này tương tự như thể nghiệm thơ, nâng cảm xúc kinh nghiệm lên tầm thể nghiệm tâm linh Do sáng tạo thơ thiền là sáng tạo của người ngộ đạo, cho nên đó không phải là hư cấu thơ thuần túy nghệ thuật, mà trước hết hàm chứa thiền lí và thiền thú của người tự phát hiện
1.2 Đối với văn xuôi
Tính chất hư cấu không tự giác càng thể hiện rõ hơn, các hình ảnh về sự thật lịch sử và sự thật nghệ thuật chưa phân biệt ra do văn sử bất phân Ý thức bất phân ấy làm cho tác giả chép lại truyền thuyết như là sự thực ngụ trong việc quái đản
“Việt điện u linh” là sách ghi lại lịch sử chư thần ở cõi u linh, mà thần là sản
phẩm của sáng tạo vô thức theo nguyên tắc linh hóa, nhưng các tác giả chép với
tinh thần “Chép lại sự thực” (Bài tựa của Lý Tế Xuyên) Bài tựa trong “Lĩnh Nam chích quái” của Vũ Quỳnh xem các truyện dân gian được ghi chép “là sử trong truyện chăng”, và sau khi phân tích đi đến nhận định “Việc tuy kì dị mà không quái đản, văn tuy thần bí mà không nhảm nhí, tuy nói những chuyện hoang đường mà tung tích vẫn có bằng cứ”
Bài “Tựa” của Hồ Tông Thốc viết cho “Việt điện u linh” (Theo Lịch triều hiến chương loại chí) lại cho thấy tác giả không tin chuyện hoang đường, quái dị,
nhưng vẫn ghi lại, chờ người xem xét
Kiều Phú viết “Hậu tự” cho “Lĩnh Nam chích quái” tuy đã phân biệt được
loại “chuyện thường tình” với “chuyện quái đản”, ghi loại sau “để mở rộng dị văn”
đã “thêm ý riêng” mà “biện chính những chỗ sai lầm bớt chỗ rườm rà theo chỗ giản dị” vô tình đã làm giảm bớt chất văn của người trước nhưng vẫn giữ lại chuyện quái đản
Lê Qúy Đôn chê truyện “Giếng Việt” là phụ hội mà không phân tích.Người
xưa không bác bỏ được những chuyện mà họ cho là không thực
Trang 5Người xưa chưa phân biệt được sự thật và chuyện hoang đường, lại càng không thể xác định tính hư cấu trong truyền thuyết, vậy thì khó lòng nói tới hư cấu.đó là giai đoạn mà người chép truyện hoàn toàn dựa vào ý thức cộng đồng chưa có ý thức nghệ thuật rõ rệt Tất nhiên người nay nhận ra tính hư cấu như mô típ lừa lấy nỏ thần, móng rồng khi thì để cho Trọng Thủy, khi thì để cho Nhã Lang…
Trong “Đại Việt sử kí toàn thư”, Ngô Sĩ Liên đã đưa các yếu tố huyền thoại vào phần “ngoại kỷ”, “những việc quái đản lắm thì bỏ đi không chép”.Ông đã “lịch
sử hóa truyền thuyết”, tước bỏ sự hư huyễn của huyền thoại đồng thời tiến hành
“hiện đại hóa”.Ngô Sĩ Liên thừa nhận mô típ sinh hạ diệu kì, nuốt trứng chim
huyền điều sinh ra nhà Thương, dẫm vết chân người lớn dựng nên nhà Chu…là một sự thật lịch sử.Ở đây vẫn chưa có tiêu chuẩn phân biệt sự thực và việc quái đản Đây là giai đoạn chưa có ý thức nghệ thuật rõ rệt
2 Giai đoạn hai, ba: Hư cấu, sáng tạo tự giác, thế kỉ XV-XVII và XVIII-XIX.
2.1 Thế kỉ XV-XVII
2.1.1 Đối với thơ: sáng tạo hình ảnh thơ để gợi cảm xúc.
Văn hóa Nho giáo không khuyến khích hư cấu, tưởng tượng, không nói chuyện quái lạ thần ma, vốn không thuận lợi cho sự phát triển của văn học
Nhà thơ Nho gia Việt Nam làm thơ ngôn chí không bao giờ biểu hiện một tình cảm nào khác với tình cảm thật, thân phận thật của mình chín mươi chín bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, 254 bài thơ Nôm của ông đều là tâm sự của bản thân nhà thơ Các nhan đề thơ chữ Hán đều nói lên tình huống, thời điểm có thật
khi làm bài thơ như: “Sau loạn đến Côn Sơn cảm tác, Đêm đậu thuyền ở Lâm Cảng, Xem duyệt thủy trận”…Việc sáng tạo của tác giả là tạo ra ý cảnh khêu gợi
cảm xúc Ví như mấy bài thơ Bến đò xuân đầu trại, Cuối xuân tức sự
“Bến đò xuân đầu trại
Cỏ xanh như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời
Quanh quẽ đường đông thưa vắng khách
Con đò gối bãi suốt ngày ngơi.”
(Khương Hữu Dụng dịch)
Trang 6Trong bài thơ, Nguyễn Trãi đã tạo nên những hình ảnh thiên nhiên và sự sống tĩnh lặng, đẹp và hài hòa: Cỏ xanh như khói, mưa xuân nước vỗ trời, đường đông thưa vắng khách, con đò gối bãi Cảnh người thì tỉnh lặng, không hoạt động nhưng cảnh thiên nhiên hiện lên với tất cả sức sống của nó Cỏ xanh như khói là một màu xanh động đầy sức sống Như khói là màu xanh lọc qua làn mưa xuân Nước vỗ trời vì mặt nước rộng tiếp giáp với chân trời trong màn mưa… Sự sáng tạo những hình ảnh như thế tạo nên sắc đẹp cho thơ và để gửi gắm tâm hồn hòa điệu với thiên nhiên, sự thư thái của tâm hồn, cũng để thể hiện triết lí của đạo Nho
Ở đây với kinh nghiệm thi ca cổ điển Trung Quốc, nhà thơ Việt Nam đã biết
sáng tạo tự giác hình ảnh thơ Sáng tạo thơ trung đại tuân theo mấy hình thức
cảm vật, hứng, kí thác, ngụ ý, chủ yếu là mượn vật, mượn cảnh để nói ý, nói tình
Điều chủ yếu là phải có ý mới, phát hiện ý mới trong thi liệu cũ Ví như bài “Phản chiêu hồn” của Nguyễn Du
2.1.2 Đối với văn bước đầu thừa nhận yếu tố quái đản
Giai đoạn này yếu tố quái đản bước đầu được thừa nhận nguyên tắc “thực lục” ở đây đã được coi là không nhất thiết, chất sử học lùi bước trước văn học
Về truyện “Từ Thúc lấy vợ tiên”, lời bàn của “Truyền kì mạn lục” viết “Cho
là thực không ư, chưa hẳn là không, cho là thực có ư chắc hẳn là có Có không lờ
mờ, câu chuyện tựa hồ quái đản Nhưng có âm đức thì tất có dương báo đó là lẽ thường” Như vậy là quái đản có lí, không việc gì phải cắt bỏ, phủ nhận
Trong truyện “Tử Hư lên chơi Thiên tào” nói: cốt là truyện có ý nghĩa
khuyến thiện, còn như “có hay không có hà tất phải gạn gùng đến nơi đến chốn làm gì!”
“Thánh Tông di thảo”, như nhiều học giả chứng minh, có những yếu tố cho
thấy nó không hoàn toàn là của Lê Thánh Tông, thế kỉ XV, nhưng cũng không phủ nhận hoàn toàn nó là một tập truyện được viết ở thế kỉ XV, XVIII Đáng chú ý là
lời tựa của di thảo khẳng định: “Truyện quái dị, thần kì mà mắt người không trông thấy là có thực” Tác giả bài tựa nói: “Trong bốn bể chín châu, biết bao núi thẳm, đầm to, thì những chuyện quái dị thần kì kể sao cho hết được” Tác giả đã lấy tính
vô cùng tận của thế giới để biện minh cho sự hiện hữu của yếu tố quái dị thần kì, tức là biện minh cho sự tưởng tượng hư cấu
Đặc biệt, trong bài Tựa tác giả nhắc đến các ví dụ về sinh hạ diệu kì mà Ngô
Sĩ Liên đã thừa nhận như: “Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra ông tổ nhà Thương, ướm vào vết chân lớn má sinh ra ông tổ nhà Chu…”
“Truyền kì mạn lục” thì biện minh bằng cái lý “âm đức dương báo” ,”có có không không” Vậy là yếu tố quái đản được xem là tự nhiên không được gạt bỏ.
Trang 7Thế kỉ XVII, xuất hiện tác phẩm “Thiên Nam ngữ lục” tác giả đã “văn học
hóa”các sự tích lịch sử bằng các chi tiết hư cấu, thêm thắt
2.2 Thế kỉ XVIII-XIX dựa vào kinh nghiệm cảm thụ và tri thức đời sống
để tạo ra một thế giới sống trong nghệ thuật.
2.2.1 Đối với thơ: sản phẩm của hư cấu nghệ thuật thuần túy
Đây cũng là giai đoạn ý thức nhân văn phát triển, nhà thơ thấy được tính phổ biến của số phận con người, sự sáng tạo càng được mở rộng
Với việc xuất hiện của “Chinh phụ ngâm” và “Cung oán ngâm khúc” vào
khoảng nửa đầu và nửa cuối thế kỉ XVIII, những khúc ngâm dài đầy tính sáng tạo càng khẳng định cho ý thức hư cấu, sáng tạo của tác giả thời ấy Nhà thơ nam giới bộc lộ tâm tình của nhân vật nữ, dù có kí thác cũng đòi hỏi một sự hư cấu, tưởng tượng Hình tượng chinh phụ, cung nữ, tuy là có sử dụng chất liệu trong thơ nhạc phủ, thơ Đường- Tống để tạo nên nhưng là những hình tượng được sáng tạo mới hoàn toàn trên cơ sở những sự việc, kinh nghiệm và tâm trạng của thời đại, gần
như là sản phẩm của hư cấu nghệ thuật thuần túy
2.2.2 Đối với truyện thơ Nôm
2.2.2.1 Hư cấu, sáng tạo trên cốt truyện đã có, diễn Nôm sáng
tạo lời kể, miêu tả
“Truyện song tinh” của Nguyễn Hữu Hào ra đời vào đầu thế kỉ XVIII là truyện diễn Nôm một tiểu thuyết tài tử giai nhân của Trung Quốc là “Định tình nhân” gồm 16 hồi Biện pháp của tác giả Việt Nam là rút gọn lại một số hồi trong
tiểu thuyết để phù hợp với thể loại truyện thơ, và sáng tạo lại lời kể, thay đổi nội dung mấy bài văn trong truyện Đáng chú ý là tác giả chú trọng miêu tả các thời điểm và thời gian trong truyện và lời văn thì giàu chất chơi chữ, bông đùa hóm hỉnh, nó chứng tỏ sự giao lưu giữa người kể và nhân vật
“Truyện hoa tiên” của Nguyễn Huy Tự soạn vào giữa thế kỉ XVIII trên cơ
sở tiểu thuyết đời Minh có tên là “Hoa Tiên kí” và tiểu thuyết thuyết xướng ở Quảng Đông cũng gọi là “Hoa tiên kí” Nguyễn Huy Tự hầu như là “chuyển thể
một cách trung thành” nguyên tác, tình tiết hai truyện dường như chẳng khác gì nhau, chỉ sửa đổi một vài chi tiết Chẳng hạn Nguyễn Huy Tự không để cha mẹ Lương Phương Châu được tin mừng rồi mới đi kinh đô thăm con trai… Tuy nhiên, Nguyễn Huy Tự không phải dịch thẳng hay dịch ý, mà dựa vào truyện Hán để kể lại, tả lại, tỉa bớt các chi tiết vụn vặt Hai truyện trên đã sáng tạo lại lời kể, miêu tả, một loại sáng tác mang tính chất diễn ca
2.2.2.2 Hư cấu, sáng tạo mới dựa trên cốt truyện cũ
Trang 8“Truyện Kiều” của Nguyễn Du, đây có thể coi là trường hợp sáng tạo mới trên cơ sở cốt truyện của tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyên” của Thanh Tâm tài nhân Mộng Liên Đường chủ nhân viết tựa cho “Đoạn trường tân thanh” đã viết:
“Ta lúc nhân đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy” Đó là lời nhận định về sự sáng tạo của Nguyễn Du trong tác phẩm: có dụng tâm khổ, có
tự sự khéo, có tả cảnh vật, có tâm tình tha thiết
Nguyễn Du đã đổi mới chủ đề “Truyện Kiều” từ “Tài mệnh tương đố” sang
“Thân mệnh tương đố”, từ “tình và khổ” sang tiếng đoạn trường của số phận oan khổ, từ cảm hứng về những việc “bất hủ để được lưu danh” sang tiếng thương,
tiếng khóc cho con người, làm cho âm hưởng tác phẩm sâu lắng hơn, vang vọng hơn Nguyễn Du trên cái nền cốt truyện đã có đã làm thay đổi trọng tâm của hình tượng Ông không giản đơn là tước bỏ các chi tiết một cách tàn nhẫn, sắp xếp các tình tiết cho hợp lí, mà tận dụng mọi cơ hội để tô đậm nỗi đau của con người
Chỉ một cuộc tiễn Kim Trọng về hộ tang chú, Thanh Tâm tài nhân để Kiều
an ủi Kim một câu thì Nguyễn Du dành 36 dòng để khóc than dặn dò tiễn đưa
Trọng “Kim vân Kiều truyện” Thúc Sinh về thăm nhà Kiều không ra tiễn đượcthì Nguyễn Du với 8 dòng thơ lâm li đã vẽ nên cảnh “Người lên ngựa kẻ chia bào”
Nguyễn Du còn tưởng tượng lại câu chuyện và tình huống chuyện theo một điểm mới và thay đổi điểm nhìn trần thuật Ông trần thuật theo điểm nhìn nhân vật, chủ yếu là nhân vật Thúy Kiều Cách thay đổi điểm nhìn đó đem lại góc nhìn tâm
lí, miêu tả tâm lí trong tác phẩm Chẳng hạn, trong “Kim Vân Kiều truyện” hai chị
em Vân Kiều về trước rồi Kim Trọng về sau, còn Nguyễn Du để cho Kim Trọng
lân ngựa về trước còn hai chị em Kiều “nghé” theo Đoạn Kim Trọng về hộ tang
và đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều cũng đều thuật theo con mắt Kiều khiến
“Truyện Kiều” là một truyện suy tư đau đớn về số phận có tính nhất quán.
Cùng với nội dung ấy, Nguyễn Du đưa và tác phẩm một hình tượng người kể chuyện lúc nào cũng sẵn sàng chia sẻ với nhân vật trong mọi niềm vui nỗi hận
Cơ sở của sự sáng tạo là Nguyễn Du có một quan niệm mới về con người Ông nhìn con người theo quan niệm bình đẳng nhân bản “Thịt da ai cũng là người”, xót thương cho số phận con người mong manh, vô thường, nhỏ bé …
“chút phận ngây thơ, chút song thân, chút nghĩa cũ vàng…”
Như vậy, “Truyện Kiều” thể hiện cao nhất cho ý thức sáng tạo lại trên cái
nền một truyện có sẵn, từ quan niệm con người đến điểm nhìn nhân vật, đổi thay điểm nhìn, cảm hứng trần thuật Đó là sự thăng hoa, lột xác của tác giả
Trang 92.2.2.3 Hư cấu, sáng tạo dựa trên cốt truyện cũ nhưng xen vào yếu tố tự truyện
Ở kiểu sáng tạo này, các tác giả cũng dựa trên cốt truyện đã có từ tiểu thuyết, cốt truyện dân gian Nhưng điểm mới là các tác giả đã lồng ghép vào đó yếu tố tự truyện, tức là có những phần tác giả nói chuyện của mình Đây cũng là điểm sáng tạo trong thể loại truyện thơ trung đại
Tác phẩm “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu, Tác giả đã sử dụng cốt truyện của tiểu thuyết “Nhị độ mai toàn truyện” và sử dụng mô típ truyện dân
gian: Lục Vân tiên và tiểu đồng được trời cứu khi bị kẻ gian hãm hại
Nguyễn Đình Chiểu còn đưa yếu tố tự truyện vào trong tác phẩm như chi tiết khóc mẹ bị mù, bỏ thi về chịu tang mẹ Nhưng sau đó, nhờ vào yếu tố hư cấu mà Lục Vân Tiên được chữa sáng mắt, thi đỗ trạng nguyên… Như vậy, trong những sáng tác này yếu tố hư cấu nhiều hơn, rõ hơn
2.2.2.4 Hư cấu, sáng tạo từ hiện thực đời sống, mang yếu tố tự truyện
Sự hư cấu và sáng tạo bắt nguồn từ hiện thực đời sống chủ yếu là của tác giả nên mang đậm yếu tố tự truyện Ở những truyện này, các tác giả hư cấu chỉ là lắp ghép các mô típ, thiếu một logic mạch lạc bên trong, nhất là về mặt thời gian và vẫn sử dụng các mô típ thịnh hành trong các truyện thông tục Nhìn chung hư cấu, sáng tạo này vẫn chưa thoát ra được sự hư cấu và sáng tạo trong văn học trung đại
“Sơ kính tân trang” của Phạm Thái là một truyện hoàn toàn hư cấu, không
dựa vào một truyện sẵn có nào của văn học Trung Quốc Tác phẩm toát lên lòng yêu đời phê phán Nho, Phật, yêu thiên nhiên, trân trọng tài năng, thái độ phóng khoáng Tên người, tên sự kiện đều xảy ra ở Việt Nam và ít nhiều mang tính chất
tự truyện của tác giả Nhưng điều thú vị là sự hư cấu ở đây vẫn không ra ngoài quy luật trung đại sử dụng các mô típ thịnh hành trong các truyện thông tục Phạm Thái chủ yếu lắp ghép các mô típ, thiếu logic về thời gian
Hư cấu đâu chỉ là một khả năng bịa đặt, nó đòi hỏi năng lực huy động khả năng cảm thụ cuộc sống để tạo thành sức thuyết phục nghệ thuật
2.2.3 Đối với truyện văn xuôi: Hư cấu, sáng tạo trong tiểu thuyết chương hồi chữ Hán
Tiểu thuyết chương hồi chữ Hán xuất hiện từ đầu thế kỉ XVIII Đa phần là tiểu thuyết lịch sử
Với “Nam triều công nghiệp diễn chí” của Nguyễn Khoa Điềm gồm 30 hồi.
Trang 10Truyện kí chữ Hán “Tây Dương Gia Tô bí lục”, “Hoàng Lê Nhất thống chí” của Ngô Gia Văn Phái cuối XVIII- đầu XIX Các tác phẩm thuộc sử học với
tên “chí, lục” nên ít hư cấu
Nhưng nếu so với việc chép sử ở các giai đoạn trước, chép sử ở giai đoạn trước ít ghi lời thoại nhân vật thì đến đây, các tác giả đều ghi nhiều lời thoại của các nhân vật lịch sử Đây là lĩnh vực sáng tạo nhăm khắc họa tính cách nhân vật, chứ không giản đơn là ghi những điều mắt thấy tai nghe
Đến hết thế kỉ XIX, truyện văn xuôi Trung đại Việt Nam hết sức phong phú:
“Tân truyền kì lục” của Phạm Qúy Thích, “Truyền kì trích lục” – khuyết danh…
kế thừa truyền thống và có những bước phát triển đáng kể ươm mầm cho tiểu thuyết hiện đại
III KẾT LUẬN
Tóm lại, văn học trung đại Việt Nam đã có quá trình hư cấu từ không tự giác đến tự giác, mức độ ngày càng cao, tuy nhiên vẫn nằm trong khuôn khổ quy luật của loại hình trung đại- vận dụng cốt truyện sẵn hay mô típ sẵn, rồi tiến hành lắp ghép, biến cải, thêm bớt Yếu tố thời đại, tự truyện được đưa vào tác phẩm, và biến cải chứng tỏ tác phẩm không phải là tự truyện Trong tác phẩm thuộc loại sử, mức
độ hư cấu thấp hơn Nhìn chung lại, sự sáng tạo tập trung vào ngôn từ, sáng tạo lời
kể, lời thoại, điểm nhìn trần thuật, chứ không sáng tạo lại toàn bộ cuộc sống nhân vật hoặc đưa vào nhân vật hoàn toàn hư cấu Hư cấu, sáng tạo trong văn học Trung Đại là tiền đề cho sự kế thừa và phát triển của văn học hiện đại để tạo nên những mốc son chói lọi trong nền văn học dân tộc Có thể kể đến Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài … Việt Bắc của Tố Hữu, Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm…