1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÀI LIỆU ôn THI môn NHỮNG NGUYÊN lý cơ bản của CHỦ NGHĨA mác – lê NIN II – đại học sư PHẠM mầm NON (1)

32 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 173 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng với tư chác là giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất đều là sự kết tinh của lao động + Tuy giá trị và giá trị sử dụng cùng tồn tại trong một hàng hóa nhưng quá trỡnh thực

Trang 1

TÀI LIỆU ÔN THI MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN II – ĐẠI HỌC SƯ PHẠM MẦM NON

Câu 1 Phân tích lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng?

2

Câu 2: Phân tích mối quan hệ giữa 2 thuộc tính của hàng hóa với tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa 3

Câu 3: Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy luật giá trị 5

Câu 4: Trình bày lý luận hàng hóa sức lao động và rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu 7

Câu 5: Tại sao nói giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối 9

Câu 6: Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư 11

Câu 7: Vì sao nói sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB 12

Câu 8: Trình bày nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản đế quốc nhà nước 16

Câu 9: Phân tích điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân 17

Câu 10: Trình bày đặc trưng cơ bản của XHCN 20

Câu 11: Phân tích nội dung cơ bản của nền văn hóa XHCN 22

Câu 12: Trình bày chức năng nhiệm vụ của nhà nước XHCN 24

Câu 13: Trình bày các nguyên tắc cơ bản của CN Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc 25

Câu 14: Trình bày các nguyên tắc cơ bản của CN Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo 28

Câu 15: Trình bày nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ mô hình CNXH Xô Viết 30

Trang 2

Câu 1 Phân tích lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng?

Trả lời:

- Kn: Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nòa

đó của con người thông qua trao đổi mua bán

- Thứ nhất: Hàng hóa là hình thái biểu hiện phổ biến nhất của cải trong

xã hội tư bản C,Mác viết: Trong những xã hội do phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa chi phối thì của cải xã hội biểu hiện ra là một “đống hànghóa khổng lồ”

- Thứ 2: Hàng hóa là hình thái nguyên tố của cải là tế bào kinh tế trong

đó chứa đựng mọi mầm mống mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa

- Thứ 3: Phân tích hàng hóa nghĩa là phân tích giá trị - phân tích cái cơ

sở của các phạm trù chính trị, kinh tế học của phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa Nếu không có sự phân tích này, sẽ không thể hiểu được, khôngthể phân tích được giá trị thặng dư là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa tưbản và những phạm trù khác như lợi nhuận, lợi tức, địa tô …

+ Các nhân tố ảnh hưởng:

Thị trường, khủng hoảng khiến hàng hóa đắt đỏ

Ham lợi nhuận khiến hàng giả, hàng nhái xuất hiện nhiều trên thịtrường

Tác động của nền kinh tế các nước lớn

* Nhân tố ảnh hưởng:

- Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi nên lượng giá trịcủa hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giátrị của hàng hóa tùy thuộc vào những nhân tố:

* Thứ 1: Năng suất lao động

- Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động được tính bằng

số lượng sản phẩm, sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượngthời gian cần thiết để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm

Có hai loại năng xuất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suấtlao động xã hội Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theogiá trị cá biệt mà là giá trị xã hội Vì vậy, năng suất lao động có ảnhhưởng đến giá trị của xã hội của hàng hóa chính là năng xuất lao động xãhội

Trang 3

Năng xuất lao động cùng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết đểsản xuất ra hàng hóa càng giảm lượng giá trị của một đơn vị sản xuất càng

ít Ngược lại, năng suất lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao độngcần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng tăng và lượng giá trị của một đơn vịsản phẩm càng nhiều Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỉ lệ thuậnvới số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xãhội Như vậy muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng hóa xuống thì ta phảităng năng xuất lao động xã hội

* Năng xuất lao động lại tùy thuộc vào nhân tố như: trình độ khéo léocủa người lao động, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ ứngdụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất hiệuquả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên

* Thứ 2: Mức độ phức tạp của lao động:

- Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượnggiá trị của hàng hóa Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia laođộng thành lao động giản đơn và lao động phức tạp

- Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người bình thường nào

có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp làlao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyênmôn lành nghề mới có thể tiến hành được

Câu 2: Phân tích mối quan hệ giữa 2 thuộc tính của hàng hóa với tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.

Trang 4

Trả lời:

1 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa

Hàng hóa là một trong những phạm trự cơ bản của kinh tế chính trị Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian

và cú thể trao đổi, mua bán được Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì

có thể trao đổi, mua bán được.

Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhưng hàng hoá đều có hai thuộc tính:

+ Giá trị sử dụng

+ Giá trị hàng hóa

* Mối quan hệ giữa hai thuộc tính.

Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau,

nó vừa mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau, mặt thống nhất thể hiện ở chỗ hai thuộc tinh này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hóa, một vật phải có đầy

đủ hai thuộc tính này mới là hàng hóa, nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó sẽ không phải là hàng hóa.

Mẫu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa thể hiện ở chỗ:

+Với tư cánh là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng nhất về chất Nhưng với tư chác là giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất đều là sự kết tinh của lao động

+ Tuy giá trị và giá trị sử dụng cùng tồn tại trong một hàng hóa nhưng quá trỡnh thực hiện chúng lại tách rời nhau về cả mặt không gian va thời gian

Hai thuộc tính của hàng hoá này không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong hàng hoá mà là do lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt, vừa có tính trừu tượng (lao động trừu tượng), vừa có tính cụ thể (lao động cụ thể) Ta có thể nói, giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hoá.

Đây chính là mặt chất của giá trị hàng hóa Trong đó, giá trị là nội dung, là

cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị

ra bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau Thực chất của quan hệ trao đổi

là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa đựng trong các hàng hoá Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hoá Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng húa Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa Như vậy, hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị,nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản

Trang 5

giá trị sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị mà thôi Ngược lại, đối với người mua, cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thoả món nhu cầu tiêu dựng của mình Nhưng, muốn có giá trị sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụng phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng.

2 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa

Hàng hóa có hai thuộc tính không phỉ là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong nó mà là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt: vừa mang tính cụ thể (lao động cụ thẻ) vừa mang tính từu tượng (lao động trừu tượng)

* Lao động cụ thể là: lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định

VD: lao động cụ thể của người thợ máy, thợ dệt, thợ cơ khí Mỗi lao động

cụ thể có đối tượng lao động,mục dích, phương pháp lao động, kết quả sản xuất riêng Chính cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau, mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định Trong xã hội có vụ số giá trị sử dụng muôn hình, muôn vẻ khác nhau đó là cho lao động cụ thể đa dạng,nhiều vẻ tạo ra

- Lao động cụ thể là một phạm trò vĩnh viễn Trong một hình thái kinh tế

xã hội những hình thức của lao động cụ thể phụ thuộc vào sự phất triển của kĩ thuật, của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.

VD: Lao đọng kahi thác mỏ trước kia là lao động thủ công ngày nay là lao động cơ giới hóa Khoa học ngày càng phát triển thì các hình thức lao động cụ thể càng phong phú và đa dạng

- Lao động cụ thể khác nhau làm cho các hàng hóa khác nhau về giá trị sử dụng nhưng giữa các hàng hóa đó có điểm chung giống nhau, nhờ đó có thể trao đổi được với nhau.

* Lao động trừ tượng là: lao động của ngườ sản xuất hàng hóa đó gạt bỏ hình thức thể hiện cụ thể của nó để quy về cái chung đồng nhất đó là sự tiêu phí sức lao động , tiêu hao cơ bắp thần kinh của con người

- Nếu lao dộng cụ thể tạo ra giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa Lao động trừ tượng ở đây không phải là sự tiêu hao sức lực của con người nói chung mà là sự tiêu phí sức lực của người sản xuất hàng hóa chỉ co sản xuất sản phẩm để bán thì lao động sản xuất hàng hóa đó mới có tính chất là lao động trừu tượng.

Câu 3: Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy luật giá trị

Trả lời

Trang 6

Kn: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổihàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị.

* Ý nghĩa:

- Trong học thuyết về giá trị thặng dư, C.Mác đã có nhận định có tínhchất dự báo khoa học trong xã hội hiện nay đó là: Mục đích thường xuyêncủa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm thế nào để với một tư bản ứngtrước tối thiểu sản xuất ra một giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư tối

đa và trong chừng mực mà kết quả không phải đạt được bằng lao độngquá sức của những người công nhân, thì đó là 1 khuynh hướng của tư bảndạy cho loại người biét chi phí sức lực của mình một cách tiết kiệm và đạttới mục đích sản xuất với 1 chi phí ít nhất về tư liệu

- Từ việc nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C.Mac chúng tathấy rõ ít thấy ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đấtnước

+ Một là: Trong thời kỳ quá độ nền kinh tế nước ta trong 1 chừng mựcnào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trên theo cách tiếpcận giáo điều xơ cứng cũ Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phầnchúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giảiphóng sự sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển thì chừng đóchúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó

+ Hai là trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án

Trang 7

Câu 4: Trình bày lý luận hàng hóa sức lao động và rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu.

Trả lời

Trong toàn bộ lý luận kinh tế của C Mác xuất phát điểm đầu tiên đó là

từ học thuyết giá trị trên nền thảng học thuyết này C.Mác đã xây dựng nênhọc thuyết về giá trị thặng dư với một vị trí như hòn đá tảng trong lí luận

Ở đây ông đã nhìn nhận ra rằng, trong chế độ TBCN để có được giá trịthặng dư, nhà tư bản phải tìm ra một loại hàng hóa mà giá trị sử dụng của

nó có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị sức lao động của con ngườichính là hàng hóa mà nhà TB đã tìm ra Không chỉ ở các nước mà ở ViệtNam, khi nền kinh tế đang trên con đường hội nhập, chuyển sang nền kinh

tế thị trường Nghiên cứu về hàng hóa sức lao động là một việc làm có ýnghĩa trong việc xây dựng thị trường lao động hiện nay

Theo C.Mác: lý luận hàng hóa sức lao động thì có 2 điều kiện sau:

- Thứ nhất: Người có sức lao động hoàn toàn tự do về thân thể, người

đó phải có quyền sở hữu sức lao động của mình và có quyền đem nó bánnhư 1 loại hàng hóa Một điều kiện đòi hỏi ở đây là phải thủ tiêu chế độ vàphong kiến

- Thứ 2: Người có sức lao động nhưng không có TLSX của cải do đóbuộc phải bán sức lao động của mình, nhưng những người có tư liệu SX

cơ bản vẫn có thể phải đi bán sức lao động khi họ không đủ khả năng đểsản xuất có hiệu quả

* Ý nghĩa:

Một là: Là việc rất cần thiết, trước hết nghiên cứu lượng giá trị hànghóa đã làm ra Bởi vì khi nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa cho biết thờigian lao động xã hội cần thiết giản đơn trung bình để sản xuất ra một hànghóa là thước đo lượng giá cả của hàng hóa nào cao hơn của hàng hóa nào.Hai là: Nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa tìm ra được các nhân tố tácđộng đến nó, từ đó tìm ra cách để làm giảm giá cả sản xuất như: tăng năngxuất lao động, đầu tư vào khoa học kỹ thuật hiện đại, đầu tư đào tạo giáodục chất xám, mà vẫn giữ nguyên hoặc làm tăng thêm giá trị để kiếm lờicạnh tranh trên thị trường Đây chính là điều mà các nhà làm lao độngluôn hướng tới nhằm đạt được lợi nhuận siêu ngạch

Ba là: Bởi vì lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị luôn sẵn sànglao động giản đơn trong cùng 1 đơn vị thời gian lao động như nhau Vì thếcác nhà làm kinh tế cần phải chú trọng đầu tư vào những ngành lao động

Trang 8

phức tạp đòi hỏi nhiều chất xám Muốn làm được điều này thì phải nângcao tay nghề và áp dụng những biện pháp tiên tiến.

+ Điều kiện Việt Nam đi lên từ một nước nông nghiệp với những tậpquán canh tác nhỏ lẻ, lạc hậu lại chịu nhiều thiệt hại của chiến tranh nêngặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển

Từ năm 1986 Đảng và Nhà nước đã quyết định chính sách đổi mới đấtnước và đạt được nhiều thành tựu đáng kể

Trang 9

Câu 5: Tại sao nói giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.

Trong hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào việc mua sắm sứclao động và tư liệu sản xuất Còn mục đích của nhà tư bản khi chi tiền ramua sắm các thứ đó chẳng có gì khác hơn là nhằm thu được một số tiềndôi ra ngoài số tiền mà mình đã ứng chi trong quá trình sản xuất Số tiềndôi ra đó chính là giá trị thặng dư

Các tư liệu sản xuất như nhà xưởng, công trình kiến trúc, thiết bị,nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, là tư bản bất biến Nó không thay đổilượng giá trị trong quá trình sản xuất mà chỉ chuyển hóa giá trị của nósang các sản phẩm mới được sản xuất ra Nó không thể là nguồn gốc củagiá trị thặng dư Còn sức lao động thì trong quá trình tiêu dùng, tức làtrong quá trình sử dụng nó vào lao động sản xuất, nó có khả năng tạo ragiá trị mới mà giá trị mới này lại lớn hơn giá trị của bản thân nó Sức laođộng là tư bản khả biến

Nhà tư bản sử dụng tính chất khả biến đó vào mục đích tạo ra cho mìnhgiá trị thặng dư Chiếm đoạt toàn bộ giá trị thặng dư này là hành vi đượcgọi đích danh là “bóc lột” Đó là nói chung, còn cụ thể, trong quá trình sảnxuất, hành vi “bóc lột” giá trị thặng dư còn được nhà tư bản thực hiệnbằng sự gia tăng giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất ra giá trị thặng dưtương đối, tức là kéo dài tuyệt đối thời gian của ngày lao động, rút ngắnthời gian lao động cần thiết để sản xuất từng sản phẩm và tăng tương ứngthời gian lao động thặng dư Việc tăng giá trị thặng dư còn được một sốnhà tư bản thực hiện bằng cách hạ thấp giá trị của hàng hóa do xí nghiệpmình sản xuất so với giá trị xã hội của hàng hóa đó Số giá trị tạo ra bằngcách này được gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch

Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ là một biến tướng của giá trị thặng dưtương đối Chỗ khác nhau giữa chúng chỉ là một bên thu được do tăng

Trang 10

năng suất lao động xã hội, còn bên kia bên giá trị thặng dư siêu ngạch thì được tạo ra nhờ biết áp dụng kỹ thuật mới, biết áp dụng công nghệ tiến

-bộ và các phương pháp quản lý hoàn thiện hơn trong tổ chức sản xuất.Trong hoạt động kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trịthặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều bị nhà tư bản chiếmđoạt, vì vậy mà luôn luôn có cuộc đấu tranh của công nhân làm thuêchống lại sự chiếm đoạt đó: Đấu tranh chống kéo dài thời gian làm việctrong ngày để chống bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối; đấu tranh chốngviệc nhà tư bản rút ngắn thời gian lao động cần thiết và tăng tương ứng laođộng thặng dư để chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch Cuộc đấutranh chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch về thực chất là sự phản ứnglại đối với những cải tiến trong áp dụng kỹ thuật mới, phản ứng lại sángkiến trong ứng dụng công nghệ tiến bộ và việc áp dụng những phươngpháp tổ chức sản xuất hoàn thiện hơn Thật ra, sự đấu tranh của giai cấpthợ thuyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa để chống lại sự bóc lột giá trịthặng dư nói chung, là nhằm vào một chủ điểm: Chống việc nhà tư bảnchiếm đoạt hoàn toàn giá trị thặng dư cụ thể là cả ba thứ giá trị thặng dưvừa nêu trên

Trang 11

Câu 6: Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư

Trả lời

- Trong mọi xã hội sức lao động là yếu tố sản xuất chủ yếu sức laođộng là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một conngười đang sống và được người đó đem ra vận dụng Ví dụ: phát minhkhoa học, cải tiến kỹ thuật hay lao động sản xuất ra của cải vật chất, khisức lao động trở thành hàng hóa giá trị sử dụng của hàng hóa, sức laođộng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động tức là quá trìnhlao động tạo ra hàng hóa trong quá trình tiêu dùng, sức lao động tức là quátrình lao động tạo ra hàng hóa Trong quá trình ấy chính lao động tạo ramột lượng giá trị mới hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động tức

là tạo ra giá trị thặng dư

- Giá trị thặng dư là một bộ phận giá trị mới do lao động của cá nhântạo ra ngoài giá trị sức lao động Do đó nếu giá trị lao động dừng laiọ ởđiểm mà giá trị sức lao động thì chỉ có sản xuất giá trị giản đơn, khi quátrình lao động vượt quá điểm đó mới có sản xuất giá trị thặng dư Vậynhân tố quyết định việc sản xuất thặng dư theo quan điểm chủ nghĩa Mác– Lênin sức lao động của nhân dân (chủ yếu là giá trị sử dụng của hànghóa sức lao động)

- Muốn sản xuất ra giá trị thặng dư (m) trước hết nhà tư bản ra thịtrường những thứ cần thiết như: TLSX, sức lao động của người côngnhân Sau khi có được 2 loại hàng hóa đó nhà TB kết hợp với nhau trongquá trình sản xuất tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu mà nhà tư bản

bỏ ra, phần lớn hơn đó gọi là giá trị thặng dư

Trang 12

Câu 7: Vì sao nói sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB.

Trả lời

Mỗi phương thức sản xuất đều có một quy luật phản ánh mối quan hệkinh tế cơ bản của phương thức đó Trong phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa thì sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối, phảnánh quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa từ bản, quan hệ giữangười công nhân và nhà tư bản

Giá trị thặng dư là một bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức laođộng do người công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm không

Sản xuất giá trị thặng dư có nội dung là: sản xuất ra giá trị thặng dư tối

đa bằng cách bóc lột người công nhân

Vậy, tại sao sản xuất giá trị thặng dư lại là quy luật kinh tế tuyệt đối củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, hay, tại sao nhà tư bản lại theođuổi giá trị thặng dư tối đa? Tại sao cách theo đuổi giá trị thặng dư lại làbóc lột người công nhân?

Đẻ giải thích cho câu hỏi đầu tiên chúng ta hãy nhìn vào công thức vậnđộng của tư bản:

T-H-T’

Khác với lưu thông hàng hóa giản đơn, tiền ở đây không đóng vai trò làtrung gian trao đổi nữa mà nó là điểm khởi đầu và mục đích của sản xuất.Nhưng nếu T=T’ thì nhà tư bản không được lợi, vậy T’<T Lượng chênhlệch dT giữa T và T’ dược Mark gọi là giá trị thặng dư Nếu trong lưuthông hàng hóa giản đơn, công thức vận động kết thúc ở H, mục đích lưuthông hướng đến là giá trị sử dụng thì, kết thúc công thức vận động của tưbản lại là tiền dT càng lớn thì lợi nhuận của nhà tư bản càng lớn Điều đócho thấy cái mà nhà tư bản theo đuổi không phải là giá trị sử dụng mà làgiá trị thặng dư, là nhân lên giá trị Sản xuất giá trị thặng dư là mục đíchcủa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Sự nhân lên giá trị là không có giới hạn, giá trị thặng dư thu được làkhông có giới hạn Nó cho phép nhà tư bản có thể nỗ lực không ngừng vìcòn có thể tìm kiếm được một mức lợi nhuận cao hơn

Mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư, vậy giá trị thặng dư từ đâu

mà có? Giải thích được nguồn gốc của giá trị thặng dư ta sẽ giải thíchđược câu hỏi thứ hai

Trang 13

Nguồn gốc của giá trị thặng dư chỉ có thể là giá trị sử dụng của sức laođộng, do đó để đạt được giá trị thặng dư cao hơn nhà tư bản sẽ khôngngừng bóc lột người công nhân.

Các nhà kinh tế tư bản luôn cố ngụy biện rằng giá trị thặng dư bắtnguồn từ lưu thông hay tài kinh doanh của nhà tư bản mà có

Nếu giá trị thặng dư bắt nguồn từ lưu thông, nghĩa là quá trình trao đổiH-T’ tạo ra giá trị thặng dư Điều này đã bị C.Mark phủ định Giả sử trongtrường hợp trao đổi ngang giá, vậy T=T’=> không có dT Trường hợp traođổi không ngang giá, có nhà tư bản bán đắt giá trị hàng hóa hơn 10%chảng hạn, anh ta thu được lợi nhuận là phần bán đắt nhưng tới khi anh ta

đi mua tlsản xuất (T-H) sẽ lại mua đắt hơn 10% vì các nhà tư bản kháccũng muốn kiếm lời bằng cách đó Ngược lại nếu nhà tư bản mua hànghàng hóa thấp hơn giá trị , 10% chẳng hạn, khi bán anh ta lại phải bánthấp hơn 10% vì các nhà tư bản khác cũng có hành vi mua rẻ như thế Cònnếu trong xã hội có kẻ lọc lõi có thể mua rẻ bán đắt hơn giá trị hàng hóathì cái mà anh ta đạt được chẳng qua là do chiếm đoạt từ người khác, xéttrên phạm vi xã hội không tạo ra giá trị tăng thêm

Bên cạnh đó, xét công thức giá trị của hàng hóa:

dư mà các nhà kinh tế tư bản luôn cố chứng minh

Từ những chưng minh trên, ta có thể kết luận lưu thông, mua bán haytài kinh doanh của nhà tư bản không tạo ra giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư cũng không được tạo ra nhờ các yếu tố sản xuất ngoàilao động như máy móc nhà xưởng hay nguyên nhiên liệu Để giá trị cácyếu tố sản xuất này chuyển hóa vào sản phẩm luôn cần có lao động, do đógiá trị chuyển vào không thể lớn hơn giá trị đã bị hao mòn Thực chấtquá trình sử dụng chúng là sản xuất giá trị sử dụng mới thông qua việctiêu dùng giá trị sử dụng cũ tương đương C.Mark gọi chúng là tư bản bấtbiến_giá trị không đổi

Nguồn gốc giá trị thặng dư chính là từ lao động của người công nhân,

từ sức lao động, một loại hàng hóa đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó lớn

Trang 14

hơn giá trị Hàng hóa thông thường sau khi sử dụng thì tiêu biến còn hànghóa sức lao động sau khi sử dụng đã tạo nên một giá trị sử dụng mới màgiá trị sử dụng này còn lớn hơn giá trị của nó Lượng lớn hơn đó chính làgiá trị thặng dư, rõ ràng nó được tạo ra bởi người lao động nhưng người

sở hữu nó lại là nhà tư bản, chiếm đoạt càng nhiều giá trị thặng dư củangười công nhân, nhà tư bản càng trở nên giàu có

Vậy, bóc lột giá trị thặng dư người công nhân chính là cách để nhà tưbản đạt được mục đich của mình

Đén đây, ta có thể thấy rõ sự phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chấtnhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ giữa nhà tư bản và ngườicông nhân, mà thực chất là quan hệ giữa người bóc lột và người bị bóc lột.Mặt khác, xét công thức:

Sản xuất giá trị thặng dư cũng chính là động lực để các nhà tư bản cảitiến kỹ thuật, nâng cao năng suất cá biệt (khi hướng tới lợi nhuận siêunghạch và giá trị thặng dư) qua đó nâng cao năng suất lao động xã hội,tăng lượng của cải vật chất xã hội.Tuy nhiên, sản xuất giá trị thặng dư làmcho mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn cơ bản của nó,ngày càng sâu sắc (mâu thuẫn giữa nhà tư bản với người công nhân haygiữa giai cấp tư bản và giai cấp công nhân) Người công nhân ngày càng

bị bần cùng hóa còn nhà tư bản ngày càng giàu có ngay trên sức lao độngcủa họ Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn này càng trở nênsâu sắc Thực tế đã chứng minh điều đó mà đỉnh điểm của nó là cuộckhủng hoảng thừa năm 1929-1933 Đi cùng với sự phát triển của xã hội tưbản chủ nghĩa là sự bần cùng của tầng lớp nhân dân lao động và sự tích tụtài sản khổng lồ của giai cấp vô sản Khi cuộc khủng hoảng thừa xảy ragiai cấp tư bản vứt bỏ hàng tấn hàng hóa xuống đáy biển trong khi giai

Trang 15

ngày của họ Chính mâu thuẫn này sẽ là động lực cho cuộc cách mạng màtrong đó giai cấp công nhân không chỉ mang sứ mệnh giải phóng chínhmình mà còn mang sứ mệnh giải phóng thế giới Ngay trong lòng xã hội

tư bản chủ nghĩa, bằng chính quy luật kinh tế tuyệt đối của mình, đã gieomầm cho sự xuất hiện của một xã hội khác văn minh công bằng và pháttriển hơn

Sản xuất giá trị thặng dư là mục đích của nền sản xuất tư bản chủnghĩa, xuất hiện và tồn tại cùng chủ nghĩa tư bản, không có quy luật sảnxuất giá trị thặng dư thì không có chủ nghĩa tư bản, có chủ nghĩa tư bảnthì chắc chắn có quy luật sản xuất giá trị thặng dư chi phối Quy luật sảnxuất giá trị thặng dư phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa, mục đích phương pháp thủ đoạn cảu nhà tưbản_là quy luật kinh tế tuyể đối của chủ nghĩa tư bản

Cùng với sự biến chuyển của thời đại là sự thay đổi của chủ nghĩa tưbản Nhất là sự đi lên của đời sống người công nhân với cuộc sống sungtúc đủ đày hơn trước khiến cho bộ mặt thật của quan hệ sản xuất mangtính bóc lột của hình thái kinh tế xã hội này dường như bị lu mờ Tuynhiên về bản chất nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn không đổi, vẫn chịu

sự chi phối của quy luật kinh tế tuyệt đối của nó, quy luật sản xuất giá trịthặng dư

Hiểu rõ về quy luật sản xuất giá trị thặng dư sẽ giúp chúng ta thấy rõnhững đặc điểm cả ưu và nhược của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và chủnghĩa tư bản, từ đó có sự vận dụng đứng đắn vào thực tế trong cả hànhđộng và suy nghĩ Đối với thế hệ thanh niên sự hiểu biết ấy càng trở nênquan trọng, giúp định hướng tư tưởng và nhận thức cũng như niềm tin vàochế độ Xã hội chủ nghĩa cũng như Đảng cộng sản Việt Nam_tổ chức lãnhđạo của giai cấp công nhân VIỆT NAM

Trang 16

Câu 8: Trình bày nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản đế quốc nhà nước

Trả lời

Đầu thế kỷ XX, V.I Lênin đã chỉ rõ: Chủ nghĩa tư bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là khuynh hướng tất yếu Nhưng chỉ đến những năm 50 của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước mới trở thành một thực thể rõ ràng và là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ra đời do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là: tích tụ và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung sản xuất càng cao, do đó đẻ ra những cơ cấu kinh tế to lớn đòi hỏi một sự điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối, một sự kế hoạch hoá tập trung từ một trung tâm Nói cách khác, sự phát triển hơn nữa của trình độ xã hội hoá lực lượng sản xuất

đã dẫn đến yêu cầu khách quan là nhà nước phải đại biểu cho toàn bộ xã hội quản lý nền sản xuất Lực lượng sản xuất xã hội hoá ngày càng cao càng mâu thuẫn gay gắt với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, do đó tất yếu đòi hỏi một hình thức mới của quan hệ sản xuất để lực lượng sản xuất có thể tiếp tục phát triển trong điều kiện còn sự thống trị của chủ nghĩa tư bản Hình thức mới đó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.

Hai là, sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một số ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không muốn kinh doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận, nhất là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng như năng lượng, giao thông vận tải, giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ bản Nhà nước tư sản trong khi đảm nhiệm kinh doanh các ngành

đó, tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền tư nhân kinh doanh các ngành khác

có lợi hơn.

Ba là, sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động Nhà nước phải có những chính sách để xoa dịu những mâu thuẫn đó như trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phát triển phúc lợi xã hội

Bốn là, cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự bành trướng của các liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột lợi ích với các đối thủ trên thị trường thế giới Tình hình đó đòi hỏi phải

có sự điều tiết các quan hệ chính trị và kinh tế quốc tế, trong đó không thể thiếu vai trò của nhà nước.

Ngoài ra, việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh với chủ nghĩa

xã hội hiện thực và tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

Ngày đăng: 25/10/2022, 07:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w